Tài liệu học tập Hệ thống thông tin quản lý

BỘ CÔNG THƯƠNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP  
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH  
----------  
Chủ biên: ThS Vũ Văn Giang  
TÀI LIỆU HỌC TẬP  
HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ  
(Tài liệu lưu hành nội bộ)  
Đối tượng: SV trình độ Đại học  
Ngành đào tạo: Dùng chung cho ngành Quản trị kinh doanh  
Hà Nội, 2019  
MỤC LỤC  
ii  
iii  
iv  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
STT  
Chữ viết  
tắt  
Nguyên nghĩa  
1
2
CAD  
CNTT  
COM  
CPU  
CSDL  
DN  
Computer-aided design - Thiết kế được sự hỗ trợ của máy tính  
Công nghệ thông tin  
3
Computer Output Microfilm - Vi phim máy tính  
Central Processing Unit - Bộ xử lý trung tâm  
Cơ sở dữ liệu  
4
5
6
Doanh nghiệp  
7
EDI  
Electronic Data Interchange - Trao đổi dữ liệu điện tử  
Enterprise Resources Planning - Quản trị tích hợp doanh nghiệp  
Giá trị gia tăng  
8
ERP  
9
GTGT  
HTML  
HT  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản  
Hệ thống  
HTTT  
KH  
Hệ thống thông tin  
Kế hoạch  
LAN  
Local Area Networks - Mạng cục bộ  
Million of FLoating Operations Per Second - Số triệu chỉ thị trên  
MFLOPS  
MICR  
một giây  
16  
Magnetic Ink Character Recognition - Công nghệ nhận dạng ký  
tự mực từ  
17  
18  
NVL  
OCR  
Nguyên vật liệu  
Optical Character Recognition - Công nghệ nhận dạng ký tự  
quang  
19  
20  
PBX  
POS  
Private Branch eXchange – Mạng điện thoại riêng  
Point-of-Sale – Điểm bán hàng  
v
 
21  
22  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
29  
30  
31  
R & D  
SCM  
SP  
Research & development - Nghiên cứu và phát triển  
Supply Chain Management - Quản trị chuỗi cung cấp  
Sản phẩm  
SX  
Sản xuất  
SXKD  
TMĐT  
TT  
Sản xuất kinh doanh  
Thương mại điện tử  
Thông tin  
VAN  
VPN  
WAN  
XML  
Value Added Network - Mạng gia tăng giá trị  
Virtual Private Networks - Mạng riêng ảo  
Wide Area Network - Mạng diện rộng  
Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng  
vi  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
vii  
 
DANH MỤC HÌNH  
viii  
 
ix  
LỜI GIỚI THIỆU  
Trong bối cảnh tự do hóa thương mại quốc tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế  
ngày càng sâu rộng của Việt Nam, các doanh nghiệp ngày càng gặp nhiều áp lực cạnh  
tranh. Chính vì vậy, doanh nghiệp luôn cần phải nắm bắt chính xác và kịp thời xu hướng  
của xã hội để tránh thụt lùi, lạc hậu. Trong đó, hệ thống thông tin quản lý đóng một vai  
trò rất lớn vào việc giúp doanh nghiệp tồn tại, phát triển bền vững và tạo được lợi thế  
cạnh tranh trên thị trường. Hệ thống thông tin quản lý là một công cụ đắc lực giúp các  
doanh nghiệp trong các nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh, hỗ trợ việc ra quyết định của  
doanh nghiệp và hỗ trợ cải thiện khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.  
Với tầm quan trọng của nó, việc trang bị những kiến thức cơ bản và toàn diện về  
hệ thống thông tin quản lý cho sinh viên ngành Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh  
tế - Kỹ thuật công nghiệp là một điều hết sức cần thiết.  
Tài liệu học tập Hệ thống thông tin quản lý được biên soạn để đáp ứng nhu cầu  
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của giảng viên, sinh viên ngành Quản trị kinh doanh.  
Đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.  
Tài liệu học tập gồm 4 chương với sự tham gia biên soạn nội dung của các thành  
viên:  
ThS Lưu Huỳnh, ThS Trần Thùy Linh – Biên soạn Chương 1: Tổng quan về hệ  
thống thông tin quản lý.  
ThS Trần Thị Kim Phượng, ThS Phạm Thanh Thảo – Biên soạn Chương 2: Cơ sở  
công nghệ thông tin của hệ thống thông tin quản lý.  
ThS Vũ Văn Giang (Chủ biên), ThS Lê Thị Ánh – Biên soạn Chương 3: Các hệ  
thống thông tin ứng dụng trong kinh doanh.  
ThS Vũ Huy Giang, ThS Nguyễn Văn Hưng – Biên soạn Chương 4: Quản trị  
nguồn lực và vấn đề an toàn hệ thông tin quản lý.  
Mặc dù đã cố gắng tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau và đúc rút kinh  
nghiệm chuyên môn từ các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và tư vấn. Tuy nhiên, đây là  
tài liệu học tập được biên soạn lần đầu nên cuốn tài liệu học tập này không tránh khỏi  
những thiếu sót. Nhóm tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của tất cả các  
đồng nghiệp, các em sinh viên và các bạn đọc để tài liệu ngày càng được cải tiến và hoàn  
thiện hơn. Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp trong và ngoài trường đã  
giúp đỡ trong quá trình biên soạn tài liệu học tập này.  
Hà Nội, tháng 8 năm 2018  
Nhóm tác giả  
1
 
CHƯƠNG 1:  
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ  
Mục đích của chương:  
Sau khi học xong chương này, người học cần đạt được những yêu cầu sau đây:  
1. Có hiểu biết cơ bản về các khái niệm: thông tin, dữ liệu, hệ thống thông tin  
quản lý, các bộ phận cấu thành hệ thống thông tin nói chung và hệ thống thông tin quản  
lý nói riêng.  
2. Có kiến thức về các mức quản lý trong một tổ chức và nhu cầu thông tin hỗ trợ  
quá trình ra quyết định của mỗi mức.  
3. Đánh giá được tầm quan trọng của hệ thống thông tin khi áp dụng vào từng cấp  
quản lý trong tổ chức.  
4. Có khả năng phân loại hệ thống thông tin theo các tiêu thức khác nhau, biết  
được đặc điểm của từng loại.  
5. Đánh giá được vai trò của hệ thống thông tin trong các tổ chức.  
6. Đánh giá được chức năng của hệ thống thông tin quản lý trong tổ chức.  
7. Nhận định được xu hướng phát triển của hệ thống thông tin quản lý.  
1.1. Giới thiệu chung về hệ thống thông tin  
1.1.1. Thông tin và dữ liệu  
Dữ liệu (Data) là những sự kiện hoặc các quan sát về các hiện tượng vật lý hoặc  
các giao dịch kinh doanh. Cụ thể hơn, dữ liệu là những phản ánh khách quan về thuộc  
tính (đặc điểm) của các thực thể như người địa điểm hoặc các sự kiện. Dữ liệu có thể ở  
dạng số hoặc văn bản và bản thân dữ liệu thường mang tải giá trị thông tin. Khi các yếu  
tố này được tổ chức hoặc sắp xếp theo một cách có nghĩa thì chúng trở thành thông tin.  
TT  
Vùng  
Mã  
Tên hàng  
Đơn giá  
Số  
Doanh thu  
hàng  
lượng  
1
2
3
4
5
6
01 Miền Bắc  
01 Miền Bắc  
12 Miền Bắc  
422 Máy ĐH Panasonic C9  
500 Máy giặt LG T2  
477 Tủ lạnh Philps  
6.000.000  
9.000.000  
14.000.000  
6.000.000  
14.000.000  
6.000.000  
20  
22  
2
120.000.000  
198.000.000  
28.000.000  
120.000.000  
60.000.000  
84.000.000  
12 Miền Trung 422 Máy ĐH Panasonic C9  
20  
5
15 Miền Nam  
12 Miền Nam  
477 Tủ lạnh Philips  
422 Máy ĐH Panasonic C9  
14  
Bảng 1.1 : Dữ liệu bán hàng  
2
         
Doanh thu  
(đồng)  
TT  
Mã hàng  
Tên hàng  
Số lượng  
1
2
3
422  
477  
500  
Máy điều hòa Panasonic C9  
Tủ lạnh Philips  
54  
7
324.000.000  
88.000.000  
198.000.000  
610.000.000  
Máy giặt LG T2  
Tổng cộng  
22  
83  
Bảng 1.2 : Thông tin tổng hợp bán hàng theo mặt hàng  
Thông  
tin (Information) là một bộ các dữ liệu được tổ chức theo một cách sao cho  
chúng mang lại một giá trị gia tăng so với giá trị vốn có của bản thân các dữ liệu đó. Để  
tổ chức dữ liệu thành thông tin có ích và có giá trị, người ta phải sử dụng các quy tắc và  
các mối quan hệ giữa các dữ liệu. Việc biến đổi dữ liệu thành thông tin thực sự là một  
quá trình, một tập hợp các công việc có quan hệ logic với nhau để đạt được một kết quả  
đầu ra mong muốn. Có thể nói thông tin là những dữ liệu được chuyển đổi thành dạng có  
giá trị sử dụng hơn thông qua việc ứng dụng tri thức.  
Thông tin mà có ít nhất một cán bộ quản lý cần hoặc có ý muốn dùng vào việc ra  
quyết định quản lý của mình được gọi là thông tin quản lý. Như vậy có thể hiểu thông tin  
quản lý là những dữ liệu có ích đã được lựa chọn, tổ chức và xử lý theo một cách sao cho  
trên cơ sở đó có thể ra được những quyết định đúng đắn. Tất cả các tổ chức đều cần  
thông tin phục vụ các mục đích khác nhau.  
- Lập kế hoạch: Để có thể lập kế hoạch cần phải có các thông tin và hiểu biết về  
các nguồn lực hiện có. Trên thực tế có thể có nhiều kịch bản khác nhau trong việc phân  
bổ các nguồn lực vốn dĩ hạn hẹp và trong ngữ cảnh này thông tin được cần đến để hỗ trợ  
quá trình ra quyết định.  
- Kiểm soát: Một khi kế hoạch đã được đưa vào triển khai, cần kiểm soát kết quả  
thực hiện kế hoạch đó trên thực tế. Thông tin được sử dụng để đánh giá xem kế hoạch có  
thực hiện đúng như dự kiến hay có sự xê dịch không lường trước. Trên cơ sở thông tin  
kiểm soát, có thể thực hiện các điều chỉnh cần thiết.  
- Ghi nhận các giao dịch: Việc thu thập các thông tin giao dịch hoặc sự kiện là cần  
thiết vì nhiều lý do khác nhau thông tin có giá trị như một minh chứng, vì yêu cầu mang  
tính pháp lý, hay phục vụ mục đích kiểm soát.  
- Đo lường năng lực: Thông tin về chi phí, doanh thu, lợi nhuận,… cho phép đo  
lường năng lực kinh doanh của các tổ chức doanh nghiệp.  
- Hỗ trợ ra quyết định: Với sự trợ giúp của các thông tin có chất lượng, người làm  
công tác quản lý có cơ hội ra những quyết định hiệu quả và đúng đắn.  
3
 
Trong ngữ cảnh một tổ chức doanh nghiệp, trên cơ sở phân tích thông tin thu được  
qua quá trình xử lý thông tin, người ta có thể tạo ra tri thức kinh doanh (Business  
Intelligence) đó là những tri thức và hiểu biết về các khách hàng, đối thủ cạnh tranh, đối  
tác kinh doanh, môi trường cạnh tranh và về bản thân hoạt động của doanh nghiệp. Tri  
thức kinh doanh giúp doanh nghiệp đưa ra những quyết định hiệu quả, quan trọng và  
thường mang tầm chiến lược. Nó cho phép doanh nghiệp trích rút ra được ý nghĩa đích  
thực của thông tin nhằm thực hiện các bước đi mang tính sáng tạo và mạnh mẽ, nhằm tạo  
ra ưu thế cạnh tranh.  
Đặc trưng của thông tin có giá trị: Để có giá trị sử dụng đối với những người làm  
công tác quản lý và ra quyết định, thông tin cần phải có những thuộc tính sau:  
- Tính chính xác: Thông tin chính xác là những thông tin không chứa lỗi. Thông  
tin không chính xác thường được tạo ra từ những dữ liệu không chính xác được nhập vào  
hệ thống trước đó.  
- Tính đầy đủ: Thông tin đầy đủ là thông tin chứa mọi dữ liệu quan trọng. Một báo  
cáo đầu tư bị xem là không đầy đủ nếu nó không liệt kê được các chi phí có liên quan.  
- Tính kinh tế: Thông tin được xem là kinh tế khi giá trị của nó mang lại cao hơn  
chi phí tạo ra nó.  
- Tính mềm dẻo: Thông tin được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, ví dụ  
thông tin hàng tồn kho có thể được sử dụng cho quản lý bán hàng, đồng thời cũng có giá  
trị sử dụng cho quản lý sản xuất và quản lý tài chính.  
- Tính tin cậy: Tính tin cậy của TT phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nó có thể phụ  
thuộc vào phương pháp thu thập dữ liệu, cũng có thể phụ thuộc vào nguồn gốc thông tin.  
- Tính phù hợp: Tính phù hợp của thông tin đối với người ra quyết định là rất quan  
trọng, thể hiện ở chỗ nó có hướng đến đúng đối tượng nhận tin, có mang lại giá trị sử  
dụng cho đối tượng nhận tin hay không.  
- Tính đơn giản: Thông tin đến tay người sử dụng cần ở dạng giản đơn, không quá  
phức tạp. Nhiều khi quá nhiều thông tin sẽ gây khó khăn cho người sử dụng trong việc  
lựa chọn thông tin.  
- Tính kịp thời: Thông tin được coi là kịp thời nếu nó đến với người sử dụng vào  
thời điểm cần thiết.  
- Tính kiểm tra được: Thông tin cho phép người ta kiểm định để chắc chắn rằng nó  
hoàn toàn chính xác (bằng cách kiểm tra nhiều nguồn cho cùng một thông tin).  
- Tính dễ khai thác: Đó là những thông tin có thể tra cứu dễ dàng đối với người sử  
dụng có thẩm quyền, theo đúng dạng, vào đúng thời điểm mà họ cần.  
- Tính an toàn: Thông tin cần được bảo vệ trước những người sử dụng không có  
thẩm quyền.  
4
Các tính chất này cũng làm cho thông tin trở nên giá trị hơn nhiều đối với tổ chức.  
Với thông tin thiếu chính xác hoặc không đầy đủ có thể dẫn đến những quyết định không  
hiệu quả, gây thiệt hại cho tổ chức rất nhiều về tiền bạc, hoặc một dự báo sai về cầu trong  
tương lai đối với một sản phẩm có thể dẫn đến việc tiêu tốn rất nhiều tiền của để đầu tư  
vào một nhà máy mới mà lại không được đưa vào khai thác. Ngoài ra nếu thông tin  
không được cung cấp đúng lúc hay thông tin quá phức tạp cũng đều ít có giá trị sử dụng  
đối với tổ chức.  
Trong những ngữ cảnh khác nhau, tính hữu ích của thông tin được đánh giá theo  
những cách khác nhau căn cứ trên giá trị của những thuộc tính trên. Ví dụ đối với dữ liệu  
về nghiên cứu thị trường thì một chút thiếu chính xác hoặc thiếu đồng bộ có thể chấp  
nhận được, nhưng tính kịp thời lại là hết sức cần thiết. Thông tin loại này có tác dụng  
cảnh báo tổ chức về những khả năng đối thủ cạnh tranh đang thực hiện giảm giá và giá  
được giảm cụ thể là bao nhiêu, lúc này việc cảnh báo trước cho tổ chức để lập kế hoạch  
đối phó là quan trọng hơn cả. Ngược lại, tính chính xác, tính kiểm tra được và tính đầy đủ  
lại là một trong những thuộc tính hết sức cơ bản của TT được sử dụng trong hạch toán kế  
toán việc sử dụng các tài sản của tổ chức như tiền mặt, hàng tồn kho, tài sản cố định.  
Giá trị của thông tin được thể hiện ở chỗ: Thông tin đó giúp các nhà quản lý đạt  
được mục tiêu của tổ chức như thế nào? Giá trị của thông tin có thể đo được thông qua  
thời gian cần đề ra một quyết định hoặc thông qua lợi nhuận tăng thêm cho tổ chức. Các  
thông tin có giá trị cũng giúp các nhà quản lý ra quyết định có nên đầu tư cho HTTT và  
công nghệ thông tin hay không. Một hệ thống đặt hàng tự động có thể đòi hỏi một chi phí  
100 nghìn USD nhưng nó có thể mang lại lợi ích đạt đến 250 nghìn USD, như vậy giá trị  
gia tăng do HTTT mang lại là 150 nghìn USD.  
1.1.2. Tổ chức dưới góc độ quản lý  
a. Sơ đồ quản lý một tổ chức  
Hình 1.1: Các mức quản lý trong một tổ chức  
5
   
Dưới góc độ quản lý, một tổ chức được cấu thành từ ba mức, mỗi mức thực hiện  
những hoạt động khác nhau và có những nhu cầu thông tin khác nhau. Ba mức quản lý ở  
đây là: chiến lược, chiến thuật và tác nghiệp.  
Những người chịu trách nhiệm điều hành ở mức chiến lược có nhiệm vụ xác thực  
mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức. Trong một DN sản xuất thông thường thì  
đỉnh chiến lược cho Chủ tịch – Tổng giám đốc hoặc các phó chủ tịch hãng phụ trách.  
Những trách nhiệm chiến thuật thuộc về mức kiểm soát quản lý, nơi dùng các  
phương tiện cụ thể để thực hiện các mục tiêu chiến lược do mức chiến lược đặt ra. Việc  
tìm kiếm để có được những nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu chiến lược,  
thiết lập các chiến thuật mua sắm, tung ra các sản phẩm mới, thiết lập và theo dõi ngân  
sách là trách nhiệm ở mức kiểm soát quản lý chiến thuật. Trong doanh nghiệp, thông  
thường các vị trí quản lý như trưởng phòng tài vụ, trưởng phòng tổ chức hay trưởng  
phòng cung ứng thuộc về mức quản lý này.  
Cuối cùng ở mức điều hành tác nghiệp, người ta quản lý việc sử dụng sao cho có  
hiệu quả những phương tiện và nguồn lực đã được phân bổ để tiến hành tốt các hoạt động  
của tổ chức trong sự ràng buộc về tài chính, thời gian và kỹ thuật. Thủ kho, trưởng nhóm,  
đốc công của những đội sản xuất thuộc mức quản lý này.  
Mức tác nghiệp  
Mức chiến thuật  
Mức chiến lược  
Đốc công, trưởng Cán bộ quản lý mức Cán bộ lãnh đạo  
Người quản lý  
Công việc  
nhóm  
trung và chuyên  
chức năng  
Tự động hóa các Tự động hóa việc Tích hợp dữ liệu  
hoạt động và sự theo dõi và kiểm tra lịch sử của tổ chức  
kiện có tính thủ tục các hoạt động tác và dự báo cho  
và lặp lại  
Cải tiến hiệu suất Cải tiến hiệu quả Cải tiến chiến lược  
của tổ chức hoạt động của tổ và kế hoạch của tổ  
chức chức  
Bảng 1.3: Đặc điểm của mức quản lý trong tổ chức  
nghiệp  
tương lai  
Lý do  
Cán bộ quản lý ở những mức quản lý khác nhau cần những thông tin khác nhau để  
thực hiện việc ra quyết định. Điều này được thể hiện thông qua cách định nghĩa mang  
tính thực tiễn cao về thông tin quản lý như sau: Thông tin quản lý là thông tin mà có ít  
nhất một cán bộ quản lý cần hoặc có ý muốn dùng vào công việc ra quyết định quản lý  
của mình.  
Việc khái quát hóa thành nguyên tắc những tính chất của thông tin cung cấp cho  
từng cấp quản lý là rất quan trọng và có ý nghĩa thực tế. Trước hết cần phải rõ khái niệm  
6
 
mức của quyết định. Người ta thường chia các quyết định của một tổ chức thành ba loại:  
quyết định chiến lược, quyết định chiến thuật và quyết định tác nghiệp.  
Quyết định chiến lược: Là những quyết định xác định mục tiêu và những quyết  
định xây dựng nguồn lực cho tổ chức.  
Quyết định chiến thuật: Là những quyết định cụ thể hóa mục tiêu thành nhiệm vụ,  
những quyết định kiểm soát và khai thác tối ưu nguồn lực.  
Quyết định tác nghiệp: Là quyết định nhằm thực thi nhiệm vụ.  
b. Tính chất của thông tin theo mức ra quyết định:  
Với mỗi cấp quyết định thì thông tin phục vụ cần có những thuộc tính riêng. Bảng  
dưới đây tóm tắt các thuộc tính cơ bản của thông tin ở mỗi mức quản lý.  
Đặc trưng  
Tác nghiệp  
Chiến thuật  
Chiến lược  
thông tin  
Đều đặn, lặp lại  
Phần lớn là thường kỳ, Sau một kỳ dài, trong  
Tần suất  
đều đặn  
một trường hợp đặc  
biệt  
Dự kiến trước được Dự đoán sơ bộ, có Chủ yếu không dự kiến  
Tính độc lập  
của kết quả  
thông tin bất ngờ  
trước được  
Quá khứ và hiện tại Hiện tại và tương lai  
Dự đoán cho tương lai  
Thời điểm  
là chính  
Rất chi tiết  
Tổng hợp, thống kê  
Tổng hợp, khái quát  
Mức chi tiết  
Nguồn  
Trong tổ chức  
Trong và ngoài tổ chức Ngoài tổ chức là chủ  
yếu  
Cấu trúc cao  
Chủ yếu là có cấu trúc, Phi cấu trúc cao  
một số phi cấu trúc  
Tính cấu  
trúc  
Rất chính xác  
Một số dữ liệu có tính Mang nhiều tính chủ  
Độ chính xác  
chủ quan  
Giám sát hoạt động Cán bộ quản lý trung Cán bộ quản lý cao cấp  
tác nghiệp gian  
quan  
Cán bộ sử  
dụng  
Bảng 1.4: Tính chất của thông tin theo cấp quyết định  
7
 
c. Các đầu mối thông tin tổ chức doanh nghiệp.  
Doanh nghiệp là các tổ chức quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong các tổ chức kinh  
tế xã hội của một xã hội có nền kinh tế thị trường. Do đó, đôi khi việc xem xét thêm về  
hệ thống thông tin cho doanh nghiệp là một điều cần thiết.  
Nhà nước và cấp trên  
Khách hàng  
DOANH NGHIỆP  
Hệ thống quản lý  
Đối tượng quản lý  
Nhà cung cấp  
DN cạnh tranh  
DN liên quan  
DN sẽ cạnh tranh  
Hình 1.2: Sơ đồ đầu mối thông tin của doanh nghiệp  
Nhà nước và tổ chức cơ quan cấp trên  
Một tổ chức trong một quốc gia phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Mọi thông tin  
mang tính định hướng của Nhà nước và cấp trên đối với một tổ chức như luật thuế, luật  
môi trường, quy chế bảo hộ,… là những thông tin mà bất kì một tổ chức nào cũng phải  
lưu trữ và sử dụng thường xuyên.  
Khách hàng  
Trong nền kinh tế thị trường thì thông tin về khách hàng là tối quan trọng. Tổ chức  
thu thập, lưu trữ và khai thác thông tin về khách hàng như thế nào là một trong những  
nhiệm vụ lớn của doanh nghiệp.  
Doanh nghiệp cạnh tranh  
Biết về đối thủ cạnh tranh trực tiếp là công việc hàng ngày của các doanh nghiệp  
hiện nay. Khái niệm gián điệp kinh tế thường được nói tới hiện nay giữa các doanh  
nghiệp cạnh tranh phần nào thể hiện tầm quan trọng của những thông tin về doanh nghiệp  
cạnh tranh.  
Doanh nghiệp có liên quan  
Các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa có liên quan (hàng hóa bổ sung hoặc hàng  
hóa thay thế) là đầu mối thông tin quan trọng thứ tư của doanh nghiệp.  
Doanh nghiệp sẽ cạnh tranh  
8
 
Muốn doanh nghiệp tồn tại trong thời gian dài, nhà quản lý cần phải có những  
thông tin về đối thủ sẽ xuất hiện – các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh.  
Các đầu mối thông tin này đều quan trọng đối với doanh nghiệp, tuy nhiên các  
nguồn thông tin này có tính biến động rất lớn và về nguyên tắc các đơn vị liên quan  
không có trách nhiệm cung cấp thông tin cho doanh nghiệp. Chính vậy nên việc tổ chức  
thu thập, lưu trữ và xử lý thông tin từ các nguồn trên là một trong những công việc khó  
khăn và đòi hỏi chi phí lớn của mỗi doanh nghiệp.  
1.1.3. Khái niệm và các bộ phận cấu thành hệ thống thông tin  
Hệ thống thông tin (Information System) là một hệ thống bao gồm các yếu tố có  
quan hệ với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và phân phối dữ liệu, thông  
tin và cung cấp một cơ chế phản hồi để đạt được một mục tiêu định trước. Hình 1.3 mô tả  
các yếu tố cấu thành một hệ thống thông tin.  
Phản hồi  
Đầu vào  
Xử lý  
Đầu ra  
Hình 1.3: Các yếu tố cấu thành một hệ thống thông tin  
Đầu vào  
Trong HTTT, đầu vào (input) thực hiện thu thập và nhập dữ liệu thô chưa qua xử  
lý vào hệ thống. Ví dụ, trước khi tính và in phiếu trả lương cho nhân viên người ta phải  
thu thập và nhập vào hệ thống số giờ công lao động của mỗi nhân viên; trong một trường  
đại học, các giảng viên phải trả điểm thì mới có sơ sở để tính điểm tổng kết và gửi điểm  
thi cho các sinh viên. Đầu vào có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau nhưng trong bất cứ  
hệ thống nào, dạng của dữ liệu đầu vào đều phụ thuộc vào kết quả đầu ra mong muốn.  
Trong khi ở hệ thống tính lương, đầu vào là thẻ thời gian của các nhân viên thì ở hệ thống  
điện thoại khẩn cấp, một cú điện thoại gọi đến được coi là đầu vào. Cũng như vậy, đầu  
vào của một HTTT Marketing có thể là các kết quả điều tra thị trường hoặc phỏng vấn  
khách hàng.  
Việc nhập dữ liệu đầu vào có thể được thực hiện thủ công, bán tự động hoặc tự  
động hoàn toàn. Việc nhập các chứng từ vào máy tính bằng bàn phím là hình thức nhập  
liệu thủ công, nhưng việc quét mã số mã vạch của hàng hóa trong một siêu thị thì lại là  
hình thức nhập liệu bán tự động nhờ hệ thống POS. Việc chuyển dữ liệu vào hệ thống  
thông qua mạng được coi là hình thức nhập liệu tự động. Không phụ thuộc vào cách nhập  
9
   
liệu, tính chính xác của dữ liệu đầu vào là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo có được thông  
tin đầu ra như mong muốn.  
Xử lý  
Trong một HTTT, xử lý (processing) là quá trình chuyển đổi dữ liệu đầu vào thành  
các thông tin đầu ra hữu ích. Quá trình này có thể bao gồm các thao tác tính toán, so sánh  
và lưu trữ dữ liệu cho mục đích sử dụng sau này. Quá trình xử lý có thể được thực hiện  
thủ công hay với sự trợ giúp của các máy tính.  
Đầu ra  
Trong một HTTT, đầu ra (output) thực hiện việc tạo ra thông tin hữu ích thông  
thường ở dạng các tài liệu và báo cáo. Đầu ra của hệ thống có thể là các phiếu trả lương  
cho nhân viên, các báo cáo cho các nhà quản lý hay thông tin cung cấp cho các cổ đông,  
ngân hàng và các cơ quan nhà nước. Trong một số trường hợp, đầu ra của hệ thống này  
lại là đầu vào của hệ thống khác. Ví dụ, đầu ra của hệ thống xử lý đơn hàng có thể là đầu  
vào của hệ thống thanh toán với khách hàng; đầu ra của hệ thống xuất hàng của bộ phận  
này có thể là đầu vào của hệ thống nhập hàng của bộ phận khác. Kết quả đầu ra có thể  
tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, ví dụ trong hệ thống máy tính thì máy in và màn hình  
thường là những thiết bị ra chuẩn; việc đưa kết quả ra cũng có thể được thực hiện thủ  
công bằng tay (ví dụ các báo cáo và tài liệu viết bằng tay).  
Thông tin phản hồi  
Trong một HTTT, thông tin phản hồi (feedback) là kết quả đầu ra được sử dụng để  
thực hiện những thay đổi đối với các hoạt động nhập liệu và hoạt động xử lý của hệ  
thống. Nếu có lỗi hay có vấn đề đối với đầu ra thì cần thực hiện việc hiệu chỉnh dữ liệu  
đầu vào hoặc thay đổi một tiến trình công việc. Ví dụ, khi nhập số giờ công lao động  
trong tuần của một nhân viên nhầm 40 thành 400 thì hệ thống tính lương sẽ xác định  
được giá trị này nằm ngoài khoảng giá trị cho phép (chỉ được phép từ 0 đến 100) và đưa  
ra một thông báo lỗi như một thông tin phản hồi và thông tin này sẽ được sử dụng để  
kiểm tra lại và hiệu chỉnh số liệu đầu vào về giờ công lao động cho đúng là 40.  
1.1.4. Phân loại hệ thống thông tin  
a, Phân loại HTTT theo phạm vi hoạt động  
Theo cách phân loại này, người ta chia HTTT thành hai nhóm (hình 1.4)  
+ Nhóm các HTTT hỗ trợ hoạt động nội bộ tổ chức (Intraorganizational System)  
Đây là các HTTT hỗ trợ thu thập và xử lý thông tin phục vụ quản trị nội bộ tổ  
chức doanh nghiệp. Có hai loại hình HTTT hỗ trợ nội bộ:  
- Hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động tác nghiệp  
HT xử lý giao dịch (TPS – Transaction Processing Systems)  
HT quản trị thích hợp doanh nghiệp (ERP – Enterprise Resources Planning Systems)  
10  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 185 trang baolam 23000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu học tập Hệ thống thông tin quản lý", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_hoc_tap_he_thong_thong_tin_quan_ly.pdf