Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam trong văn xuôi đương đại thời kỳ Đổi mới

Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam  
trong văn xuôi đương đại thời kỳ Đổi mới  
Vũ Thị Mỹ Hạnh(*)  
Tóm tắt: Văn học là tấm gương phản chiếu văn hóa dân tộc. Giá trị đích thực của văn  
học là ở chỗ nó phản ánh tất cả các vấn đề văn hóa, xã hội, vận mệnh, tiền đồ của dân  
tộc, phản ánh tinh thần của thời đại. Nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ ở Việt Nam đi suốt  
chiều dài lịch sử của đất nước cũng đã không ngừng khai thác những giá trị văn hóa dân  
tộc trong sáng tác của mình. Văn xuôi thời kỳ Đổi mới tưởng chừng bị cuốn theo thời đại  
của công nghệ thông tin, song trong sáng tác của những nhà văn, ngay cả thế hệ các nhà  
văn trẻ vẫn đậm đặc những sắc thái văn hóa dân tộc như: tín ngưỡng, phong tục, đạo  
Mẫu… Bài viết bàn về văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam qua các tác phẩm văn xuôi đương  
đại thời kỳ Đổi mới.  
Từ khóa: Nghiên cứu văn học, Nghiên cứu văn hóa, Văn xuôi đương đại,Văn hóa tín  
ngưỡng, Văn hóa dân gian  
Abstract: Literature has proved its true value as a mirror that reflects all cultural and  
social matters as well as destiny and perspectives of the nation, the spirit of the times.  
Many generations of Vietnamese writers and poets all through history have constantly  
exploited the national cultural values in their works. While prose in the Doimoi (Reform)  
period is likely influenced by the era of information technology, it has, nevertheless, been  
imbued with the beliefs, customs, Mother Goddess worship among many national cultural  
values as found in the works of writers, even the young generation. The paper discusses  
religious belief in Vietnam reflected in works of contemporary prose in post-Doimoi.  
Keyword: Literary Research, Cultural Research, Contemporary Prose, Religious Belief,  
Folk Culture  
1. Vài nét về văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam  
1(*)Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo,  
tín ngưỡng và đại đa số người dân có truyền  
thống sinh hoạt tín ngưỡng từ lâu đời. Các  
dân tộc trong cộng đồng Việt Nam đều có  
những hình thức tín ngưỡng mang nét đặc  
sắc riêng gắn liền với đời sống kinh tế và  
tâm linh của mình. Từ sau những năm đổi  
mới, Đảng và Nhà nước đã đánh giá cao vai  
trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống  
xã hội. Nghị quyết Hội nghị Trung ương V,  
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII  
khẳng định: “Tôn trọng tự do tín ngưỡng và  
không tín ngưỡng của dân, bảo đảm cho các  
(*) ThS., Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn  
lâm Khoa học xã hội Việt Nam;  
Văn hóa tín ngưỡng…  
47  
tôn giáo hoạt động trên cơ sở bình thường, cái thiêng, sự ngưỡng mộ và sùng bái của  
trên cơ sở tôn trọng pháp luật, nghiêm cấm con người. Do vậy, tín ngưỡng là một hiện  
xâm phạm tự do, tín ngưỡng và không tín tượng văn hóa mang tính lịch sử, một phạm  
ngưỡng. Thực hiện nhất quán chính sách trù lịch sử. Văn hóa tín ngưỡng sẽ được tiếp  
đại đoàn kết dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt cận từ những giá trị văn hóa vật thể, văn  
Nam, 1998).  
hóa phi vật thể thông qua các cơ sở thờ tự,  
Có nhiều quan niệm về tín ngưỡng. nghi thức thờ cúng, các giai thoại dân gian,  
Theo Đoàn Văn Chúc (1997), tín ngưỡng là địa danh và lễ hội có liên quan đến các  
một cái nôi cho các biểu thị biểu tượng tính hình thái tín ngưỡng của người Việt (Xem:  
hình thành, là cái nôi cho những hình thức Nguyễn Văn Bốn, 2010).  
diễn đạt điển hình mà ngày nay người ta gọi  
Trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi  
là các loại hình văn hóa hoặc các phương mới, các hình thái tín ngưỡng dân gian mang  
tiện văn hóa. Trần Ngọc Thêm (1997) cho bản sắc văn hóa dân tộc được phản ánh khá  
rằng, tín ngưỡng là niềm tin của con người đậm đặc. Các tác phẩm văn học Đổi mới,  
vào những điều, những sự vật, những nhân đặc biệt là văn xuôi, đã khai thác các khía  
vật nào đó. Niềm tin này không thể lý giải cạnh văn hóa Việt như là một sức mạnh làm  
bằng logic thông thường vì nó đối lập với nên thành công trong sáng tác của các tác  
tư duy khoa học.  
giả. Tâm hồn, tính cách, lịch sử, văn hóa  
Các nhà nghiên cứu như Phan Kế Bính, Việt Nam được thể hiện hết sức rõ nét qua  
Nhất Thanh, Toan Ánh, Tân Việt... tiếp cận văn học. Nhiều tác phẩm văn xuôi đương đại  
tín ngưỡng từ góc độ văn hóa dân gian, xem mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam liên  
tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các quan đến các hình thái tín ngưỡng.  
nghi lễ thể hiện qua các lễ hội, phong tục, 2. Tín ngưỡng đa thần và không gian văn  
tập quán, truyền thống của dân tộc Việt hóa Việt  
Nam. Đặng Nghiêm Vạn (1998) cho rằng,  
Cũng như nhiều dân tộc trên thế giới,  
tín ngưỡng là yếu tố chính của tôn giáo, tín ngưỡng sơ khai của người Việt là tín  
quy định sức mạnh của tôn giáo đó với ngưỡng đa thần. Mọi hiện tượng tự nhiên  
cộng đồng. Nguyễn Chí Bền (2000) từ góc đều có thần chủ trì, “vạn vật hữu linh, đất có  
độ văn hóa nhận định tín ngưỡng là một bộ thổ công, sông có hà bá” (Xem: Mã Giang  
phận cấu thành của văn hóa được thể hiện Lân, 1998). Tín ngưỡng đó được đặt trong  
thông qua nghi lễ thờ cúng, là lòng ngưỡng một không gian văn hóa đặc trưng của Việt  
mộ thành kính đối với những thế lực có ảnh Nam, đó là những ngôi làng, cây đa, bến  
hưởng trong quan hệ với con người.  
Dù quan niệm như thế nào chăng nữa,  
nước, dòng sông, cánh đồng…  
Trong văn xuôi đương đại, chúng  
thì mỗi loại tín ngưỡng đều là sự phản ánh ta vẫn bắt gặp những hình ảnh ngôi làng  
các mối quan hệ vốn có của một kiểu xã qua các tác phẩm như: làng Giếng Chùa  
hội, điều kiện tồn tại các tộc người, các (Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn  
đẳng cấp, giai cấp, các nền văn hóa khác Khắc Trường), làng Cổ Đình (Mẫu thượng  
nhau. Các hình thức tín ngưỡng mang đặc ngàn của Nguyễn Xuân Khánh), làng Đông  
thù theo từng không gian văn hóa, chủ thể (Bến không chồng của Dương Hướng),  
văn hóa cũng như thời gian văn hóa khác xóm Nhài (Những bài học nông thôn của  
nhau nhưng vẫn là biểu hiện niềm tin vào Nguyễn Huy Thiệp), Bản Hua Tát (Những  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
48  
ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp), Bạc bắc qua sông Đình. Chàng ơi có nhớ  
xóm nhỏ (Hiu hiu gió bấc của Nguyễn đến mình. Nhớ cầu Đá Bạc nhớ đình làng  
Ngọc Tư), làng Lạc Quần (Tôi và gã của Y Đông” (Dương Hướng, 1990: 120). Có thể  
Ban)… Làng xóm là cái nôi cho sinh hoạt nói, đây là tâm lý phổ biến của người dân ở  
văn hóa truyền thống lâu đời, dù ở đồng các làng quê Việt Nam. Tâm lý ấy vừa phản  
bằng (làng Đông, làng Giếng Chùa), trung ánh niềm tin vào sức mạnh cố kết cộng  
du (làng Cổ Đình) hay miền núi (bản Hua đồng làng xã, vừa thể hiện niềm tự hào của  
Tát), thì mỗi làng quê ấy đều có một ngôi mỗi người dân đối với mảnh đất chôn nhau  
đình. Đình làng ở Việt Nam là một sản cắt rốn của mình.  
phẩm độc đáo và được đặt ở vị trí trung  
Bên cạnh đó, không gian văn hóa  
tâm của làng; vừa là công đường, vừa là trong các tác phẩm văn xuôi hiện đại cũng  
nơi sinh hoạt văn hóa. Đây cũng chính là thường gắn với hình ảnh dòng sông, cánh  
nơi hội tụ của cộng đồng làng xã, là một đồng, cây đa, bến nước, có thể kể đến: dòng  
thiết chế văn hóa cổ truyền của người Việt sông Đình (Bến không chồng của Dương  
thông qua các hình thức tín ngưỡng, lễ hội Hướng), sông Son (Mẫu thượng ngàn của  
đầy màu sắc mang đậm tính nhân văn sâu Nguyễn Xuân Khánh), sông Cầu (Mảnh  
sắc, qua đó duy trì thuần phong mỹ tục.  
đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc  
Theo Trần Ngọc Thêm (1997), đình Trường), sông Cái (Con gái thủy thần của  
làng là một trung tâm văn hóa. Các hội hè Nguyễn Huy Thiệp) hay những dòng sông,  
trong làng và mọi cuộc ăn uống chung của cánh đồng mênh mang, ngút ngát (Cánh  
cộng đồng đều được tổ chức tại đây (do vậy đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư),… Với  
mà có từ đình đám). Sân đình ở nhiều ngôi người Việt, từ bao đời, sông luôn gần gũi và  
làng cũng là nơi để diễn chèo, tuồng. Bên thân thương, sông gắn với những kỷ niệm  
cạnh đó, đình còn là một trung tâm về mặt về quê hương, cha mẹ. Các nhà văn hiện  
tôn giáo: thế đất, hướng đình được xem là đại đã miêu tả về các dòng sông đúng như  
quyết định vận mệnh của cả làng, đình là nhận định của Trần Quốc Vượng (2003):  
nơi thờ thành hoàng - vị thần bảo trợ cho Tính sông nước là một đặc trưng của văn  
dân làng.  
hóa Việt Nam. Trong văn xuôi đương đại,  
Trong Mẫu thượng ngàn, khi miêu tả mỗi khúc sông, mô đất, cánh đồng, gốc  
diện mạo đời sống tâm linh, tín ngưỡng cây… đều có lai lịch, huyền tích, sâu hơn  
của người dân làng Cổ Đình, Nguyễn nữa là lịch sử và văn hóa dân tộc.  
Xuân Khánh (2006) đã hết sức chú trọng  
Những hình ảnh ngôi làng, dòng  
đến đình làng - niềm kiêu hãnh của những sông,… chỉ được khắc họa phần nào trong  
người dân nơi đây. Trong Bến không chồng, các tác phẩm văn xuôi đương đại, song  
Dương Hướng (1990) đã chỉ ra nhiều cái cũng mang lại cho người đọc những trải  
nhất của làng Đông và một trong những nghiệm về đời sống tâm linh, tín ngưỡng  
cái nhất ấy chính là đình làng. Ngôi Đình đa dạng, mang bản sắc riêng của người dân  
với bậc thềm đá xanh biếc, nhẵn bóng cùng Việt Nam.  
cột đình đồ sộ là biểu hiện sức mạnh của 3. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên  
làng. Người làng Đông, làng Cổ Đình, làng  
Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tổ  
Giếng Chùa… đều tự hào về làng mình: tiên là tín ngưỡng cơ bản và phổ biến. Đó  
“Chẳng to cũng gọi Đình Đông. Có cầu Đá là quan niệm về sự tồn tại của linh hồn và  
Văn hóa tín ngưỡng…  
49  
mối liên hệ huyết thống giữa người chết trước nấm mồ người mẹ: “Xin mẹ yên nghỉ  
và người sống bằng đường hồn. Qua con nơi chín suối. Xin mẹ tha thứ cho những lỗi  
đường ấy, người đã khuất về chứng kiến, lầm...” (VõThị Hảo, 2005: 184). Trong Mẫu  
theo dõi hành vi của con cháu, người thân, thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh (2006)  
quở trách hoặc phù hộ cho họ. Trong tín cũng mô tả về lời khấn thành khẩn tha thiết  
ngưỡng này, đạo lý là nội dung nổi trội. của bà Ba Váy trước vong linh Bà Cả. Để  
Con cháu thờ cúng tổ tiên để bày tỏ lòng thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, dòng  
biết ơn “uống nước nhớ nguồn” đối với bề họ Nguyễn ở làng Đông trong Bến không  
trên. Người Việt luôn chịu sự chi phối của chồng đã xây dựng nên ngôi từ đường để  
quan niệm vừa mong được nhận “phúc ấm làm nơi thờ phụng cho con cháu muôn đời.  
của tổ tiên”, “sống vì mồ vì mả, ai sống vì Khi nhà từ đường bị đốt cháy, sau bảy năm  
cả bát cơm” (Xem: Mã Giang Lân, 1998). không tìm ra thủ phạm, ông Khiên đã xin  
Người phương Đông quan niệm “sinh phép cả họ dựng lại ngôi từ đường trên nền  
ký, tử quy” (sống ở trần gian chỉ là sống cũ. Với Nghĩa, người trưởng nam kế cận,  
tạm, còn khi chết thì cái tinh anh của con ông vừa yêu thương vừa nghiêm khắc dạy  
người mới đến được cõi vĩnh hằng đầy dỗ mong cậu trở thành người kế nghiệp với  
hoan lạc. Đó chính là cuộc sống thật). Vì “tương lai sáng rực lên từ đất tổ (Dương  
vậy, người phương Đông coi trọng ngày Hướng, 1990). Còn đối với dòng họ Trịnh  
giỗ hơn ngày sinh. Tín ngưỡng thờ cúng tổ làng Giếng Chùa ở Mảnh đất lắm người  
tiên của người Việt mang nội dung giản dị nhiều ma, trên bàn thờ của họ, đằng sau cái  
và giàu tính thực tiễn. Bởi thế, nó dễ dàng lư đồng là bức truyền thần họa ông ba mươi  
trở thành nếp sống, phong tục bám rễ sâu trên tấm vải dệt bằng những sợi gai đang ở  
vào tiềm thức của mỗi người. Tính giản dị thế chồm lên. Những răng lợi, móng vuốt  
và thực tiễn được thể hiện qua các tác phẩm vươn ra trông đằng đằng lẫm liệt (Nguyễn  
văn xuôi hiện đại, đó là lời khấn vái khi Khắc Trường, 2006).  
tế lễ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma:  
Hầu như ở bất kỳ một tác phẩm văn học  
xin được chở che, phù trợ cho sự bình yên nào cũng có thể tìm thấy những chi tiết có  
của cuộc sống hằng ngày; là tư thế, thái độ sức hút về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của  
trang nghiêm của Lão Kiền nhân dịp giỗ người Việt. Với những ước mong bình dị và  
vợ: “Tất cả lòng thành, xin chư vị phù hộ độ niềm tin chất phác, thờ cúng tổ tiên được  
trì, cho sức khoẻ dồi dào, làm ăn tấn tới”; là coi là tín ngưỡng phù hợp với mọi người,  
cách ông Vỹ, em bà Nhớn, đứng nghiêm, có khả năng truyền bá và bảo tồn dài lâu  
gục đầu như mặc niệm; là Đoài với đôi tay trong đời sống tâm linh của người dân Việt.  
đầy mỡ gà, không rửa, vái lia lịa: “Lạy mẹ, 4. Tín ngưỡng thờ Mẫu  
mẹ phù hộ cho con đi học nước ngoài, kiếm  
Tín ngưỡng thờ Mẫu (hiện nay các  
cái xe cub” (Nguyễn Khắc Trường, 2008: nhà nghiên cứu còn gọi là đạo Mẫu) là  
128). Bên cạnh đó, sự chuẩn bị lễ vật đầy hình thức tín ngưỡng dân gian khá tiêu  
đủ cũng được diễn tả trong Không có vua: biểu, mang đậm đà bản sắc văn hóa Việt  
con gà sống tơ, mỏ ngậm một bông hồng, Nam, một hiện tượng văn hóa tâm linh độc  
hộp mứt, rượu rót ra ba cốc, pha một ấm đáo trong hệ thống tín ngưỡng dân gian  
chè... (Nguyễn Huy Thiệp, 2006). Lời khấn đa thần của người Việt. Việc tôn thờ nữ  
của những đứa con trong Đường về trần thần đã phổ biến từ lâu, từ truyền thuyết  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
50  
mẹ Âu Cơ - bà mẹ xứ sở sớm nhất của đối trọng với cái xấu, cái ác, là liều thuốc  
người dân Việt - đến lịch sử dựng nước và tinh thần hiệu nghiệm của mỗi người.  
giữ nước cũng có những vị anh hùng lưu Trong thế giới nhân vật của các nhà văn  
danh muôn thuở như Hai Bà Trưng, cùng hiện đại như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn  
với đó chúng ta cũng bắt gặp ở khắp nơi Xuân Khánh, Dương Hướng, Nguyễn  
trên đất nước Việt Nam những đền, đài, Khắc Trường, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư…,  
miếu, phủ, đình, chùa… thờ các nữ thần, dường như các nhân vật nữ đều đẹp. Vẻ  
gắn liền với tín ngưỡng nông nghiệp và đẹp sinh sắc tươi nhuận được đặt trong sự  
nguyên lý âm dương là khuynh hướng đề vận động không ngừng của cuộc sống. Là  
cao nữ tính. Người Việt còn thờ nữ thần nàng Bua, nàng Sinh, là chị Thắm, con gái  
Mặt Trăng, Mặt Trời, nữ thần Lửa, thần thủy thần, là Xuân Hương, bé Thu, người  
Lúa, hay bà Nữ Oa, bà chúa Xứ..., đặc biệt thiếu phụ chèo đò… trong tác phẩm của  
là Thánh Mẫu Liễu Hạnh - vị nữ thần vừa Nguyễn Huy Thiệp. Tất cả những nhân  
thiêng liêng, vừa cao quý nhưng lại rất gần vật này đều đẹp, mỗi người một vẻ. Trong  
gũi đối với con người Việt Nam.  
Nàng Bua, nhà văn đã khẳng định rằng:  
Trần Ngọc Thêm (1997) cho rằng, một “Đẹp là một phẩm giá tinh thần cao quý  
bồ cái lý không bằng một tí cái tình, lối của phụ nữ. Đó là tấm lòng bao dung và  
sống tình cảm dẫn đến thái độ trọng đức, hào phóng với tất cả mọi người” (Nguyễn  
trọng văn, trọng phụ nữ. Còn Trần Quốc Huy Thiệp, 2006). Họ không chỉ đẹp mà  
Vượng (2003) khẳng định, tính Mẫu ăn sâu còn là biểu tượng của sự đùm bọc, sinh  
trong tâm trí và biểu hiện thành các chuẩn sôi, cứu giúp. Như bé Thu trong Tâm hồn  
mực ứng xử. Theo Ngô Đức Thịnh (2001), mẹ, Thắm trong Chảy đi sông ơi, Sinh  
việc thờ Mẫu tuy có tên gọi khác nhau ở trong Không có vua… - tất cả là sự mênh  
các miền đất nước nhưng có cội nguồn từ mông, ấm áp, chở che của những người  
tục thờ các nữ thần. Ngày nay, nó đã trở mẹ bao trùm lên mỗi mái nhà.  
thành Đạo của người Việt, một đạo mang  
bản sắc Việt Nam rõ rệt nhất.  
Trong Bến không chồng1, Dương  
Hướng (1990) đã vẽ nên những người phụ  
Những biểu hiện của nguyên lý tính nữ đẹp như huyền thoại. Đó là Ngần, cô  
Mẫu trong truyền thống văn học Việt Nam gái đẹp nhất làng Đông, là chị Nhàn, Thắm,  
không phải ở thời kỳ nào cũng giống nhau. Thủy, Hạnh…, họ đẹp từ trong cuộc sống  
Lịch sử văn học Việt đã có những chị Lý, đời thường đến những câu chuyện kể. Đức  
mẹ Tơm, mẹ Suốt, Võ Thị Sáu… kiên trinh, hy sinh, vị tha của họ vừa làm người đọc  
bất khuất trong chiến tranh. Văn xuôi Việt ứa nước mắt thương cảm, vừa dấy lên sự  
Nam hiện đại vẫn giữ hình ảnh của người cảm phục. Thiên tính Mẫu trong tác phẩm  
phụ nữ với những phẩm chất bao dung, là ánh sáng, là sự hy vọng cho tất cả mọi  
nhân hậu và đức hy sinh. Họ vẫn là trung người. Với Nguyễn Khắc Trường (2006),  
tâm của gia đình, là chiếc cầu nối văn hóa thiên tính nữ trong Mảnh đất lắm người  
giữa các thế hệ.  
nhiều ma cũng biểu hiện ở mặt hoa da phấn,  
Người phụ nữ trong văn học Việt Nam, thắt đáy lưng ong, mắt lá răm đen nhánh…  
dù xưa hay nay, đều là hình ảnh của cái  
1 Tác phẩm được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn  
Việt Nam năm 1991.  
đẹp. Lòng khoan dung, sự vị tha nhẫn nại,  
nhân hậu… của người phụ nữ như là sự  
Văn hóa tín ngưỡng…  
51  
của bà Son, cô Đào. Giữa cộng đồng nửa không làm mất đi trong người đàn bà đó  
người nửa ma của xóm Giếng Chùa, với lòng bao dung, nhân hậu, vị tha. Khi nhìn  
các nhân vật Phúc, Hàm, Thư, Ửơng, Ngạc, thấy đứa trẻ mới sinh bị bỏ trong rừng thì  
Cao…, bà Son hiện lên như điển hình của “sau sự sợ hãi là sự đau đớn chất cùng phả  
một người vợ, người mẹ, người phụ nữ Việt ra từ bản năng làm mẹ của thị” (Y Ban,  
Nam bao dung, nhân hậu. Bà mang đến một 2006: 5). Ở người phụ nữ không biết chữ,  
sức sống mãnh liệt, một nguồn ánh sáng chưa bao giờ ra khỏi lũy tre làng ấy, thiên  
tươi mới cho tác phẩm.  
tính Mẫu dường như mênh mông không  
Những nhân vật nữ được khắc họa, ca bao giờ vơi cạn. Nó bao trùm lên những  
ngợi nhiều nhất, “đậm đặc” nhất là trong đứa con, lên thằng bé bị bỏ rơi, lên cả  
Mẫu thượng ngàn1 của Nguyễn Xuân người đàn ông tàn tật mà chị chăm sóc.  
Khánh. Luồng văn hóa xuyên suốt trong tác Chị khóc và thấy “tim đau ràn rạt” khi bị  
phẩm là đạo Mẫu. Ở đó, tất cả những người tố cáo về tội “quấy rối tình dục”. Lời bào  
đàn bà đều đẹp và mãnh liệt sức sống, tràn chữa “I am đàn bà” có lẽ cũng được cảm  
trề tình yêu thương, bao dung, nhân hậu, thông và tha thứ.  
từ bà Tổ Cô bí ẩn, bà Ba Váy đa tình, đến  
Với thế giới nhân vật của Võ Thị Hảo,  
cô Đồng Mùi, cô Mõ Hoa khốn khổ, cô người đọc bắt gặp ở đó những người phụ  
trinh nữ Nhụ tinh khiết… Cả bà Đà của nữ sẵn lòng bao dung, độ lượng trong  
ông Đùng huyền thoại cũng tràn trề sinh Đường về trần, Chuông vọng cuối chiều.  
lực, phồn thực, rất con người, rất đàn bà… Năm 2006, văn đàn Việt Nam đã nóng lên  
Trong tác phẩm này, Nguyễn Xuân Khánh bởi tác phẩm Cánh đồng bất tận2 của nhà  
đã dùng ngòi bút để phác họa rõ nét nền văn trẻ vùng đất Nam bộ Nguyễn Ngọc Tư,  
văn hóa Việt.  
đây được coi là một hiện tượng của văn  
Trong văn xuôi hiện đại Việt Nam, học trẻ nước nhà. Những trang viết của nhà  
các nhà văn nữ đã thể hiện nguyên lý tính văn mang nhiều nỗi niềm của người đàn  
Mẫu trong văn hóa Việt theo cách riêng bà Nam bộ, về người dân quê mình chịu  
của mình. Các yếu tố sinh, dưỡng, dục, lạc thương chịu khó, yêu say đắm nồng nàn,  
được thể hiện bằng tiếng nói của trái tim, và đức hy sinh cao cả. Đó là sự hy sinh âm  
bởi “người phụ nữ dùng con tim của mình thầm, là tình yêu nồng nàn cháy bỏng của  
để suy tư”. Với Y Ban, khi viết về đề tài người đàn bà trong Dòng nhớ, Nhà cổ; lòng  
phụ nữ, nhà văn như “đang vẽ chân dung bao dung nhân hậu, hy sinh trong Duyên  
đồng giới mình”. Tác giả hóa thân vào họ, phận so le: Xuyến đã hy sinh hạnh phúc,  
thể hiện tâm hồn, gương mặt họ bằng cái hy sinh cuộc đời mình để cho con được yên  
nhìn chân thật nhất. I am đàn bà là truyện ấm. “Nghe buồn anh cõng buồn em đi lê  
ngắn mang đến cho Y Ban những lời khen thê trong dạ… cồn cào, oằn oại, tả tơi gió”  
- chê đối lập, và cũng đã tốn không ít giấy (Nguyễn Ngọc Tư, 2005: 34).  
mực của các nhà nghiên cứu. Người phụ  
Có thể thấy, hình tượng người phụ nữ  
nữ trong tác phẩm là một người nghèo khó được văn xuôi Việt Nam sau Đổi mới khắc  
với một đàn con, nhưng cái nghèo, cái đói họa dưới cái nhìn đa chiều của cuộc sống.  
1 Cuốn tiểu thuyết đã nhận Giải thưởng Hội Nhà văn 2 Tập truyện đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt  
Việt Nam năm 2006.  
Nam năm 2006 dành cho tác phẩm xuất sắc.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
52  
Họ là những người phụ nữ đẹp, mang đậm  
tâm hồn, cốt cách Việt, nguyên lý tính Mẫu  
Việt Nam.  
kiện Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành  
Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị  
quốc gia, Hà Nội.  
Thay lời kết  
Như vậy, việc đưa những sắc thái văn  
hóa dân gian vào các tác phẩm văn xuôi  
8. Nguyễn Xuân Khánh (2006), Mẫu  
thượng ngàn (Tiểu thuyết), Nxb. Phụ  
nữ, Hà Nội.  
hiện đại đã đem đến một cái nhìn mới mẻ, 9. Võ Thị Hảo (2005), Góa phụ đen (Tập  
một hướng đi mới cho văn học Việt Nam. truyện ngắn), Nxb. Phụ nữ, Hà Nội  
Quan trọng hơn, chính những tác phẩm văn 10. Dương Hướng (1990), Bến không  
học đó là nơi lưu giữ, bảo tồn tính đa dạng  
và phong phú của văn hóa Việt Nam.  
chồng (Tiểu thuyết), Nxb. Hội Nhà văn,  
Hà Nội.  
Các tác phẩm văn xuôi hiện đại đã khai 11. Mã Giang Lân (tuyển chọn, 1998),  
thác và sử dụng những giá trị văn hóa dân  
tộc như một sức mạnh làm nên chiều sâu  
Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Nxb.  
Giáo dục, Hà Nội.  
và sức sống trường tồn. Những hình thái 12. Trần Đình Sử (1998), “Vai trò sáng tạo  
văn hóa mang bản sắc truyền thống như  
lễ hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán…  
văn hóa của văn học”, Tạp chí Văn học,  
số 6.  
được lưu giữ, truyền tụng bằng nhiều hình 13. Ngô Đức Thịnh (2001), Tín ngưỡng và  
thức khác nhau, trong các hình thức đó có  
văn học  
văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb.  
Khoa học xã hội, Hà Nội.  
14. Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng  
bất tận (Tập truyện ngắn), Nxb. Trẻ,  
Hà Nội.  
Tài liệu tham khảo  
1. Trần Thị An (2007), “Sức ám ảnh của  
tín ngưỡng dân gian trong Mẫu thượng 15. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản  
ngàn”, Tạp chí Văn học, số 6.  
2. Y Ban (2006), I am đàn bà (Tập truyện  
ngắn), Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.  
3. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hóa dân  
gian Việt Nam: Những suy ngẫm, Nxb.  
Văn hóa dân tộc, Hà Nội.  
sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí  
Minh, Tp. Hồ Chí Minh.  
16. Nguyễn Huy Thiệp (2006), Truyện  
ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hóa  
Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh.  
17. Võ Quang Trọng (1997), Vai trò của  
văn học dân gian trong văn xuôi hiện  
đại Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội,  
Hà Nội.  
4. Nguyễn Văn Bốn (2010), Văn hóa tín  
ngưỡng,  
nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-  
hoa-to-chuc-doi-song-ca-nhan/1671- 18. Nguyễn Khắc Trường (2008), Mảnh  
nguyen-van-bon-van-hoa-tin-nguong.  
html, truy cập ngày 10/6/2020.  
đất lắm người nhiều ma (Tiểu thuyết),  
Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.  
5. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, 19. Đặng Nghiêm Vạn (1998), Về tín  
Nxb. Văn hóa, Hà Nội.  
6. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình  
ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay,  
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, 20. Trần Quốc Vượng (2003), Văn hóa Việt  
Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.  
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn  
Nam: Tìm tòi và suy ngẫm, Nxb. Văn  
học, Hà Nội.  
pdf 7 trang baolam 24980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam trong văn xuôi đương đại thời kỳ Đổi mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_tin_nguong_viet_nam_trong_van_xuoi_duong_dai_thoi_ky.pdf