Nội hàm văn hóa thư pháp: Mạch ngầm văn hóa truyền thống Hoa Hạ

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
155  
NỘI HÀM VĂN HÓATHƯ PHÁP:  
MẠCH NGẦM VĂN HÓATRUYỀN THỐNG HOAHẠ  
Nguyễn Anh Thục*  
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,  
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 24 tháng 01 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 27 tháng 02 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 03 năm 2021  
Tóm tắt: Trong hệ thống các chuyên đề giảng dạy Ngôn ngữ và Văn hóa, Đất nước học cho  
sinh viên năm 3, trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, chúng tôi đã khai thác, phân  
tích, công bố các bài viết chuyên sâu về giá trị văn hóa nghệ thuật liên quan đến: âm nhạc, vũ đạo, hội  
họa truyền thống Trung Hoa. Trong bài viết này, chúng tôi tiếp tục dành tâm huyết lý giải, so sánh, phân  
tích làm sáng tỏ Nội hàm văn hoá thư pháp – mạch ngầm văn hóa truyền thống Hoa Hạ dựa trên cội  
nguồn và lịch sử phát triển của thư pháp Trung Hoa - một môn nghệ thuật được người xưa ví như “Vô  
ngôn đích thi, vô hình đích vũ, vô đồ đích họa, vô thanh đích nhạc”. Chúng tôi mong muốn góp một tài  
liệu tham khảo hữu ích cho công tác dạy và học ngôn ngữ, văn hóa Trung Quốc cho sinh viên Việt Nam,  
từ đó phát huy giá trị thẩm mỹ và giá trị nhân văn trong quá trình giáo dục tri thức, nâng cao hiệu quả  
trau dồi khả năng tư duy liên tưởng và tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người cho sinh viên.  
Từ khóa: thư pháp, nội hàm văn hóa, truyền thống, kế thừa, thiên nhân hợp nhất  
1. Đặt vấn đề*  
Với hàng nghìn năm lịch sử tồn tại và  
giáo dục, trong dòng chảy lịch sử, thư pháp  
truyền thống Trung Hoa mang tính kế thừa,  
không ngừng phát triển và ngày càng phong  
phú. Bậc thánh hiền xưa có thể tu dưỡng đạo  
đức và nâng cao phẩm giá bản thân thông  
qua rèn luyện thư pháp. Giá trị văn hóa của  
thư pháp vượt xa giá trị tự thân của nó, ẩn  
chứa sự hài hòa giữa con người và tự nhiên,  
khiến cho cảnh giới tư tưởng được thăng  
hoa, hòa nhịp với đất trời. Thư pháp truyền  
thống Trung Hoa mang đậm giá trị nhân văn,  
là không gian chứa đựng văn hóa cổ hết sức  
đa dạng và quý giá. Năm 2009, thư pháp  
Trung Hoa chính thức được đưa vào danh  
sách di sản văn hóa phi vật thể thế giới.  
phát triển, kế thừa những di sản văn hóa cổ  
đại, cùng những điều kiện kinh tế xã hội và  
sự giao lưu với các luồng văn hóa ngoại lai,  
Trung Quốc đã tạo ra những thành tựu vô  
cùng rực rỡ trong lịch sử phát triển của dân  
tộc mình, nổi bật như: nghệ thuật, văn học,  
thi ca, sử học… Đặc biệt không thể không  
nhắc đến chữ Hán, chữ viết mà ảnh hưởng  
của nó đã tạo nên một vùng văn hóa chữ Hán  
ở các nước như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật  
Bản… Hẳn cũng không nhiều quốc gia đưa  
việc viết chữ trở thành một hình thức nghệ  
thuật thư pháp như Trung Quốc. Nhiều kiệt  
tác thư pháp Trung Hoa đạt tới đỉnh cao nghệ  
thuật, là viên ngọc quý trong kho tàng văn  
hóa của nhân loại. Về mặt giá trị văn hóa và  
Trong hệ thống các chuyên đề giảng  
dạy Ngôn ngữ và Văn hóa, Đất nước học cho  
sinh viên năm thứ ba, trường Đại học Ngoại  
* Tác giả liên hệ  
Địa chỉ email: [email protected]  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
156  
ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, chúng tôi  
đã khai thác, phân tích, công bố các bài viết  
chuyên sâu về giá trị văn hóa nghệ thuật liên  
quan đến: âm nhạc, vũ đạo, hội họa truyền  
thống Trung Hoa. Trong bài viết này, chúng  
tôi tiếp tục dành tâm huyết lý giải, phân tích  
dòng chảy mạch ngầm văn hóa truyền thống  
Hoa Hạ qua thư pháp truyền thống Trung  
Hoa - một môn nghệ thuật được người xưa  
ví như “Vô ngôn đích thi, vô hình đích vũ,  
vô đồ đích họa, vô thanh đích nhạc” (sức hấp  
dẫn của nghệ thuật thư pháp được ví như vẻ  
đẹp quyến rũ, tinh diệu không lời diễn tả của  
cứu, lịch sử, hiện trạng và hướng phát triển  
mới. Cuốn sách từ phương diện vĩ mô khái  
quát cho người đọc cái nhìn đa chiều về đức  
tính, tâm linh của con người Trung Quốc; về  
lịch sử và tư tưởng thẩm mỹ; về phương thức  
biểu đạt, góc độ nhận thức thư pháp...  
Nguyễn Đức Hùng (2005) với Khái quát sơ  
lược về lịch sử phát triển chữ Hán, Lê Tiến  
Đạt (2007) với Quá trình diễn biến và phát  
triển của thư pháp Trung Hoa hay nghiên  
cứu của Trần Kiêm Đạt (2016) Thư pháp và  
họa pháp Trung Hoa – Nhật bản đã đem đến  
cái nhìn tổng quan về tiến trình phát triển, sự  
hội họa, nhạc vũ, thi ca: 无言的诗,无形的舞, tạo thành và cấu tạo của chữ Hán, sự du nhập  
và phát triển ở các nước lân cận Trung Quốc  
gồm Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam v.v...  
Ngoài ra, trên các trang mạng cũng xuất hiện  
một số bài viết tản mạn về thư pháp Trung  
Hoa như: Thiên Cầm (2020) với Luyện thư  
pháp nuôi dưỡng nội hàm, mở mang trí tuệ;  
Lê Anh Minh (2006) với Thưởng thức thư  
pháp Trung Quốc v.v... đã phác họa đôi nét  
về thư pháp và ý nghĩa văn hóa của nó, giúp  
người đọc hiểu hơn về đặc điểm thẩm mỹ và  
nâng cao khả năng nhận thức về giá trị văn  
hóa thư pháp.  
无图的画,无声的乐) (Zhang, 2020, tr. 90).  
Cho đến nay, ở Việt Nam, nghiên  
cứu về thư pháp nói chung và nội hàm văn  
hóa thư pháp nói riêng còn khá khiêm tốn.  
Đáng chú ý có nghiên cứu khá chuyên sâu  
của học giả Trần Đình Hữu Thư pháp Trung  
Hoa được chuyển thể sang tiếng Việt bởi  
dịch giả Trương Lê Mai. Đây là tư liệu học  
thuật tham khảo bằng tiếng Việt đáng quý và  
hữu ích. Bằng cách nhìn riêng biệt, nghiên  
cứu đã đem đến cho người đọc cái nhìn vĩ  
mô về không gian nghệ thuật văn hóa thư  
pháp với vẻ đẹp của đường nét, phối chữ; vẻ  
đẹp về kết cấu; tính sáng tạo của nghệ thuật  
thư pháp. Học giả Trần Đình Hữu còn đưa ra  
những lý giải thú vị về thư pháp Trung Hoa  
như: vì sao thư pháp thịnh hành qua hàng  
ngàn năm lịch sử mà không bị suy vong qua  
nhiều thời đại, thậm chí không chỉ giới hạn  
ở công dụng cơ bản là ghi chép lại các sự  
việc hằng ngày mà còn thăng hoa thành môn  
nghệ thuật độc đáo trên thế giới? Trong suốt  
quá trình phát triển, thư pháp đã hình thành  
mối liên hệ mật thiết giữa gu thẩm mĩ và văn  
hóa tinh thần của người Trung Quốc ra sao?  
Bằng cách nào khi bước vào thế giới nghệ  
thuật chỉ được tạo nên bởi hai gam màu trắng  
đen nhưng thư pháp lại kỳ diệu đến vậy?  
Tiếp đó, với nguồn tư liệu chuyên ngành  
phong phú, cuốn sách của Lâm Ngữ Đường  
(2001) Trung Hoa đất nước con người đã  
chọn lọc, giới thiệu quan điểm về định nghĩa,  
phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên  
Nhìn chung, các nghiên cứu hay bài  
viết trên ít bàn về giá trị văn hóa hàm ẩn triết  
lý nhân sinh trong nghệ thuật thư pháp.  
Trong khuôn khổ bài viết này, trên tinh thần  
tiếp thu và kế thừa thành quả nghiên cứu hữu  
quan của các học giả đi trước, chúng tôi chủ  
yếu sử dụng phương pháp phân tích, so sánh  
làm sáng tỏ Nội hàm văn hoá thư pháp –  
mạch ngầm văn hóa truyền thống Hoa Hạ  
dựa trên cội nguồn và lịch sử phát triển của  
nó, nhằm góp một tài liệu tham khảo hữu ích  
cho công tác dạy và học ngôn ngữ, văn hóa  
Trung Quốc cho sinh viên Việt Nam.  
2. Nguồn cội và sự phát triển của thư pháp  
truyền thống Trung Hoa  
2.1. Nguồn cội và nền tảng của sự ra đời thư  
pháp Trung Hoa  
Trước tiên, về khái niệm thư pháp,  
Từ Nguyên (辞源) cho rằng “Dĩ văn tự kí tải  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
157  
sự vật viết Thư” (Lấy văn tự để ghi chép nội  
dung thông tin của sự vật gọi là Thư: 以文字  
记载事物曰书) và “Xưng thiện kỳ sự giả viết  
Pháp” (Sự đã qua quá trình hoàn thiện thì gọi  
là Pháp: 称 善 其 事 者曰 法 ) (2001). Theo  
Phạm Hoàng Quân trong Thư pháp chữ Hán  
– Lý thuyết và thực hành: “Thư pháp là một  
loại hình nghệ thuật có phương pháp cụ thể,  
bắt nguồn từ sự diễn đạt chữ viết. Chữ viết  
có giá trị nghệ thuật thư pháp được khai thác  
có thẩm mỹ, người viết gợi được mỹ cảm và  
người thưởng thức nhận được cái giá trị đó”  
(Phạm, 2004, tr. 33). Như vậy, thư pháp là  
phép vận bút nghệ thuật trên giấy, tạo ra  
những tác phẩm có giá trị biểu đạt cao về mặt  
tư tưởng, cảm xúc và nghệ thuật diễn tả.  
vẫn tỏa sáng lấp lánh cho đến ngày nay. Do  
đó, có thể nói rằng, thư pháp truyền thống  
Trung Hoa chính là “chắt lọc tinh túy của  
nền văn hóa Trung Hoa mà thành, góp phần  
làm nên hào quang của lịch sử văn hóa Trung  
Hoa” (Nguyễn, 2020, tr. 204).  
Ngược dòng tìm hiểu lịch sử chữ  
Hán, cũng chính là lịch sử nghệ thuật thư  
pháp Trung Hoa đã trải qua các giai đoạn  
sau: chữ giáp cốt, chữ kim, chữ triện, chữ lệ,  
chữ thảo, chữ khải, chữ hành và các kiểu chữ  
cơ bản của nghệ thuật thư pháp Trung Quốc.  
Trước khi chữ giáp cốt ra đời, tương truyền  
cách đây khoảng 5000 năm, chữ viết thô sơ  
lúc đầu chỉ là những ký tự tượng hình đơn  
giản, còn gọi là kí hiệu, được hình thành thời  
Phục Hy - một nhân vật huyền thoại trong  
lịch sử Trung Quốc. Theo truyền thuyết, ông  
là người sáng tạo ra hệ thống Bát Quái bằng  
một nét liền “—” đại diện cho Dương và một  
nét đứt “– – ”đại diện cho Âm, sau đó kết  
hợp hai nét lại để ghi nhận các hiện tượng  
trong trời đất. Đến thời Thần Nông thị, người  
ta dùng dây thừng thắt nút gọi là “kết thằng”  
(结绳) làm kí hiệu để ghi nhớ sự việc. Kiểu  
“kết thằng” này được xem là một kiểu chữ  
viết thô sơ tiếp sau hệ Bát Quái của Phục Hy.  
Vào thời Hoàng Đế (2697-2598 TCN), lưu  
truyền rằng vị sử quan Thương Hiệt đã mô  
phỏng hình dạng dấu chân chim mà sáng tạo  
ra kiểu chữ viết gọi là “khoa đẩu văn/ khoa  
đẩu thư/ khoa đẩu triện” (蝌蚪文/蝌蚪书/蝌蚪  
篆). Tóm lại, sự ra đời kiểu chữ viết thô sơ  
trên hiện không còn dấu tích để lại và giới  
nghiên cứu sử học vẫn còn nhiều tranh luận,  
song dù là huyền thoại hay có thực thì trải  
qua nhiều biến cố lịch sử, nó dần trở thành  
một thứ ngôn ngữ câm hay một loại ký hiệu  
mật mã nhằm lưu truyền lại những thông tin  
thời cổ đại.  
Thư pháp gắn liền với sự ra đời và  
xuất hiện của chữ Hán, cùng với việc chữ  
Hán được truyền bá đến Nhật Bản, Triều  
Tiên, Đông Nam Á hay một số quốc gia và  
vùng lãnh thổ khác, nghệ thuật thư pháp  
Trung Hoa không chỉ được người bản địa  
yêu thích mà còn được đón nhận bởi rất  
nhiều người yêu văn hoá Trung Hoa trên  
toàn thế giới. Thư pháp chữ Hán được coi là  
một loại hình nghệ thuật đặc sắc, điều này có  
quan hệ mật thiết với đặc điểm của chữ Hán.  
So sánh với các ngôn ngữ khác trên thế giới  
như tiếng Anh, Đức, Pháp, Nga, Tây Ban  
Nha, Ả Rập v.v... đều là các ký tự phiên âm,  
gồm vài chục chữ cái Latinh ghép thành, nét  
chữ đơn giản, hình dạng chữ ít thay đổi, còn  
chữ Hán là kiểu chữ vuông, cấu tạo phức tạp,  
nhiều nét và ký tự, hình dạng chữ có sự thay  
đổi lớn. Cùng một chữ Hán có thể viết ra các  
kiểu chữ khác nhau và tạo thành các hình  
dạng khác nhau. Ngoài giá trị thưởng thức và  
thẩm mỹ, thư pháp chữ Hán có giá trị thực  
tiễn quan trọng như viết lưu niệm, hoành phi,  
câu đối, khắc trên bia đá, đề tựa trên sách  
báo, trang trí phòng ốc v.v... Thư pháp còn  
có thể kết hợp với các loại hình nghệ thuật  
khác như thi ca, hội họa, khắc dấu, kiến  
trúc... để tạo ra một hiệu ứng nghệ thuật tổng  
hợp, là tài sản quý của dân tộc Trung Hoa và  
Đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu  
phát hiện ra một hệ thống chữ khá hoàn  
chỉnh, qua khảo chứng, chuyên gia khảo cổ  
nhận định rằng những ký hiệu thần bí này là  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
158  
một kiểu văn tự1 thời kỳ Thượng cổ, xuất  
hiện cách đây hơn 3400 năm vào thời kỳ Ân  
Thương. Lúc đó, người ta dùng những mảnh  
“quy giáp” (mai rùa: 乌甲) và “thú cốt”  
(xương thú: 兽骨), trên có khắc các “bốc từ”  
(lời bói:卜辞) nên gọi là chữ giáp cốt (甲骨  
文)2. Vì chữ giáp cốt dùng dụng cụ dao (cùn,  
bén) khắc trên vật liệu xương (cứng, mềm)  
nên nét chữ mảnh, thô, cứng, hình dạng chữ  
mỏng và dài, kích thước không đồng nhất, có  
chữ uốn lượn, đan chéo, lại có chữ phân bố  
theo tầng thứ một cách trang trọng, thể hiện  
sự sáng tạo và thẩm mỹ hồn hậu của người  
xưa. Đây cũng chính là thể chữ sơ khai sớm  
nhất của thư pháp Trung Hoa. Chữ giáp cốt  
sử dụng các phương pháp tượng hình, chỉ sự,  
hội ý để tạo chữ và phương pháp giả tá để  
dùng chữ3. Như vậy, về mặt cấu tạo chữ thì  
chữ giáp cốt mang đầy đủ đặc điểm của chữ  
Hán thời kì đầu theo hướng biểu ý. Các dạng  
dị thể trong chữ giáp cốt khá nhiều do văn tự  
chưa có sự quy ước chặt chẽ. Ông Tống Trấn  
Hào, thành viên Viện Khoa học Xã hội  
Trung Quốc, chủ tịch Hội nghiên cứu lịch sử  
tiên Tần Trung Quốc khẳng định: “Công tác  
chỉnh lý, nghiên cứu giáp cốt văn hiện nay là  
toàn diện, tỉ mỉ, tiến cùng thời đại, đặt công  
tác bảo vệ lên vị trí hàng đầu, không bỏ sót  
bất cứ mảnh nhỏ nào” (Xinhua, 2018). Tính  
đến nay, các chuyên gia khảo cổ học Trung  
Quốc cơ bản nắm rꢀ các mai rùa và xương  
thú có khắc chữ được sưu tầm trong và ngoài  
nước cũng như tình hình bảo tồn của chúng,  
có khoảng 160 nghìn mai rùa, xương thú có  
khắc chữ, có hơn 4300 ký tự, đã giải mã hơn  
1600 ký tự.  
Bước sang thời nhà Thương và nhà  
Chu, với sự phát triển của xã hội và phương  
thức sử dụng khác nhau, kiểu chữ Hán đã có  
nhiều thay đổi. Đời vua thứ 11 nhà Chu –  
Chu Tuyên Vương, quan Thái sử Trứu đã  
chỉnh lý những chữ cổ từ trước rồi viết ra Sử  
trứu thiên (史 籀 篇). Đây là một thể chữ  
mới, gọi là “trựu văn/trựu triện/đại triện” (籀  
文/籀书/大篆). Chữ đại triện đến nay còn  
lưu truyền, tiêu biểu nhất là thể chữ mang  
phong cách Tông Chu, chân phương, giản dị,  
nét chữ tròn đều, trầm, nặng, lưu ký trên đỉnh  
đồng kinh văn tiêu biểu như: bảo vật quốc  
gia Mao Công Đỉnh (毛公鼎), Tụng Đỉnh (颂  
鼎) v.v... Cùng với Tông Chu, vùng Kinh Sở  
còn có một kiểu viết chữ rộng, thưa hơn,  
phong cách hùng vĩ, lưu lại kiệt tác trên Tản  
Thị Bàn (散氏盘). Các ký tự thời này chủ yếu  
được khắc trên chung (chuông:钟) và đỉnh  
(vạc: 鼎). Do “đồng” thời đó gọi là “kim”  
nên chữ khắc trên đồng gọi là chữ kim (金文)  
hay chữ chung đỉnh (钟鼎文), là thể chữ kế  
thừa của chữ giáp cốt, xuất hiện cuối đời nhà  
Thương, thịnh hành vào đời Tây Chu. So với  
chữ giáp cốt, loại chữ có đường nét mảnh,  
thẳng, cứng và dạng hình chữ nhật thì chữ  
kim chuộng những nét thô, dày hơn, nhiều  
nét cong và có dạng khối cầu, mang phong  
cách hoài cổ, mộc mạc của cổ nhân.  
1 Chữ viết dùng để mô tả hình tượng bề ngoài nên gọi  
là văn. Sau bổ sung thêm đặc điểm ghi nhận thanh  
(tức thanh điệu) trong chữ viết nên gọi là tự. Chữ viết  
từ đó sinh ra nhiều từ mới và phát triển bằng hệ thống  
hình thanh. Chữ thời xưa được viết trên thẻ tre, lụa  
gọi là thư.  
2 Một mảnh xương thú có khắc chữ đã làm kinh ngạc  
thế giới. Hơn 100 năm trước, học giả đời nhà Thanh  
tên là Vương ꢁ Vinh phát hiện những đường nét  
chạm khắc trên một loài thảo dược có tên là “Long  
cốt”. Đây chính là văn tự thời kỳ Thượng cổ, còn gọi  
là chữ giáp cốt. Ngày 26/12/2017, Bộ Giáo dục, ꢂy  
ban Công tác Ngôn ngữ -Văn tự Nhà nước Trung  
Quốc chính thức tuyên bố, dự án chữ giáp cốt do  
Trung Quốc nộp hồ sơ đã được đưa vào Danh sách  
Ký ức Thế giới (Xinhua, 2018).  
3 Lục thư 六书 là từ dùng chỉ 6 phép cấu thành chữ  
Hán: Tượng hình 象形, Chỉ sự 指事, Hội ý 会意,  
Hình thanh 形声, Chuyển chú 专注, Giả tá 假借.  
Trong đó Tượng hình, Chỉ sự, Hội ý, Hình thanh là  
cách tạo thành chữ Hán. Chuyển chú, Giả tá là cách  
dùng chữ. Chẳng hạn, đối với Giả tá tức là mượn chữ  
có sẵn rồi đọc âm chệch đi hoặc vẫn giữ nguyên âm  
đọc nhưng mang nghĩa khác. Ví dụ: chữ “vạn” (万)  
lúc đầu dùng để chỉ con bò cạp, sau dùng để chỉ số  
10,000; chữ “trường” (长) nghĩa là dài được mượn và  
đọc ra thành “trưởng”, nghĩa là trưởng thành.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
159  
2.2. Hành trình và phát triển hoàn thiện của  
thư pháp qua các triều đại lịch sử Trung Hoa  
thiện, là cầu nối quan trọng giữa chữ cổ với  
chữ cận đại. Đến nay, văn tự cổ của Trung  
Quốc, bao gồm cả chữ tiểu triện về cơ bản  
đã mất đi chức năng thực dụng nhưng vẫn  
còn giá trị mỹ học quan trọng. Trong nghệ  
thuật thư pháp Trung Hoa, do chữ tiểu triện  
hình thù phức tạp, có thể tùy ý thêm nét hay  
thay đổi nét cong thẳng, kiểu chữ hoa mỹ,  
thoáng đạt nên không chỉ được giới thư pháp  
yêu thích mà còn được đặc biệt ưa chuộng  
trong việc khắc ấn tín bởi độ phức tạp cao,  
rất khó giả mạo.  
Thời Xuân Thu, chữ Hán bắt đầu  
được viết trên tiền, thẻ tre, lụa và đồ sơn mài,  
đồng thời chữ Hán cũng có những thay đổi  
mạnh về kiểu chữ. Đến Chiến quốc, các  
nước chư hầu mỗi bên cát cứ một phương  
nên cách dùng văn tự thời này mỗi nơi một  
khác. Người ta gọi chữ viết của sáu nước Tề,  
Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy là “lục quốc cổ  
văn” (六国古文) và gọi hệ thống chữ viết do  
nước Tần sáng tạo ra là đại triện (大篆). Sau  
khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy  
Hoàng đã loại bỏ “lục quốc cổ văn”, cùng  
với thừa tướng Lý Tư đưa ra chính sách “thư  
đồng văn, xa đồng quỹ” (sách viết cùng loại  
chữ, xe có cùng cỡ trục: 书同文,车同轨).  
Dựa trên nền tảng chữ đại triện, tiến hành  
giản hóa, loại bỏ những chữ dị thể của sáu  
nước, hình thành chữ tiểu triện, hay còn gọi  
là Tần triện (小篆/秦篆). Việc chế định chữ  
tiểu triện và lưu hành toàn quốc được coi là  
một cuộc thống nhất chuẩn hóa văn tự có hệ  
thống đầu tiên của Trung Quốc, biểu đạt ý  
nguyện của Tần Thủy Hoàng muốn thống trị  
thiên hạ mãi mãi “thiên thu vĩnh cửu, thọ dữ  
thiên tề” (千秋永久,寿与天齐). So với  
những thể chữ trước đó, chữ tiểu triện có tính  
chuẩn mực và tính tượng hình cao hơn,  
chuyển biến từ những đường nét có kích  
thước to nhỏ và chiều dài khác nhau thành  
những đường nét cân đối, khuôn chữ hẹp mà  
dài, khung chữ có dạng hình chữ nhật đứng,  
chỗ uốn khúc mềm mại và đều đặn. Kết cấu  
chữ cũng chuyển biến từ sắp xếp tự do, ngẫu  
nhiên đến bố cục ổn định, mang tính đối  
xứng phải trái, toát lên nét đẹp hoa mỹ, tú lệ.  
Chữ tiểu triện mặc dù đã có nhiều cải  
tiến nhưng khi viết vẫn khá bất tiện. Thời  
Tần, công vụ văn thư nhiều, ghi chép bằng  
chữ tiểu triện khó đạt hiệu quả cao. Nhằm  
đáp ứng nhu cầu tạo ra kiểu viết mới đơn  
giản hơn, ghi chép với tốc độ nhanh hơn nên  
chữ lệ hình thành trên cơ sở giản hóa nét chữ  
của tiểu triện, chuyển những nét cong tròn  
thành những nét thẳng, đồng thời biến một  
số nét liền thành những nét đứt dễ viết hơn.  
Dân gian lưu truyền ngoại sử về một viên  
ngục huyện có tên là Trình Mạc mắc tội với  
Tần Thủy Hoàng, bị giam giữ ở ngục Vân  
Dương. Trong thời gian này, Trình Mạo đã  
để tâm suy nghĩ nhiều năm trời, thêm bớt  
những nét vuông tròn cho chữ đại triện và  
tiểu triện, tạo ra ba ngàn chữ lệ (隶书). Tần  
Thủy Hoàng vô cùng tán thưởng liền tha tội  
và thăng chức Ngự sử cho Trình Mạc. Có lẽ,  
vì loại chữ này thuận tiện cho những người  
tù, nô lệ, quan ngục sử dụng nên được gọi là  
chữ lệ.4 Sau khi nhà Tần sụp đổ, chữ lệ ngày  
càng phát triển và trở nên hoàn thiện, đến  
giữa thời kỳ nhà Tây Hán, chữ lệ đã thay thế  
vị trí của chữ tiểu triện, trở thành thể chữ  
chính thức được sử dụng trong xã hội bấy  
giờ. Sự xuất hiện của chữ lệ được xem như  
cuộc biến chuyển lớn trong lịch sử phát triển  
Sự định hình của chữ tiểu triện đã  
đánh dấu thời kỳ chữ Hán dần trở nên hoàn  
4 Câu chuyện trên có khá nhiều dị bản, có dị bản thì  
cho rằng chữ lệ do nhiều người cùng sáng tạo, Trình  
Mạo có thể chỉ là người có công tập hợp và chỉnh lý  
cuối cùng. Tuy nhiên, theo kết quả khảo cổ gần đây,  
từ phát hiện chữ lệ xuất hiện trên những thẻ tre của  
nước Tần thời Chiến quốc, giới sử học nhận định  
rằng, khi Tần Thuỷ Hoàng tiến hành thống nhất văn  
tự, người xưa đã sử dụng cùng lúc cả chữ lệ và chữ  
tiểu triện. Có thể chữ tiểu triện hoa mỹ hơn nên Tần  
Thủy Hoàng yêu cầu sử dụng song do chữ lệ dễ đọc,  
dễ viết hơn nên rốt cuộc ý chí chủ quan của Tần Thủy  
Hoàng đã phải nhường chỗ cho sự phát triển tất yếu  
của lịch sử văn tự.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
thư pháp và văn tự cổ đại Trung Hoa, đánh  
160  
Cùng với sự phát triển của chữ lệ, vì  
dấu giai đoạn chữ viết dần thoát khỏi tính  
tượng hình ban đầu để hướng sang tính  
tượng trưng trừu tượng, đồng thời là nền  
tảng để phát triển thành chữ khải – loại chữ  
viết phổ biến của Trung Quốc ngày nay.  
nhu cầu ghi chép nhanh nên người ta tìm  
cách tăng tốc độ viết, giản lược các nét bút,  
từ đó hình thành chữ thảo - một kiểu chữ Hán  
được viết tốc ký rất nhanh. Chữ thảo không  
phải viết tùy tiện mà có quy ước, quy luật  
riêng. Các nét chữ được giản lược hoặc điều  
chỉnh sao cho lối viết mềm mại và tạo ra hình  
dáng chữ tao nhã, vô cùng phóng khoáng và  
mang tính trừu tượng cao. Chữ thảo tạo hình  
trên nền tảng chữ lệ thì được gọi là chương  
thảo (章草)6. “Chương” có nghĩa là “mạch  
lạc, trật tự” nên chương thảo được viết khá  
rõ ràng, các nét giản lược không nhiều, bút  
pháp vẫn vận lại chữ lệ, nhất là những nét  
ngang. Dù các chữ được viết độc lập song  
giữa chúng có một số nét liên kết, có nhiều  
nét gấp khúc tròn, kéo nối, tạo nên bút pháp  
đặc biệt. Đến thời Tam Quốc và đời Tấn,  
chương thảo dần bỏ các dấu tích của chữ lệ,  
sử dụng nhiều nét “tháu” hơn, diễn biến  
thành kim thảo (今草). Đến thời nhà Đường,  
chữ thảo phát triển thêm một bước gọi là  
cuồng thảo ( 狂 草 ) với bút pháp phóng  
khoáng, mãnh liệt, nhiều chữ được viết nối  
nhau bằng một nét liền tạo thành một chuỗi  
dài nên còn được gọi là “liên miên thể” (连  
绵体). Kiểu chữ này đã hoàn toàn thoát khỏi  
tính thực dụng của văn tự, trở thành thể chữ  
thuần nghệ thuật.  
Bước chuyển biến sáng tạo từ chữ  
triện sang chữ lệ đã mang đến một số thay  
đổi cơ bản về tính quy phạm hóa, khiến chữ  
lệ có thêm sự chuẩn mực, tiện lợi và thực  
dụng. Thứ nhất, từ những nét cong uốn lượn,  
kết cấu tròn, vận bút đơn điệu, ít biến hóa  
của chữ triện đã biến đổi thành những đường  
nét rõ ràng, chỗ tinh chỗ thô, dụng bút đa  
dạng, có vuông có tròn, đóng mở hòa hợp  
của chữ lệ. Thứ hai, ngoài nét ngang, sổ,  
chấm, đã thêm nét phẩy, mác, đặc biệt nét  
ngang xuất hiện thế bút trọng “tàm đầu nhạn  
vĩ” (đầu như con tằm, đuôi như chim nhạn:  
蚕头雁尾)5. Thứ ba, tự hình mở rộng sang  
hai bên, nét chữ cứng cỏi, gấp vuông, dụng  
bút lên xuống nặng nhẹ rõ ràng, mang lại  
cảm giác trực quan trang trọng, vững chãi.  
Chữ lệ đời Hán phần lớn là khắc ở bia mộ,  
kệ đá, cột hoa biểu đá, cửa khuyết đá v.v...  
Điển hình như chữ lệ đề tự khắc đá ở đền Võ  
Lương hay đền thờ mộ Quách Cự ở núi Hiếu  
Đường đều toát lên khí vận tao nhã, cổ kính.  
“Với bia khắc chữ lệ đời Hán, tiếc là các tác  
giả không để lại danh tính, đời sau chỉ biết  
dựa vào từng tấm bia hoặc nội dung mà đặt  
tên. Trong đó, nổi tiếng nhất có Lễ khí bi: nét  
bút khỏe khoắn, nhỏ mà cứng cỏi, khoảng  
cách các nét rộng; Sử Thần bi, Ất Anh bi: nét  
bút khoan thai, tú nhã, ngay ngắn mà không  
cứng nhắc; Trương Thiên biểu tụng: vuông  
khỏe trầm nặng, bút lực đầy đặn khỏe  
khoắn; Tào Toàn bi: đẹp đẽ, nhiều tư thái”  
(Lê, 2007).  
Thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc triều,  
dựa trên cơ sở của chữ lệ, một kiểu chữ mới  
đã được phát triển, đó là chữ khải (楷书), còn  
gọi là chính khải, khải thể, chân thư. Từ điển  
Từ Hải (辞海) giải thích về chữ khải như sau:  
“Hình thể phương chính, bút họa bình trực,  
khả tác khải mô, cố danh khải thư. Thủy ư  
Hán mạt, thông hành chí kim, trường thịnh  
bất suy” (hình thể chữ khải vuông vức, nét  
bút thẳng, có thể coi là hình mẫu chữ chuẩn,  
5 Chữ lệ phát triển cực thịnh vào thời nhà Hán nên còn  
được gọi là Hán lệ. Hán lệ bay bổng, sinh động, hình  
thái mỹ lệ nhờ nét Ba 波, nét Trích/ Chiết 磔. Trong  
đó, nét Ba là những nét xiên qua trái, còn Trích/ Chiết  
là những nét chéo và mở rộng tự hình sang phải như  
nét Nạp 捺 hình đuôi nhạn. Khi viết nét ngang dài,  
khởi bút từ trong tạo ra đầu nét như đầu tằm, thu bút  
theo nét Trích/ Chiết.  
6 Có giai thoại cho rằng Hán Chương Đế rất yêu thích  
chữ thảo, hạ chiếu ban lệnh trong các chiếu lệnh, tấu  
chương đều phải dùng lối thảo, nên lúc đó gọi là  
chương thảo.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
161  
chữ ra đời từ cuối thời nhà Hán và được sử  
dụng thịnh hành đến tận ngày nay: 形体方正,  
笔画平直,可作楷模,故名楷书。始于汉末,  
通行至今,长盛不衰) (Qiu, 2005, tr. 82).  
Như vậy, về hình dạng và cấu trúc, chữ khải  
và chữ lệ gần giống nhau nhưng cách dụng  
bút chữ khải đã có sự thay đổi lớn, chủ yếu  
thể hiện ở chỗ: kết thúc nét ngang không còn  
hất lên mà thu bút lại; nét chấm chuyển từ  
dạng dài sang dạng tròn; hướng của nét phẩy  
nghiêng xuống dưới, có đầu nhọn. Đặc biệt,  
từ khung chữ nhật ngang của chữ lệ, chữ khải  
chuyển sang dạng khung vuông và lần đầu  
tiên trong lịch sử, chữ Hán là kiểu chữ  
vuông. Đến thời Tùy Đường, chữ khải về cơ  
bản đã được hoàn thiện, sau khi được định  
hình, các nét bút của chữ khải trở nên tinh  
xảo, cấu trúc chặt chẽ, quy phạm. Do tính  
quy chuẩn cao nên chữ khải được sử dụng  
chính thức trong in ấn. Cũng từ chữ khải, thư  
pháp chữ Hán phát triển thêm kiểu chữ bút  
cứng, được viết bằng bút máy, bút bi v.v...  
chữ thông dụng được sử dụng phổ biến đến  
ngày nay.  
Quá trình diễn biến từ chữ giáp cốt  
→ chữ kim → chữ tiểu triện → chữ lệ → chữ  
thảo → chữ khải→ chữ hành đã đánh dấu sự  
ra đời và phát triển của chữ Hán cũng như  
quá trình hình thành các thể chữ thư pháp  
Trung Hoa. Lịch sử chứng minh rằng, năm  
thể chữ cơ bản của nghệ thuật thư pháp  
Trung Quốc gồm triện7, lệ, thảo, khải, hành  
đến thời kỳ Tùy Đường đã được định hình,  
hoàn thiện. Về sau, dù cho những đổi thay  
với nhiều phong cách sáng tác mới nhưng  
các tự hình cơ bản đều không tách rời năm  
thể chữ kể trên. Nói cách khác, không có sự  
xuất hiện thêm một thể chữ mới nào nữa.  
Song trên thực tế, cho dù cùng một  
thể chữ nhưng với cá tính, khí chất, tu dưỡng  
hay sở thích, đam mê đến từ các nhà thư  
pháp khác nhau thì mỗi tác phẩm thư pháp  
viết ra sẽ có đặc điểm riêng biệt. Nền thư  
pháp Trung Hoa sở hữu những kiệt tác bất  
hủ sáng tạo bởi những danh gia thư pháp  
như: cha con Vương Hy Chi, Vương Hiến  
Chi nhà Tấn; Trương Húc, Hoài Tố, Nhan  
Chân Khanh, Liễu Công Quyền, ꢃu Dương  
Tuần nhà Đường; Tô Đông Pha, Hoàng Đình  
Kiên nhà Tống; Triệu Mạnh Phủ nhà  
Nguyên; Đổng Kỳ Xương, Trương Thụy Đồ  
nhà Minh; Trịnh Bản Kiều, Ngô Xương  
Thạc nhà Thanh v.v... Những bậc thầy thư  
pháp trên không chỉ đại diện cho một thời đại  
mà còn đại diện cho các trường phái thư  
pháp, đóng vai trò như những mốc son của  
lịch sử văn tự cũng như lịch sử thư pháp của  
quốc gia này. Nếu muốn thưởng thức các tác  
phẩm nghệ thuật thư pháp cổ ở Trung Quốc,  
những lưu bút ở các di tích lịch sử hay ba  
khu bia lớn của Trung Quốc: khu bia Khổng  
Miếu, khu bia Tây An và khu bia Chiêu Lăng  
là những nơi nên ghé thăm nhất. Ở đó tập  
trung số lượng lớn bia đá có khắc những bức  
thư pháp tinh xảo với nội dung vô cùng  
Một loại thư pháp khác xuất hiện vào  
thời nhà Tấn, giao thoa giữa chữ khải và chữ  
thảo được gọi là chữ hành (行书) hay hành  
khải (行楷). Nhận xét về nguồn gốc của chữ  
hành, nhà lý luận thư pháp nổi tiếng đời  
Đường Trương Hoài Quán trong Thư đoạn (  
书断) cho rằng: “Hành thư tức chính thư chi  
tiểu ngoa, vụ tòng giản dị, tương gian lưu  
hành, cố vị chi hành thư” (Chữ hành là lối  
viết hơi bay bướm của chữ khải nhưng thiên  
về sự giản dị, các nét chữ nối với nhau nên gọi  
là chữ hành: 行书即正书之小讹,务从简易,  
相间流行,故谓之行书) (Qiu, 2005, tr. 98).  
Như vậy, sự ra đời của chữ khải như một sự  
trung hòa giữa nét quy chuẩn chặt chẽ của  
chữ khải và nhiều nét “tháu” khó đọc của chữ  
thảo. Ưu điểm của nó là nét chữ mềm mại tự  
nhiên hơn, đường nét thô mảnh cân đối, màu  
mực đậm nhạt xen kẽ, dụng bút nhanh gọn,  
lại đẹp và tiện dụng. Vì thế, nó trở thành kiểu  
7 Chữ triện về nghĩa rộng gồm chữ đại triện và chữ  
tiểu triện, trong đó, chữ đại triện bao hàm thể chữ cơ  
bản của chữ kim và chữ giáp cốt.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
162  
phong phú, thực sự là kho tàng nghệ thuật  
thư pháp cổ đại quý hiếm của Trung Quốc.  
chương, chiếm vị trí không thể thay thế trong  
dòng chảy văn hóa truyền thống Á Đông  
mấy nghìn năm. Trải qua bao cuộc binh lửa  
chiến tranh, thay thời đổi thế, thư pháp mang  
đậm dấu ấn của mỗi giai đoạn lịch sử. Nó  
phản ảnh đời sống văn hóa, diện mạo tinh  
thần thời đại mà nó đi qua. Một triều thiên tử  
– một triều văn hóa, mỗi triều đại với nền  
văn hóa đặc trưng đều có quan hệ đối ứng  
với không gian cao tầng của nó và đem đến  
cho thư pháp sự đa dạng về thể loại và phong  
cách nghệ thuật.  
Thư pháp trở thành một môn nghệ  
thuật lâu đời, không chỉ phát triển mạnh mẽ  
ở thời cổ đại mà thời cận hiện đại cũng nổi  
lên nhiều nhân tài thư pháp. Được sự ủng hộ  
của chính phủ Trung Quốc, những địa điểm  
nổi tiếng trên cả nước đã tổ chức các hiệp  
hội, câu lạc bộ thư pháp, các buổi triển lãm,  
hội thảo nghiên cứu, bồi dưỡng thư pháp hay  
hoạt động giao lưu quốc tế về thư pháp, thu  
hút đông đảo các nhà thư pháp ở mọi lứa tuổi  
tích cực tham gia, tạo điều kiện tốt cho nghệ  
thuật thư pháp tiếp tục phát triển và sáng tạo.  
Hiện nay, Hiệp hội thư pháp quốc gia có  
hàng nghìn thành viên, trong đó có nhiều nhà  
thư pháp nổi tiếng như: Triệu Phác Sơ, Lưu  
Hải Túc, Trần Thúc Lượng, Khải Công,  
Thẩm Bằng, Sa Mạnh Hải, Châu Nhi Phục,  
Vương Học Trọng, Trương Húc v.v...  
Thư pháp truyền thống Trung Hoa có  
phương thức biểu hiện và chứa đựng tư  
tưởng thẩm mỹ riêng biệt. Trong khi thư  
pháp phương Tây được coi là nghệ thuật thị  
giác gắn liền với văn bản, tạo thành từ những  
biểu tượng ngôn ngữ viết tay và được sắp  
xếp một cách cứng nhắc, nghiêm ngặt trong  
nét vẽ. Hơn nữa, do chức năng hành chính  
cần sự rõ ràng, nghiêm chỉnh nên thư pháp  
phương Tây thường tập trung vào sự đăng  
đối, khúc chiết, thiếu đi sự sống động, bay  
bướm thì thư pháp truyền thống Trung Hoa  
với bút pháp bay bổng, có hồn, tựa hồ như  
suối nguồn tự nhiên hay hiện thân linh khí  
của đất trời sông núi, sức sống của muôn  
loài. Theo Vương Hy Chi (321-379) ông tổ  
của nghệ thuật thư pháp Trung Hoa từng tri  
ngộ về nghệ thuật này: “Mỗi nét ngang là  
một đám mây trong một thế trận, mỗi nét  
móc là một cây cung giương lên, có sức  
mạnh khác thường, mỗi nét chấm là một tảng  
đá rơi xuống từ đỉnh núi cao, mỗi nét phẩy là  
một cái móc bằng đồng, mỗi nét sổ dài là một  
thân cây cổ kính, mỗi nét phóng khoáng  
mảnh mai là một lực sĩ chạy thi ở tư thế sẵn  
sàng lao lên phía trước” (Trần, 2016).  
3. Nội hàm văn hóa thâm sâu của thư  
pháp Trung Hoa  
Chữ Hán, bản thân nó là bộ phận hợp  
thành quan trọng của văn hoá truyền thống,  
bởi lẽ chữ Hán là chữ biểu ý, là thể chữ kết  
hợp giữa hình – âm – nghĩa. Dùng Hình để  
biểu đạt Ý, nhìn Hình mà hiểu Ý cho nên giá  
trị của thư pháp không chỉ thể hiện đơn thuần  
ở kỹ xảo vận bút. Nói cách khác, viết chỉ là  
kỹ năng cơ bản, là hình thức bên ngoài của  
thư pháp, để thực sự trở thành tác phẩm nghệ  
thuật, cần nâng cao giá trị nội hàm văn hóa  
bên trong. Chính vì có tinh hoa văn hóa làm  
nền móng, thư pháp mới có thể lưu truyền  
ngàn đời vững chắc trong dòng chảy lịch sử  
của dân tộc Trung Hoa. Nội hàm của thư  
pháp Trung Hoa kế thừa và phát huy nền văn  
hóa truyền thống Á Đông, chủ yếu thể hiện  
ở các khía cạnh dưới đây.  
Ngược dòng quá khứ lịch sử, từ thời  
kỳ văn tự sơ khai khắc trên đồ gốm, chữ giáp  
cốt, chữ kim, chữ đại triện, chữ tiểu triện đến  
chữ lệ, chữ thảo, chữ khải và cho tới cách  
quy phạm hóa trong văn tự in ấn của thời  
hiện đại thì hình – âm của chữ Hán không  
ngừng biến đổi và hoàn thiện trong suốt quá  
trình phát triển của lịch sử. Mỗi một thời đại,  
3.1. Thư pháp mang đậm dấu ấn hơi thở thời  
đại lịch sử mà nó đi qua  
Cổ nhân có câu “Văn chương thiên  
cổ sự, thư pháp vạn niên truyền” (文章千古  
事,书法万年传), thư pháp giống như văn  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
163  
thư pháp đều có một sắc thái riêng biệt, vừa  
mang tính kế thừa, vừa mang tính đột phá, đồng  
thời cũng ghi nhận dấu ấn riêng điển hình.  
phong cách chữ khải và chữ hành. Đó chính  
là sự kết tinh của cá tính, sự tu dưỡng của thi  
văn và sự hài hòa giữa tư tưởng, kỹ pháp, khí  
lực của thư gia. Những năm Trinh Quán  
(Đường Thái Tông) và Khai Nguyên (Đường  
Huyền Tông) đời Đường càng thể hiện rõ giá  
trị tinh thần thời đại, thổi hồn trong các tác  
phẩm thư pháp hào hoa tráng lệ, khí phách  
hào hùng, phản ánh sự thịnh vượng, thái bình  
lan tỏa trong mọi lĩnh vực xã hội, văn hóa,  
kinh tế, nghệ thuật của triều đại này.  
Nghĩa của chữ Hán qua sự điều chỉnh  
của các bậc thánh hiền và quá trình nghiên  
cứu, phát hiện của tao nhân mặc khách, trung  
thần lương tướng ở các triều đại khác nhau  
nên càng trở nên phong phú. Trên 3000 năm  
trước, vào thời nhà Thương – Chu, chữ giáp  
cốt đã được sử dụng để viết về chiêm tinh  
bói toán. Cảnh giới du nhàn huyền bí của chữ  
giáp cốt phản ánh phần nào trí tuệ của cổ  
nhân. Đường nét của chữ lệ vuông khỏe trầm  
nặng, bút lực đầy đặn, hùng hồn, chắc nịch,  
tiềm ẩn hào khí, chất chứa dâng trào, hình  
thành nên một diện mạo độc đáo, phản ánh  
phong tục dân gian tự do, cởi mở và sự phát  
triển hùng mạnh thời nhà Hán. Khang Hữu  
Vi, danh sĩ đầu thế kỷ XX trong cuốn thư  
pháp luận cận đại nổi tiếng Quảng Nghệ  
Châu song tiếp (广艺舟双楫) đã ngợi ca  
rằng: “Viết chữ không thời nào phát  
triển bằng thời Hán, không chỉ riêng thể chữ  
có phong độ cao, mà nó biến thể nhiều nhất,  
cao vững muôn đời. Đỗ Độ viết chữ thảo,  
Thái Ung viết phi bạch (giữa nét chữ có  
những điểm trắng), Lưu Đức Thăng viết  
hành thư, đều là những nhân vật thời nhà  
Hán cả” (Trần, 2016).  
Nhìn chung, tác phẩm nghệ thuật thư  
pháp ở các thời kỳ khác nhau sẽ có dấu ấn  
nghệ thuật khác nhau, đây chính là định hình  
tính cách của thời đại. Nét chữ đời Tấn coi  
trọng Vận (chuộng vần điệu), bút tích triều  
Đường lại chú trọng Pháp (chuộng phép  
tắc), nét chữ đời Tống quan tâm tới Ý  
(chuộng ý cảnh), triều Nguyên nét chữ đề  
cao Thái (chú trọng phong thái). Chuyên gia  
bình thư pháp cuối nhà Thanh là Lưu Hi Tái  
cũng đề tựa: Bút tích văn bia đời Tần khí lực  
cứng cỏi, bia Hán khí đầy; Xem nét chữ của  
người Tấn, có thể thấy người triều Tấn rất  
phong du, xem thư pháp của người Đường,  
sẽ biết người đời Đường rất mực thước. Rõ  
ràng, thư pháp không chỉ là một môn nghệ  
thuật đặc sắc mà nó còn truyền tải hết thảy  
giá trị lịch sử, tín ngưỡng cùng tinh thần của  
thời đại lịch sử.  
Nghệ thuật thư pháp tiếp tục phát  
triển mạnh trong thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc  
Triều. Trong lịch sử Trung Quốc, đây là thời  
kỳ đầy biến động, phân ly. Ba nước Ngụy,  
Thục, Ngô phân tranh quyền lực, binh  
lính trở thành giặc cướp, dẫn đến việc bát  
Vương tàn sát, Ngũ Hồ xâm lăng. Những  
nhân tố này khiến nền chính trị Trung Quốc  
lúc đó hỗn loạn, lễ băng nhạc hoại, các lĩnh  
lực ý thức hình thái đều chịu ảnh hưởng nặng  
nề, tầng lớp sĩ phu lên án sự o bế, kìm hãm  
của lễ giáo cổ hủ, khao khát vươn đến giá trị  
bản ngã, theo đuổi vẻ đẹp nhân cách thanh  
tao. Nghệ thuật thư pháp trong giới văn nhân  
vì thế cũng chuyển biến theo hơi thở mới của  
thời đại. Sự tiêu diêu, phiêu bồng, tự tại,  
khoáng đạt thể hiện sáng tạo rõ nét trong  
3.2. Nhất tự thiên kim: văn hóa “trọng chữ”  
qua sự khổ luyện của các danh gia thư pháp  
Trong xã hội phong kiến, truyền  
thống trọng văn chương, học vấn, tri thức lâu  
đời, đề cao “nhất tự”, “nhất sĩ” nên chữ nghĩa  
và nghiên bút đã trở thành mơ ước, khát khao  
cháy bỏng của nhiều thế hệ văn nhân trên  
con đường học vấn khoa cử, tuyển chọn hiền  
tài giúp ích cho đời. Một nhà thư pháp phải  
là người tinh thông nhiều thể chữ, am tường  
lịch sử thư pháp nói riêng và lịch sử văn tự  
nói chung mới có đủ thời gian và tâm sức  
lâm tập lâu dài. Nhìn lại lịch sử các danh gia  
thư pháp mới càng thấu hiểu được sự khổ  
luyện công phu của họ: “Ba mươi tuổi vào  
thư pháp, bảy mươi tuổi còn bản nháp, suốt  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
164  
một đời bản nháp dồn cơn thác”. Không hổ  
danh khi nói “nghệ thuật thư pháp là nghệ  
thuật của thư phòng, là ngón chơi của dân trí  
thức, là một loại hình nghệ thuật hàn lâm”  
(Chu, 2019). Thuật ngữ “lâm trì” (临池) là  
biểu trưng cho các giai thoại về sự kiên nhẫn  
rèn luyện hiếm có của các nhà thư pháp trứ  
danh lịch sử.  
nửa đêm thức dậy, đốt đuốc luyện Lan  
Ðình tự “Dạ bán khởi, bá chúc học Lan Đình  
tự” (夜半起,把烛学兰亭序). Cổ nhân đã  
truyền tụng bút pháp của ông trong hậu thế  
rằng: “Phiêu nhã du vân, kiều nhã kinh  
long”; “Tự thế hùng dật, long khiêu thiên  
môn, hổ ngọa phụng khuyết”; “Thiên chí tự  
nhiên, phong thần cái đại” (Phiêu đãng ngao  
du, bảng lảng như mây bay, kiêu dũng như  
rồng lượn; Thế chữ hùng dật, bút pháp bay  
lượn như rồng bay nơi cửa trời, hùng hồn  
như hổ canh hoàng điện; Thiên tư tự nhiên,  
thần thái bao trùm một thời: 飘若游云,矫若  
惊龙; 字势雄逸,龙跳天门,虎卧凤阙; 天  
质自然,丰神盖代) (Xu, 2008, tr. 74). Con  
trai của Vương Hy Chi là Vương Hiến Chi  
luyện chữ đến năm 45 tuổi mới xuất chúng  
hơn người, giỏi cả năm thể: lệ, hành, thảo,  
chương thảo, phi bạch với bút vận hào sảng,  
nét bút sinh động, đẹp đẽ tràn đầy. Đời Tùy,  
bậc tông sư nổi tiếng Thích Trí Vĩnh9 tu ở  
chùa Vĩnh Hân, huyện Ngô Hưng với giai  
thoại truyền rằng, ngài khổ luyện rèn chữ  
trên gác chùa đến “đăng lâu bất hạ, tứ thập  
dư niên” (lên gác chùa rồi không xuống, ở  
đó 40 năm miệt mài luyện thư pháp: 登楼不  
下,四十余年). Nhắc đến bậc thầy về cuồng  
thảo, thế thái ắt lưu truyền Trương Húc và  
Hoài Tố là “cuồng thảo nhị tuyệt” (hai bậc  
tuyệt đỉnh về cuồng thảo: 狂草二绝), là “điên  
Trương, túy Tố” (Trương Húc điên, Hoài Tố  
say: 颠张,醉素). Bởi lẽ, Trương Húc giỏi về  
chữ thảo, khi viết chữ ông thường uống rượu  
say rồi hạ bút như có thần. Chữ thảo của  
Trương Húc hào phóng, không câu thúc, như  
Sài Ung đời Hán dụng tâm cả đời  
nghiên cứu để lại cho đời một thiên lý luận  
về môn thư pháp có tên là Bút pháp. Đây  
được xem như hệ thống lý luận cơ bản của  
thư pháp Trung Hoa thời kỳ đầu, đặt nền  
móng quan trọng cho lý luận và nghiên cứu  
sau này. Trương Chi đời Đông Hán rất giỏi  
chương thảo, thời đó giấy chưa phổ biến, chỉ  
có thể viết trên tơ lụa, ông đã tận dụng tất cả  
vải lụa trong nhà ngày đêm rèn chữ, khi  
không thể viết thêm được nữa thì đem  
nhuộm lại và may quần áo. Giai thoại nổi  
tiếng “Lâm trì học thư, trì thủy tận mặc” (临  
池学书,池水尽墨) là để ngợi ca tinh thần  
khổ luyện, miệt mài luyện chữ của ông. Mỗi  
lần luyện viết xong, Trương Chi lại đem rửa  
bút ở ao, lâu ngày nước ao đen như mực  
vậy. Để có sự tinh xảo trong thư pháp, “Thư  
thánh” Vương Hy Chi đời Tấn khổ luyện  
“Dụng tâm thập ngũ niên, thủy công nhất  
vĩnh tự” (15 năm chuyên tâm rèn luyện thư  
pháp, bắt đầu từ chữ “vĩnh” đến quên ăn  
quên ngủ: 用心十五年,始工一水字). Hay để  
có được bức kiệt tác hành thư Lan Đình tập  
tự /Lan Đình tự (兰亭集序/兰亭序)8 được  
hậu thế mệnh danh là “Thiên hạ đệ nhất hành  
thư” (天下第一行书), Vương Hy Chi từng  
8
Trong những kiệt tác để đời của Vương Hy Chi,  
hài hòa du dương, thần vận tinh xảo. Bức chữ hành  
quý hiếm độc nhất vô nhị không chỉ vì giá trị văn  
chương mà còn bởi bút pháp tuyệt diệu vô song, thập  
toàn thập mỹ (Gu, 2007, tr. 60).  
9 Tục gọi là Vĩnh Thiền Sư, cháu 7 đời của Vương Hy  
Chi, đặc biệt nổi tiếng về thảo thư được người đời vô  
cùng ngưỡng mộ. Ông học theo bút pháp của Vương Hy  
Chi, viết lại Chân thảo thiên tự văn (真草千字文) hơn  
800 bản, lưu hành tại các chùa ở vùng phía đông Triết  
Giang, Trung Quốc.  
không thể không nhắc đến Lan Đình tập tự hay Lan  
Đình tự. Bài này được Vương Hy Chi viết lời đề tựa  
cho tập thơ do các văn nhân, thi sĩ tham gia sáng tác  
trong một buổi hội thơ ở ngôi đình cổ Lan Đình, núi  
Cối Kê (trước thuộc Sơn ꢃm, nay là Triệu Hưng,  
Chiết Giang) trong lễ hội Tu Hễ (lễ hội du chơi để xua  
tà, cầu may) theo phong tục địa phương. Rượu nồng  
cao hứng, tình cảm dâng trào, trước vẻ đẹp sơn thủy  
hữu tình, Vương Hy Chi đã nhẹ tựa bút lông tuôn trào  
một mạch 28 dòng, 324 chữ, chữ nào cũng tinh diệu,  
thông thuận như nét bút của Thần. Ngữ âm xướng tấu  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
165  
sóng lượn gió quần, như quỷ thần biến hóa.  
Nhà sư Hoài Tố vì nghèo khó, không có tiền  
mua giấy nên ông trồng vạn khóm chuối ở  
vườn nhà để tôi luyện chữ trên lá chuối. Ông  
còn để tâm quan sát, lĩnh hội những đường  
nét biến ảo vi diệu qua những tia sấm chớp  
mà vận bút như có thần vào thư pháp. Chữ  
thảo của ông ví như chớp giật mưa giông, bút  
pháp như cuồng phong vũ bão nhưng không  
hề rối loạn. Vua Đường Thái Tông Lý Thế  
Dân tranh thủ những lúc không bận triều  
chính, tay không miệt mài luyện chữ trong  
không khí nên cụm từ “trừu không luyện tự”  
(抽空练字) trở thành huyền thoại lưu truyền  
trong dân gian là vậy.  
tinh hoa của văn hóa dân tộc Hoa Hạ. Khi  
tạo chữ, cổ nhân đã dung nhập tiêu chuẩn  
đạo đức của mình vào trong cấu tạo của từng  
con chữ: “Tự tiểu càn khôn đại” (chữ nhỏ  
chứa cả trời đất lớn: 字小乾坤大). Nội hàm  
chữ Hán phản ánh sự tuân thủ đạo đức luân  
thường truyền thống của cổ nhân. “Học tự  
tiên tác nhân, tâm chính tắc bút chính” (học  
làm người trước khi học chữ, tâm chính trực  
thì nét bút khúc chiết: 学字先做人,心正则  
笔正). Trong Thư đạo (书道) cũng nhấn  
mạnh: “Tự lai thư phẩm, thị kỳ nhân phẩm.  
Cố vô học bất túc dĩ ngôn thư, vô phẩm ưu  
bất túc dĩ ngôn thư, thử thư đạo chi lý dã”  
(Tác phẩm thư pháp từ xưa đến nay đều coi  
trọng phẩm chất con người. Học không tới  
và thiếu nhân phẩm thì không thể đàm luận  
về thư pháp. Đây cũng là lý luận của thư  
đạo): 自来书品,视其人品。故无学不足以  
言书,无品尤不足以言书,此书道之理也)  
(He, 2006, tr. 105). Như vậy, muốn tu luyện  
thư đạo thì trước tiên phải trau dồi nhân  
phẩm vì đạo đức mới là căn gốc của tài hoa.  
Các nhà thư pháp xưa đều là kẻ sĩ uyên thâm  
có tâm trong sáng, có cốt cách cao thượng.  
Với họ, khi công phu thư pháp đạt đến trình  
độ “Tự như kỳ nhân”; “Thư phẩm như nhân  
phẩm” (nét chữ và nhân phẩm của con người  
hòa vào làm một: 字如其人;书品如人品),  
thần thái, khí vận ắt tự nhiên đến, thư pháp  
sẽ đạt đến đỉnh cao của sự hoàn mỹ. Hoàng  
Đình Kiên đời Tống trong Luận thư bình  
rằng: “Mỗi khi hạ bút, tâm hồn như hòa cùng  
với thanh sơn lục thủy, tâm tưởng như đang  
trò chuyện với chư vị thánh hiền thì thư pháp  
mới trân quý. Nếu tâm hồn họ không hiển  
quý, cho dù bút mực không kém Nguyên  
Thường, Dật Thiếu thì cũng chỉ là dạng tầm  
thường mà thôi”. Yếu chỉ của thư pháp cũng  
nhấn mạnh: “Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật thổ  
tịnh” (nếu tâm ta thanh tịnh thì cõi thế cũng  
sẽ thanh tịnh: 随其心净,则佛土净) (Vũ,  
2010, tr. 55).  
“Nhất chữ, nhị tranh, tam sành, tứ  
kiểng”, thư pháp chiếm được thành tựu lớn  
lao và cuốn hút tao nhân mặc khách muôn  
đời bởi lẽ nghệ thuật thư pháp được ví như  
gạch nối giữa triết học, nghệ thuật với tâm  
thức của con người. Những danh nhân thư  
pháp bước tới đỉnh cao của nghệ thuật viết  
chữ tinh luyện, với nét chữ lúc mềm mại,  
phiêu diêu, khi rồng bay, sóng cuộn, lúc chân  
phương, mộc mạc v.v... “Nói theo thuật ngữ  
đạo gia, họ đều hội tụ đủ 3 yếu tố: Tinh, Khí,  
Thần. Tinh thành khí, khí hóa thần, thần  
hoàn hư. Tinh là toàn bộ hình thức, bố cục  
viết chữ. Khí là toàn bộ tâm hồn, ý khí để  
thực hiện nét chữ ấy. Và Thần là đạt đến sự  
thượng thừa của nghệ thuật chữ hay còn gọi  
là Thần bút. Nói cách khác, nếu chữ đẹp  
không thôi thì mới chỉ là Tinh. Viết chữ đẹp  
rồi nhưng biểu lộ được cá tính, phong cách  
tâm hồn của mình nữa mới là Khí” (Minh  
Đức, 2010). Cái đẹp của chữ nghĩa, ngoài  
đẹp về nét chữ và bố cục, nó còn thể hiện cái  
“hồn” của người viết, của sự kết hợp hài hoà  
giữa “tâm – trí – khí”, tất cả phải thật tròn  
trịa, hoàn hảo.  
3.3. Thư, tâm họa dã: viết chữ chính là họa  
tâm mình  
Chữ Hán được coi là văn tự truyền tải  
quan trọng của văn hoá truyền thống Trung  
Hoa, trong tiến trình phát triển đã ngưng kết  
Những nhà thư pháp với vốn tri thức  
và trải nghiệm, chắc chắn rất nhạy cảm với  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
166  
“đời suy thói tệ, danh phận lung tung”10 .  
Trong những vương triều suy thoái vua tối  
tôi gian, chuẩn mực khuôn vàng thước ngọc  
bị lung lay, trong tâm thức họ, ở những cung  
bậc khác nhau, sẽ có những trăn trở, ưu sầu  
trước thời thế, xã hội và thân phận con  
người. Đúng như Nguyễn Trãi nói “cổ kim  
thức tự đa ưu hoạn” (xưa nay người biết chữ  
nghĩa thường lắm nỗi ưu phiền). “Trong  
khúc quanh của lịch sử, những nhân sĩ chân  
chính, kế thừa phẩm chất trí dũng của nhà  
nho, không màng danh lợi”, thông qua tác  
phẩm thư pháp của mình, “họ tự giải phóng  
khỏi thói đời tao loạn nghịch lý để hướng tới  
chân trời lý tưởng chân, thiện, mỹ” (Nguyễn,  
2020, tr. 205). Nếu liên hệ một chút đến tác  
phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân,  
hình ảnh Huấn Cao vừa có cốt cách ngạo  
nghễ phi thường của một bậc đại trượng phu,  
lại có tài viết chữ của một Nho sĩ với nét chữ  
hiên ngang, tung hoành bốn bể. Phải chăng  
đó chính nét văn hóa dân tộc thầm kín nhưng  
vô cùng mạnh mẽ, quyết liệt đến mức rung  
động, cảm hoá được viên quan quản ngục,  
thầy thơ, khiến họ khúm núm khi bưng  
nghiên mực và cầm trên tay những con chữ  
trao tặng từ người tử tù mà họ khát khao đến  
“mất ăn mất ngủ”, không nề hà tính mạng để  
có được “một vật báu ở trên đời” (Nguyễn,  
1940, tr. 47). Vậy nên, “đích đến mà đạo đức  
và nghệ thuật theo đuổi chính là hoàn toàn  
dung hòa với nhau làm một”; “cảnh giới cao  
nhất mà đạo đức theo đuổi, trên thực tế cũng  
là cảnh giới cao nhất mà nghệ thuật theo đuổi  
(Lou, 2007, tr. 193). Lẽ đương nhiên, sự  
thượng thừa chân chính của những danh  
nhân, văn sĩ sẽ thẩm thấu trong chính những  
nét bút “Hoa tay thảo những nét. Như  
phượng múa rồng bay” (Vũ, 1936), để rồi ra  
đời những tác phẩm thư pháp truyền tụng  
ngàn đời trong sử sách. Ví như áng văn thiên  
cổ Xuất sư biểu (出师表)11 của Gia Cát  
Lượng sở dĩ lưu danh muôn thuở không chỉ  
vì giá trị thẩm mỹ tuyệt vời của tác phẩm thư  
pháp mà còn là biểu tượng cho lòng trung  
thành sáng rọi qua nét bút đề tựa “Cúc cung  
tận tụy, tử nhi hậu dĩ” (hết lòng tận tụy đến khi  
nhắm mắt xuôi tay: 鞠躬尽瘁,死而后已) của  
Gia Cát Lượng với nhà Thục Hán nói riêng  
và của bầy tôi với vua chúa phong kiến  
Trung Quốc nói chung. Vương Hy Chi một  
lòng thành tâm hướng đạo, với phẩm đức  
thanh tao, thuần khiết thấm đượm vẻ đẹp của  
tạo hóa đất trời, sự tinh tế, ảo diệu của vũ trụ  
nên đã để lại cho đời những tuyệt phẩm thư  
pháp bất hủ, ngàn năm sau hậu thế vẫn thán  
phục. Bản thân Vương Hy Chi đã từng nhận  
định: “Thiên biến vạn hóa, đắc chi thần  
công. Tự phi tạo hóa phát linh, khởi năng  
đăng phong tạo cực” (nếu không có linh cảm  
huyền diệu của tạo hóa thì làm sao có thể đạt  
đến trình độ uyên thâm: 千变万化,得之神  
功。自非造化发灵,岂能登峰造极) (Xu,  
2008, tr. 75) Những áng văn, nét bút diệu kỳ  
của Vương Hy Chi đã chuyển tải phong cách  
thư pháp cổ xưa thời Ngụy Hán thành bút  
mực phóng khoáng, tự thành một phái với vẻ  
đẹp riêng, nét bút phiêu diêu, bay bổng như  
trên đỉnh phù vân, uyển chuyển như phượng  
múa. Tác phẩm chữ hành Lan Đình Tự (兰亭  
序), chữ thảo Thập Thất Thiếp (十七贴) v.v...  
được xem như viên ngọc quý của nền nghệ  
thuật thư pháp cổ đại Trung Hoa, là khuôn  
mẫu vô tiền khoáng hậu cho thế nhân nghiên  
tập. Nhân cách cao thượng, xem nhẹ danh  
lợi, cá tính khoáng đạt, hào hoa nên thần thái  
bút vận của ông vừa tự tại, thanh tao, lại  
“xảo”, “nhẫn”, dứt khoát, đan lồng ý tưởng  
10 Câu nói của Phạm Đình Hổ (1768 - 1839), một danh  
sĩ lỗi lạc Bắc Hà, học vấn uyên bác, được vua Minh  
Mệnh triều Nguyễn cử giữ chức Tế tửu Quốc Tử  
Giám.  
11 Gia Cát Lượng là nhà quân sự, chính trị, nhà văn  
kiệt xuất thời Trung Quốc cổ đại. Tác phẩm tản văn  
tiêu biểu Xuất sư biểu là áng văn ưu tú được người  
đời ca tụng. Bài biểu này được ông viết ra để dâng  
lên Thục Hán Hậu chủ Lưu Thiện trước khi ông thân  
chinh dẫn quân đi Bắc phạt Tào Ngụy. Với lời lẽ  
thống thiết, chân thành, Gia Cát Lượng đã khuyên nhủ  
Hậu chủ cần gần gũi với hiền thần mà xa lánh lũ tiểu  
nhân, chú ý thưởng phạt phân minh, chấn hưng nhà  
Hán, đồng thời bày tỏ một lòng trung thành son sắc  
với hoàng đế Thục Hán và quyết tâm Bắc phạt thống  
nhất đất nước.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
167  
vào trong tác phẩm. Tiếp đó, nói đến Nhan  
Chân Khanh là nhắc đến bậc thầy thư pháp  
chữ hành, nhà lý luận thư pháp thời Thanh  
Nguyễn Nguyên khi chiêm ngưỡng bức hành  
thư đã phải thốt lên rằng: “... như dung kim  
xuất dã, tùy địa lưu tẩu, nguyên khí hồn nhiên”  
(như luyện vàng tôi bạc, tùy ý chảy tràn,  
nguyên khí tràn đầy, tròn trịa: 如融金出冶,  
随地溜走,元气浑然) (Cao, 2018, tr. 59).  
Trong đó, kiệt tác hành thư Tế Điệt văn cảo  
(祭侄文稿)12 với bút pháp có sự viên chuyển  
mạnh cứng của chữ triện, lấy viên bút trung  
phong làm chính và thu bút theo lối tàng  
phong, tâm bút hợp nhất thần diệu, tràn đầy  
sinh lực. Sự chuyển triết tự nhiên mà thâm  
sâu trong từng nét bút diễn tả tâm thái thay  
đổi qua từng mạch cảm xúc trào dâng cuồn  
cuộn của Nhan Chân Khanh. Tác phẩm đã  
mang lại sự rung động mãnh liệt về phẩm  
chất cao thượng của bậc quân tử, tấm lòng  
trung quân ái quốc, thanh liêm chính trực,  
đấu tranh chống lại gian thần, nỗi niềm bi  
phẫn thống thiết trước sự an nguy của đất  
nước và phảng phất nỗi đau thương mất đi  
người thân. Hay tuyệt phẩm chữ hành Hoàng  
Châu Hàn Thực thiếp (黄州寒食帖) do Tô  
Đông Pha sáng tác trong thời gian bị giáng  
chức đầy ải về Hoàng Châu. Tác phẩm thư  
pháp đạt đến cảnh giới hoàn mỹ của thi ca  
bút pháp, khí vận sinh động, bút mực khoáng  
đạt, nét nét có hồn, kết cấu chặt chẽ, phong  
cách tự nhiên, tràn đầy khí phách trung nghĩa  
sáng cùng nhật nguyệt. Nét chữ thiên biến  
vạn hóa, từ nhỏ dần lớn, từ mảnh chuyển thô,  
tiết tấu từ chậm đến nhanh rồi đột ngột dừng  
bút, giàu sức cảm hóa lòng người về những  
sóng gió thăng trầm, tâm cảnh thê lương, bi  
thương của tác giả khi ở Hoàng Châu. Bình  
luận về tác phẩm thư pháp này, Trương Diễn  
đời đầu Nam Tống đã dành lời khen tặng:  
“Lão tiên văn bút cao diệu, xán nhược tiêu  
hán, vân hà chi lệ... khả dĩ tuyệt đại chi trân”  
(bút pháp Tô Đông Pha trong tác phẩm Hàn  
Thực thiếp cao bay chói sáng như trời cao,  
đẹp tựa như mây trắng... được xem là kiệt tác  
để đời: 老仙文笔高妙,灿若霄汉、云霞之  
丽...可谓绝代之珍) (Yang, 2013, tr. 124).  
Không phải ngẫu nhiên mà vua  
Khang Hy, vua Càn Long, Mao Trạch Đông,  
Alexander Đại Đế là những họa sĩ, nhà thư  
pháp hoặc những nhà sưu tập nghệ thuật trứ  
danh. Hay những nhà kinh tế mới như Steve  
Jobs của tập đoàn Apple coi thư pháp là một  
trong những công cụ tuyệt vời để phát triển  
bản thân, tu tâm rèn tính, từ đó hình thành  
cốt cách, tâm thái, nhân phẩm và giá trị quan  
đúng đắn. Đường Thái Tông là người vô  
cùng say mê bút pháp Vương Hy Chi, người  
mà ông tôn là “thiên cổ thánh bút” (千古圣  
笔), coi chữ của Vương Hy Chi là “tường  
sát cổ kim”, “tận thiện tận mỹ” (祥察古今;  
尽善尽美) (Niu, 1998). Ngài còn tự mình đặt  
bút viết Vương Hy Chi truyền luận (王羲之  
传论) để khích lệ quần thần và dân chúng học  
tập theo cách viết thư pháp của Vương Hy  
Chi. Điều đó góp phần đưa thư pháp đời  
Đường đạt đến đỉnh cao của sự chuẩn mực,  
củng cố vị trí và lan tỏa tầm ảnh hưởng sâu  
rộng của nó.  
Trong lý luận mỹ học của văn hóa  
nghệ thuật truyền thống, các giá trị thẩm mỹ  
cũng thường bàn về phẩm chất, về đạo làm  
người. Ở nghệ thuật thư pháp truyền thống  
Trung Hoa đã phản ánh rõ nét quan niệm đạo  
đức được xem như nét đẹp của con người.  
Quan điểm “Văn dĩ tải đạo, văn giả, đạo chi  
hiển dã” (Văn chương có thể chuyển tải chân  
lý cuộc sống, người viết văn làm cho chân lý  
trở nên sáng ngời: 文以载道,文者,道之显  
12 Tế Điệt văn cảo/ Tế Điệt thiếp/ Tế Điệt Quý Minh  
văn cảo là bản thảo bài tế người cháu Nhan Quý Minh  
- con của Nhan Cảo Khanh, đã vào sinh ra tử rồi tử  
nạn cùng cha, một lòng giữ trọn đạo trung, quyết tiêu  
diệt quân phản loạn An Lộc Sơn. Tế Điệt văn cảo vốn  
chỉ là bản thảo nhưng vô tình, kiệt tác lại hình thành  
và được người đời tôn xưng là “Thiên hạ đệ nhị hành  
thư” trong “Tam đại hành thư thư pháp thiếp”. Đệ  
nhất (đứng đầu) là Lan Đình tự của Vương Hy Chi,  
đệ tam (đứng thứ ba) là Hàn Thực Thiếp của Tô Đông  
Pha. Kiệt tác thư pháp này còn được xếp là một trong  
10 danh thiếp truyền thế của Trung Hoa.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
168  
也) là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình sáng  
tạo nghệ thuật thư pháp và nhấn mạnh yếu tố  
đạo đức trong đánh giá thẩm mỹ. Vì lẽ đó,  
các tác phẩm thư pháp trên nhận được sự tôn  
sùng trong giới nghệ thuật thư pháp và sự  
yêu mến ngàn đời của hậu thế. Khổng Tử  
viết: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”  
(修身,齐家,治国,平天下), tức những  
việc làm đầu tiên của một con người, nếu  
muốn bình được thiên hạ, trước hết phải biết  
cách trị quốc an bang, muốn làm được điều  
đó phải biết cách vun đắp, xây dựng một gia  
đình êm ấm, để được như vậy đầu tiên phải  
tu thân, phải rèn luyện và học hỏi không  
ngừng. Như vậy, tu thân là nhiệm vụ hàng  
đầu, dụng tâm luyện thư pháp là một trong  
những cách thức rất tốt để tu thân mà cổ nhân  
đã đúc rút: “Học tập thư pháp khả dĩ tu thân,  
dưỡng tính, đào dã tình thao” (学习书法可以  
修身养心,陶冶情操) (Zhang, 2020, tr. 90),  
từ đó giúp con người cảm ngộ được đạo lý  
sống, gợi mở nhân sinh quan sâu rộng hơn,  
đạt đến cảnh giới: bình tâm tĩnh khí ngắm  
bụi trần, tu thân dưỡng tĩnh quên bản ngã.  
ra được những bí ẩn của thư pháp qua việc  
lĩnh hội vạn vật bắt nguồn từ thiên nhiên như  
tiếng mưa rơi, tiếng gió thổi, tiếng động vật  
di chuyển trên thảm cỏ v.v… mà từ đó ứng  
dụng vào nhịp điệu tay, hình thức hay cách  
thức thể hiện. Tương truyền, bút pháp của  
Hoàng Sơn Cốc đời Tống bắt nguồn từ việc  
quan sát động tác chèo thuyền mà sinh khí  
vận với cách dụng bút chữ lệ “Nhất ba tam  
chiết” (ngọn sóng có ba điểm nhô lên, ý nói  
nét này khi viết giống như làn sóng gợn và  
nhẹ chuyển bút 3 lần một nét: 一波三折).  
Liễu Công Quyền đời Đường nhờ quan sát  
chim bay trên trời, cá lượn dưới nước, nuông  
thú tung tăng mà đưa những hình thái tươi  
đẹp của thiên nhiên hòa tan vào nét bút tài  
hoa, có thần và biến hoá, tạo nên sự hài hoà  
trên từng đường nét. Trương Húc thời  
Đường lấy cảm hứng từ những màn múa  
kiếm điêu luyện của Công Tôn đại nương,  
lắng nghe thanh âm diễn tấu mà luyện vận  
bút pháp, công lực tràn đầy. Đó chính là  
“Đạo Pháp”, là nội hàm triết học tự nhiên  
được tái hiện lại trong thư pháp.  
Không khó để tìm thấy trong sáng tạo  
thư pháp những dấu ấn của tư tưởng triết học  
biện chứng như sự kết hợp hài hòa giữa âm  
– dương, tĩnh – động, hư – thực v.v… Quan  
niệm triết học điển hình nhất mà chúng ta  
thường thấy trong sáng tạo thư pháp là quan  
niệm “Cương nhu tịnh tế, âm dương hỗ sinh”  
(刚柔并济、阴阳互生). Những tư tưởng triết  
học độc đáo này là một phần quan trọng của  
văn hóa Trung Hoa và thư pháp tất yếu cũng  
chịu ảnh hưởng sâu sắc. Nói cách khác, đó là  
sự cộng hưởng tương sinh giữa nét đẹp âm –  
nhu, thể hiện qua nét bút uyển chuyển nhẹ  
nhàng và nét đẹp dương – cương, thể hiện ở  
cách dụng bút “Nhan cân Liễu cốt” (thần khí  
chữ viết vừa bề thế, đầy đặn lại gân guốc, rắn  
rỏi và khúc chiết: 颜筋柳骨)13. Quan sát một  
3.4. Nội hàm triết học của vạn vật trong vũ trụ  
Thư pháp là một bộ môn nghệ thuật  
thể hiện tư duy triết học, nói các khác, sáng  
tạo thư pháp là quá trình nghệ thuật hóa các  
tư tưởng triết học của văn hóa truyền thống.  
Triết học cổ đại Trung Quốc là một bộ phận  
quan trọng của tinh hoa triết học nhân loại,  
là kết quả của quá trình quan sát, tìm tòi  
trong đời sống lao động và thực tiễn của con  
người. Thư pháp với khí chất vĩnh hằng, tự  
nhiên, huyền diệu đã và đang kế thừa lịch sử,  
văn hóa, tín ngưỡng và tâm niệm. Sự huyền  
bí của thư pháp cùng với vạn vật trong vũ trụ  
đến từ một “Đạo”, khai sinh từ một “Pháp”.  
Lịch sử Trung Hoa có nhiều nhà thư pháp đã  
kết hợp các tư tưởng triết học gửi gắm trong  
tác phẩm nghệ thuật của mình. Họ đều ngộ  
13 Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền đều là những  
nhà thư pháp tiêu biểu nổi tiếng thời Đường. Bút pháp  
nghệ thuật của họ đã dung hội được những tinh túy  
của danh gia thời cổ và hình thành nên cách dụng bút  
đặc sắc riêng của mình, được người đời ngưỡng mộ  
và truyền tụng trong hậu thế qua câu “Nhan cân, Liễu  
cốt”, tức chữ của Nhan Chân Khanh thì bề thế và đầy  
đặn, chữ của Liễu Công Quyền thì khỏe đẹp và rắn  
rỏi, nét bút thanh gầy, lộ rõ gân cốt.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
169  
tác phẩm thư pháp, chúng ta sẽ thấy: về  
chương pháp, khoảng cách hàng có rộng có  
hẹp; về bút pháp, ức (nhấn xuống), dương  
(nâng cao), tốn (thận trọng trong từng đường  
nét), tỏa (hạ dần xuống), trì (khoan thai), tốc  
(viết nhanh, nét bút khoáng đạt), hoàn (thu  
bút lại), khẩn (viết gấp tùy hứng), khinh (nhẹ  
nhàng), trọng (nặng tay, tạo hình nét đậm);  
về kết cấu, có thưa có dày, thể chữ có to có  
nhỏ, có dài có ngắn; giữa chữ viết và khoảng  
trống xung quanh luôn tạo ra sự tương phản  
giữa sáng – tối, cứng – mềm, thẳng – cong  
v.v... Rõ ràng, các yếu tố tương phản phức  
tạp đó cấu thành phép biện chứng “Vi nhi bất  
phạm, hòa nhi bất đồng” (违而不范,和而不  
同), “nương tựa, hòa quyện vào nhau, nâng  
đỡ nhau làm cho tác phẩm thư pháp đạt được  
giá trị thẩm mỹ cao, thần khí vừa sinh động,  
khoáng đạt, lại cân đối, thanh tú, đường nét hô  
ứng hài hòa” (Zuo và cộng sự, 2003, tr. 52).  
chỉ mối quan hệ giữa các hình thái này. Thế  
là sức mạnh nội tại quyết định Hình, đồng  
thời thông qua Hình để thể hiện tồn tại tự  
thân. Hình và Thế trong các tác phẩm thư  
pháp gắn kết chặt chẽ không thể tách rời.  
Hình Thế của thư pháp thực chất cấu thành  
chương pháp, chỉ khi hiểu được triết lý âm  
dương tương sinh tương khắc mới có thể lý  
giải được sự ảo diệu trong biến đổi của nghệ  
thuật thư pháp, đó là hình thức thẩm mỹ của  
kết cấu bố cục” (Qiu, 2005, tr. 156). Trên  
thực tế, sắp xếp đồng đều tất cả các đường  
nét và cấu trúc một cách đơn điệu để tạo ra  
sự thống nhất của thư pháp là khó khả thi.  
Chỉ có thể là các đường nét cân xứng tương  
đối, các nét bút đậm nhạt lớn bé đan xen  
trong một bố cục cấu trúc tổng thể hài hòa,  
cân bằng giữa hư và thực. Không chỉ vậy,  
nghệ thuật thư pháp còn là phương thức để  
nhà thư pháp giãi bày cảm xúc tâm tình, tìm  
tới chốn bình yên, thanh tịch trong tâm hồn  
giữa những trần tục, bộn bề của cuộc sống.  
Tinh thần triết học độc đáo “Thiên -  
Nhân hợp nhất” là cốt lõi của tinh thần nhân  
văn, luôn chiếm vị trí chủ đạo trong văn hóa  
Hoa Hạ, trở thành nét văn hóa truyền thống  
lâu đời xuyên suốt chiều dài lịch sử văn hóa  
và nghệ thuật dân tộc. “Thiên – Nhân hợp  
nhất” lấy quan hệ giữa Trời và Người làm  
trung tâm để xem xét vấn đề nhân sinh và vũ  
trụ, luân lý đạo đức, quan niệm giá trị, ý thức  
thẩm mỹ, cội nguồn tư tưởng, sâu xa hơn là  
cảnh giới mà con người theo đuổi. Có thể  
thấy, ý nghĩa triết lý “Thiên - Nhân hợp  
nhất”đ ã thực sự được quán triệt trong sáng  
tạo thư pháp. Danh sĩ nổi tiếng thời Đông  
Hán là Thái Ung từng bày tỏ sự tán đồng  
quan điểm này: “Nhà thư pháp phải lĩnh hội  
được sự đối lập, thống nhất của thiên địa vạn  
vật, khiến mình dung hòa với thế giới tự  
nhiên, đạt đến cảnh giới thiên nhân hợp  
nhất” (Zhang, 2020, tr. 91).  
Trong dòng chảy lịch sử, hình – âm  
– nghĩa của chữ Hán đến nay đã có những  
biến đổi rất lớn. Đi sâu tìm hiểu nội hàm văn  
hóa của thư pháp Trung Hoa phần nào giúp  
chúng ta lý giải và nhận thức về chân lý vũ  
trụ. Thiếu đi các yếu tố triết học, thư pháp sẽ  
thiếu đi một giá trị lớn về mặt tư tưởng.  
Không có thư pháp, triết học lại mất đi một  
kênh truyền tải hiệu quả, cô đọng và hàm  
súc. Vì vậy, khi nghiên cứu thư pháp, chúng  
ta cần đặc biệt chú ý đến yếu tố triết học song  
song với yếu tố nghệ thuật của tác phẩm.  
4. Kết luận  
Nếu văn hoá được xem là một tổng  
thể các hệ thống tín hiệu do con người sáng  
tạo nên thì ngôn ngữ, đặc biệt chữ viết là một  
trong những hệ tín hiệu tiêu biểu, hoàn chỉnh  
nhất và cần thiết nhất để hình thành và phát  
triển của xã hội loài người. Chữ Hán gắn liền  
với lịch sử Trung Quốc, ghi lại những chặng  
đường phát triển và sáng tạo của từng giai  
Sáng tạo thư pháp theo đuổi sự hài  
hòa và thống nhất trong chỉnh thể và quan  
niệm nghệ thuật. Trong đó, “Hình là chỉ hình  
thái cụ thể của chữ, bao gồm đường nét, Thế  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
170  
He, B. W. (2006). Shufa yu Zhongguo wenhua.  
đoạn lịch sử và nền văn hoá đó. Cùng với đó,  
nghệ thuật thư pháp ở mỗi chặng đường lịch  
sử cũng góp phần tôn vinh giá trị nghệ thuật  
văn hóa của dân tộc Trung Hoa. Qua quá  
trình lịch sử lâu dài, diễn biến của thư pháp  
chữ Hán từ chữ giáp cốt, chữ kim, đến chữ  
triện, chữ lệ, chữ thảo, chữ khải, chữ hành.  
Nghệ thuật thư pháp đã đưa chữ Hán vượt  
khỏi chức năng truyền tải thông tin của văn  
tự để trở thành môn nghệ thuật tiêu biểu,  
giàu ý nghĩa biểu trưng của tinh hoa văn hóa  
Hoa Hạ. Thư pháp không chỉ hun đúc giá trị  
nhân văn mà còn thể hiện nội hàm văn hóa  
sâu sắc. Nó mang đậm dấu ấn hơi thở của  
thời đại lịch sử, ẩn chứa nội hàm triết học  
của vạn vật trong vũ trụ, thể hiện tâm hồn và  
cốt cách thanh tao hay sự khổ luyện, tu tâm  
thành đạo của các danh gia thư pháp.  
Sanqin Chubanshe.  
Lê, T. Đ. (2007). Quá trình diễn biến và phát triển của  
thư pháp Trung Hoa. Tạp chí Hán Nôm,  
80(1), 72–81.  
Lou, Y. L. (2007). Zhongguo de pinge. Dangdai  
Zhongguo Chubanshe.  
Minh Đức, T. T. A. (2010). Nhà chùa và thư pháp Việt.  
Nguyễn, A. T. (2020). Cội nguồn lịch sử và ý nghĩa  
văn hóa của hội họa truyền thống Trung  
Hoa. Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài, 36(2),  
Nguyễn, T. (2010). Chữ người tử tù. Trong T. L.  
Phan, N. T. Lã, Đ. S. Trần, M. T. Bùi, A Lê,  
N. C. Lê, T. H. Nguyễn, K. H. Đỗ, X. N.  
Nguyễn, Đ. P. Đoàn, D. Q. Vũ, N. T. Trần,  
T. T. T. Trịnh, B. T. Hà & T. T. V. Đoàn  
(biên tập), Ngữ văn 11 (Tập 1, tr. 112). Nxb  
Giáo dục Việt Nam.  
Thư pháp Trung Hoa có quan hệ mật  
thiết với nhiều thể loại văn học và nghệ thuật  
khác như triết lý của triết học, sự thâm trầm  
của lịch sử, sự tinh tế của thơ ca, sức hút của  
hội họa v.v… Chỉ khi chữ viết thâm nhập  
vào quan niệm, ý thức, văn hóa dân tộc, khái  
niệm nghệ thuật đặc sắc mới được hình  
thành. Khai thác yếu tố nội hàm văn hóa  
trong nghệ thuật thư pháp Trung Hoa một  
cách khéo léo sẽ giúp cho việc dạy học ngôn  
ngữ và văn hóa nói chung, Đất nước học  
Trung Quốc nói riêng càng thêm cuốn hút,  
từ đó phát huy giá trị thẩm mỹ và giá trị nhân  
văn trong quá trình giáo dục tri thức ngôn  
ngữ – văn hóa, nâng cao hiệu quả trau dồi  
khả năng tư duy liên tưởng và tình yêu thiên  
nhiên, đất nước, con người cho sinh viên.  
Niu, Zh. G. (1998). Tang Taizong xinmu zhong de  
Wang Xizhi. Shanxi Shifandaxue xuebao  
(zhexue shehui kexueban), (3).  
Phạm, H. Q. (2004). Thư pháp chữ Hán - Lý thuyết và  
Thực hành. Nxb Mũi Cà Mau.  
Qiu, Zh. Zh. (2005). Shufa de xingtai yu chanjie.  
Zhongguo renmin daxue Chubanshe.  
Trần, K. Đ. (2016, September 21). Thư pháp và họa  
pháp  
Trung  
Hoa  
–
Nhật bản.  
/36kientruc10.html  
Vũ, Đ. L. (1940). Ông đồ. Trong K. P. Nguyễn, H. K.  
Nguyễn, M. T. Nguyễn, Đ. S. Trần, A Lê, Q.  
B. Diệp, D. Hồng, K. H. Đỗ, M. H. Bùi, Q.  
H. Lê, X. T. Lê, N. T. Lã, N. T. Đỗ & V. T.  
Phùng (biên tập), Ngữ văn 8 (Tập 2, tr. 9).  
Nxb Giáo dục Việt Nam.  
Vũ, T. Đ. L. (2010). Chữ Tâm trong thư pháp. Nxb  
Tổng hợp TPHCM.  
Xinhua. (2018, November 1). Giáp Cốt Văn một lần  
nữa làm rung động thế giới. CRIonline.  
Tài liệu tham khảo  
Cao, J. P. (2018). Yan Zhenqing: Ji zhi wengao mantan.  
1067/j.2018.04.008  
Xu, J. (2008). Wang Xizhi Lantingxu shangxi.  
Wenxue jiaoyu (shang), (10), 74-75.  
Chu, T. P. (2019, February 3). Viết chữ, là họa tâm  
mình  
trên  
giấy.  
Lao  
động.  
Yang, F. (2013). Sushi yu Hanshitie. Guo qi, (11),  
124-125.  
Zhang, Zh. Y. (2020). Qianxi Zhongguo shufa de  
Gu, Y. (2007). Wang Xizhi de duliang. Xin  
changzheng, (14), 60.  
yishu yu wenhua neihan. Mu dan, (6), 90-91.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
171  
Zuo, H. L., Pei, X. Sh., & Jiang, X. (2003). Lun  
chuantong wenhua dui Zhongguo shufa de  
yingxiang. Jiaozuogong xueyuan xuebao  
1067/j.2018.04.00810.16698/j.hpu(social.sc  
iences).1673-9779.2003.01.016  
(shehui  
kexueban),  
4(1),  
50-52.  
THE CULTURALCONNOTATION OFCALLIGRAPHY:  
ANAQUIFER OFTHE HUAXIATRADITION  
Nguyen Anh Thuc  
Faculty of Chinese Language and Culture, VNU University of Languages and International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Abstract: In the programs of language teaching, culture and country studies for the third year  
students at University of Languages and International Studies – VNU, we have researched, analysed and  
published several articles on cultural and artistic values related to Chinese music, dance and traditional  
painting. In this article, we dedicate ourselves to explaining, comparing, analysing and elucidating “The  
cultural connotation of calligraphy - an aquifer of the Huaxia tradition” through the formation and  
development of Chinese calligraphy - the famous traditional art considered “a poem with no words, a  
dance with no steps, a painting with no pictures or music with no sound”. We wish to contribute a useful  
reference for teaching and learning Chinese language and culture for Vietnamese students, thereby  
promoting the aesthetic and humane values in education, improving creative thinking and nurturing the  
love of nature and patriotism.  
Keywords: calligraphy, cultural connotations, tradition, inheritance, the unity of human and nature  
pdf 17 trang baolam 28540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nội hàm văn hóa thư pháp: Mạch ngầm văn hóa truyền thống Hoa Hạ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnoi_ham_van_hoa_thu_phap_mach_ngam_van_hoa_truyen_thong_hoa.pdf