Sự vận động của văn học hiện thực pháp cuối thế kỷ XIX

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÁP CUỐI THẾ KỶ XIX  
Hà Thị Thu Phương  
Trường Đại học Văn Hiến  
Ngày nhận bài: 24/9/2018; Ngày duyệt đăng: 17/12/2018  
TÓM TẮT  
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu về dòng văn học hiện thực trong văn học Pháp thế kỷ  
XIX được công bố từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, chúng tôi nhận thấy rằng nhiều nhà nghiên  
cứu đã hết lời ca ngợi phương pháp sáng tác và ý nghĩa của văn học hiện thực phê phán nhưng hạ  
thấp giá trị của dòng văn học tự nhiên chủ nghĩa, xem văn học tự nhiên chủ nghĩa là dòng văn học  
suy đồi. Bài báo này nhằm chứng minh rằng Chủ nghĩa tự nhiên là một bộ phận trong dòng văn học  
hiện thực, không thể xếp vào dòng văn học suy đồi và có nét khác biệt trong phương pháp sáng tác.  
Từ khóa: văn học hiện thực, văn học Pháp, Chủ nghĩa tự nhiên, văn học Công xã Paris  
The movement of realism in the late Nineteenth century French literature  
Abstract  
Through surveys of works on realistic literature in French literature in the nineteenth-century,  
published since the 80s of the twentieth century, we found that many researchers have praised the  
writing method and the meaning of critical realist literature but lowered naturalist literature, and  
considered natural literature as a decadent literary line. This paper aims to prove that Naturalism  
is a part of the realism literature which cannot be classified as decadent literature because  
Naturalism looks at real life from the perspective of real natural history.  
Keywords: Realism, French literature, Naturalism, The Paris commune literature.  
đạt được những thành tựu đáng kể với những tài  
năng văn chương kiệt xuất như Honoré de  
Balzac, Stendhal, Gustave Flaubert, Émile Zola,  
Guy de Maupassant, Juyl Valex… Văn học hiện  
thực Pháp với biến thể của nó là chủ nghĩa tự  
nhiên đã có tầm ảnh hưởng sâu rộng, không chỉ  
ở Pháp mà còn lan tỏa ra nhiều nước khác trên  
thế giới. Ngoài ra, các dòng văn học khác như  
trường phái Thi sơn, chủ nghĩa tượng trưng, văn  
học viễn tưởng, văn học kỳ ảo, văn học công xã  
Paris… cũng đạt được những thành tựu rực rỡ.  
Bài viết này nhằm mục đích tổng hợp tri thức  
về đặc điểm thẩm mỹ văn học hiện thực chủ  
nghĩa trong từng giai đoạn khác nhau, trên cơ sở  
đó chỉ ra sự vận động của dòng văn học này ở  
cuối thế kỷ XIX, mà minh chứng rõ ràng nhất là  
sự ra đời của chủ nghĩa tự nhiên như một phản  
ứng chống lại nguyên tắc thẩm mỹ của văn học  
1. Đặt vấn đề  
Nước Pháp thế kỷ XIX đã chứng kiến sự thay  
đổi to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…  
do sự tác động của những thành tựu khoa học -  
kỹ thuật và sự khẳng định quyền lực mạnh mẽ  
của giai cấp tư sản. Cuộc cách mạng tư sản  
tháng 2-1848 chính là dấu mốc quan trọng đánh  
dấu bước chuyển mình về lịch sử - xã hội và  
chính sự thay đổi trong hiện thực đời sống, tính  
đa diện của nó đã tác động đến các nhà văn dẫn  
đến sự thay đổi về tư duy nghệ thuật của họ.  
Trong sự thay đổi chung ấy, văn học Pháp cuối  
thế kỷ XIX cũng có sự thay đổi khuynh hướng  
thẩm mỹ rõ rệt.  
Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XIX ghi dấu sự  
thành công rực rỡ của hai dòng văn học lớn,  
quan trọng nhất là văn học lãng mạn và văn học  
hiện thực, trong đó dòng văn học hiện thực đã  
39  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
hiện thực phê phán và cao trào văn học Công xã  
Paris – dòng văn học ca ngợi người lao động có  
tác động lớn đến văn học xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam thế kỷ XIX.  
Tại Việt Nam, rất nhiều nhà nghiên cứu văn  
học phương Tây đã bàn đến đặc điểm thẩm mỹ  
văn học hiện thực Pháp cuối thể kỷ XIX. Đó là  
những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các  
phong trào văn học như: văn học hiện thực phê  
phán - Lê Nguyên Cẩn (2014), Đỗ Đức Dục  
(1972, 1981), Đỗ Đức Hiểu (1978), Đặng Anh  
Đào và cộng sự (2012),… văn học Công xã  
Paris - mà tiêu biểu là Thái Thu Lan (1991,  
là dòng văn học tự nhiên chủ nghĩa, xem như  
một biến thiên của chủ nghĩa hiện thực ngày  
càng được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu  
văn học. Qua bài viết này, tác giả cũng mong  
muốn góp thêm một cách nhìn sự vận động của  
văn học Pháp cuối thế kỷ XIX, trong đó, tác giả  
muốn nhấn mạnh chủ nghĩa tự nhiên là một bộ  
phận không thể tách rời của chủ nghĩa hiện thực,  
nó là một hình thái mới của chủ nghĩa hiện thực  
khi các đặc điểm thẩm mĩ của chủ nghĩa hiện  
thực phê phán không còn được chào đón như  
trước nữa.  
2. Sự phân hóa mạnh mẽ của tiếng nói văn  
học nửa sau thế kỷ XIX  
2001)…; văn học tự nhiên chủ nghĩa - tác giả  
tiêu biểu là Lê Ngọc Tân (2002)…; Ngoài ra còn  
có một số nhà nghiên cứu đã quan tâm đến sự  
vận động của cả dòng văn học hiện thực như: Lê  
Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh (1981), Lê Hồng  
Sâm (1989), Hoàng Nhân (1997), Phùng Văn  
Tửu, Lê Hồng Sâm (chủ biên) (2005), Nguyễn  
Hữu Hiếu (2010), Hà Thị Thu Phương (2016)…  
Một số công trình của nước ngoài đã được dịch  
ra tiếng Việt, xuất bản tại Việt Nam như  
Fortassier (1982; Nguyễn Thanh dịch, 1999),  
De Ligny, Rousselot (1998; Trịnh Thu Hồng,  
Đỗ Phương Mai dịch, 1998), Сучков Б.Л.  
(1977a; Hoàng Ngọc Hiến và cộng sự 1980),  
Сучков Б.Л. (1977b; Hoàng Ngọc Hiến và cộng  
sự dịch, 1982), Darcos (1992; Phan Quang Định  
dịch, 1997)… Đây là những công trình được  
đánh giá cao và là nguồn tài liệu tham khảo quý  
của các nhà nghiên cứu văn học phương Tây,  
đặc biệt là văn học Pháp. Tuy nhiên, do ảnh  
hưởng của hoàn cảnh lịch sử, văn hóa nước ta  
trước đây nên một số đánh giá về dòng văn học  
này còn chưa thỏa đáng, tiêu biểu nhất là việc  
hạ thấp thái quá giá trị của chủ nghĩa tự nhiên,  
đề cao quá mức dòng văn học Công xã Paris  
trong dòng chảy văn học hiện thực Pháp cũng  
như những ảnh hưởng của nó đối với các nền  
văn học khác (cụ thể là văn học hiện thực Việt  
Nam), nhất là những tác phẩm được xuất bản  
trước 1986. Hiện nay, tư duy nghệ thuật đã được  
thay đổi (do những ảnh hưởng của những luồng  
văn hóa, tư tưởng mới) nên vấn đề trả lại giá trị  
vốn có cho các dòng văn học hiện thực, đặc biệt  
Nếu bối cảnh văn học Pháp nửa đầu thế kỷ  
XIX chủ yếu được kiến tạo bởi Chủ nghĩa hiện  
thực và Chủ nghĩa lãng mạn, thì đến nửa cuối  
thế kỷ XIX, đời sống văn học ấy có những sự  
thay đổi mạnh mẽ với sự xuất hiện nhiều khuynh  
hướng mới, tên gọi mới tạo nên tiếng nói đa  
thanh, phức điệu.  
Trong lĩnh vực thơ ca, phái Parnasse (Thi  
sơn) với các tác giả tiêu biểu Théophile Gautier,  
Leconte de Lisle… chủ trương “nghệ thuật vị  
nghệ thuật”, thơ ca “vô cảm” và đề cao yêu cầu  
về sự gọt giũa ngôn từ. Những nhà thơ như  
Charles Baudelaire, Paul Verlaine, Arthur  
Rimbaud…, ban đầu là thành viên của phái thơ  
này nhưng sau đó họ cũng nhanh chóng ly khai,  
hình thành một trong những hiện tượng thơ hết  
sức quan trọng cuối thế kỷ XIX là chủ nghĩa  
tượng trưng.  
Dòng văn học viễn tưởng, tiêu biểu là Jules  
Verne với các tác phẩm như Hai vạn dặm dưới  
đáy biển, Vòng quanh thế giới trong 80 ngày,  
Hành trình vào tâm trái đất…, không chỉ thu hút  
các em nhỏ mà còn cả người lớn.  
Dòng văn học kỳ ảo cũng xuất hiện, thậm chí  
ngay cả những nhà văn được coi là hiện thực vẫn  
dùng yếu tố kì ảo để làm phương tiện phản ánh  
hiện thực (chẳng hạn những tác phẩm được sáng  
tác vào những năm cuối đời của Guy de  
Maupassant như Người đã khuất, Le Horla,…).  
Dòng văn học hiện thực vẫn tiếp tục sứ mệnh  
của nó, tiếp tục phát huy sở trường là quan sát,  
phân tích cuộc sống thường ngày, ngay trong  
40  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
lòng thực tại dù mỗi nhà văn có nét riêng trong  
phong cách sáng tác. Hai phong trào cuối thế kỷ  
XIX được coi là sự tiếp nối của chủ nghĩa hiện  
thực cổ điển là Chủ nghĩa tự nhiên và Văn học  
Công xã Paris. Sự tiếp nối và thay đổi đặc điểm  
thẩm mỹ của hai phong trào văn học này sẽ được  
trình bày trong phần sau.  
Tóm lại, văn học Pháp cuối thế kỷ XIX từng  
bước có sự phân hóa mạnh mẽ gắn liền với  
những hoàn cảnh lịch sử và bối cảnh văn học  
mới. Điều này phản ánh một bước đi mới của  
văn học trên con đường làm mới mình, phù hợp  
với hoàn cảnh lịch sử - xã hội và tư duy của con  
người trong hoàn cảnh lịch sử và tri thức mới.  
3. Sự tiếp tục truyền thống hiện thực  
Năm 1848 được coi là năm bản lề phân định  
văn học Pháp giai đoạn đầu và cuối thế kỷ XIX.  
Từ năm này, một loạt sự kiện chính trị, khoa  
học, tư tưởng… đã làm cho đời sống vật chất  
cũng như tinh thần của người dân thay đổi, từ  
đó, nó tác động, làm thay đổi phương thức tư  
duy nghệ thuật của các nhà văn theo khuynh  
hướng tả thực.  
Sự thay đổi quá nhanh chóng của kinh tế,  
khoa học, kỹ thuật đã làm nhiều nhà văn cảm  
nhận rõ sự thay đổi của phẩm chất con người,  
mở rộng ra là sự thay đổi cơ chế vận hành của  
xã hội. Các cuộc chiến làm cho nước Pháp trở  
nên kiệt quệ, sự đớn hèn của giai cấp thống trị  
trước cảnh đất nước bị xâm lăng đã khiến người  
dân cần lao khát khao đời sống mới tốt đẹp hơn  
tức giận đứng lên thành lập Công xã (1881).  
Những thành tựu mới về tư tưởng đã làm thay  
đổi tư duy của mọi người về thế giới khi cho  
rằng: “thế giới là một thực thể khách quan luôn  
biến đổi và phát triển, mà động lực là những  
nhân tố tự nhiên chứ không phải do một lực  
huyền bí phi vật chất nào đó chỉ huy” (Nguyễn  
Như Hiền và cộng sự, 2005: tr. 31). Học thuyết  
tiến hóa của Charles Darwin ảnh hưởng lớn đến  
Claude Bernard, tác giả cuốn Nhập môn y học  
thực nghiệm – cuốn sách có vai trò mở đường  
cho việc áp dụng phương pháp thực nghiệm vốn  
đã được sử dụng trong vật lý và hóa học vào y  
học. Chính bước phát triển mới này của y học  
thực nghiệm đã làm cho Émile Zola kết hợp với  
lý thuyết về tự nhiên và di truyền của Lucas và  
lý thuyết về tiểu thuyết thực nghiệm của  
Hippolyte Taine, tiến hành một bước tiến mới  
nữa của khoa học thực nghiệm là áp dụng  
phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu tự  
nhiên vào nghiên cứu xã hội qua sáng tạo văn  
chương, đề xuất lý thuyết mỹ học tự nhiên chủ  
nghĩa trong văn học, cái mà Zola gọi chung là  
“tiểu thuyết thực nghiệm”.  
Tất cả các sự kiện lịch sử cũng như những  
thành tựu về khoa học và tư tưởng đã làm thay  
đổi nhận thức của các nhà văn nhạy cảm với  
hiện thực đời sống, những nhà văn dùng ngòi  
bút “tả chân” để tái hiện, phân tích, lý giải, nhận  
định hiện thực. Đặc biệt, sự thay đổi nhận thức  
về nguồn gốc loài người đã làm thay đổi hoàn  
toàn nhận thức về số phận của con người mà mở  
rộng ra là sự vận động của xã hội. Sự thay đổi  
nhận thức về cuộc sống theo con mắt của một  
nhà khoa học đã khiến cho dòng văn học hiện  
thực lấy bút pháp miêu tả theo kiểu “nhân vật  
điển hình trong hoàn cảnh điển hình” không còn  
hấp dẫn với các nhà văn theo khuynh hướng “tả  
chân”, một biến thiên mới của dòng văn học này  
ra đời là Chủ nghĩa tự nhiên, một dòng văn học  
lấy việc phản ánh cuộc sống theo kiểu “chụp  
ảnh”, “khách quan tuyệt đối”.  
Văn xuôi tả chân Pháp thế kỷ XIX có nguồn  
gốc từ dòng văn học thế tục tồn tại ngay từ trong  
văn học dân gian, biến đổi theo từng thời kì khác  
nhau phụ thuộc vào sự nhận thức của con người  
trước cuộc sống. Thời kỳ trung cổ, phong kiến  
là thời kỳ con người theo triết lý khắc kỷ, cảm  
xúc về cái đẹp ít nằm nơi trần thế mà ở nơi thiên  
đàng, vì vậy dòng văn học tả chân ít được quan  
tâm. Đến thời kỳ Phục hưng, dưới sự tác động  
to lớn của nền văn hóa Hy-La tràn đầy tính thế  
tục, triết lý khắc kỷ bị xem xét lại, lúc này văn  
học bắt đầu thể hiện sự say mê trước vẻ đẹp đầy  
tự do, phóng khoáng của cuộc sống trần thế, đề  
cao những khát vọng rất đẹp, rất nhân văn của  
con người. Văn chương thời kỳ cổ điển lại nhằm  
mục đích đề cao việc từ bỏ tình cảm cá nhân để  
thực hiện nghĩa vụ đối với đất nước mà thực chất  
là phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản đang lên  
và ngầm hạ thấp vai trò của giai cấp quý tộc  
41  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
phong kiến. Văn xuôi thời kỳ Ánh sáng hướng  
nhiều hơn đến mục tiêu thế tục, xem xét nhiều  
hơn mối quan hệ giữa cảm xúc với ngoại giới.  
Dù văn học thời đại Phục hưng và Ánh sáng rất  
giàu tính hiện thực nhưng nó vẫn chưa phải là  
Chủ nghĩa hiện thực như chúng ta thường hiểu  
vì màu sắc hiện thực trong văn học những thời  
đại này mới có “giá trị như là một sự bổ sung  
cần thiết để nhà văn đạt đến mục đích tối hậu là  
khẳng định những ngọn cờ tư tưởng của thời  
đại” (Nguyễn Hữu Hiếu, 2010: tr. 21). Chỉ đến  
thế kỷ XIX, dòng văn học hiện thực mới thực sự  
ra đời với tư cách một trào lưu và với quan điểm  
thẩm mỹ rõ ràng rằng: mỗi tác phẩm văn học  
đều hướng tới mục đích tái hiện một cách chính  
xác, đầy đủ, chân thực môi trường xã hội và thời  
đại, từ đó, nhà văn phân tích (qua nghệ thuật và  
bằng nghệ thuật) các mối quan hệ giữa con  
người với môi trường sống phong phú, phức tạp,  
thường xuyên biến đổi, đồng thời khái quát  
những qui luật của hiện thực bằng hình tượng  
nghệ thuật.  
Chủ nghĩa hiện thực Pháp thế kỷ XIX ra đời  
trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể là giai đoạn thắng  
thế của chủ nghĩa tư bản và sự lên ngôi của lối  
sống vật chất, khi con người quan tâm đến đời  
sống trần thế nhiều hơn. Dòng văn học này có  
tham vọng phản ánh, phân tích mọi mặt của hiện  
thực đời sống và hiện thực tâm hồn, tìm hiểu cơ  
chế vận hành của xã hội. Đây là dòng văn học  
chịu sự chi phối rất lớn của hiện thực (mà hiện  
thực luôn có sự biến đổi quanh co, phức tạp), vì  
vậy, các nhà văn hiện thực luôn tìm kiếm những  
phương thức, phương tiện (theo họ là hữu hiệu)  
để tái hiện lại hiện thực xã hội đang thay đổi đầy  
sinh động ấy. Mỗi nhà văn có cách nhìn về cuộc  
sống theo hướng riêng. Từ cách nhìn cuộc sống  
ấy, họ có cách thể hiện quan điểm riêng về cuộc  
sống qua sáng tác của mình. Các sáng tác của  
những nhà văn hàng đầu của dòng văn học hiện  
thực đầu thế kỉ XIX như Stendhal, Balzac,  
Gustave Flaubert… đều chứng minh khả năng  
thâu tóm đời sống của nghệ thuật thông qua tìm  
hiểu mối quan hệ giữa môi trường sống và con  
người, qua sự cá thể hóa, khái quát hóa bằng  
cách xây dựng những điển hình nghệ thuật. Các  
sáng tác của Balzac, Stendhal, Gustave  
Flaubert, Guy de Maupassant, Émile Zola và  
các tác giả khác là minh chứng rõ rệt, chứng  
minh rằng, cho đến thế kỷ XIX khó có thể có  
một mô hình văn học nào có sức mạnh lớn lao  
trong việc thể hiện bức tranh đời sống cũng như  
khái quát những quy luật của đời sống như văn  
học hiện thực chủ nghĩa.  
Nếu giai đoạn đầu thế kỷ XIX văn xuôi tả  
chân thiên về quan sát, phân tích hiện thực xã  
hội mang tầm bao quát cao với đại diện xuất sắc  
nhất là Balzac thì đến cuối thế kỷ XIX, Chủ  
nghĩa tự nhiên đã ra đời do Émile Zola khởi  
xướng lại có màu sắc khác biệt, mang dấu ấn  
thời đại rõ rệt. Qua nhiều bài viết của mình từ  
1871-1880 (Zola, 1981a, 1981b), Zola đề xuất  
phương pháp sáng tác chung mới là sáng tác văn  
chương theo mô hình khoa học thực nghiệm và  
liệt kê một số nhà văn vào dòng văn học tự nhiên  
chủ nghĩa. Bởi lẽ, dưới sự tác động của những  
tiến bộ khoa học thực nghiệm, nhất là sinh học,  
cũng như những mặt trái của nền kinh tế tư bản  
chủ nghĩa, con người cảm thấy hoài nghi: ngoài  
quy luật vận động của xã hội mà mọi người đã  
nhận ra còn yếu tố quan trọng nào khác nữa  
đang âm thầm điều khiển số phận của con người  
cũng như điều khiển sự vận động của xã hội,  
điều này theo Émile Zola là yếu tố sinh vật, tức  
là yếu tố thuộc về thể chất tự nhiên, thuộc về di  
truyền. Sự hoài nghi đó là kết quả của tinh thần  
đề cao vai trò của khoa học nhưng cũng là do  
lúc này con người đã cảm nhận được sự giới hạn  
của khoa học trong việc giải thích các hiện  
tượng đời sống, giải thích sự trống rỗng trong  
tâm hồn con người trước bộn bề vật chất. Chính  
trong hoàn cảnh đó, Émile Zola đã nhận ra kiểu  
văn học hiện thực cổ điển “ngoài sự chính xác  
của các chi tiết ra còn phải nói đến sự thể hiện  
chính xác những tính cách điển hình trong hoàn  
cảnh điển hình” (F. Engels) không còn thỏa  
mãn được yêu cầu thẩm mỹ nữa. Ông đã tập hợp  
được rất nhiều nhà văn lớn cùng thời để bàn bạc,  
nêu một kiểu tư duy sáng tác mới phù hợp hơn  
với hoàn cảnh lịch sử - xã hội và nhận thức của  
con người về hiện tại. Những ý kiến trao đổi ấy  
được tập hợp trong cuốn Những buổi tối ở  
42  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
Médan và một mô hình văn học mới được khai  
sinh là Chủ nghĩa tự nhiên. Tất nhiên, các quan  
điểm sáng tác của Chủ nghĩa tự nhiên không  
phải hoàn toàn mới mẻ khi Zola lập thuyết. Thực  
chất, Chủ nghĩa tự nhiên vẫn nằm trong dòng  
chảy của Chủ nghĩa hiện thực, nó đã có những  
manh nha từ trước đó, thậm chí một vài khía  
cạnh mĩ học của Chủ nghĩa tự nhiên đã xuất hiện  
ngay trong thời kỳ Chủ nghĩa hiện thực cổ điển.  
Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau và bản  
thân Chủ nghĩa tự nhiên cũng bộc lộ một số hạn  
chế nhưng đây vẫn là trào lưu có ảnh hưởng lớn,  
chủ đạo của văn xuôi cuối thế kỷ XIX.  
Với tư cách là nhà văn hàng đầu của Chủ  
nghĩa tự nhiên, Zola mong muốn bộ tiểu thuyết  
Gia đình Rougon - Macquart (1871-1893) của  
ông có thể sánh ngang với bộ Tấn trò đời của  
Balzac nhưng với phương thức sáng tác khác.  
Ông mong muốn “tác phẩm của tôi sẽ là khoa  
học hơn là xã hội... muốn vẽ nên xã hội hiện đại,  
mà chỉ một gia đình thôi, để chỉ ra vai trò của  
huyết thống đang thay đổi những môi trường”  
(Nguyễn Thị Anh Thảo, 2001: tr.62). Sự ra đời  
của Chủ nghĩa tự nhiên (Naturalisme) đã đáp  
ứng được nhu cầu đổi mới lối viết của văn học  
hiện thực khi đó đang dần bế tắc. Chủ nghĩa tự  
nhiên trong văn học có nội hàm là sáng tác văn  
chương phản ánh mọi hiện tượng phong phú của  
tự nhiên, của cuộc sống bằng cách ghi chép lại  
cuộc sống một cách tỉ mỉ, chân thực, khách quan  
dựa trên các phương pháp của khoa học tự  
nhiên. Các nhà văn tự nhiên chủ nghĩa bị ảnh  
hưởng sâu sắc bởi các công trình khoa học  
Nguồn gốc các loài của Dawin, Mở đầu nghiên  
cứu về y học thực nghiệm của Claude Bernard,  
phương pháp khoa học thực chứng của Comte  
và của Taine… và cố gắng dùng văn chương để  
minh chứng những tri thức của khoa học tự  
nhiên mới mẻ trong đó, cái mà họ đã hào hứng  
coi là đúng đắn.  
thực một cách hoàn toàn khách quan và tỉ mỉ  
ngay cả những khía cạnh tầm thường nhất” (Lê  
Ngọc Tân, 2002: tr. 29). Mọi hành động phải  
dựa trên sự nghi ngờ, thậm chí nghi ngờ chính  
bản thân mình nhưng phải tin vào khoa học. Chỉ  
có sự nghi ngờ mới có thể giúp chúng ta tìm đến  
được hiểu biết tuyệt đối và chỉ không nghi ngờ  
nữa khi tìm được quy luật vận hành của tự nhiên.  
Áp dụng phương pháp thực nghiệm, Zola muốn  
tìm ra hiện thực thực sự của cuộc sống chứ  
không phải là hiện thực bên ngoài. Cách làm đó  
của các nhà tự nhiên chủ nghĩa giúp cho kết quả  
khoa học được thừa nhận ở mọi nơi, giúp giải  
phóng con người ra khỏi những vấn đề còn mơ  
hồ, ảo tưởng.  
Bộ tiểu thuyết Gia đình Rougon - Macquart  
gồm có 20 tiểu thuyết với khoảng 1200 nhân vật  
ở tất cả các tầng lớp xã hội khác nhau nhưng  
Zola chú ý nhất là tầng lớp dưới đáy xã hội, coi  
họ là đối tượng thẩm mỹ chính của văn học.  
Người thợ là nhân vật chính trong rất nhiều tác  
phẩm của ông như Quán rượu, Germinal, Con  
vật người… Ở đó, những người lao động, dưới  
ngòi bút chịu ảnh hưởng của thuyết sinh tiến hóa  
của Darwin, đã bị yếu tố sinh vật điều khiển kiểu  
“con vật - người” theo quy luật của “chủ nghĩa  
Darwin xã hội” (Nguyễn Thị Anh Thảo, 2001:  
tr. 63), “mạnh được yếu thua”… do sự thúc đẩy  
của di truyền từ đời này sang đời khác, của bệnh  
lý thần kinh, của xung động tình dục, của thú  
tính… tức là phần sinh lý tự nhiên theo kiểu  
“một khi con người về cơ bản là vật chất thì bản  
chất họ đều giống nhau” (Nguyễn Thị Anh  
Thảo, 2001: tr. 64)... Nhà văn ngầm khẳng định  
số phận của con người là yếu tố di truyền, nòi  
giống, chẳng hạn, anh ta là người mắc bệnh  
điên, nghiện rượu, chết sớm... là vì thế hệ trước  
của anh ta có người bị như thế. Điều này chứng  
tỏ Zola tin tưởng vào thuyết tiền định sinh vật  
luận, con người không được tự do lựa chọn cuộc  
đời hạnh phúc hay khổ đau cho mình. Tư duy  
sáng tác này là điểm khác biệt nghệ thuật tiểu  
thuyết của ông so với các nhà văn thời hiện thực  
phê phán đầu thế kỷ, đồng thời thực tế đã chứng  
minh đây là điểm hạn chế, góp phần trói buộc  
sáng tác của ông. Nhưng chính ông cũng bị mâu  
Zola xây dựng lý thuyết về Chủ nghĩa tự  
nhiên với sự tin tưởng mạnh mẽ vào khoa học.  
Tinh thần khoa học trong văn chương thể hiện ở  
chỗ nhà văn phải biết cách tôn trọng tài liệu, biết  
cách quan sát tỉ mỉ, ghi chép cẩn thận, tập hợp  
tư liệu đầy đủ, rồi thực nghiệm “để tái tạo hiện  
43  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
thuẫn trong tư tưởng khi không thể phủ nhận  
được những tác động của xã hội đến số phận của  
con người nói chung, các nhân vật trong sáng  
tác của ông nói riêng. Có sự mâu thuẫn trong  
nhận thức này là vì bản thân Zola rất ham hiểu  
biết, quan tâm sâu sắc đến tình hình thời sự và  
bản thân luôn bị phương pháp sáng tác của  
Balzac ám ảnh rằng: nhà tiểu thuyết phải là thư  
ký của lịch sử, chỉ có chức năng ghi chép, không  
có quyền được phán xét. Ông cũng bị ảnh hưởng  
bởi Taine khi quan tâm đến chủng tộc, hoàn  
cảnh và thời điểm cụ thể tức là môi trường sống  
cụ thể để đưa ra nguyên nhân dẫn đến khí chất,  
tính khí (tempérament) riêng của mỗi người.  
Chính mâu thuẫn tư tưởng ấy là một trong  
những lý do khiến tác phẩm của Zola vượt qua  
được giới hạn của lý thuyết do chính ông đặt ra.  
Ông nhận thấy nhiều bất cập của những nhân vật  
dưới đáy xã hội và đám đông “ngu dốt” (chữ  
của Zola) chứ không phải nhân vật cụ thể điển  
hình kiểu Balzac, nhưng ông vẫn bộc lộ rõ sự ưu  
ái, tin tưởng vào con người, vào lao động, công  
lý, sự thật và tin tưởng vào sự tiến bộ của xã hội  
về mặt kinh tế. Đây là điểm còn “lãng mạn”của  
Zola. Sự tin tưởng vào con người, vào cuộc sống  
này hầu như không còn trong các tác phẩm của  
Maupassant khi sự hoài nghi và bi quan đã được  
đẩy lên đến mức ám ảnh.  
Ảnh hưởng của Zola đối với dòng văn học tả  
chân cuối thế kỷ XIX rất lớn. Sau Những buổi  
tối ở Médan, một số nhà văn đi theo con đường  
ông đã định hướng như Henri Céard, Paul  
Alexis, Carl Joris Huysmans…; một số muốn  
giảm bớt sự “thô mộc” trong ngôn ngữ hay cách  
sử dụng ngữ liệu ngồn ngộn nhưng vẫn trung  
thành về đề tài của Chủ nghĩa tự nhiên như  
Lucien Descaves, Paul Bonnetain, Gustave  
Guiches, Léon Hennique… Để rồi từ cái nền của  
Chủ nghĩa tự nhiên, các nhà văn cùng thời và  
hậu Zola ở trong nước và cả ở nước ngoài dần  
tìm cho mình con đường đi riêng phù hợp với sở  
trường của mình. Từ đó, những dấu hiệu của chủ  
nghĩa hiện đại đầu thế kỷ XX ra đời mà nhà văn  
Lawrence (Anh), James Joyce (Iceland) hay  
Marcel Proust (Pháp) là những tác giả tiêu biểu.  
Tóm lại, dòng văn học tả chân Pháp cuối thế  
kỷ XIX có sự thay đổi gắn liền với sự biến đổi  
không ngừng của lịch sử, xã hội, tư duy của con  
người. Sự thay đổi đó góp phần làm cho dòng  
văn học hiện thực và những hiện tượng văn học  
tiếp bước của nó luôn sinh động, hấp dẫn, phù  
hợp với sở thích thẩm mỹ của độc giả đương  
thời. Sự thay đổi ấy cũng là những bước tiến để  
văn học chuyển sang thời kỳ hiện đại, đáp ứng  
nhu cầu của độc giả trong thời kỳ mới.  
4. Sự hình thành xu hướng thẩm mỹ mới  
Năm 1857, Champfleury viết tuyên ngôn của  
Chủ nghĩa hiện thực. Thực chất, đó là bản tổng  
kết thực tế sáng tạo của các nhà văn hiện thực cổ  
điển từ thập niên 30 đến thập niên 50. Tuy nhiên,  
tùy vào thời kỳ khác nhau mà thiên hướng xã hội  
của các sáng tác được Champfleury đề cập thể  
hiện bằng những hình thức khác nhau, qua cái  
nhìn, quan điểm khác nhau của nhà văn. Nếu Chủ  
nghĩa hiện thực cổ điển (réalisme classique) tạo  
nên mô hình văn học thiên về tả chân, tiêu biểu  
cho sức mạnh dựa trên quan sát đời sống, phân  
tích đời sống, khái quát các quy luật hiện thực đời  
sống thông qua các nhân vật điển hình trong hoàn  
cảnh điển hình thì càng về cuối thế kỷ XIX, dòng  
văn học hiện thực ngày càng biến đổi mạnh mẽ  
dưới sự tác động của khoa học, kỹ thuật và sức  
mạnh tìm tòi, sáng tạo mới của nhà văn.  
Một trong những thay đổi rõ nhất của dòng  
văn học hiện thực đó là mức độ ảnh hưởng của  
khoa học thực nghiệm. Các nhà văn đã áp dụng  
những tiến bộ của khoa học tự nhiên vốn chỉ  
dùng trong nghiên cứu tự nhiên vào nghiên cứu  
xã hội, để tìm ra bản chất thực sự của sự vận  
động của xã hội. Chủ nghĩa hiện thực cổ điển  
thịnh trị trong khoảng 30 năm (1830-1860) đã  
tạo ra bước ngoặt lớn trong văn học, làm cho  
văn học thoát khỏi nỗi đau thế kỷ (le mal du  
siècle) và tâm trạng buồn triền miên của Chủ  
nghĩa lãng mạn, làm cho văn học mạnh mẽ hơn,  
cường tráng và có sinh khí hơn. Mô hình này đã  
thăng hoa rực rỡ với những cái tên làm rạng  
danh văn học Pháp như Stendhal, Balzac,  
Flaubert… Nguyên tắc sáng tạo của giai đoạn  
sáng tác này là chi tiết phải chân thật, xây dựng  
được nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển  
hình. Để có tính điển hình, nhà văn phải biết  
44  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
khái quát mạnh mẽ các vấn đề của hiện thực,  
quy luật của cuộc sống đồng thời cũng rất thành  
công trong việc cụ thể hóa, sinh động hóa nhân  
vật để phân biệt nhân vật này với nhân vật khác.  
Balzac từng khẳng định “tôi chẳng bịa ra cái gì  
cả”. Khẳng định điều đó không có nghĩa là  
Balzac và các nhà hiện thực cổ điển chỉ chép lại,  
chụp ảnh lại cuộc sống (theo cách thức Émili  
Zola coi là bút pháp). Tác phẩm văn học là tấm  
gương phản ánh cuộc sống, nhưng từ vô vàn sự  
kiện, hoàn cảnh sống, vô vàn cuộc đời, tác giả  
thông qua khái quát hóa, điển hình hóa và cụ thể  
hóa để các sự kiện, nhân vật trong tác phẩm trở  
nên sinh động hơn, chân thực hơn nhưng sự  
chân thực ấy không trùng khít với sự chân thực  
của cuộc sống.  
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, đặc biệt trong  
khoảng từ 1870 trở đi, mô hình sáng tác kiểu  
Balzac dần mất đi sự hấp dẫn đối với các nhà  
văn, văn học hiện thực khủng hoảng trong  
phương pháp sáng tạo. Như đã trình bày ở trên,  
sự phát triển của kinh tế làm cho con người bị  
choáng ngợp, thay đổi. Hiểu về con người trong  
tổng hòa các mối quan hệ là mục tiêu lớn của  
văn chương. Vì vậy, Zola và các nhà văn cùng  
chí hướng như Guy de Maupassant, anh em nhà  
Goncourt,… mong muốn hiểu sâu hơn về con  
người bằng cách áp dụng phương pháp thực  
nghiệm của khoa học tự nhiên vào nghiên cứu  
con người và xã hội. Ông là người viết tuyên  
ngôn cho Chủ nghĩa tự nhiên và khẳng định  
cuộc “hợp duyên” giữa khoa học và tiểu thuyết  
là hoàn toàn có thể thực hiện được. Đó là cuộc  
“hợp duyên” giữa sức mạnh của tính chân thật  
trong khoa học và nét đẹp đặc trưng của nghệ  
thuật ngôn từ. Mặt khác, bị ảnh hưởng bởi mô  
hình của bộ Tấn trò đời (Balzac), Zola đã sáng  
tác bộ Gia đình Rougon - Macquart để minh  
chứng cho lý luận của bản thân mình. Theo  
Zola, thay vì chúng ta nghiên cứu con người  
trừu tượng, chúng ta hãy nghiên cứu con người  
tự nhiên, đặc biệt các hiện tượng có thể quan sát  
được từ người mang bệnh và ảnh hưởng của môi  
trường sống bằng phương pháp của khoa học  
thực nghiệm. Con đường thực nghiệm, theo ông,  
đã giúp chúng ta “hiểu cuộc sống vật lý thì cũng  
sẽ giúp hiểu cuộc sống dục vọng và trí tuệ” (Lê  
Ngọc Tân, 2002: tr. 45). Nhà tiểu thuyết đồng  
thời là nhà khoa học thực nghiệm và tiểu thuyết  
thực nghiệm là đỉnh cao nhất của khoa học thực  
nghiệm (theo quan điểm của ông). “Nhà thực  
nghiệm là thư ký của tự nhiên”, còn những nhà  
tiểu thuyết tự nhiên chủ nghĩa là “những thư ký  
của con người và dục vọng của họ” (Lê Ngọc  
Tân, 2002: tr. 52). Phương pháp thực nghiệm  
yêu cầu phải tôn trọng tài liệu, quan sát tỉ mỉ kể  
cả những cái tầm thường nhất, những cái văn  
học trước đó thường tránh đề cập. Chính yếu tố  
này đã làm dân chủ hóa tiểu thuyết khi nó đề cập  
đến cả những vấn đề trước kia ít khi được đề cập  
đến (Lê Ngọc Tân, 2002). Ông xóa bỏ lằn ranh  
phân biệt đề tài thấp kém hay cao quý khi khẳng  
định dù viết về đề tài nào nhưng nhà văn đạt  
được mục đích sáng tác của mình thì đều đáng  
trân trọng. Từ việc quan sát, nhà văn cũng như  
những nhà khoa học thực nghiệm phải biết ghi  
chép cẩn thận những hiện tượng xảy ra trước  
mắt để có nền tảng kiến thức, từ đó suy luận tìm  
ra quy luật vận hành của xã hội từ những quy  
luật vận hành của con người tự nhiên.  
Zola trở thành tấm gương về việc lao động  
nghệ thuật nghiêm túc. Để có nguồn tư liệu, ông  
đi khắp nơi, tiếp xúc hỏi han mọi người, tra cứu  
thông tin. Ông đến tận khu mỏ Anzin để tìm hiểu  
về cuộc đình công dài 56 ngày đêm của 12.000  
thợ mỏ xảy ra vào tháng 2-1884, cùng ăn, ở,  
tham gia hội họp cùng với công nhân, quan sát  
khu mỏ, đọc sách báo về khu mỏ và đời sống  
công nhân ở đây. Đặc biệt, ông nghiên cứu rất  
kỹ tài liệu về cuộc đình công và quan tâm sâu  
sắc đến số phận của những nạn nhân. Ông bỏ ra  
hàng tháng trời để quan sát, ghi chép chi tiết về  
hầm lò, trang trại, khu chợ, chợ chứng khoán…  
Người đọc có thể tìm các thông tin kiểu của các  
nhà xã hội học, văn hóa học, lịch sử… từ tác  
phẩm của Zola mà không cần băn khoăn về tính  
chân thực của nó.  
Sau khi quan sát, nhà văn phải tiến hành thực  
nghiệm như một nhà khoa học thực nghiệm mà  
yếu tố đầu tiên khiến các nhà văn tự nhiên chủ  
nghĩa có thể thể hiện quan điểm của mình là phải  
có sự hoài nghi đối với mọi vấn đề, phải xuất  
45  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
phát từ sự nghi ngờ mang tính khoa học mà “ở  
đó họ phải đối diện những hiện thực còn ít biết  
đến, những hiện tượng chưa được giải thích”  
(Lê Ngọc Tân, 2002: tr. 55). Nhà văn phải “nghi  
ngờ để đạt tới sự hiểu biết tuyệt đối” (Lê Ngọc  
Tân, 2002: tr. 44) dựa trên thuyết quyết định  
luận, thứ mà theo Zola “thống trị tất cả” (Lê  
Ngọc Tân, 2002: tr. 59), tức là thừa nhận các  
hiện tượng tự nhiên và xã hội đều có tính quy  
luật, tất nhiên và theo mối quan hệ nhân quả, từ  
đó tìm ra sự thật về tự nhiên, xã hội.  
Một trong những điểm quan trọng nhất trong  
Chủ nghĩa tự nhiên là muốn nhấn mạnh “vấn đề  
di truyền có một ảnh hưởng lớn đến việc biểu  
hiện của tinh thần và dục vọng của con người”  
và tác động của “môi trường có tầm quan trọng  
rất lớn” (Lê Ngọc Tân, 2002: tr. 60). Ông tin  
rằng dựa vào sinh học, tức môi trường bên trong,  
kết hợp với môi trường xã hội, tức môi trường  
bên ngoài, giúp con người hiểu được quy luật  
vận hành của tư tưởng và dục vọng.  
Ngoài ra, Zola còn bị ảnh hưởng bởi phương  
pháp phê bình văn hóa - lịch sử của Hippolyte  
Taine (1828-1893) khi cho rằng ba yếu tố chủng  
tộc (race), hoàn cảnh (milieu), thời điểm  
(moment) là những yếu tố quan trọng chi phối  
đời sống cộng đồng và cá nhân mỗi con người.  
Quan tâm đến ba yếu tố này, tác giả muốn tìm  
ra cái gốc tự nhiên, cái sự thật thật hơn ở con  
người. Zola mong muốn các sáng tác phải lấy  
cảm hứng lịch sử, phản ánh trung thực đời sống  
xã hội. Không phải ngẫu nhiên, bộ tiểu thuyết  
Gia đình Rougon - Macquart của ông có tên phụ  
là “Lịch sử tự nhiên và xã hội của một gia đình  
dưới Đế chế II” với tham vọng mô tả những  
biến đổi của thời kỳ Đế chế II và những thăng  
trầm của năm thế hệ trong một gia đình qua hai  
mươi cuốn tiểu thuyết. Ông xây dựng thế giới  
nhân vật dựa trên cái khung phả hệ của hai dòng  
máu (nhân vật thuộc dòng máu Rougon luôn  
thành đạt, thăng tiến còn nhân vật thuộc dòng  
máu Macquart đều nghèo khổ, bệnh tật, hủy  
hoại), đối sánh số phận của con cháu xuất phát  
từ hai dòng máu đó để khẳng định vai trò của di  
truyền, của huyết thống đối với tính khí, với sự  
thăng trầm trong cuộc đời của mỗi nhân vật  
trong tổng hòa các mối quan hệ trong xã hội.  
Ông nhấn mạnh đó là con người sinh lý của khoa  
học hiện nay, một sinh vật gồm những cơ quan  
và nhúng mình vào một môi trường, thấm ướt  
môi trường đó trong từng giờ từng phút (Lưu Tô  
Xương và cộng sự, 2002). Để làm được điều đó,  
tác giả cho mỗi nhân vật trong gia đình ấy lần  
lượt là nhân vật chính trong một cuốn tiểu  
thuyết, đặt nhân vật trong môi trường cụ thể và  
tái xuất hiện trong nhiều tác phẩm. Kiểu nhân  
vật tái xuất hiện là điều Zola đã học hỏi được từ  
Balzac. Tuy nhiên, mối dây liên hệ để nhân vật  
tái xuất hiện khác nhau; nhân vật trong sáng tác  
của Balzac tái xuất hiện do sự sắp đặt về sự vận  
động trong hoàn cảnh mới, vị trí xã hội mới, tính  
cách mới, còn nhân vật trong tiểu thuyết của  
Zola tái xuất hiện trong hoàn cảnh mới nhưng  
cái chi phối lại là sợi dây liên kết về huyết thống,  
di truyền.  
Việc áp dụng tiến bộ khoa học vào sáng tác  
văn chương không chỉ dừng lại ở nhà lập thuyết,  
nhà tiểu thuyết thực nghiệm Zola, mà ảnh hưởng  
đến một số nhà văn đương thời khác quy tụ  
trong nhóm Những buổi tối ở Médan, trong đó  
có Maupassant, tạo nên trào lưu văn học mới  
tiếp nối dòng văn học hiện thực nhưng với quan  
điểm thẩm mỹ khác với Chủ nghĩa hiện thực cổ  
điển. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, giữa lý luận  
của Chủ nghĩa tự nhiên và thực tế sáng tác có độ  
chênh nhất định. Chính độ chênh đó đã giúp  
sáng tác của Zola không đơn thuần là khoa học  
mà nó còn là những tìm kiếm thẩm mỹ mới mẻ,  
góp phần làm mới đời sống văn học.  
Nếu các nhà văn hiện thực cổ điển thích thú  
với tham vọng trở thành “thư ký của thời đại”,  
“mang cả lịch sử trong đầu” (Balzac), thích tái  
hiện hiện thực cuộc sống với nguồn tư liệu vô  
cùng phong phú, bao quát bức tranh phong tục  
của xã hội trên quy mô rộng lớn thì văn học hiện  
thực Pháp nửa sau thế kỷ XIX lại làm người đọc  
ấn tượng và ám ảnh với cách chụp ảnh hiện thực,  
cái được phản ánh là bất cứ thứ gì có trong hiện  
thực, dù cao cả hay thấp hèn, dù tốt đẹp hay xấu  
xa... Người mở đầu kiểu văn học này là Flaubert  
với tác phẩm Bà Bovary – một tác phẩm tạo cho  
người đọc ám ảnh về cái tầm thường, giả dối.  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
Dù có nhiều điểm đáng phê phán nhưng kiểu  
nhân vật đầy dục vọng trong sáng tác của  
Balzac, Stendhal ít nhiều vẫn còn gây cảm tình  
của bạn đọc, gợi lên niềm lạc quan, kỳ vọng vào  
những điều tốt đẹp sẽ xảy ra, còn nhân vật trong  
sáng tác của Flaubert lại gây nên cho người đọc  
“ám ảnh về sự thống trị không cưỡng lại được  
của cái tầm thường” (Nguyễn Hữu Hiếu, 2010:  
tr.64), trong cái nhìn đầy hoài nghi, bi quan  
trước hiện thực đầy dung tục. Sự bi quan này  
còn được đẩy lên thành một trong những yếu tố  
chính chi phối trong sáng tác của Guy de  
Maupassant. Tần suất thể hiện cái xấu, cái ác,  
cái giả dối, cái tầm thường, cái thiếu nhân tính…  
càng về cuối thế kỷ càng được nhấn mạnh đến  
mức ám ảnh. Các tác phẩm như Một cuộc đời,  
Con quỷ, Một mẹo lừa, Kẻ lang thang, Kẻ giết  
cha mẹ… gây ám ảnh cho người đọc về một thế  
giới chưa bao giờ ít tính người hơn thế như  
Maupassant từng nhận định. Thậm chí, để nhấn  
mạnh nỗi ám ảnh trước đời sống, tác giả còn  
dùng cách viết đầy yếu tố kì ảo. Một số tác phẩm  
như vậy được in trong cuốn Truyện ngắn kỳ lạ  
mà ở đó người đọc cảm nhận được sự lên ngôi,  
chi phối của đồ vật, của sự cô đơn, của sự giả  
dối tận cùng... Ông đã đẩy sự bi quan, vỡ mộng,  
tuyệt vọng về con người lên thành triết lý. Càng  
về cuối thế kỷ XIX, sự “ly khai” hình thức văn  
chương thiên về quan sát, miêu tả bên ngoài  
càng rõ rệt. Nhà văn ít quan tâm hơn đến hiện  
thực bên ngoài mà thiên về miêu tả diễn biến  
tâm lý phức tạp của nhân vật, thường là nhân vật  
“tôi” – người kể chuyện. Thậm chí những  
nguyên nhân xã hội của hành vi và hành động  
của nhân vật “bị hạ xuống mức chỉ còn là cái  
búng ban đầu” (Сучков Б.Л., 1977a, Hoàng  
Ngọc Hiến và cộng sự dịch, 1980: tr.280) để làm  
nổi bật những mặt đối lập trong tâm hồn con  
người để “nghiên cứu thế giới tâm hồn bên  
trong của con người bị tách rời khỏi môi trường  
xã hội” (Сучков Б.Л., 1977, Hoàng Ngọc Hiến  
và cộng sự dịch, 1980a: tr.284). Đây là những  
tiền đề để chủ nghĩa hiện đại ra đời trong văn  
học thế kỷ XX.  
triển mới của dòng văn học hiện thực Pháp cuối  
thế kỷ XIX mà dấu ấn sâu đậm nhất là sự ra đời  
và phát triển của dòng văn học tự nhiên chủ  
nghĩa. Tuy nhiên, bài báo chưa quan tâm đúng  
mức đến văn học Công xã Paris – dòng văn học  
được xếp vào dòng văn học hiện thực nhưng  
mang đặc điểm khác biệt, cái mà sang thế kỷ XX  
được gọi là tiền thân của văn học xã hội chủ  
nghĩa.  
Văn học hiện thực Pháp cuối thế kỷ XIX nói  
riêng, tổng hòa các dòng văn học Pháp cuối thế  
kỷ XIX nói chung trong mối quan hệ với các nền  
văn học lớn của thế giới lúc bấy giờ như văn học  
Nga, Anh, Mỹ… là tiền đề cho sự ra đời và phát  
triển của chủ nghĩa hiện đại ở thế kỷ XX. Đây  
cũng là giai đoạn văn học có ảnh hưởng rất sâu  
sắc đến văn học Việt Nam nói riêng, văn học thế  
giới nói chung.  
Hiểu về sự vận động của văn học hiện thực  
Pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hiểu  
sự vận động của văn học Việt Nam giai đoạn  
1930-1945 nói riêng, sự vận động của văn học  
hiện đại thế giới nói chung. Hơn nữa, đối với các  
nhà nghiên cứu văn học, giai đoạn văn học này  
rất hấp dẫn vì còn nhiều khoảng trống để nghiên  
cứu. Đây chính là tiền đề cho các nghiên cứu  
tiếp theo của người nghiên cứu.  
Tài liệu tham khảo  
Lê Nguyên Cẩn (2014). Tiểu thuyết phương Tây thế  
kỷ XIX. Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Darcos, X. (1992). Histoire de la littérature  
française. Phan Quang Định dịch (1997).  
Lịch sử văn học Pháp. Nxb Văn hóa thông tin.  
Đỗ Đức Dục (1981). Chủ nghĩa hiện thực phê phán  
trong văn học phương Tây. Hà Nội, Nxb  
Khoa học xã hội.  
Đỗ Đức Dục (1972). Chủ nghĩa hiện thực phê phán  
trong văn học phương Tây từ nửa sau thế kỷ  
XIX bước sang thế kỉ XX. Tạp chí Văn học,  
3, tr. 91.  
Đỗ Đức Dục (1981). Chủ nghĩa hiện thực phê phán  
trong văn học phương Tây (dưới ánh sáng  
quan điểm Mác-xít). Hà Nội, Nxb Khoa học  
xã hội.  
Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Lương Duy Trung,  
Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Thị Hoàng,  
5. Kết luận  
Bài viết này nhằm khái quát sự bước phát  
47  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
chuyên nghiệp.  
Nguyễn Văn Chinh, Phùng Văn Tửu (2012).  
Văn học phương Tây. Nxb Giáo dục Việt Nam.  
Fortassier, R. (1982). Le roman francsais au 19è  
siècle. Nguyễn Thanh dịch (1999). Tiểu thuyết  
Pháp thế kỷ XIX. Hà Nội, Nxb Thế giới.  
Nguyễn Như Hiền, Lê Đình Lượng, Đái Duy Ban  
(2005). Những phát minh trong khoa học sự  
sống. Hà Nội, Nxb Khoa học và kỹ thuật.  
Đỗ Đức Hiểu (1978). Văn học công xã Pari. Hà Nội,  
Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp.  
Nguyễn Hữu Hiếu (2010). Khảo sát sự chuyển hướng  
thẩm mĩ văn học Pháp cuối thế kỷ XIX. Báo  
cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp  
Đại học Quốc gia. Tp. Hồ Chí Minh, Trường  
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp. Hồ  
Chí Minh.  
Lê Hồng Sâm (1989). Guxtav Phlôbe, một gương  
mặt bi đát trong văn học Pháp. Tạp chí Văn  
học, 3, tr. 43.  
Cao Chi, Chu Hảo, Pierre Darriulat, Nguyễn Xuân  
Xanh, Phạm Xuân Yêm (chủ biên) (2014).  
Khi văn chương vinh danh khoa học (Kỳ 1, 2,  
3). Trích từ Kỷ yếu Hạt Higgs và Mô Hình  
van-chuong-vinh-danh-khoa-hoc-ky-1-7499.  
Truy cập ngày: 20 tháng 8 năm 2017.  
Lê Ngọc Tân (2002). Chủ nghĩa tự nhiên, Zola và  
tiểu thuyết. Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà  
văn.  
Nguyễn Thị Anh Thảo (2001). Tiểu thuyết Pháp thế  
kỷ XIX và những ảnh hưởng đối với một số  
nhà văn Việt Nam tiêu biểu thời kỳ 1932-  
1945. Luận án Tiến sĩ ngành Lý thuyết và  
Lịch sử văn học. Viện Khoa học Xã hội tại  
Tp. Hồ Chí Minh.  
Thái Thu Lan (1991). Emin Dôla – nhà văn của  
những thể nghiệm và thử thách. Tạp chí Văn  
học, 5, tr. 42.  
Thái Thu Lan (2001). Các tác giả lớn của văn học  
Pháp thế kỉ XIX. Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Giáo  
dục.  
Đặng Thanh Tịnh (biên soạn) (2006). Lịch sử nước  
Pháp. Nxb Văn hóa - Thông tin.  
TháiThuLan(2005). JulesVallès–nhà văn xuấtsắccủa  
Công xã Paris. Nxb Đại học quốc gia TP. HCM.  
De Ligny C., Rousselot M. (1998). La littérature  
française. Trịnh Thu Hồng, Đỗ Phương Mai  
dịch (1998). Văn học Pháp. Tp. Hồ Chí Minh,  
Nxb Giáo dục.  
Hoàng Nhân (1997). Tuyển tập văn học Pháp (tập II  
– thế kỷ XIX, XX). Thành phố Hồ Chí Minh,  
Nxb Trẻ và Hội nghiên cứu và giảng dạy văn  
học Tp. Hồ Chí Minh.  
Phùng Văn Tửu, Lê Hồng Sâm (chủ biên) (2005).  
Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XVIII và thế kỷ  
XIX (tập II). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Сучков Б.Л. (1977a). Исторические судьбы  
реализма. Hoàng Ngọc Hiến và những người  
khác (dịch từ nguyên bản tiếng Nga) (1980).  
Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực (suy  
nghĩ về phương pháp sáng tác), Tập 1. Tp. Hồ  
Chí Minh, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn  
Việt Nam.  
Hoàng Nhân, Nguyễn Ngọc Ban, Đỗ Đức Hiểu  
(1979). Lịch sử văn học phương Tây, tập 2.  
Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Giáo dục.  
Сучков Б.Л. (1977b). Исторические судьбы  
реализма. Hoàng Ngọc Hiến và những người  
khác (dịch từ nguyên bản tiếng Nga) (1982).  
Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực (suy  
nghĩ về phương pháp sáng tác), Tập 2. Hà Nội,  
Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam.  
Lưu Tô Xương, Quang Nhân Hồng, Hàn Thừa Văn  
(chủ biên) (2002). Lịch sử thế giới thời cận đại  
(1640-1900); Tập 3. Nxb Tổng hợp TP. HCM.  
Zola, Z. (1881a). Le Roman Expérimental. Paris,  
Cinquième edition, G. Charpentier édition.  
Zola, Z. (1881b). Les Romanciers naturalists. Paris,  
G. Charpentier édition.  
Hà Thị Thu Phương (2016). Sự thay đổi thẩm mỹ của  
dòng văn học hiện thực qua truyện ngắn Guy  
de Maupassant. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại  
học Khoa học xã hội và Nhân văn TP. HCM.  
Đoàn Rạng, Vũ Quý Mão, Trần Như Thuần, Đỗ  
Quang Giai (1962). Mười thế kỷ văn chương  
Pháp (quyển II). Sài Gòn, Khai Trí xuất bản.  
Lê Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh (1981). Văn học lãng  
mạn và văn học hiện thực phương Tây thế kỷ  
XIX. Hà Nội, Nxb Đại học và trung học  
48  
pdf 10 trang baolam 23840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự vận động của văn học hiện thực pháp cuối thế kỷ XIX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_van_dong_cua_van_hoc_hien_thuc_phap_cuoi_the_ky_xix.pdf