Quan niệm về chữ "Trung" của Ngô Thì Nhậm

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258) 2020  
45  
QUAN NIỆM VỀ CHỮ “TRUNG” CỦA NGÔ THÌ NHẬM  
LƯU ĐÌNH VINH*  
Ngô Thì Nhậm là một danh sĩ trí thức yêu nước, ông sống trong một giai đoạn  
đầy biến động của xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII. Tinh thần yêu nước của Ngô  
Thì Nhậm được thể hiện qua quan niệm về chữ “trung” theo các giá trị tư tưởng  
của Nho giáo đương thời. Tuy nhiên, trước sự biến đổi của các điều kiện kinh  
tế - chính trị - xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, quan niệm về chữ trung của ông đã  
có những bước chuyển quan trọng về mặt nội dung, là động lực thúc đẩy Ngô  
Thì Nhậm đứng về phía những người nông dân Tây Sơn, đánh đuổi và ngăn  
chặn quân Thanh xâm lược Việt Nam lần thứ 2. Song, cũng chính những bước  
chuyển tư tưởng về chữ trung này cũng đã làm cho người đời hiểu sai về Ngô  
Thì Nhậm và từ đó đã có những đánh giá không chính xác về ông.  
Từ khóa: Tư tưởng Ngô Thì Nhậm, tư tưởng trung quân, trung với nước  
Nhận bài ngày: 1/8/2019; đưa vào biên tập: 5/8/2019; phản biện: 11/9/2019; duyệt  
đăng: 10/2/2020  
1. DẪN NHẬP  
một chiều trong các quan hệ xã hội,  
với hạt nhân cốt lõi là vai trò và địa vị  
của nhà vua.  
Là một khái niệm đặc thù của Nho  
giáo, chữ “trung” trở thành một trong  
những hạt nhân quan trọng trong việc  
hình thành học thuyết chính trị - xã hội  
của các triều đại phong kiến ở Trung  
Quốc và các quốc gia có ảnh hưởng  
bởi văn hóa Trung Quốc. Trong  
những giai đoạn lịch sử cụ thể, quan  
niệm về chữ “trung” mang những nội  
dung hoàn toàn khác nhau: Trung  
trong Nho giáo nguyên thủy và Trung  
trong Nho giáo thời Hán, Tống, Minh,  
Thanh. Nếu chữ “trung” trong Nho  
giáo nguyên thủy có tính biện chứng  
sâu sắc thì chữ “trung” trong các học  
thuyết Nho giáo sau đó thể hiện tính  
Ở Việt Nam, bắt đầu từ thời Hậu Lê,  
chữ “trung” được sử dụng như một  
giá trị đạo đức nhằm xác định và xây  
dựng một chuẩn mực đạo đức theo  
nguyện vọng của nhà nước phong  
kiến lúc bấy giờ. Trong đó, nội hàm  
của khái niệm về chữ “trung” của Hán,  
Tống, Minh Nho trở thành “khuôn  
vàng thước ngọc” được nhà nước  
phong kiến Việt Nam cụ thể hóa bằng  
các đạo luật trong quản lý đất nước.  
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bắt đầu  
từ thời vua Trần Thái Tông đã quy  
định thành điều lệ và mỗi người, dù là  
quan hay dân, đều phải thề: “Làm tôi  
hết trung, làm quan trong sạch, ai trái  
thề này, thần minh giết chết” (Cao Huy  
* Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
LƯU ĐÌNH VINH – QUAN NIỆM VỀ CHỮ “TRUNG” CỦA…  
46  
Giu, 1971: 439). Đến thời nhà Lê, trong phái bảo thủ, cố chấp, cố ôm lấy chữ  
Quốc triều chiếu lệnh thiện chính, vua “cô trung” tuyệt đối của Tống Nho,  
Lê Huyền Tông (1654 - 1671) ra chỉ dụ: chấp nhận hi sinh tất cả vì một triều  
“làm người phải lấy tam cương ngũ đình mục ruỗng, không còn chỗ đứng  
thường làm đường lối mà theo” (Vũ  
Văn Mẫu, 1971: 109). Như vậy, quan  
niệm về chữ trung của giai cấp phong  
kiến Việt Nam có nguồn gốc từ Hán  
Nho và sau này là các giá trị của Tống,  
Minh Nho.  
trong lòng dân tộc, như: Trần Công  
Xán (1731 - 1787) tuẫn tiết để phò Lê;  
Lý Trần Quán (1735 - 1786) tự chôn  
sống mình vì hối hận vô tình phản  
chúa Trịnh Tông; Trần Danh Án (1754  
- 1794) đã để lại rất nhiều thơ văn và  
theo Lê Chiêu Thống đến phút cuối  
cùng. Khi biết tin Danh Án lưu lạc ở  
Bắc Giang, Nguyễn Huệ đã sai Ngô  
Thì Nhậm viết thư mời ra giúp nước  
nhưng ông vẫn kiên quyết không theo.  
Ngô Thì Chí - em trai Ngô Thì Nhậm,  
người đã khuyên Lê Chiêu Thống việc  
xin viện binh nhà Thanh và thân hành  
đi Lạng Sơn để chuẩn bị cho việc ấy.  
Ba là, trường phái thức thời. Những  
người này chiếm số ít trong tầng lớp  
trí thức, nhìn thấy được sự lạc hậu và  
không phù hợp của quan niệm về chữ  
“trung” trong ý thức hệ Nho giáo. Họ  
được chia thành hai loại: (i) trước sự  
sa đọa của nhà Lê - Trịnh, một bộ  
phận trong số họ tự mình đứng lên  
khởi nghĩa nhằm lật đổ sự thống trị  
của vua Lê - chúa Trịnh. Đại diện tiêu  
biểu là Nguyễn Hữu Cầu nổi tiếng với  
danh hiệu “Bảo dân đại tướng quân”,  
hay Phạm Công Thế - người đi theo  
nghĩa quân Lê Duy Mật và bị nhà Lê -  
Trịnh xử tội chết ... ; (ii) một bộ phận  
khác tự rũ bỏ vương triều đã hủ mục  
tìm đến những vị minh quân khác mà  
đại diện tiêu biểu là Ngô Thì Nhậm.  
Từ những biến động chính trị ở các  
thế kỷ trước, bước vào thế kỷ XVIII,  
nền kinh tế - chính trị - xã hội Việt  
Nam có những thay đổi mạnh mẽ. Sự  
chuyên quyền của chúa Trịnh ở Đàng  
Ngoài và cát cứ của chúa Nguyễn ở  
Đàng Trong, cùng với sự ức hiếp  
thiên tử nhà Lê đã làm băng hoại các  
giá trị Nho giáo, tác động tiêu cực đến  
đời sống vật chất và tinh thần của  
nhân dân, gây ra tình trạng chia cắt  
đất nước. Nho giáo lúc này đã không  
còn thỏa mãn được nguyện vọng của  
các tầng lớp nhân dân, trong đó có  
tầng lớp trí thức, trong việc giữ ổn  
định chính trị và sự bình yên cho đất  
nước. Đứng trước tình hình đó, quan  
niệm về chữ “trung” trong các tầng lớp  
nhân dân và trí thức đã có những thay  
đổi nhất định, hình thành các “trường  
phái” khác nhau. Một là, trường phái  
yếm thế, lánh đời vì bất mãn với thời  
cuộc nên đã từ bỏ chính sự triều đình,  
về ở ẩn và quyết không tham gia việc  
quan, việc nước như: Lê Hữu Trác  
(1720 - 1791); Nguyễn Thiếp (1724 -  
1804); Phạm Quý Thích (1760 - 1825);  
Nguyễn Du (1766 - 1820); Phạm  
Nguyễn Du (1739 - ?). Hai là, trường  
Ngô Thì Nhậm đã có những chuyển  
biến tích cực, xa rời những quan niệm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258) 2020  
47  
về “trung” trong Hán - Tống Nho, khôi để mà tiến đức, sửa lời nói cho thành  
phục những giá trị cốt lõi của “trung khẩn để nên sự nghiệp (Kinh Dịch:  
trong quan niệm của Nho giáo Tiên Quẻ Thuần Kiền, Văn Ngôn). Như vậy  
Tần, đặc biệt chữ “trung” của ông đã  
tìm đến mục đích khác đó là đất nước,  
là nhân dân. Tuy nhiên, với những  
thay đổi về nội dung của quan niệm về  
chữ “trung”, Ngô Thì Nhậm đã bị một  
bộ phận trí thức nho thời kỳ này có cái  
nhìn thiếu thiện cảm, thậm chí có  
phần miệt thị và phê phán.  
trung tín (忠 信) theo quan niệm của  
Nho giáo là trung thành với lời hứa,  
lời nói một cách thật lòng và đáng tin  
cậy.  
Là một trí thức nho học, được chúa  
Trịnh bổ nhiệm làm quan từ khi còn  
rất trẻ, Ngô Thì Nhậm thấm nhuần các  
tư tưởng “trung quân” trong quan  
niệm của Hán - Tống Nho. Nói về chữ  
trung, Ngô Thì Nhậm khẳng định:  
“Không trái lệnh thiên tử là trung” (Ngô  
Thì Nhậm, 2005b: 413). Thậm chí, với  
tư tưởng “trung quân” tuyệt đối của  
mình, Ngô Thì Nhậm chấp nhận: “Vua  
dẫu không sáng suốt nhưng có nhiều  
tôi hiền như vậy không thể bảo là  
không giúp được gì cho quốc gia”  
(Ngô Thì Nhậm, 2005b: 668).  
2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN  
TRONG QUAN NIỆM VỀ CHỮ TRUNG  
CỦA NGÔ THÌ NHẬM  
2.1. Quan niệm về chữ trung gắn  
liền với chữ tín  
Theo quan niệm của Hán - Tống Nho,  
“trung” mang ý nghĩa là hết lòng  
phụng sự và sẵn sàng tận tụy hi sinh  
vì vua. Nói đến “trung” (忠), tầng lớp trí  
thức nho học mặc nhiên hiểu đó là  
“trung quân” (忠君), là sự phục tùng  
tuyệt đối với vua – tức là người nuôi  
mình. “Tín” (信) là một trong những  
phẩm chất quan trọng trong Nho giáo,  
có nghĩa là làm đúng theo lời nói, cư  
xử đáng tin cậy. Trong Hán ngữ, chữ  
“tín” (信) nghĩa là niềm tin, là giữ điều  
hẹn ước, kết hợp bởi bộ “nhân” (イ) và  
chữ “ngôn” (言); hội ý rằng người có  
đức tín thì lời nói của người ấy phù  
hợp với hành vi, nói sao làm vậy, để  
tạo niềm tin nơi người khác. Vấn đề  
“trung tín” được Khổng Tử giảng rõ  
trong Kinh Dịch: “Quân tử tiến đức tu  
nghiệp. Trung tín sở dĩ tiến đức dã; tu  
từ lập kỳ thành, sở dĩ cư nghiệp dã” -  
Người quân tử tiến lên đạo đức, sửa  
cho sự nghiệp hoàn thành. Trung tín  
Tư tưởng Ngô Thì Nhậm về “trung”  
phải kết hợp với “tín” thể hiện thành  
những nội dung như sau:  
Thứ nhất “trung” kết hợp với “tín” là  
phương pháp hành động của người  
quân tử. Ngô Thì Nhậm khẳng định:  
“Đạo người trước hết phải giữ lấy điều  
tín; cửa thánh không gì bằng điều  
nhân” (Ngô Thì Nhậm, tập 1, 2003:  
390). Theo ông, trung tín chính là một  
trong những nguyên nhân của mọi sự  
thành công của người quân tử. Ngô  
Thì Nhậm viết: “Không trung hậu thì  
giả dối, đã giả dối thì không thành  
thực; nếu không đốc tín thì sinh trễ  
nải, đã trễ nải thì không lâu bền. Trái  
lại, đã trung hậu thì thành thực, đã  
thành thực thì không chây lười; đã  
LƯU ĐÌNH VINH – QUAN NIỆM VỀ CHỮ “TRUNG” CỦA…  
48  
đốc tín thì lâu dài, đã lâu dài thì vô mình, Ngô Thì Nhậm chấp nhận sự  
cùng” (Ngô Thì Nhậm, tập 1, 2003:  
497). Do đó, bản thân Ngô Thì Nhậm  
nguyện làm điều “trung tín” và ông tin  
rằng, nếu “trung tín” thì sẽ được sự  
chứng giám của đức Phật, của đạo  
trời, nên mọi việc cuối cùng cũng sẽ  
hanh thông. Trong Bài ký bia hậu Phật  
chùa Đại Từ ông viết: “Trung tín nếu  
bỏ lỏng/ Thì trăm hoa tranh giành/  
Tranh giành rồi ra sao?/ Việc sai ý rời  
rạc./ Màu hồng tía dễ thay/ Xanh,  
trắng thành kém sức/ Sở dĩ thế là  
sao?/ Lòng người chảy như thác/ Bia  
còn ghi ước suông/ Rùa về sông Hà  
Lạc/ Mắt Phật rất đáng hãi/ Soi xét tới  
hạ dân/ Cảm ứng rất gần gũi/ Ta  
nguyện đời sau này/ Được chứng quả  
Bồ Đề/ Trung tín không làm trái/ Y  
như ghi trong bia” (Ngô Thì Nhậm, tập  
1, 2003: 498).  
lạc lõng so với tầng lớp trí thức nho  
học lúc bấy giờ, ông chấp nhận mọi  
gièm pha và luôn kiên định với lý  
tưởng đã được xác định. Ngô Thì  
Nhậm tâm niệm “lấy nhân nghĩa làm  
sào chống, trung tín làm bánh lái/  
Hằng năm làm chiếc bè thả dưới sao  
Đẩu sáng ngời” (Ngô Thì Nhậm, tập 2,  
2004: 360).  
Tin và làm theo trung tín, nên trong  
những lúc đau bệnh bất ngờ, Ngô Thì  
Nhậm tin tưởng và động viên mình:  
“Giữ lòng trung tín, phần nhiều tự khỏi  
bệnh/ Quản chi mà chẳng gắng  
gượng cho thêm hăng hái tinh thần”  
(Ngô Thì Nhậm, tập 3, 2005: 225).  
Tuy nhiên, đời sống chính trị Việt Nam  
thế kỷ XVIII đã làm lu mờ các giá trị  
của “tín”. Khi chứng kiến sự tranh hùng  
của chúa Trịnh - Nguyễn, cũng như sự  
ức hiếp thiên tử của chúa Trịnh ở  
Đàng Ngoài, Ngô Thì Nhậm cảm nhận  
được sự bất tín trong tư tưởng trung  
quân của xã hội đương thời. Chính sự  
bất tín này đã phá vỡ những giao ước  
xã hội, trở thành một trong những  
nguyên nhân quan trọng hủy hoại các  
rường mối trong “ngũ luân” của Nho  
giáo và góp phần tạo nên những cuộc  
nội chiến triền miên, gây ra biết bao  
lầm than cho nhân dân. Nhận thức  
được sự bất tín trong các quan hệ xã  
hội, chữ “trung” trong tư tưởng Ngô  
Thì Nhậm đã có những sự dao động  
và chuyển biến nhất định. Đánh dấu  
sự dao động và chuyển biến trong tư  
Thứ hai, Ngô Thì Nhậm tin rằng thực  
hành “trung tín” sẽ giúp mỗi người  
hình thành bản lĩnh vượt qua được tất  
cả những khó khăn nhất thời của cuộc  
sống. Trong cuộc đời quan nghiệp của  
mình, Ngô Thì Nhậm gặp ít nhất là hai  
lần gian truân trắc trở. Lần thứ nhất là  
bị hàm oan ở phủ chúa Trịnh và phải  
trốn chạy để bảo toàn tính mạng. Lần  
thứ hai là bị thất sủng trong triều  
Quang Toản. Tất cả những lần thất  
vọng trong sự nghiệp, Ngô Thì Nhậm  
luôn tin tưởng vào kết quả của việc  
thực hành “trung tín” của mình. Bởi  
theo ông: “giữ trung tín, trẻ hiển vinh,  
già được vẹn toàn” (Ngô Thì Nhậm,  
tập 1, 2003: 343). Với quan niệm về tưởng trung quân của Ngô Thì Nhậm  
là việc ông lên án gay gắt sự thất tín  
trung tín theo cách hiểu vận dụng của  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258) 2020  
49  
trong quan hệ giữa vua chúa với thần gương cho kẻ khác noi theo” (Ngô Thì  
dân, và giữa vua chúa với nhau, cụ Nhậm, tập 4, 2005: 540). Hai là, cố  
thể là sự thất tín của hai chúa Trịnh -  
Nguyễn trong việc chấm dứt xung đột,  
gìn giữ sự bình yên cho nhân dân và  
trong những lời hứa, cũng như những  
tuyên bố về sự “phò Lê” thể hiện tại  
các giao ước được ký kết.  
tình che đậy, giấu giếm thiên tử và  
dùng các thủ đoạn chính trị tự ý xử lý  
những công việc quốc gia đại sự có  
lợi cho bản thân. Trong thời gian còn  
làm quan cho triều đình, Ngô Thì  
Nhậm đã chứng kiến sự tham lam  
“lừa trên gạt dưới” của bọn quan lại  
lúc bấy giờ. Trong bài tấu “ghi lại sự  
trạng Hoàng Văn Đồng ở Tuyên  
Quang”, ông đã chỉ ra “sự gian xảo  
của nó là không hình dung hết” của  
Huân Trung Hầu và Nghi Trung Hầu.  
Trong đó, Nghi Trung Hầu nhận lệnh  
vua đi giữ gìn an ninh tại mỏ đồng Tụ  
Long - Tuyên Quang. Tuy nhiên, Nghi  
Trung Hầu tham lam nhũng nhiễu việc  
làm ăn của dân, đồng thời móc ngoặc  
với bọn tham quan địa phương để tìm  
kiếm lợi ích cá nhân. Vì đã lấy tiền đút  
lót của tham quan địa phương nên  
“Nghi Trung Hầu nghe có biến, giấu đi  
không cho triều đình biết” và khi sự  
việc không thể cứu vãn được nữa,  
Nghi Trung hầu phải: “mãi lâu sau mới  
báo là có cướp, xin với triều đình  
truyền cho viên phiên thần bản trấn đi  
bắt” (Ngô Thì Nhậm, tập 1, 2003: 481).  
Ngô Thì Nhậm gọi đó là “mưu chước  
của bọn gian thần, làm quốc gia mắc  
sai lầm” (Ngô Thì Nhậm, tập 4, 2005:  
545). Ba là, sử dụng những nghi lễ  
long trọng nhưng chỉ mang tính hình  
thức. Chữ “trung tín” được thể hiện  
trong nhiều lĩnh vực, trong đó có việc  
bang giao giữa các quốc gia với nhau,  
giữa các quan đại thần với nhau, giữa  
vua với thần dân của mình. Ngô Thì  
Trong tình hình kinh tế - chính trị - xã  
hội Việt Nam lúc bấy giờ, chứng kiến  
sự thất tín đang ngày càng trở nên  
phổ biến, Ngô Thì Nhậm đã chỉ ra  
những việc làm cụ thể được ông xem  
là không gắn liền “trung” với “tín”. Một  
là, dùng lời nói ngụy biện để đạt mục  
đích cá nhân. Lúc này, Ngô Thì Nhậm  
đã nhận thức rõ ràng sự loạn danh  
của triều đình vua Lê - chúa Trịnh.  
Một nước vừa có vua lại vừa có chúa.  
Ông cũng thấy được sự ức hiếp thiên  
tử của gia đình chúa Trịnh hơn hai  
trăm năm qua để đến nỗi, tất cả các  
cuộc khởi nghĩa cho dù là của nông  
dân hay của tầng lớp trí thức nho học,  
đều nêu cao khẩu hiệu “phò Lê diệt  
Trịnh”. Thậm chí, chúa Nguyễn ở  
Đàng Trong cũng mang theo tư tưởng  
“phò Lê” để gây dựng lực lượng, tạo  
thành một lãnh thổ riêng, chia cắt đất  
nước. Nhận thức được sự gian dối  
trong các khẩu hiệu “phò Lê” của các  
tập đoàn phong kiến, trong việc là bề  
tôi mà ức hiếp thiên tử, bắt thiên tử  
phải thực hiện theo ý muốn của bản  
thân và xong việc thì hô hào rằng làm  
như thế vì “trung với vua”, Ngô Thì  
Nhậm thẳng thừng: “Không phải vậy,  
đó chỉ là hành động của bọn hiệp  
khách lão luyện, không thể làm tấm  
LƯU ĐÌNH VINH – QUAN NIỆM VỀ CHỮ “TRUNG” CỦA…  
50  
Nhậm viết: “Không sai hẹn với nước giáo đối với việc điều chỉnh các hành  
lớn là tín” (Ngô Thì Nhậm, tập 4, 2005: vi của con người trong xã hội.  
393). Mượn những điển tích trong thời  
Xuân Thu, Ngô Thì Nhậm gián tiếp nói  
về sự thất tín trong các hoạt động  
chính trị lúc bấy giờ. Theo Ngô Thì  
Nhậm, vì lòng “trung” không gắn với  
“tín” nên “Đấng quân tử nhiều lần ăn  
thề thì họa hoạn kéo dài” (Ngô Thì  
Nhậm, tập 4, 2005: 34). Quan hệ giữa  
các nước bề ngoài là thân tình thắm  
thiết nhưng thực chất đều vì lợi ích  
riêng của mỗi quốc gia cũng như lợi  
ích của đấng quân vương và không  
tồn tại chữ tín của “trung tín” trong các  
lời hứa ước, giao kèo. Ngô Thì Nhậm  
chỉ ra: “Tuy cùng giao kết mà tuyệt  
nhiên không có tín nghĩa gì, chỉ mượn  
điển lễ Thiên Vương làm lợi cho riêng  
mình” (Ngô Thì Nhậm, tập 4, 2005:  
Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội  
Việt Nam thế kỷ XVIII đầy hỗn loạn  
với danh thực lễ nghĩa suy tàn đến  
mức các nhà trí thức nho học cảm  
thấy bất lực trong việc khôi phục lễ  
giáo. Điều này cũng đánh dấu sự bất  
lực của Nho giáo trong đời sống tinh  
thần người Việt Nam lúc bấy giờ.  
Trong các mối quan hệ xã hội, cụ thể  
là mối quan hệ giữa vua và thần dân  
của mình, hay mối quan hệ giữa vua  
và các vị vua khác, đều không dựa  
trên tấm lòng trung thực. Từ sự không  
trung thực đó, mọi ý thức về “trung”  
được xem như những lời hứa suông  
và đều giả dối. Việc nhìn thấy phải kết  
hợp giữa trung và tín trong các quan  
hệ xã hội lúc này đã giải thích cho sự  
115). Ông kết luận: “Ở đời, việc chạy bất mãn của Ngô Thì Nhậm đối với sự  
cai trị của vua Lê - chúa Trịnh. Điều  
này tất yếu dẫn đến việc tìm kiếm và  
lựa chọn một đối tượng khác trong  
thực hành chữ “trung” trong tư tưởng  
Ngô Thì Nhậm.  
theo mối lợi không thể thay đổi” (Ngô  
Thì Nhậm, tập 4, 2005: 124). Với  
những mối lợi đó, người ta bất chấp  
cương thường đạo lý để thực hành  
cho bằng được và đối tượng chịu ảnh  
hưởng nhiều nhất của sự băng hoại  
đạo lý đó chính là nhân dân. Trong  
đời sống xã hội, có thể điều chỉnh  
những hành vi thất tín đó được không?  
Dẫn theo lời Khổng Tử, Ngô Thì  
Nhậm cho rằng: “Về hạng người  
không biết nghĩ „như thế nào‟, thì ta  
đây cũng không biết „như thế nào‟ mà  
dạy được” (Ngô Thì Nhậm, tập 4,  
2005: 116). Câu nói của Ngô Thì  
Nhậm cũng phản ánh thực trạng của  
xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII, đồng  
Sau những tháng năm lẩn trốn triều  
đình vua Lê Chúa Trịnh, Ngô Thì  
Nhậm đã thấy được sự mục ruỗng  
trong đời sống chính trị lúc bấy giờ.  
Ông đã chứng kiến đội ngũ quan lại  
được hình thành từ những “thương  
cuộc” mua quan bán chức ngày càng  
phổ biến, vua chúa trọng dụng những  
người có “miệng lưỡi” chứ không coi  
trọng người thực tài. Vì vậy, xã hội  
xuất hiện một đội ngũ quan lại nham  
hiểm, lợi dụng tư tưởng trung quân để  
thời cũng cho thấy sự bất lực của Nho trục lợi cá nhân, gây ra bao nỗi lầm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258) 2020  
51  
than cho nhân dân. Trong thân phận được thăng chức, vâng mệnh lệnh  
người lánh nạn, Ngô Thì Nhậm thốt mới, ông viết: “Khen ông đem lòng  
lên: “Nếu lòng trung tín bạc bẽo mà trung tín, thử cánh buồm đầu tiên”  
tính tô vẽ rườm rà, cốt chỉ làm “cái đó (Ngô Thì Nhậm, tập 1, 2003: 107).  
bắt cá”, “cái lưới bắt thỏ”, thì đó là cái  
2.2. Chữ “trung” gắn với quan niệm  
tội của hạng người giả nhân giả  
về “minh quân”  
nghĩa”(1) (Ngô Thì Nhậm, tập 4 2005:  
Ngay từ những ngày đầu làm quan  
116). Theo Ngô Thì Nhậm: “Minh, thứ,  
cho triều đình Lê - Trịnh, Ngô Thì  
trung, tín đều là cái ý nghĩa màu  
Nhậm đã chủ trương thực hiện sự  
nhiệm của nền văn hiến” (Ngô Thì  
trung thành tuyệt đối với vua, sẵn  
Nhậm, tập 1, 2003: 541). Chính vì thế,  
sàng vì vua mà tận tâm tận lực với  
ông cực kỳ lên án và dành những lời  
công việc, thậm chí hi sinh cả tính  
lẽ nặng nề cho những người không  
mạng vì vua. Ngô Thì Nhậm khẳng  
giữ tấm lòng trung tín, lợi dụng “trung”  
định: “Kẻ trung thành không trái lời  
mưu cầu quyền lợi riêng tư của bản  
chúc của tiên quân, tôn sùng chính  
thân. Ông viết: bọn “phản phúc không  
nghĩa nghìn thu vẫn như một ngày”  
có lòng tin, chẳng khác gì phường bán  
(Ngô Thì Nhậm, tập 1, 2003: 391).  
buôn ngoài chợ búa. Kinh văn nói là  
Bằng tấm lòng trung thành tuyệt đối,  
ghét, là đúng vậy” (Ngô Thì Nhậm, tập  
Ngô Thì Nhậm không bao giờ xem  
4, 2005: 34).  
danh lợi và chức tước là mục đích của  
Vào những năm cuối thời Quang  
đời mình. Ông khẳng định: “Chức  
Toản, dù bị triều đình ghẻ lạnh nhưng  
phận bầy tôi, đương nhiên phải đi  
Ngô Thì Nhậm vẫn tích cực tham gia  
theo xa giá. Lòng tận trung tận ái coi  
miệt mài vào chính sự bởi lòng ông,  
cửa khuyết, cũng như chốn giang hồ”  
trung tín không bao giờ buông. Ông  
(Ngô Thì Nhậm, tập 1, 2003: 60).  
viết trong tập thơ Cẩm đường nhàn  
Theo Ngô Thì Nhậm, đối với người có  
thoại: “No buồm trung tín, thuyền vẫn  
lòng “trung” thật sự, làm việc với vua  
đương trôi” (Ngô Thì Nhậm, tập 3,  
không phải là cơ hội để lấy lòng vua  
2005: 374). Hoặc trong một lần chèo  
và mưu cầu mục đích danh lợi riêng  
thuyền trên sông Nhật Lệ, Ngô Thì  
tư, mà đó chính là cơ hội được làm  
Nhậm tức cảnh viết: “Căng buồm  
việc, được khát khao cống hiến sức  
trung tín băng theo nước triều chảy  
mình cho vua. Chữ “trung” theo Ngô  
xiết/ Chèo lan nhằm thẳng theo con  
Thì Nhậm đó chính là đạo đức, là lẽ  
đê cát/ Ngẩng trông chùm Tử Vi như  
sống ở đời. Như vậy, trong những  
đối diện với bậc chí tôn” (Ngô Thì  
tháng ngày mới ra làm quan nhà Lê -  
Nhậm, tập 2, 2004: 371).  
Trịnh, Ngô Thì Nhậm đã thể hiện rõ  
ông là một người trung thành tuyệt đối  
theo đúng những giá trị mà giai cấp  
phong kiến đương thời đã giáo huấn.  
Bên cạnh đó, Ngô Thì Nhậm còn dùng  
“trung tín” để động viên bạn bè. Tiêu  
biểu như trong bài thơ Mừng bạn  
LƯU ĐÌNH VINH – QUAN NIỆM VỀ CHỮ “TRUNG” CỦA…  
52  
Tuy nhiên, một góc độ nhất định, Nho cuối cùng có được ích lợi gì đâu” (Ngô  
giáo Việt Nam có sự khác biệt với Nho Thì Nhậm, tập 4, 2005: 399). Trải qua  
giáo Trung Quốc. Một trong những sự bao thăng trầm trong cuộc sống, đến  
khác biệt đó là quan niệm về đất nước cuối đời, khi chiêm nghiệm giáo lý nhà  
của người Việt Nam so với quan niệm Phật, Ngô Thì Nhậm ngộ thêm: “Làm  
về quốc gia của người Trung Quốc vua mà không có lòng nhân ái, làm  
(Trần Ngọc Thêm, 1997: 202, 224). cha mà không có đức từ nhân là trái ý  
Đối với người Việt, đất nước là nơi trời. Trái ý trời thì Nho gọi là giặc,  
mà mỗi người Việt sinh ra và lớn lên, Thích gọi là A ty ngục” (Ngô Thì Nhậm,  
gắn chặt với đời sống kinh tế thuần tập 5, 2006: 391). Chữ “nhân” ở đây  
nông – lúa nước; tạo thành nghĩa vụ theo Ngô Thì Nhậm thể hiện trong mối  
thiêng liêng của mỗi người dân đối với quan hệ với dân. Vì vậy, vị vua nào vì  
đất nước, bảo vệ nó trước các thế lực những ham muốn tầm thường của  
ngoại xâm. Trong khi đó, khái niệm mình mà “dùng sức dân quá lâu là bất  
quốc gia trong quan niệm Nho giáo nhân” (Ngô Thì Nhậm, tập 4, 2005: 96)  
Trung Quốc thường gắn với tên họ hoặc nhà vua vì không suy xét cẩn  
của các vị vua, tên của vua được lấy thận, gây chiến tranh “có nghĩa là đem  
làm tên của nước. Vua còn thì nước quân đi đánh mà không có danh nghĩa  
còn, vua mất thì nước mất. Trong tâm gì, mệt nhọc sức dân mà chẳng nên  
trí người Việt, vị vua nào có công với công trạng, thì gọi từng người ra mà  
đất nước, có ý chí trong việc bảo vệ chê trách” (Ngô Thì Nhậm, tập 4, 2005:  
và xây dựng đất nước thì được gọi là 86). Như vậy, bề tôi đối với những vị  
minh quân, được mọi người tôn thờ; vua bất nhân sẽ khác đối với các vị  
ngược lại là “hôn quân” bị mọi người vua anh minh. Lòng “nhân” chính là  
trong nước ghét bỏ.  
cơ sở để thực hiện đức “trung”, “nếu  
chết vì một vị vua hiền đức anh minh,  
người làm bề tôi cũng sẵn lòng. Có  
thể nói, tư tưởng “trung quân” của  
Ngô Thì Nhậm lúc này đã thoát khỏi  
ảnh hưởng của Hán - Tống Nho,  
chuyển đổi từ “trung với vua” thành  
“trung với nước”. Điều này đã giúp Ngô  
Thì Nhậm tự tin và dũng cảm đứng về  
phía nghĩa quân Tây Sơn.  
Kế thừa những giá trị yêu nước truyền  
thống, Ngô Thì Nhậm thường xem hạt  
nhân trong mọi hành động của vua  
chính là lợi ích tối thượng của người  
dân. Ngô Thì Nhậm cho rằng, người  
làm vua phải “biết bao dung nuôi nấng  
dân chúng thì mới thống trị được dân  
chúng. Nếu chỉ biết lợi mình mà không  
xét đến thiệt hại của người, thì thiếu  
đạo làm vua vậy” (Ngô Thì Nhậm, tập  
4, 2005: 453) và “lấy xã tắc làm trọng”  
Vì vậy, trước sự rối ren của triều vua  
Lê - chúa Trịnh, tư tưởng trung quân  
(Ngô Thì Nhậm, tập 4, 2005: 63). của Ngô Thì Nhậm đã có sự chuyển  
biến nhằm khôi phục những giá trị  
tưởng chừng như đã cũ của Nho giáo  
Những vị vua hoang dâm sa đà mỹ  
tửu “không lấy nhân nghĩa làm gốc...  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258) 2020  
53  
nguyên thủy, cũng như những giá trị thân của kẻ sĩ phu” (Ngô Thì Nhậm,  
“trung với nước” trong truyền thống tập 4, 2005: 534). Đối với một kẻ sĩ  
của dân tộc Việt Nam. Đặc điểm đánh chân chính, vẫn còn một thứ rất quan  
dấu sự chuyển biến và khôi phục này trọng, có thể nói là quan trọng hơn  
thể hiện ở chỗ: Ngô Thì Nhậm là một vua, đó là việc nước việc nhà. Chính  
trong những trí thức nho học Việt Nam vì vậy, cần phải vượt qua và làm chủ  
đầu tiên lên tiếng với sự “ngu trung”. những cảm xúc của bản thân, tránh  
Tột đỉnh của lòng “trung thứ” chính là việc “chết uổng vô ích chi bằng cố  
lấy cái chết để trả ơn vua. Tuy nhiên, sống để lo liệu” (Ngô Thì Nhậm, tập 4,  
Ngô Thì Nhậm xác định: “Nghĩa của 2005: 294). Có thể thấy, với quan  
kẻ làm bầy tôi có trường hợp nên chết, niệm “trung” của mình, Ngô Thì Nhậm  
có trường hợp không nên chết, có cái đã vượt lên trên các chuẩn mực đạo  
chết đúng nghĩa, cũng có cái chết đức trung quân của nhà nho, chọn lấy  
không đúng nghĩa” (Ngô Thì Nhậm, cho mình một con đường đúng đắn,  
tập 4, 2005: 182). Đứng trước cái chết, phù hợp với đạo lý của dân tộc.  
kẻ bề tôi phải suy nghĩ thật kỹ, cái  
chết của mình có mang lại lợi ích gì  
cho đất nước hay không, nếu chỉ vì cố  
tỏ ra mình là người trung thành với  
vua mà chết thì đó là cái chết không  
đúng với khái niệm “trung”. Chính vì  
vậy, Ngô Thì Nhậm luôn nhắc nhở  
bản thân mình và bạn bè mình là “chớ  
coi sinh tử là việc chơi” (Ngô Thì Nhậm,  
tập 5, 2006: 74). Trong khi thực hiện  
“trung”, kẻ bề tôi tận tâm tận lực, đôi  
lúc cũng phải hi sinh cả tính mạng của  
mình để bảo vệ nhà vua, bảo vệ đất  
nước. Nhưng Ngô Thì Nhậm cho biết:  
“Có cái chết nặng hơn núi Thái Sơn,  
có cái chết nhẹ hơn lông chim hồng.  
Chết không phải đạo, cố chấp vào  
Trong thời gian này, Nguyễn Huệ đã  
hai lần kéo quân ra Bắc với danh  
nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” và được  
toàn thể nhân dân ủng hộ nên đã  
nhanh chóng khuất phục bè lũ chúa  
Trịnh Tông. Từ chỗ tin tưởng vào vua  
Lê - chúa Trịnh để thực hiện ý chí Hy  
Doãn của mình, Ngô Thì Nhậm từng  
bước phủ định nhà Chúa, hướng tâm  
trí đến vua Lê, nhưng thế cuộc của  
vua Lê vẫn không thể giúp ông thỏa  
mãn ý chí của mình. Việc ông hướng  
đến nghĩa quân Tây Sơn là một điều  
tất nhiên và là một sự phát triển trong  
tư tưởng yêu nước của ông, nó hoàn  
toàn không còn mang tính chất ngẫu  
nhiên. Lúc này, tư tưởng yêu nước  
những điều nhỏ nhặt như bọn sất phu của Ngô Thì Nhậm đã mang dáng dấp  
sất phụ, là điều người quân tử không của hệ tư tưởng hiện đại, “trung quân  
ái quốc” gần như chuyển thành “trung  
với nước, hiếu với dân”. Đây chính là  
nét tiến bộ trong tư tưởng yêu nước  
của ông.  
làm” (Ngô Thì Nhậm, tập 4, 2005: 534)  
và “không cho người ta xem nhẹ cái  
chết” (Ngô Thì Nhậm, tập 5, 2006:  
309). Thậm chí, trong cuộc chiến sinh  
tử, người quân tử “phải bất chấp, cốt  
giữ lấy tấm thân, đó là tiết tháo lập  
2.3. Chữ trung gắn với tư tưởng vì  
dân  
LƯU ĐÌNH VINH – QUAN NIỆM VỀ CHỮ “TRUNG” CỦA…  
54  
“Khoan thư sức dân” là một truyền Với quan điểm “khoan thư sức dân”  
thống tốt đẹp của các triều đại phong để thực hành chữ “trung”, năm 1770,  
kiến Việt Nam. Mỗi thời điểm lịch sử khi nhận chức Hiến Sứ Hải Dương,  
khác nhau, việc thực hiện “khoan thư ông đã bỏ công xem xét tình hình dân  
sức dân” được thể hiện một cách chúng, ngay lập tức dâng lên triều  
khác nhau. Ở thế kỷ XVIII, theo Ngô đình bản Khải điểu trần về tình tệ xứ  
Thì Nhậm, “khoan thư sức dân” là Hải Dương yêu cầu triều đình “bồi  
phải dựa vào dân, bởi: “Thiên tử vì dưỡng sức dân, là công việc trước  
dân mà nghe ngóng, trông coi, một khi mắt không thể trì hoãn” (Ngô Thì  
lòng dân được khởi phát thì ý của Nhậm, tập 1, 2003: 566) và là công  
thiên tử có thể đạt được” (Ngô Thì việc cần phải làm thường xuyên nếu  
Nhậm, tập 1, 2003: 576). Ngô Thì muốn gìn giữ nền thịnh trị của đất  
Nhậm đã gần như đồng nhất và xem nước. Tinh thần “khoan thư sức dân”  
dân với nước là một khi viết: “Vua được thể hiện xuyên suốt trong quá  
không dân biết cùng ai giữ nước” trình thực hành những nội dung của  
(Ngô Thì Nhậm, tập 2, 2004: 634). chữ “trung”. Ngay từ những ngày làm  
Vua anh minh hào kiệt đến đâu cũng quan cho triều đình nhà Lê - Trịnh,  
phải nhờ vào dân để giữ nước và giữ Ngô Thì Nhậm (tập 2, 2004: 47) đã  
nước cũng chính là cách để bảo vệ xác định trách nhiệm của người tôi  
dân. Như vậy, thực hành chữ “trung”, trung là: “giúp dân yên vui” nên khi  
không gì khác là lấy dân làm mục tiêu chứng kiến cảnh suy đồi, dân tình loạn  
và trung thành với nhân dân. Tinh lạc, “Nam Bắc phân chia, kỷ cương  
thần “khoan thư sức dân” chính là một chưa đều khắp, mà Bắc Hà là nơi  
trong những biểu hiện cơ bản của việc thậm tệ nhất, đã hơn 200 năm nay, u  
thực hành chữ “trung”, là trách nhiệm ám tối tăm” (Ngô Thì Nhậm, tập 2,  
của người làm quan. Ngô Thì Nhậm 2004: 692) vì sự tha hóa của triều đình  
nêu lý do duy nhất để thực hành chữ Lê - Trịnh, Ngô Thì Nhậm khẳng khái  
viết Phú biểu lòng trung và khẳng định:  
“nước gặp buổi loạn, thì ai trung thành  
mới hay” (Ngô Thì Nhậm, tập 2, 2004:  
390). Dĩ nhiên, trung thành ở đây  
được thể hiện là trung thành với nhân  
dân. Nên khi nhà Tây Sơn khởi binh  
dẹp loạn, Ngô Thì Nhậm đã theo phò  
tá vua Quang Trung với mục tiêu duy  
nhất là “đưa dân ta tới cõi thanh bình”  
(Ngô Thì Nhậm, tập 2, 2004: 616).  
“trung”: “yêu dân, nuôi dân làm đầu,  
chính vì thế mà những kẻ thần tử thừa  
hành trổ hết lòng trung” (Ngô Thì  
Nhậm, tập 1, 2003: 598). Có thể thấy,  
Ngô Thì Nhậm đã bổ sung tính hành  
động vào quan niệm về chữ “trung”  
của hệ tư tưởng yêu nước Việt Nam.  
Trong tinh thần yêu nước truyền thống  
Việt Nam: “dân với nước là một”,  
trung thành với đất nước cũng là hiếu  
nghĩa với nhân dân và hiếu nghĩa với  
nhân dân là trung thành với đất nước.  
Bằng việc gắn chữ trung với tinh thần  
“khoan thư sức dân”, Ngô Thì Nhậm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258) 2020  
55  
đã đặt lợi ích của dân tộc, lợi ích của ảnh hưởng của các quan điểm trung  
đất nước lên trên lợi ích của cá nhân. quân theo lập trường Hán và Tống  
Với quan điểm về chữ “trung” thể hiện  
trong hành động: “làm bầy tôi, khi  
nhận mệnh ra ngoài bờ cõi phải vì  
nước quên nhà, đâu có thể làm những  
việc nhỏ của mình trước, làm việc  
quan trọng của quốc gia sau” (Ngô Thì  
Nhậm, tập 4, 2005: 542), Ngô Thì  
Nhậm đã đạt đến giá trị đạo đức “chí  
công vô tư” của người làm quan. “Chí  
công vô tư” – là công bình, chính trực;  
không thiên vị, không tự tư, tự lợi; mọi  
hành động đều vì đại nghĩa, vì lợi ích  
chính đáng của nhân loại, quốc gia,  
dân tộc, cộng đồng là trên hết. Như  
vậy, “chí công vô tư” chính là một chất  
liệu quan trọng tạo thành quan niệm  
về chữ “trung”, và là một cách thức  
thể hiện tinh thần yêu nước.  
Nho. Tuy nhiên, trực tiếp chứng kiến  
sự lũng đoạn của triều đình đối với đất  
nước và đối với cuộc sống của nhân  
dân, tư tưởng trung quân của Ngô Thì  
Nhậm đã có sự chuyển biến quan  
trọng từ lập trường Hán - Tống Nho  
trở về với quan điểm trung quân  
nguyên thủy của Nho giáo, cũng như  
những giá trị về tinh thần “trung quân”,  
tức là “trung với nước” trong truyền  
thống của người Việt Nam. Chữ  
“trung” trong tư tưởng yêu nước Ngô  
Thì Nhậm thể hiện qua việc kết hợp  
“trung” với “tín” trên nền tảng sự trung  
thành với quyền lợi của đất nước, của  
nhân dân. Nhờ những bước chuyển  
trong quan niệm về chữ “trung”, Ngô  
Thì Nhậm đã đứng về phía những  
người nông dân và có nhiều đóng góp  
trong việc bảo vệ đất nước trước sự  
xâm lược của nhà Thanh – Trung  
Quốc (thế kỷ XVIII).  
4. KẾT LUẬN  
Quan niệm về chữ “trung” của Ngô  
Thì Nhậm trong những ngày đầu làm  
quan cho triều đình Lê - Trịnh chịu  
CHÚ THÍCH  
(1) Ngô Thì Nhậm theo Nam Hoa kinh - Ngoại vật thiên của Trang Tử: “Bắt được cá thì quên  
đó, bắt được thỏ thì quên lưới”. Cái đó và tấm lưới ở đây dùng để chỉ phương tiện để đạt  
mục đích. Và theo Trang Tử, Tậm tâm thượng: “Ngũ bá giả chi dã” - Năm đời bá mượn cái  
tiếng nhân nghĩa để lợi dụng (Ngô Thì Nhậm, tập 4, 2005: 117).  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Cao Huy Giu (dịch). 1971. Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 2. Hà Nội: Nxb. Văn hóa  
Thông tin.  
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. 1997. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Hà  
Nội: Nxb. Sự thật.  
3. Ngô Thì Nhậm. 2003 - 2006. Ngô Thì Nhậm toàn tập – tập 1 đến tập 5. Hà Nội: Nxb.  
Khoa học Xã hội.  
4. Trần Ngọc Thêm. 1997. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (cái nhìn hệ thống và loại  
hình) (in lần thứ 2). TPHCM: Nxb. TPHCM.  
5. Vũ Văn Mẫu. 1971. Cổ luật Việt Nam thông khảo. Sài Gòn: Nxb. Sài Gòn.  
pdf 11 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 23500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan niệm về chữ "Trung" của Ngô Thì Nhậm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_niem_ve_chu_trung_cua_ngo_thi_nham.pdf