Đánh giá thực trạng tảo hôn ở vùng dân tộc thiểu số huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai từ năm 2015 đến năm 2018
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 39 (08-2019)
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TẢO HÔN Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI TỪ NĂM 2015 ĐẾN NĂM 2018
y Hoàng Việt Trung(*), La Thị Kim Dung(**), Hoàng Thị Mỹ Linh(**)
Tóm tắt
Tảo hôn đã làm cho chất lượng nguồn nhân lực bị suy giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe,
dáng vóc và khả năng lao động của con người. Xuất phát từ thực trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết
thống ở vùng dân tộc thiểu số huyện Chư Prông từ năm 2015 đến năm 2018, bằng phương pháp phỏng
vấn cấu trúc và nghiên cứu tài liệu, nhóm nghiên cứu đã thiết kế phiếu điều tra và tiến hành khảo sát
349 cặp vợ chồng có liên quan đến tảo hôn đang định cư tại 12 thôn, làng thuộc 6 xã có số cặp tảo hôn
cao nhất huyện bao gồm (Ia Boòng, Ia O, Ia Púch, Ia Vê, Ia Ga, Ia Piơr). Từ kết quả khảo sát thực địa,
nhóm nghiên cứu tiến hành xử lý số liệu và đi đến xác định nhóm dân tộc thiểu số có tình trạng tảo hôn
cao phân theo dân tộc, giới tính, lứa tuổi và địa bàn cư trú. Đồng thời tìm hiểu nhận thức của người
dân về vấn đề tảo hôn và Luật Hôn nhân và gia đình. Từ đó, xác định nguyên nhân và đề xuất các giải
pháp giảm thiểu tảo hôn trên địa bàn huyện Chư Prông.
Từ khóa: Tảo hôn, dân tộc thiểu số, huyện Chư Prông.
1. Đặt vấn đề
của địa phương sẽ góp phần giảm thiểu tảo hôn ở
huyện Chư Prông.
Nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Gia Lai, Chư
Prông là một trong ba huyện có đường biên giới
giáp với Campuchia, nối liền giữa các huyện phía
Bắc và các huyện phía Nam của tỉnh Gia Lai với
chiều dài 90 km đường biên giới. Chư Prông theo
tiếng của người Jrai có nghĩa là “ngọn núi lớn”.
Thật vậy, với diện tích tự nhiên 169.551,56 ha (lớn
thứ 3 trong số 17 huyện của tỉnh Gia Lai) được tổ
chức thành 20 xã và thị trấn. Nơi đây còn là địa bàn
sinh sống của 18 dân tộc anh em, trong đó chiếm
số đông nhất là người Kinh 56%, người Jrai 30%,
tiếp theo là người Dao, người Nùng, Người Tày,
người Mường di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc
những năm 80 của thế kỉ trước. Sự cộng cư của
các dân tộc thiểu số đã hình thành một nền văn
hóa đa dạng, đặc sắc cho Chư Prông, nhưng việc
2. Tảo hôn ở vùng dân tộc thiểu số huyện
Chư Prông
2.1. Tảo hôn xét theo giới tính, dân tộc và
địa bàn cư trú
Nhìn từ góc độ pháp luật, tảo hôn là việc lấy
vợ hoặc lấy chồng khi chưa đủ tuổi kết hôn theo
quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014 quy định. Theo đó, luật pháp Việt
Nam quy định tuổi kết hôn đối với nam từ đủ 20
tuổi trở lên và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên sẽ đủ điều
kiện kết hôn và được cơ quan tư pháp chứng nhận
đăng ký kết hôn.
Trên thực tế cho thấy, việc kết hôn của một
số đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Chư Prông
duy trì những tập tục lạc hậu của người dân tộc lại không căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp
thiểu số cũng để lại nhiều trở ngại và thách thức
đối sự phát triển bền vững ở khu vực này. Trong
đó tảo hôn ngày càng trở thành vấn nạn lớn đối
với toàn xã hội, những hiểm họa về sức khỏe và
chất lượng nguồn nhân lực do tảo hôn để lại sẽ
trở thành gánh nặng cho xã hội trong tương lai.
Vì vậy, đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên
nhân và đề xuất các giải pháp phù hợp với đặc thù
luật mà hôn nhân được tổ chức theo quan niệm
phong tục đã có từ lâu của các dân tộc thiểu số.
Quan niệm trai lớn bắt vợ, gái lớn gả chồng, hay
tục hứa hôn, gả hôn, tục nối dây của một số dân
tộc thiểu số đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người
dân, trở thành hủ tục đã có hàng trăm năm kéo
dài đến tận ngày nay.
Tính từ năm 2015 đến tháng 9 năm 2018 toàn
tỉnh Gia Lai có: “4.894 trường hợp tảo hôn, độ
tuổi tảo hôn tập trung từ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Riêng năm 2016 có số cặp tảo hôn cao nhất trong
(*) Trường THPT Pleime, Chư Prông, Gia Lai.
(**) Học sinh, Trường THPT Pleime, Chư Prông, Gia Lai.
67
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 39 (08-2019)
bốn năm trở lại đây, với 1.513 cặp” [1, tr. 2]. Năm “Trong năm 2017 có 278 cặp tảo hôn, trong đó
2017, tình trạng tảo hôn trên địa bàn tỉnh Gia Lai phân theo giới tính thì tảo hôn nữ có 192 trường
tuy có giảm những vẫn còn: “1.504 cặp và đến năm hợp chiếm 69%, trường hợp tảo hôn nam giới là
2018 chỉ thống kê trong 9 tháng đầu năm đã phát 86 người chiếm 31%” [6, tr. 3].
hiện có 1.055 trường hợp tảo hôn trên địa bàn toàn
tỉnh Gia Lai” [1, tr. 2].
Từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 5 năm 2018,
tổng số trường hợp tảo hôn trên địa huyện Chư
Chư Prông là một trong những huyện có tỉ lệ Prông là 718 cặp. Chỉ tính riêng 6 xã do nhóm
tảo hôn cao nhất của tỉnh Gia Lai. Theo thống kê nghiên cứu điều tra đã phát hiện 349 cặp trong tổng
của Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông cho thấy: số 718 cặp của toàn huyện (xem Bảng 1).
Bảng 1. Tổng hợp các xã có số đối tượng tảo hôn cao nhất huyện Chư Prông
(Đơn vị: Người)
Giới tính
Năm
Dân tộc
Xã
Nam
Nữ
24
2015
3
2016
14
2017
19
2018
11
7
Kinh
Thiểu số
47
Ia Boòng
Ia O
23
16
21
26
10
16
112
1
1
0
0
4
3
9
40
10
9
25
14
56
Ia Púch
Ia Vê
36
22
14
12
16
15
6
57
48
5
28
25
74
Ia Ga
44
9
14
16
50
Ia Piơr
45
13
49
31
11
58
Tổng
237
134
99
67
340
Nguồn: Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện Chư Prông [3, tr. 1]
Kết quả trên cho thấy, thực trạng tảo hôn ở toàn huyện. Trong đó, dân tộc Jrai có tỉ lệ dân số
huyện Chư Prông vẫn còn rất phổ biến. Trong đó, lớn thứ hai toàn huyện (sau người Kinh) có 42.483
năm 2016 bùng phát với 134 cặp, tăng 85 cặp so người chiếm 30% dân số toàn huyện nhưng lại có
với năm 2015. Năm 2017, số c ặp tảo hôn trên địa số c ặp tảo hôn cao nhất huyện với 105 cặp chiếm
bàn huyện tuy có giảm nhưng vẫn còn 99 cặp vợ 30% tổng số c ặp tảo hôn, tiếp đến là người dân tộc
chồng tảo hôn. Chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm Dao có 95 cặp chiếm 27,14%, người dân tộc Nùng
2018, số trường hợp tảo hôn ở huyện Chư Prông có 60 cặp chiếm 17,14%, người Mường có 46 cặp
cũng có 67 cặp. Thực trạng tảo hôn ở Chư Prông chiếm 13,15%, người Tày có 35 cặp chiếm 10%.
được làm rõ như sau:
Đặc biệt có 9 cặp tảo hôn là người Kinh, chiếm
gần 3% trong tổng số 349 trường hợp tảo hôn được
nhóm nghiên cứu khảo sát (xem biểu đồ 1).
Xét theo giới tính và dân tộc: Tảo hôn ở huyện
Chư Prông có đặc điểm tảo hôn ở nữ giới là chủ yếu
và cao hơn so với tảo hôn ở nam giới. Trong tổng số
349 trường hợp tảo hôn bao gồm cả người Kinh và
người dân tộc thiểu số thì tảo hôn ở n ữ giới chiếm
238 trường hợp cao gấp 2,1 lần so với trường hợp
tảo hôn ở nam giới chỉ có 112 trường hợp. Ia Vê
là xã có tỉ l ệ t ảo hôn nữ giới cao nhất huyện với 48
trường hợp tảo hôn nữ cao gấp 1,8 lần so với tảo
hôn ở nam giới. Riêng xã Ia Ga số v ụ t ảo hôn nữ
cao gấp 4,5 lần so với tảo hôn nam giới. Bên cạnh
đó, tảo hôn ở huyện Chư Prông có sự chênh lệch rất
lớn giữa các nhóm dân tộc đang cư trú trên địa bàn
Biểu đồ 1. Thực trạng tảo hôn phân theo
nhóm dân tộc ở huyện Chư Prông
68
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 39 (08-2019)
Sự chênh lệch về t ỷ l ệ t ảo hôn phân theo dân núi phía Bắc di cư vào làm kinh tế m ới, đi kèm với
tộc cũng phản ánh sự chênh lệch trong nhận thức
của người dân tộc về hôn nhân và gia đình và những
tác hại của tảo hơn đến đời sống kinh tế, sức khỏe
của con người. Kết quả điều tra nhận thức của 349
cặp vợ chồng có tảo hôn trên địa bàn 6 xã về Luật
Hôn nhân và gia đình và những tác động của tảo
hôn đối với sức khỏe sinh sản vị thành niên, nhóm
nghiên cứu thu được kết quả như sau: Chỉ riêng
9 cặp tảo hôn người Kinh có nhận thức đúng về
Luật Hôn nhân và gia đình chiếm 100% tỉ l ệ nhận
thức đúng. Các nhóm dân tộc còn lại khi có mức
độ nhận thức đúng về những tác động của tảo hôn
là rất thấp. Trong đó, nhóm dân tộc có tỷ l ệ nhận
thức đúng thấp nhất về hôn nhân và gia đình là
người Jrai chỉ có 30/105 người có câu trả l ời đúng
(28,6%), người Nùng cũng có mức độ nhận thức
đúng thấp thứ hai sau người Jrai, 21/60 người trả
lời đúng (35%). Người Tày có tỷ lệ nhận thức đúng
cao thứ hai (sau người Kinh) với 27/35 người có
câu trả lơi đúng (77,1%) (xem bảng 2).
quá trình di cư và cộng cự c ủa các nhóm dân tộc
thiểu số là những hủ t ục về hôn nhân và gia đình
vẫn còn tồn tại trong đời sống tinh thần hằng ngày
của các dân tộc này.
2.2. Tảo hôn xét theo độ tuổi
Xét về độ tuổi, tảo hôn ở huyện Chư Prông
chủ yếu diễn ra trong độ tuổi từ 14 tuổi đến 17 tuổi
cao hơn so với mặt bằng chung của toàn tỉnh là từ
13 tuổi đến 18 tuổi. Qua khảo sát thực địa tình hình
tảo hôn ở 12 thôn, làng thuộc 6 xã cho thấy, độ tuổi
kết hôn cao nhất ở huyện Chư Prông là 16 tuổi với
210 người chiếm 60%, độ tuổi dưới 14 tuổi chỉ có
18 người chiếm 5%, độ tuổi 15 tuổi có 52 trường
hợp đã kết hôn chiếm 15%, độ tuổi 17 tuổi có 70
người đã có gia đình chiếm 20%.
Từ s ố liệu khảo sát độ tuổi tảo hôn, có thể k ết
luận rằng: Tảo hôn ở huyện Chư Prông chủ yếu diễn
ra trong độ tuổi học sinh trung học, phần lớn học
sinh nữ đang theo học trung học cơ sở hoặc trung
học phổ thông đã đi đến hôn nhân. Việc này, đồng
nghĩa với tỉ l ệ h ọc sinh bỏ h ọc của học sinh trung
học ở Chư Prông rất cao, nhất là đối với học sinh
nữ. Thật vậy, minh chứng qua số liệu thống kê học
sinh bỏ học tại Trường Trung học phổ thông Trần
Phú và Trung học phổ thông Pleime - đây là hai
trường phổ thông có nhiều học sinh là người dân
tộc thiểu số đang theo học nhất huyện Chư Prông
đã cho thấy: “Từ năm 2015-2018 có 381 học sinh
bỏ học, trong đó học sinh nữ chiếm tỷ lệ cao từ
55% đến 67% và học sinh là người dân tộc thiểu
số chiếm trên 50% so với tổng số học sinh bỏ học.
Phần lớn số học sinh bỏ học là học sinh đang theo
học lớp 10 và lớp 11. Trong số học sinh thôi học
chỉ có 53 trường hợp chuyển sang học nghề, số
học sinh còn lại sau khi nghỉ học ở nhà phụ giúp
công việc nương rẫy cho bố mẹ” [4, tr. 5; 5, tr. 5]
(xem bảng 3).
Bảng 2. So sánh tỷ lệ nhận thức đúng về Luật Hôn
nhân và gia đình phân theo nhóm dân tộc ở
huyện Chư Prông
(đơn vị: Người)
Tổng số
người được nhận thức
khảo sát
105
46
Số người
Nhóm
dân tộc
Tỉ lệ %
đúng
30
Jrai
28,6
54,3
35,0
38,9
77,1
100
Mường
Nùng
Dao
25
60
21
95
37
Tày
35
27
Kinh
9
9
Tổng số
349
158
45,3
Xét theo địa bàn cư trú: Tảo hôn diễn ra ở
hầu khắp các xã của huyện Chư Prông, trong đó
tập trung ở 6 xã có số c ặp tảo hôn cao nhất huyện
là xã Ia Vê với 74 cặp chiếm 21,2%, tiếp đến là xã
xã Ia Piơr với 61 cặp chiếm 19,2%, xã Ia Púch có
57 cặp chiếm 16,3%, xã có tỷ lệ tảo hôn thấp nhất
Thực trạng tảo hôn xét theo giới tính, dân tộc,
độ tuổi và địa bàn cư trú đã cho thấy nhận thức của
các dân tộc thiểu số ở huyện Chư Prông về hôn nhân
trong tổng số 6 xã là Ia Boòng cũng có 48 cặp tảo và gia đình còn nhiều hạn chế. Những hủ t ục lạc
hậu trong hôn nhân của người dân tộc thiểu số ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng dân số và sự phát
triển bền vững của xã hội trong tương lai. Hệ quả
hôn chiếm 13,8%. Sở d ĩ, tảo hôn tập trung nhiều
ở các xã nêu trên vì đây là địa bàn sinh sống chủ
yếu của người Jrai và một số người dân tộc miền
69
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 39 (08-2019)
của việc tảo hôn được thể hiện trên ba phương diện em dưới 01 tuổi và dưới 05 tuổi. Đồng thời, làm
chính là giáo dục, ý thực pháp luật và sức khỏe sinh tăng tỉ lệ tử vong của người mang thai lần đầu
sản vẫn chưa được người dân nhận thực đầy đủ.
dưới 19 tuổi gấp 4 lần so với những người mang
thai lần đầu trên 20 tuổi.
2.3. Đặc điểm thực
trạng tảo hôn ở huyện
Chư Prông
Bảng 3. Tình trạng bỏ học của học sinh trung học ở Chư Prông
Năm 2015-2016
Năm 2016-2017
Năm 2017-2018
Dân
tộc
Dân
tộc
Dân
tộc
TS
Nữ
TS
Nữ
TS
Nữ
Từ thực trạng tảo ở
153
%
55
76
124
%
64
67
104
%
61
54
huyện Chư Prông trong
4 năm từ năm 2015 đến
năm 2018 được trình bày
ở trên, đã cho thấy một số
35,9
49,7
51,6
54%
58,7
51,9
Nguồn: tác giả tổng hợp từ [4]; [5]
Trước hết, xét về mặt đời sống tinh thần: Tảo
hôn là việc “chiếm đoạt tuổi thơ” của người chưa
đủ tuổi vị thành niên. Việc lấy vợ hoặc lấy chồng
sớm đồng nghĩa với việc phải nghỉ h ọc sớm, mất
cơ hội được tự do học tập, tự do lựa chọn nghề
nghiệp trong tương lai, mà nghiêm trọng hơn là
đánh mất đi quyền tự do lựa chọn hạnh phúc cho
mỗi cá nhân, mỗi con người. Do đó, hệ quả về mặt
tinh thần là không thể đo đếm được.
Xét về ý thức chấp hành pháp luật: Tảo hôn
đồng nghĩa với ý thức chấp hành pháp luật của
người dân tộc thiểu số còn thấp, về lâu dài càng kéo
dài tình trạng này là càng làm mất đi tính nghiêm
minh, công bằng của pháp luật. Trong khi đó, theo
Điều 5, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã
quy định về trường hợp cấm kết hôn giữa những
người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người
có họ trong phạm vi ba đời. Đối với hành vi tổ chức
lấy vợ, lấy chồng và duy trì quan hệ vợ chồng trái
pháp luật khi chưa đủ tuổi kết hôn thì bị phạt tiền
từ 500.000 đồng đến 30 triệu đồng hoặc phạt cải
tạo không giam giữ đến 2 năm (theo Nghị định
110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành
vi tảo hôn).
điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, tảo hôn ở n ữ giới luôn cao hơn so
với tảo hôn ở nam giới. Điều này cho thấy, trong
nhận thức của người dân tộc thiểu số vẫn chưa thực
sự coi trọng vai trò của giáo dục đối với sự phát
triển xã hội, các em gái là người dân tộc sau khi
học xong bậc học trung hoc cơ sở thì ít có cơ hội
được học tiếp ở các bậc học cao hơn, thay vào đó
là việc kết hôn và đi đến cuộc sống gia đình theo sự
sắp đặt của cha mẹ. Ngoài ra, tảo hôn nữ cao hơn
so với tảo hôn nam cũng cho thấy sự b ất bình đẳng
trong hôn nhân ở vùng dân tộc thiểu số.
Thứ hai, tảo hôn không chỉ ở những xã vùng
sâu, vùng xa, các xã nằm dọc trên đường biên giới
giữa Việt Nam và Campuchia mà còn diễn ra ngay
cả ở những xã thuộc vùng thuận lợi như xã Ia Ga,
Ia Boòng là những xã gần trung tâm huyện, có điều
kiện kinh tế - xã hội thuận lợi và phát triển cũng
có hơn 57 trường hợp tảo hôn. Do vậy, cần có biện
pháp can thiệp sớm để giảm thiểu tình trạng này.
Thứ ba, tảo hôn ở huyện Chư Prông không
chỉ diễn ra ở bộ phận dân cư là người Jrai, người
Dao và người Nùng mà còn xảy ra đối với cả người
Kinh. Qua điều tra thực địa đã cho thấy ở địa bàn
6 xã nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát đều có
Xét về mặt chất lượng sức khỏe dân số: Kết
hôn sớm sẽ dẫn đến hậu quả mang thai sớm và
sinh đẻ trong lứa tuổi chưa thành niên, khi cơ thể hiện tượng tảo hôn ở người Kinh, xã có nhiều vụ
người mẹ chưa phát triển hoàn thiện. Mặt khác,
do vẫn còn quá trẻ, nên thiếu hiểu biết, thiếu kinh
nghiệm và chưa sẵn sàng tâm lý để mang thai đã
ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ, ảnh hưởng đến
sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ
sinh. Đây là nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ trẻ em
suy dinh dưỡng, thấp còi và tỉ lệ tử vong của trẻ
tảo hôn đối với người Kinh nhất là xã Ia Ga với 4
trường hợp. Cũng theo số liệu điều tra dân số của
huyện Chư Prông hầu hết ở các xã thuận lợi, tình
trạng tảo hôn của người Kinh chiếm tỉ lệ khá cao,
điển hình như: “xã Ia Phìn tính đến năm 2018 có
21 vụ tảo hôn, nhưng người Kinh chiếm 15 trường
hợp, xã Ia Đrăng có 13 trường hợp và xã Ia Tôr có
70
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 39 (08-2019)
7 trường hợp tảo hôn là người Kinh” [3, tr. 2]. Việc của cha mẹ hai bên và sự chứng kiến của gia đình,
tảo hôn diễn ra đối với người Kinh đã cho thấy tảo họ hàng, làng xóm là đủ chứ không cần sự đồng
hôn thực sự là một vấn nạn lớn cho cả xã hội trong ý của chính quyền địa phương và không chịu sự
tình hình hiện nay.
Thứ tư, tình trạng tảo hôn xảy ra không chỉ
ràng buộc của luật pháp hiện hành. Quan niệm
kết hôn sớm để có thêm người lao động sản xuất,
ổn định cuộc sống gia đình, một số gia đình quan
niệm đông con thì bề thế, đông con làm ra nhiều
của cải, một số buôn làng còn xem việc có đông
người sẽ làm cho buôn làng có thêm sức mạnh.
Chính những quan niệm này đã làm cho tảo hôn ở
Chư Prông vẫn còn tồn tại.
đối với người đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn
cảnh kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp, mà ở
Chư Prông tảo hôn còn xảy ra ở cả những gia đình
có điều kiện kinh tế khá giả. Điều đó chứng tỏ, sự
nhận thức và hiểu biết của người dân về vấn đề dân
số, sức khỏe sinh sản, Luật Hôn nhân và gia đình
còn thấp. Nâng cao nhận thức về tác hại của tảo hôn
4. Giải pháp giảm thiểu thực trạng tảo hôn
đến đời sống, sức khỏe cho người dân nói chung, ở Chư Prông
người dân tộc thiểu số nói riêng là giải pháp quan
trọng góp phần giảm thiểu tình trạng này.
Tăng cường tuyên truyền và phổ biến pháp
luật gắn với xây dựng Hương ước tại các thôn làng
3. Nguyên nhân dẫn đến tảo hôn ở Chư của người dân tộc thiểu số. Phổ biến, giáo dục pháp
Prông
luật là phương tiện truyền tải những thông tin, yêu
cầu, nội dung và các qui định pháp luật về Luật
Hôn nhân và gia đình đến người dân giúp người
dân hiểu đúng pháp luật về hôn nhân gia đình, các
quy định liên quan đến kết hôn sớm. Ngoài ra, để
phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả cao, các
cơ quan chuyên môn đứng đầu là Chi cục Dân số -
Kế hoạch hóa gia đình và Ban Dân tộc của Ủy ban
nhân dân huyện cần phải biên soạn tài liệu tuyên
truyền, tờ rơi bằng tiếng Việt và tiếng của người
dân tộc để dễ dàng tuyên truyền đến mọi người dân.
Xây dựng Hương ước trong các thôn, làng
Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật
còn bất cập, nhận thức của người dân về Luật
Hôn nhân và gia đình và tác hại của tảo hôn chưa
cao: Với địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp như
huyện Chư Prông, giao thông đi lại khó khăn, đại
bộ phận người dân tộc ít người thường xuyên sinh
sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí tương
đối thấp, tập quán du canh, du cư; nhiều hủ tục
lạc hậu trong việc kết hôn, ly hôn, chăm sóc, giáo
dục, nuôi dưỡng con cái hoặc bất bình đẳng nam
nữ trong quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại. Qua điều tra
thực địa của nhóm nghiên cứu cho thấy, người dân người dân tộc thiểu số. Hương ước là những nguyện
tiếp cận hệ thống pháp luật rất khó khăn, công tác vọng do người dân tự đặt ra, được thảo luận, bàn
tuyên truyền chỉ diễn ra theo các chiến dịch truyền bạc và nhất trí thông qua, phù hợp với pháp luật
thông mà không được tuyên truyền, phổ biến pháp và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân nên sẽ
luật thường xuyên và liên tục. Chính việc tuyên được toàn dân tự giác chấp hành. Hương ước của
truyền, phổ biến pháp luật chưa đạt hiệu quả cao mỗi thôn làng cũng có những đặc điểm riêng mang
đã dẫn đến hiểu biết về pháp luật cũng như những đậm bản sắc tốt đẹp của mỗi thôn, làng gắn với tín
tác hại của việc tảo hôn giữa người Kinh và người ngưỡng, văn hóa, tâm linh của mỗi dân tộc, bên
dân tộc thiếu số có sự chệnh lệch rất lớn.
cạnh đó Hương ước cũng cần đề cao vấn đề xử phạt
những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm pháp
luật về tảo hôn. Vì vậy, một trong những giải pháp
có tính pháp lý, có khả n ăng ràng buộc người dân
tộc thiểu số thực hiện là phải xây dựng các hương
ước trong mỗi thôn, làng.
Xuất phát từ phong tục, tập quán lạc hậu:
Phong tục của các dân tộc thiểu số tồn tại và ăn
sâu trong nhận thức của người dân đã ảnh hưởng,
chi phối mạnh mẽ trong đời sống, sinh hoạt của
họ. Đối với đồng bào dân tộc thiếu số, việc kết
hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập
Để hương ước thực sự trở thành quy tắc của
quán; việc lấy vợ, lấy chồng chỉ cần sự đồng ý từng thôn, làng nhưng lại mang tính pháp lý cao,
của những người đứng đầu trong buôn, làng hoặc bắt buộc mọi người đều phải thực hiện thì trước
71
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 39 (08-2019)
hết Hương ước của các thôn làng phải đảm bảo kĩ năng sống trong nhà trường. Tảo hôn xảy ra
thưởng đi liền với phạt, các hình phạt phải đủ tính phần lớn ở lứa tuổi học sinh trung học, một phần
giáo dục, răn đe và nêu gương đối với các thành
viên trong cộng đồng.
do hoàn cảnh khó khăn của gia đình, hủ tục của
địa phương nhưng cũng có một phần các em chưa
được giáo dục kĩ năng sống, chưa được tuyên
truyền về pháp luật phòng chống tảo hôn. Vì vậy,
hầu hết các em đều không nhận thức được đầy đủ
hậu quả sau khi kết hôn, hoặc khi bị ép hôn, gả
hôn các em không có kỹ năng tự giải thoát khỏi
những áp đặt từ người lớn và không tự khẳng định
được quyền con người trong cuộc sống. Vì lẽ đó,
giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường lúc này
là rất cần thiết.
Phát huy vai trò của người có uy tín trong các
thôn làng, xây dựng các mô hình câu lạc bộ“nói
không với tảo hôn” trong địa bàn dân cư. Xuất phát
từ đặc thù văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số
Tây Nguyên luôn đề cao vai trò của người đứng
đầu trong các buôn, làng. Tính cố kết cộng đồng
và sức mạnh của các thôn làng càng được đề cao
khi có những người già làng, trưởng bản có uy tín.
Vì vậy, cần phải phát huy vai trò gương mẫu, đi
đầu của những người có uy tín trong các thôn làng
người dân tộc thiểu số. Bởi lẽ, trong công tác tuyên
truyền, thuyết phục đồng bào các dân tộc thiểu số
chấp hành pháp luật về Hôn nhân gia đình thì người
già làng, trưởng bản là người gần gũi và có uy tín
nhất đối với mọi người dân, giữa họ không có rào
cản nào về ngôn ngữ, phong tục và tập quán. Vì
vậy, các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong
cộng đồng rất thuận lợi trong việc tuyên truyền,
vận động xóa bỏ những hủ tục lạc hậu và phòng,
chống tảo hôn.
Trước hết, cần phải tăng cường giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh, nhất là học sinh người
dân tộc thiểu số, học sinh yếu thế trong nhà trường.
Qua đó, các em có thể điều chỉnh hành vi theo đúng
chuẩn mực xã hội, giúp cho các em có kĩ năng lựa
chọn, vượt qua những rào cản, thách thức từ cuộc
sống mà vươn lên trở thành người có ích, tránh xa
vào các hủ tục, lạc hậu vốn đang ràng buộc người
dân tộc mình. Khi được trang bị kĩ năng sống, học
sinh sẽ có khả năng làm chủ bản thân, kiên định
với chính kiến của mình và biết thương lượng, đàm
phán khi gặp phải khó khăn trong cuộc sống. Kết
quả nghiên cứu của tổ chức UNICEF năm 2012
trong báo cáo đánh giá hiệu quả các chương trình
giáo dục kỹ năng sống trên toàn cầu kết luận rằng
các chương trình giáo dục kĩ năng sống có kết quả
làm giảm nguy cơ gặp các vấn đề về sức khỏe sinh
sản như mang thai ngoài ý muốn, nâng cao sự tự tin
của người học trước các mối quan hệ xã hội, nâng
cao nhận thức của học sinh về quyền con người, ý
thức xây dựng xã hội tiến bộ.
Muốn làm được điều này, trước hết các cơ
quan chuyên trách về pháp luật và dân số cần phải
có những buổi tập huấn, tuyên truyền cụ thể những
quy định của pháp luật, ảnh hưởng của việc tảo
hôn cho các già làng, trưởng bản nhận thức sâu
sắc. Bên cạnh đó, cũng cần có cơ chế động viên,
khen thưởng kịp thời cho những già làng, trưởng
bản tích cực trong công tác tuyên truyền, vận động
nhân dân thực hiện pháp luật.
Đồng thời với việc phát huy vai trò của
những người có uy tín trong các thôn làng thì
cũng cần thành lập các câu lạc bộ “nói không với
tảo hôn” nhằm tập hợp những gia đình có con em
trong độ tuổi từ 13 đến 17 đăng ký cam kết không
tổ chức gả hôn, ép hôn. Cùng với đó, câu lạc bộ
này có nhiệm vụ t ư vấn tâm lý, vận động người
dân từ bỏ dần các hủ tục trong hôn nhân, giúp
đỡ cho những em gái trong độ tuổi đến trường
tránh khỏi sự áp đặt của gia đình, của phong tục
tập quán lạc hậu.
Bên cạnh giáo dục kĩ năng sống, cũng cần tăng
cường giáo dục phổ biến pháp luật cho học sinh.
Đưa nội dung pháp luật vào chương trình giảng
dạy chính khoá thông qua các môn học như Đạo
đức (Tiểu học), Giáo dục công dân (Trung học).
Thường xuyên giáo dục phổ biến pháp luật thông
qua các hoạt động bổ trợ giáo dục như sinh hoạt tập
thể, giáo dục ngoài giờ lên lớp, tổ chức buổi hoạt
động ngoại khóa chuyên sâu về nâng cao chất lượng
dân số, giảm thiểu tảo hôn để thu hút đông đảo học
sinh tham gia. Thông qua chương trình phát thanh
Tăng cường giáo dục pháp luật và giáo dục
72
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 39 (08-2019)
thanh niên của Đoàn thanh niên cần có những bài ra ở bất cứ nơi nào, không phân biệt là vùng sâu,
tuyên truyền về hậu quả của việc kết hôn sớm đối vùng xa, vùng kinh tế khó khăn hay vùng có điều
với học sinh, từ đó làm thay đổi nhận thực của học kiện kinh tế, xã hội thuận lợi. Nhận thức của người
sinh tích cực hơn.
Giảm thiểu tảo hôn phải gắn liền với phát triển
dân tộc thiểu số v ẫn còn nhiều hạn chế và không
thể t ự thoát ra khỏi sự ràng buộc của những hủ t ục,
quan niệm lạc hậu, trái ngược với sự phát triển của
một xã hội văn minh nếu như không có sự tuyên
truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân
gia đình, không có sự vào cuộc một cách quyết liệt
của chính quyền địa phương và các tổ chức chính
trị xã hội tại địa phương.
kinh tế - xã hội và chất lượng dân số. Để nâng cao
chất lượng đời sống nhân dân cần tập trung phát
triển kinh tế xã hội, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ
tầng phục vụ đời sống nhân dân như điện, đường,
trường, trạm. Đối với người dân tộc thiểu số việc
thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống
nhân dân phải gắn liền với việc quy hoạch, phát
Do vậy, muốn giảm thiểu tình trạng tảo hôn
triển vùng kinh tế chuyên canh và đẩy lùi tập quán và đi đến chấm dứt vấn nạn này cần có sự vào cuộc
du canh, du cư của người dân. Gắn phát triển kinh đồng bộ và kiên quyết từ phía chính quyền địa
tế với phát triển đời sống văn hóa, tinh thần. Ngoài phương, gia đình - xã hội và nhà trường, trong đó:
ra, phải thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới
trong vùng đồng bào dân tộc. Trong đó, xác định
mục tiêu cụ thể là phải nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho người dân, có kết cấu kinh tế-xã hội
phù hợp, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức
sản xuất hợp lý, xã hội nông thôn bình đẳng, ổn
đinh, giàu bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái
được bảo vệ.
Về phía chính quyền địa phương: Cần đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến
pháp luật cho người dân, nhất là người dân tộc thiểu
số. Phải lấy phương châm “phòng còn hơn chống”,
tăng cường nhận thức của người dân về pháp luật
hơn là xử lý người dân vi phạm pháp luật.
Về phía gia đình - xã hội: Cần xây dựng các
khu dân cư văn hóa, hình thành các Câu lạc bộ “nói
không với tảo hôn” phát huy vai trò của các già
làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng
dân cư. Xây dựng các quy chuẩn văn hóa khu dân
cư, coi đó là yêu cầu tất yếu mà mỗi người dân,
mỗi gia đình phải thực hiện và làm theo.
Muốn nâng cao chất lượng dân số, nhất là
chất lượng dân số đối với người dân tộc thiểu số,
trước hết phải giảm thiểu tảo hôn, đồng thời giảm
tỷ suất sinh tự nhiên, đảm bảo mỗi cặp vợ chồng chỉ
nên sinh đủ 2 con. Ngoài ra, cũng phải đẩy mạnh
tuyên truyền người dân thực hiện khám sức khỏe
trước khi kết hôn, tầm soát cho phụ nữ trong thời
kỳ mang thai và sau khi sinh để sớm phát hiện các
dạng dị tật như tan máu bẩm sinh (Thalassemia).
5. Kết luận
Về phía nhà trường: Trước hết cần làm tốt
công tác phân luồng học sinh ngay từ bậc trung
học cơ sở và sau đó là bậc trung học phổ thông.
Tăng cường giáo dục pháp luật, rèn luyện đạo đức,
kỹ năng sống cho học sinh, qua đó sẽ lan tỏa được
Qua việc đánh giá thực trạng tảo hôn của mục tiêu giảm thiểu tảo hôn đến từng học sinh và
người dân tộc thiểu số ở huyện Chư Prông, phần phụ huynh cũng như người xung quanh./.
nào đã cho thấy, từ n ăm 2015 đến năm 2018, mặc
dù tình trạng tảo hôn có phần giảm xuống nhưng
mức độ t ảo hôn vẫn còn cao. Tảo hôn có thể xảy
Lời cám ơn: Bài viết được trích từ đề tài dự
thi khoa học kỹ thuật cấp Quốc gia dành cho học
sinh trung học khu vực phía Nam năm 2019.
Tài liệu tham khảo
[1]. Ban Dân tộc tỉnh Gia Lai (2018), Tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng
đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh Gia Lai, Gia Lai.
[2]. Quốc hội Việt Nam(2015), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và những văn bản hướng dẫn
thực hành, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[3]. Trung tâm Dân số - kế hoạch hóa gia đình huyện Chư Prông (2018), Tổng hợp số đối tượng
73
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 39 (08-2019)
tảo hôn và kết hôn cận huyết thống từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2018, Trung tâm Dân số - kế hoạch
hóa gia đình huyện Chư Prông, Gia Lai.
[4]. Trường THPT Pleime (2018), Báo cáo số liệu học sinh thôi học 2015-2018, Sở Giáo dục và
Đào tạo tỉnh Gia Lai, Gia Lai.
[5]. Trường THPT Trần Phú (2018), Báo cáo số liệu học sinh thôi học 2015-2018, Sở Giáo dục và
Đào tạo tỉnh Gia Lai, Gia Lai.
[6]. Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông (2018), Tình hình tự tử và nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết
thống trong vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Chư Prông, UBND huyện Chư Prông, Gia Lai.
ASSESSING IMMATURE MARRIAGE AMONG ETHNIC MINORITIES IN CHU PRONG
DISTRICT, GIA LAI PROVINCE DURING THE 2015 -2018 PERIOD
Summary
Immature marriage has reduced the quality of human resources, directly affecting human health,
physique and labor capacity. On the context of immature marriage and near-marital marriage among
ethnic minorities in Chu Prong district during the 2015 – 2018 period, using the structured interview and
document review, the research team designed a questionnaire and surveyed 349 couples of immature
marriage residing in 12 villages within 6 communes with the highest number of immature marriages in
the district (namely Ia Boong, Ia O, Ia Púch, Ia Vê, Ia Ga, Ia Pior). From the results of the field survey,
the research team analyzed data and identified ethnic minority groups with high immature marriage
in terms of race, gender, age and residence. At the same time, the team investigated the local people's
perceptions of early marriage and the marriage-family law. Thereby, the team identified the causes and
proposed solutions to minimize immature marriage in Chu Prong district.
Keywords: Immuture marriage, ethnic minorities, ChuProng district.
Ngày nhận bài: 18/4/2019; Ngày nhận lại: 04/7/2019; Ngày duyệt đăng: 15/8/2019.
74
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực trạng tảo hôn ở vùng dân tộc thiểu số huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai từ năm 2015 đến năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_thuc_trang_tao_hon_o_vung_dan_toc_thieu_so_huyen_ch.pdf

