Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên và những yếu tố ảnh hưởng tại một số xã huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
vietnam medical journal n02 - JULY - 2021
of papilary muscles and chordae tendineae. J
5. M. Amellal et al (2017), Rheumatic mitral valve
surgery: about 1025 cases. Int. Surg. J., 4(5): p. 1748.
6. January, C.T., et al. (2014), 2014 AHA/ACC/HRS
guideline for the management of patients with
atrial fibrillation: a report of the American College
of Cardiology/American Heart Association Task
Force on practice guidelines and the Heart Rhythm
Society. Circulation, 130(23): p. e199-267.
7. Piotr Ponikowski et al (2016), 2016 ESC
Guidelines for the diagnosis and treatment of
acute and chronic heart failure, European Heart
Journal, 37, 2129–2200
8. Kisamori, E., et al. (2019), Mitral valve repair
versus replacement with preservation of the entire
subvalvular apparatus. Gen Thorac Cardiovasc
Surg. 67(5): p. 436-441.
9. Dreyfus, G.D., et al. (2005), Secondary tricuspid
regurgitation or dilatation: which should be the
criteria for surgical repair? Ann Thorac Surg.,
79(1): p. 127-32
Thorac Cardiovasc Surg. 47: p. 532-43.
2. Galderisi, M., et al. (2017), Standardization of
adult transthoracic echocardiography reporting in
agreement with recent chamber quantification,
diastolic function, and heart valve disease
recommendations: an expert consensus document
of the European Association of Cardiovascular
Imaging, Eur Heart J Cardiovasc Imaging, 18(12):
p. 1301-1310.
3. Nishimura, R.A., et al. (2014), 2014 AHA/ACC
Guideline for the Management of Patients With
Valvular Heart Disease: executive summary: a
report of the American College of Cardiology/
American Heart Association Task Force on Practice
Guidelines. Circulation, 129(23): p. 2440-92.
4. Đặng Hanh Sơn (2009), Nghiên cứu đánh giá kết
quả phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học
Sorin tại Bệnh viện tim Hà Nội, Luận án tiến sĩ y
học, Học viện Quân Y.
THỰC TRẠNG SINH CON THỨ 3 TRỞ LÊN VÀ NHỮNG YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG TẠI MỘT SỐ XÃ HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
Đỗ Thị Mai*
học vấn của người vợ đa số là THCS 42,1%), nghề
nghiệp chủ yếu của người chồng là buon bán (60%),
của người vợ là 47,3% là làm nội trợ. Kết luận: Để
giảm tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên một cách bền
vững, cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, vận
động trong nhân dân; chăm lo an sinh xã hội; tăng
cường trách nhiệm của các cấp lãnh đạo và kiện toàn
đội ngũ làm công tác DS – KHHGĐ.
TÓM TẮT16
Đặt vấn đề: Trong những năm qua, công tác Dân
số - Kế hoạch hóa gia đình (DS – KHHGĐ) tại huyện
Nam Trực, tỉnh Nam Định đã đạt được những thành
tựu đáng kể. Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn khá cao so
với các địa phương khác trong tỉnh và các địa phương
khác. Mục tiêu: mô tả thực trạng sinh con thứ 3 trở
lên và những yếu tố ảnh hưởng đến việc sinh con thứ
3 trở lên tại địa bàn nghiên cứu. Phương pháp
nghiên cứu: điều tra, phỏng vấn 100% các cặp vợ
chồng sinh con thứ 3 trở lên từ 1/6/2020 đến
01/3/2021) đang sinh sống và có hộ khẩu thường trú
tại 2 xã Điền Xá và Nam Toàn, huyện Nam Trực, tỉnh
Nam Định. Có 38 người vợ và 35 người chồng đồng ý
tham gia điều tra, phỏng vấn. Kết quả: có 47,4%
người vợ 54,3 người chồng cho rằng nguyên nhân
sinh con thứ 3 trở lên là do muốn đông con; 47,4 %
người vợ và 42,9% người chồng cho rằng lý do sinh
con thứ 3 trở lên là do gia đình có điều kiện kinh tế;
31,6% người vợ và 31,45 người chồng đưa ra lý do là
do vỡ kế hoạch; 28,9% người vợ và 37,1% người
chồng do muốn có con trai để nối dõi; 21,1% người
vợ và 25,7% người chồng do không hiểu biết về pháp
lệnh dân số; . Trong đó lứa tuổi 30 – 40 của người
chồng chiếm 60%; 57,9% người vợ có tđộ tuổi 20 -
29, trình độ học vấn THCS và Trung cấp trở lên ở
người chồng chiếm tỷ lệ bằng nhau (28,6%); trình độ
Từ khóa: Dân số - kế hoạch hóa gia đình
SUMMARY
THE SITUATIONS AND REASONS OF
GIVING BIRTH MORE THAN TWICE IN
SEVERAL COMMUNES OF NAM TRUC
DISTRICT IN NAM DINH PROVINCE
Over the past few years, Population and Family
Planning (PFP) practices in Nam Truc district of Nam
Dinh province have gained considerable achievements.
However, birth rate remains higher here than in the
other districts of the province as well as other
provinces. Objective: To describe the situations of
more-than-two-child birth and what influence within
the studied area. Methodology: Study and interview
100% of the families who give birth more than twice
between June 01, 2020 and March 01, 2021 and are
living in Dien Xa and Nam Toan communes of Nam
Truc District, Nam Dinh province. 38 wives and 35
husbands among them agreed to join in the interview.
Results: 47.4% of wives and 54.3% of husbands take
the desire of crowded family as a reason; 31.6% of
wives and 31.45% of husbands talked about
unexpected birth; 28.9% of wives and 37.1% of
husbands wished to have baby boys to perpetuate
their family lineage; 21.1% of wives and 25.7% of
husbands said to have no awareness of population
*Trường đại học điều dưỡng nam định
Chịu trách nhiệm chính: Đỗ Thị Mai
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 11.5.2021
Ngày phản biện khoa học: 25.6.2021
Ngày duyệt bài: 12.7.2021
60
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 504 - THÁ NG 7 - SỐ 2 - 2021
regulations. Among studied families, husbands at the
đến vấn đề sinh con thứ 3 trở lên trong huyện
và đề xuất những giải pháp khắc phục.
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng
sinh con thứ 3 trở lên và một số yếu tố ảnh
hưởng đến việc sinh con thứ 3 trở lên tại một số
xã từ tháng 6/2020 đến tháng 3 năm 2021.
age of between 30 and 40 years account for 60%;
wives between 20 and 29 years old 57.9%; husbands
with the education level from Lower Secondary
Degree and Intermediate Degree account for 28.6%;
wives majorly with Lower Secondary Degree 42.1%;
the majority of husbands work as business men
(60%) and most wives (47.3%) work as housewives.
Conclusion: In order to reduce the rate of families
who give birth more than twice in a sustainable way,
it is necessary to enhance propaganda programs,
improve social security, strengthen the responsibility
at all levels, and consolidate the PFP team.
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã (Điền Xá
và Nam Toàn), huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định,
từ tháng 6/2020 đến hết tháng 3/2021.
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các cặp vợ
chồng sinh con thứ 3 trở lên ở 2 xã nghiên cứu
trong thời gian tiến hành nghiên cứu. Có 35
người chồng và 38 người vợ được phỏng vấn.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt
ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định
lượng và nghiên cứu định tính, bộ câu hỏi có cấu
trúc, kỹ thuật thu thập số liệu định tính có hệ
thống và phỏng vấn sâu một số yếu tố liên quan
bằng một số câu hỏi mở.
Keywords: Population – Family Planning
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong vòng 30 năm qua, mức sinh của Việt
Nam đã giảm gần một nửa: tổng tỷ suất sinh
(TFR) giảm từ 3,80 con/phụ nữ vào năm 1989
xuống còn 2,09 con/phụ nữ vào năm 2019.Trong
vòng 10 năm qua, toàn quốc có 29 tỉnh ghi nhận
mức sinh giảm và 33 tỉnh ghi nhận mức sinh
tăng. Tình hình thực hiện mục tiêu giảm sinh của
cả nước từ sau năm 2000 đến nay đang đứng
trước nguy cơ tăng dân số trở lại. Đặc biệt, năm
2003, tỉ lệ dân số đã tăng trở lại với mức tăng là
1,47% (năm 2001: 1,35%, 2002: 1,32%).
Số liệu nghiên cứu định lượng được nhập và
xử lý bằng SPSS 17.0
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
1. Thông tin chung và tình hình sinh đẻ.
Trong tổng số 40 cặp vợ chồng được nghiên
cứu, 22,9% người chồng tuổi từ dưới 30, 60%
tuổi từ 30 – 40; 17,1% tuổi từ 40 trở lên;
57,9% người vợ có độ tuổi từ 25-29, 31,6% tuổi
từ 30 - 34, 10,5% tuổi từ 35 trở lên.
Độ tuổi kết hôn: 42,9% người chồng kết hôn
trong độ tuổi từ 20-29, 28,6% tuổi từ 30-34,
17,1% tuổi từ 35 trở lên; 58,6% người vợ kết
hôn trong độ tuổi từ 18 - 24, 24,3% tuổi từ 25-
29. Có 2,9% người chồng và 15,7% người vợ là
kết hôn trước tuổi 20.
Đa số người chồng có trình độ học vấn ở mức
trung học cơ sở và trung cấp trở lên (28,6%),
22,8% có trình độ trung học phổ thông, còn lại
là mù chữ và trình độ tiểu học. Trình độ học vấn
của 42,1% người vợ là trung học cơ sở, 34,2%
là trung học phổ thông, 10,5% là trình độ trung
cấp trở lên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối
tượng sinh con thứ 3 trở lên tại 2 xã nghiên cứu
từ tháng tháng 6 năm 2020 đến tháng 3 năm
2021 cho thấy phần đông người vợ có trình độ
học vấn thấp, hiểu biết về SKSS, KHHGĐ và
những vấn đề xã hội rất có hạn; nhưng phần
đông người chồng là những người trí thức
(28,6% trung cấp trở lên), có hiểu biết nhưng
vẫn muốn sinh thêm con thứ 3 trở lên.
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở
năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố, quy
mô dân số tỉnh Nam Định tại thời điểm 1/4/2019
là 1.780.393 người. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên
bình quân mỗi năm 1%. Tổng tỉ suất sinh là 2,74
con/phụ nữ, đứng thứ 3 trong 12 tỉnh cao nhất
toàn quốc. Do vậy, theo Quyết định số 588/QĐ-
TTg của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Nam Định
thuộc vùng mức sinh cao, cần phải giảm 10%
tổng tỷ suất sinh trong 10 năm tới. Có nghĩa là,
đến năm 2030, tỉnh ta phải giảm tổng tỷ suất
sinh xuống còn 2,46. Huyện Nam Trực là một
huyện nông thôn với đa số người dân làm nghề
nông hoặc công nhân các công ty. Trong nhiều
năm qua, huyện Nam Trực luôn đạt mục tiêu
giảm sinh theo kế hoạch đề ra, tỷ suất sinh thô
luôn giảm. Tỷ suất sinh năm 2020 của huyện đạt
12,49%o, giảm 0,10%o so với năm 2019; tỷ lệ
sinh con thứ 3 trở lên là 18%, giảm 0,5% so với
năm 2019. Tỷ số giới tính khi sinh 114,5 bé
trai/100 bé gái. Tuy nhiên, qua điều tra sơ bộ
cho thấy một số xã có điều kiện kinh tế lại có xu
hướng tăng tỷ lệ sinh con thứ 3. Một số nơi, cán
bộ làm công tác dân số chưa nhận thức được
đầy đủ và chưa lường hết những khó khăn, phức
tạp về lâu dài củ công tác này, nên có phần khó
khăn, lơi lỏng và chưa có biện pháp hữu hiệu để
thực hiện được mục tiêu trên. Mục đích của
nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nguyên nhân,
phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng
Nghề nghiệp chủ yếu của những người chồng
là buôn bán (60%), 8,6% là cán bộ công nhân
viên chức nhà nước (CBCNVCNN), 31,5% làm
61
vietnam medical journal n02 - JULY - 2021
nông nghiệp. Có tới 47,3% người vợ ở nhà làm 21,1%. Chỉ có 15,8% bà mẹ ở độ tuổi 15-19 tuổi
nội trợ, 4,7% buôn bán, 10,5% là CBCNVCNN và
34,2% làm nông nghiệp. Tương tự như nhận
định khi tổng kết công tác dân số ở một số tỉnh
thành khác, hiện nay tại địa bàn huyện Nam
Trực một bộ phận CBCNVCNN và Đảng viên
cũng sinh con thứ 3.
và 5,2% ở tuổi 30-34 khi sinh con lần đầu. Sức
khỏe của hai con đầu của 41 hộ gia đình (chiếm
97,1%) đều bình thường, chỉ có 2 gia đình (chiếm
4,9%) là có một con có sức khoẻ không tốt.
2. Những yếu tố liên quan tới việc sinh
con thứ 3 trở lên theo đánh giá riêng của
vợ và chồng.
Độ tuổi của người mẹ khi sinh con đầu trong
khoảng 20-24 là 57,8% và trong khoảng 25-29 là
Bảng 1. Lý do sinh con thứ 3 trở lên
Lý do sinh con thứ ba trở lên
Vợ
Chồng
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
1. Do muốn có con trai để nối dõi.
2. Do muốn có con gái có nếp có tẻ
3. Do muốn có đông con
11
6
18
18
28.9
15.8
47.4
47.4
13
4
19
15
37.1
11.4
54.3
42.9
4. Do gia đình có điều kiện kinh tế
5. Do người chồng là con trưởng, trưởng tộc hoặc
con duy nhất.
6
15.8
7
20
6. Do vỡ kế hoạch
12
10
8
31.6
26.3
21.1
11
10
9
31.4
28.6
25.7
7. Do quan niệm tôn giáo (nạo hút thai là sát sinh)
8. Do không hểu biết về pháp lệnh dân số
9. Do tình trạng của ít nhất 1 trong các con không
tốt (sinh dự phòng).
2
5.3
2
5.7
10. Để chăm sóc khi về già
8
5
3
2
21.1
13.2
7.9
9
4
5
3
25.7
11.4
14.2
8.6
11. Coi việc sinh đẻ là tự nhiên .
12. Áp lực từ gia đình, bạn bè, xã hội
13. Muốn tăng thêm sức lao động
14. Chọn năm đẹp sinh con để gia đình khoẻ mạnh,
làm ăn phát đạt.
5.3
4
10.5
4
11.4
Có 19 người chồng (54,3%) và 18 người vợ rất nhiều, nên một số gia đình có tư tưởng sinh
(47,4%) thừa nhận họ thực sự mong muốn sinh con có số mệnh tương sinh sẽ giúp bố mẹ làm
con thứ 3 trở lên. Bên cạnh đó, 11 người chồng ăn nên, gia đình giàu có, thuận lợi trong buôn bán.
(31,4%) và 12 người vợ (31,6%) cho rằng trường
Sáu nguyên nhân (gia đình có điều kiện kinh
hợp sinh con thứ 3+ vừa rồi là ngoài ý muốn. tế, vỡ kế hoạch, muốn có đông con, muốn có
Như vậy là có sự đồng nhất tương đối giữa vợ và con trai để nối dõi, vỡ kế hoạch, không hiểu về
chồng về ý muốn sinh con thứ 3 trở lên.
pháp lệnh dân số) nêu trên là những lý do quan
Từ bảng 1 cho thấy lý do hàng đầu mà các trọng được nhắc tới đầu tiên nhiều nhất ở cả vợ
cặp vợ chồng đưa ra là “muốn có đông con” lý và chồng, không có sự chênh lệch nhiều ở các lý
do số 3. Tiếp đó là lý do 1 (gia đình có điều kiện do của vợ và chồng. Ba lý do muốn có con trai
kinh tế) và lý do 3 (vỡ kế hoạch). Không có sự để nối dõi, muốn có đông con, do gia đình có
khác biệt mấy giữa vợ và chồng khi đưa ra các lý điều kiện kinh tế chiếm tỉ lệ cao nhất ở những
do sinh con thứ 3 trở lên. Đáng lưu ý là có một tỉ người chồng. Điều này chứng tỏ, những người
lệ khá cao những người vợ cũng như những chồng vẫn còn tư tưởng và quan niệm cần con
người chồng đưa ra lý do 6 và 8 (do vỡ kế trai hơn những người vợ.
hoạch, do không hiểu biết về pháp lệnh dân số),
Có 8 người vợ 9 người chồng tỏ rõ kỳ vọng
đó là những yếu tố liên quan tới công tác tuyên được trông cậy vào con cái “để chăm sóc khi về
truyền, tư vấn, và phần nào là chất lượng dịch già”. Ngoài ra, họ muốn con họ có đông anh chị
vụ KHHGĐ.
em để có thể nương dựa vào nhau khi cần. Điều
Có 4 hộ gia đình đưa ra lý do sinh con thứ 3 này còn mang nặng tư tưởng “nhiều con, nhiều
trở lên là do “Chọn năm đẹp sinh con để gia đình lộc”, “đông con là nhà có phúc”… Các cặp vợ
khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt”, 2 xã nghiên cứu là chồng thường gắn liền ý nguyện sinh nhiều con
2 xã có ngành nghề trồng hoa cây cảnh, tỷ lệ với điều kiện kinh tế khá giả của họ. Đặc biệt,
người dân đi buôn bán, làm công trình trồng cây với các gia đình mà hai bên nội ngoại đều ít con
62
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 504 - THÁ NG 7 - SỐ 2 - 2021
thì ý muốn sinh nhiều con được họ cho là lẽ lưu ý hơn để thực hiện truyền thông về công tác
đương nhiên. Có thể thấy rằng họ muốn có giảm sinh.
nhiều con vì muốn duy trì ý thức trách nhiệm
1/3 số cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên
của mình với gia đình, duy trì văn hoá Phương với lý do mang thai ngoài ý muốn. Vì vậy, vẫn
Đông… Cũng có những quan niệm cho rằng với cần tiếp tục đẩy mạnh công tác vận động, tư
những gia đình ít con, đặc biệt là một con thì vấn và nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ qua
tính trách nhiệm và tính cộng đồng của các con đó nâng cao nhận thức và thực hành sinh sản
sẽ thấp hơn, đứa con được chăm sóc đùm bọc của người dân từ việc lựa chọn, áp dụng các
quá sẽ giảm tính tự lập, kém quan tâm đến BPTT hiện đại thay thế các BPTT truyền thống
người khác, giảm tính cộng đồng và trách nhiệm để góp phần giảm tỉ lệ có thai ngoài ý muốn.
với mọi người, nó thường có xu hướng ích kỷ chỉ
Những người chồng đưa ra các lí do sinh con
nghĩ tới bản thân mình. Bên cạnh nhưng lý do thứ 3+ thuộc về nhận thức tâm lý nhiều hơn
trên một tâm lý cũng đáng lưu tâm là các cặp vợ những người vợ. Đặc biệt, những lý do hàng đầu
chồng đều bày tỏ tâm lý e ngại, sợ có thể chẳng sinh con thứ ba trở lên vẫn là: muốn có con trai
may bị mất con vì lý do nào đó. Nhiều người cho để nối dõi, muốn có nhiều con. Bên cạnh đó,
rằng vì nhiều lý do, 2 con là ít, không ai đảm bảo nghiên cứu này cũng chỉ ra một số mối tương
chắc chắn chúng lớn lên đến tuổi trưởng thành, quan đáng lưu ý: giữa kinh tế gia đình khá giả
lấy vợ lấy chồng và mỗi đứa lại sinh được 2 đứa với việc muốn sinh thêm con, giữa việc người
con thay thế… Chúng tôi nhận thấy rõ ràng nỗi chồng là con trưởng và những sức ép tâm lý từ
băn khoăn, e ngại đó của các cặp vợ chồng mặc xã hội và gia đình cần có con trai để nối dõi,
dù họ không nói thẳng ra mà chỉ kể nhưng câu giữa việc nhà nước đưa ra PLDS và việc muốn có
truyện đau lòng về những gia đình bị hứng chịu thêm con, hay muốn có con trai để nối dõi. Điều
những rủi ro của xã hội hiện đại như nghiện này cho thấy cần tuyên truyền, vận động, giáo
ngập, tai nạn và những bệnh nan y…
dục ý thức cộng đồng, đặc biệt là ở nam giới về
Một số người cho rằng Pháp lệnh Dân số thực hiện bình đẳng giới để loại bỏ dần tư tưởng
(PLDS) khuyến khích các gia đình sinh thêm con. trọng nam khinh nữ hay sự nhất thiết cần phải
Quan niệm sai lầm này tồn tại ở cả Đảng viên, có con trai để nối dõi tông đường.
cán bộ công nhân viên nhà nước cũng như
Nghiên cứu cũng cho thấy một bộ phận các
những người làm nghề tự do buôn bán. Họ cho cặp vợ chồng đã hiểu sai về pháp lệnh dân số.
rằng PLDS tạo cho họ một tâm lý thoải mái hơn Do vậy, những văn bản, nghị định hướng dẫn thi
hay coi việc sinh con thứ 3+ là chuyện bình hành luật cần phải rõ ràng, kịp thời, đồng bộ.
thường, đương nhiên được chấp nhận trong xã Chúng ta vẫn cần quán triệt nội dung một cách
hội. Với Đảng viên, cán bộ công nhân viên nhà thống nhất từ trên xuống dưới, từ Trung ương,
nước; một số người hiểu đúng tinh thần và ý các cấp chính quyền, các cơ quan đoàn thể đến
nghĩa của PLDS nhưng vẫn lợi dụng để sinh con các cá nhân và tiếp tục tích cực tuyên truyền vận
thứ 3+. Một số người vợ, người chồng thì khi động để từng công dân trong địa bàn hiểu rõ
sinh con rồi mới hiểu rằng PLDS vẫn quy định quyền và nghĩa vụ của mình được quy định
mỗi cặp vợ chồng có nghĩa vụ xây dựng quy mô trong PLDS và tinh thần Nghị định số 104/2003/
gia đình ít con là 1-2 con. Gần đây, sau tổng kết NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 10/9/2003
công tác dân số 9 tháng đầu năm, PLDS đã được hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Dân số.
tuyên truyền một cách kỹ càng, thấu đáo hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Các cấp, các ngành, các cơ quan Đoàn thể mới
1. Ban Chấp hành Trung Ương (1993), Nghị quyết
thật sự quan tâm, nhất là về công tác tuyên
số 04 – NQ/TW ngày 14/01/1993 của Bộ Chính trị
truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
đã góp phần rất lớn vào việc giúp người dân
hiều rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong lĩnh
vực dân số.
về “Chính sách Dân số, kế hoạch hóa gia đinh”.
2. Ban Chấp hành Trung Ương (1995), chỉ thị số
50 – CT/TW ngày 06/03/1995 của Ban bí thư về
việc “Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương
4 về chính sách Dân số, kế hoạch hóa gia đình”.
3. Cao Ngọc Thành (2008). quản lý chương trình
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Giáo trình sau đại
học, Trường Đại học Y Dược Huế.
4. Văn phòng Chính phủ (2008), Công văn số
6084/VPCP – TCCV ngày 16/9/2008 của Văn
phòng Chính phủ về việc “Kiện toàn, ổn định tổ
chức và hoạt động của ngành Dân số - Kế hoạch
hóa gia đình tại các địa phương”.
V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Tất cả các hộ gia đình thuộc đối tượng
nghiên cứu đều có kinh tế khá, 37,4% số gia
đình làm nghề buôn bán hoa cây cảnh, hơn 1/3
hộ gia đình đã có cả con trai và con gái vẫn sinh
con thứ 3 trở lên. Đó là những đối tượng cần
63
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên và những yếu tố ảnh hưởng tại một số xã huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_sinh_con_thu_3_tro_len_va_nhung_yeu_to_anh_huong.pdf

