Tinh thần nhân văn trong truyện ngắn Trúc Phương

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
TINH THẦN NHÂN VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN TRÚC PHƯƠNG  
Lê Thị Kim Lanh  
Thư viện, Trường Đại học Cửu Long  
Tác giả liên hệ: [email protected]  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 11/12/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 28/12/2020; Ngày duyệt đăng: 06/4/2021  
Tóm Tắt  
Trúc Phương là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Đồng bằng sông Cửu Long nói  
riêng và văn học Việt Nam nói chung. Sinh ra, lớn lên trên vùng đất Nam Bộ nghĩa tình, nhà văn từng  
cầm súng chiến đấu, nếm trải đủ mùi vị của bi kịch cuộc đời, chứng kiến cuộc sống con người với bao  
điều tốt xấu đan xen nhau từ chiến tranh cho đến lúc hòa bình. Bởi thế, tinh thần nhân văn trong ngắn  
truyện của ông hiện lên xuyên suốt, rõ nét. Từ nội dung đến nghệ thuật, truyện ngắn Trúc Phương chứa  
đựng những tình cảm vô cùng sâu sắc cùng hình ảnh con người với những mất mát, đau thương trong  
cuộc sống. Nhà văn thấu hiểu, cảm thông, xót xa cho số phận đau đớn của con người; mạnh dạn phơi  
bày thảm cảnh đời sống nhân dân với những bất bình; từ đó trân trọng và tôn vinh vẻ đẹp con người.  
Điều đọng lại sau khi đọc truyện ngắn Trúc Phương là sự chiêm nghiệm, tỉnh giác trong mỗi chúng  
ta. Với tinh thần phê phán để nhìn nhận và hoàn thiện, tác giả dựng lên một bức tranh với những con  
người tuyệt đẹp trước sự tàn nhẫn của xã hội bằng giọng điệu mạnh mẽ, táo bạo. Quan trọng ẩn chứa  
đằng sau đó là tinh thần nhân văn với sự bao dung, nhân ái, đầy cảm thông, chia sẻ khi nhìn nhận con  
người ở nhiều mặt của cuộc sống.  
Từ khóa: Tinh thần nhân văn, Trúc Phương, truyện ngắn Trúc Phương.  
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
HUMANISTIC SPIRIT IN TRUC PHUONG’S SHORT STORIES  
Le Thi Kim Lanh  
Library, MeKong University  
Corresponding author: leth[email protected]  
Article history  
Received: 11/12/2020; Received in revised from: 28/12/2020; Accepted: 06/4/2021  
Abstract  
Truc Phuong is one of the typical writers of Mekong Delta literature in particular and Viet Nam  
literature in general. Born and raised in the southern region of gratitude, he had joined the army, tasted  
all the tragedies of life, and witnessed human life of intertwined ups and downs during the war and in  
peace time. Accordingly, he has conditioned humanistic spirit in his short stories, consistently and clearly.  
Cognitively and artistically, Truc Phuong's short stories contain profound emotions and images of people  
with loss and pain in life. The writer understood, sympathized and pitied people of painful fate, boldly  
exposing the tragedy of people's lives with grievances; thereby, respecting and honoring the beauty of  
man. What remains after reading Truc Phuong's short stories is the contemplation and awareness in each  
of us. In the spirit of criticism for recognition and perfection, the writer portrayed perfect characters  
in the face of society's cruelty with a strong, bold tone. The tacit message is to convey the human spirit  
with tolerance, kindness, full of sympathy, sharing when human life is viewed in many differing aspects.  
Keywords: Humanistic spirit, Truc Phuong, Truc Phuong’s short stories.  
Trích dẫn: Lê Thị Kim Lanh. (2021). Tinh thần nhân văn trong truyện ngắn Trúc Phương. Tạp chí Khoa học Đại học  
Đồng Tháp, 10(4), 70-76.  
70  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 70-76  
1. Đặt vấn đề  
ngòi bút của nhà văn Trúc Phương phía sau sự  
Tinh thần nhân văn là một phần trong chủ  
nghĩa nhân văn (còn gọi là chủ nghĩa nhân đạo).  
Theo Lê Bá Hán và cs (1992, tr. 61) nhận định:  
“Ở cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân văn là  
toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, tình cảm quý  
trọng các giá trị của con người từ trí tuệ, tình cảm,  
phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp. Chủ nghĩa nhân văn  
không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần,  
mà còn bao hàm cả cách nhìn nhận, cách đánh  
giá con người từ nhiều mặt (Vị trí, vai trò, khả  
năng, bản chất,..) trong các mối quan hệ với tự  
nhiên, xã hội và đồng loại”. Bất kỳ một tác giả  
nào sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật đều bước  
qua quá trình chứng kiến, nếm trải rồi tích lũy  
dần vốn sống cho bản thân. Hơn ai hết họ thấu  
hiểu được những nỗi đau mà con người phải trải  
qua trong cuộc sống, bằng tình yêu thương giữa  
con người với nhau, nhà văn thấm thía từng mạch  
máu, đó cũng là động lực thúc đẩy nhà văn không  
ngừng sáng tạo nghệ thuật.  
Là một nhà văn tiêu biểu của nền văn học  
Đồng bằng sông Cửu Long, Trúc Phương sinh  
ra và lớn lên trọn vẹn trong cuộc kháng chiến  
chống Mỹ cứu nước. Truyện ngắn của ông được  
xây dựng trên cái nền của thời hiện đại. Nhà văn  
chủ yếu xoay quanh hai vấn đề lớn của văn học  
Việt Nam lúc bấy giờ là chiến tranh giải phóng  
dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nông  
thôn. Trúc Phương từng cầm súng chiến đấu, từng  
chứng kiến hết những đau thương, mất mát mà  
chiến tranh đem đến. Mặt khác, khi chiến tranh  
qua đi, nhà văn như một nhân chứng tiếp tục  
chứng kiến cảnh xã hội buổi giao thời với đầy  
những bất công chèn ép con người đến ngạt thở  
mà quặng thắt lòng. Bắt nguồn từ tư tưởng chủ  
đạo của văn học là lấy con người làm trung tâm,  
tác giả chủ đích cho sự hoàn thiện từ tư tưởng và  
nghệ thuật trong sáng tạo văn chương, chống lại  
mọi biểu hiện phản nhân văn nhằm hạ thấp hay  
chà đạp con người, ông đề cao và nhìn nhận vẻ  
đẹp của con người từ những điều thật nhất trong  
cuộc sống.  
táo bạo trong cách miêu tả, đôi khi thẳng thắn,  
hiển ngôn; đôi khi chỉ thông qua những hình  
tượng nghệ thuật đầy ẩn ý, chúng toát lên một  
tinh thần nhân văn sâu sắc. Nhà văn chia sẻ, cảm  
thông trước những mất mát lớn của cuộc đời con  
người, với ý nghĩa đó, tư tưởng nhân văn trong  
sáng tác của Trúc Phương là giá trị tồn tại vĩnh  
cửu trước sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian.  
2. Tính nhân văn sâu sắc trong truyện  
ngắn Trúc Phương  
2.1. Thấu hiểu, cảm thông, xót xa cho số  
phận đau đớn của con người  
Quá trình sáng tạo là một quá trình đầy gian  
khổ và quang vinh, đòi hỏi mỗi nhà văn phải dốc  
hết tâm huyết, mồ hôi, nước mắt, thậm chí là máu  
để có được sự giao cảm với đời; mở hết lòng mình  
để cảm nhận và nghe nguyện vọng của đời, từ  
đó mới dần hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật  
chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Cuộc sống nghiệt ngã  
đưa con người vào những hoàn cảnh éo le, bắt  
buộc họ phải đối diện và sống với chúng bằng  
thước đo xã hội; không cho phép họ làm theo ý  
mình và họ càng bất lực hơn khi nghĩ rằng xã hội  
sẽ hiểu và cảm thông cho những khát khao nhỏ  
nhoi họ đã phải khóc cười trước cuộc sống. Nhà  
văn Trúc Phương thấu hiểu và không còn xa lạ gì  
với khao khát ấy của con người nữa. Mỗi trang  
văn của tác giả là mỗi số phận khác nhau phơi  
bày ra trước mắt người đọc, mỗi số phận là một  
tiếng kêu đau thương cho một kiếp người, tác giả  
bày tỏ lòng mình trước thực tế, thay nhân dân lên  
tiếng trước những bất bình đang tồn tại, nó kiên  
quyết, mạnh mẽ, ám ảnh và day dẳng khôn nguôi.  
Chiến tranh qua đi, thần chết ngủ quên nên  
chỉ giữ lại một phần người của những anh lính  
thương binh hạng 1 như Trường, theo nhà văn  
Trúc Phương (2019, tr. 8) có nói: “Anh bị tháo  
khớp một cánh tay, hư một mắt nhưng vẫn còn  
tròng, với một mảnh đạn nằm trong phổi cùng vài  
chục vết sâu cạn khắp cơ thể còn đục ngầu chiến  
tranh. Suýt nữa đã thành thương binh hạng đặc  
biệt”. Trong Giai điệu trắng, tác giả đã thể hiện  
sự nhức nhối của chiến tranh, nó trực tiếp cướp đi  
quyền sống và rồi cũng gián tiếp cướp đi quyền  
Trên tinh thần phản ánh để hoàn thiện, mạnh  
dạn nhìn nhận con người trước đời sống thực tế,  
71  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
được yêu của một con người. Trở về với cuộc gái làm cỏ mướn năm nào lại rơi vào con đường  
sống thời hậu chiến, anh thương binh với hình tội lỗi, nhuốc nhơ. Khoan hãy nhận xét hay đánh  
hài không trọn vẹn, yêu thầm một cô gái bên kia giá nhân phẩm con người ấy bởi đằng sau đó là  
khung cửa sổ có cây anh đào rụng lá cuối mùa một sự hi sinh đáng được trân trọng, một nghĩa  
đông trong sự mặc cảm, nuối tiếc.  
cử đáng thương hơn đáng trách. Tác giả Trúc  
Hiểu được tình cảm của anh thương binh, sự Phương (2019, tr. 57) nghẹn ngào thốt lên: “Cô  
đồng điệu của những con người cô đơn, không gái đầu quăn đang nghiêng ngả bước về phía túp  
tự làm chủ và quyết định được hạnh phúc cho lều dột rách và chiếc quan tài treo trên cây của  
mình, tận sâu trong lòng cô gái cũng có cái ước người mẹ bạc mệnh. Cô gái sụm xuống bên bóng  
muốn nhỏ nhoi giống Trường, cô gái đáp lại lòng nến tàn cùng chút khói hương… Má ơi, con về  
anh bằng những nụ cười buồn và cái nhìn thánh rồi nè…! Sao Má không đợi con…? Con đi làm  
thiện. Hai con người chỉ có tình yêu thầm kính lấy tiền về mua thuốc cho má uống…”. Truyền  
dành cho nhau đành bất lực, với “lỗ khuyết” trên thống nhân văn của ông cha ta ngàn xưa quan  
cơ thể chứa đầy tự hào của một thời oanh liệt và niệm: “Đánh kẻ chạy đi ai đánh người chạy lại”.  
tình yêu của anh chưa bao giờ là thiếu. Còn gì đau Thật đau đớn khi xã hội tàn nhẫn phán xét và kỳ  
đớn hơn khi vì nghèo, vì một cơ thể không trọn thị Ba Rảnh “Ả là một cô gái giang hồ lấy trôn  
vẹn, anh đành đau đớn, nghẹn ngào xếp chút tình nuôi miệng,...”. Chính điều đó đã giết chết cuộc  
cảm nhỏ nhoi vào trái tim, nhìn tiếng pháo vu quy đời cô đến tận khi cô đã hoàn lương và không hề  
mang cô gái đi xa, làm vợ một chủ trường gà để mắc bệnh si đa, điều đó cũng gián tiếp giết chết  
gạt đi món nợ cho gia đình. Ở đây nhà văn Trúc hình ảnh một Cô Tiên cùng tình yêu đơn sơ, tinh  
Phương với cái nhìn đầy tính nhân văn đã thật sự khiết trong lòng Thằng Câm tội nghiệp.  
thấu hiểu tâm hồn con người. Tình yêu đâu phân  
Một khía cạnh khác trong Hoa Lan Nho  
biệt giàu nghèo, nguyên vẹn mà đó phải là sự trọn trắng, xã hội lên án bà Phụng khi không giữ  
vẹn, đồng điệu từ hai tâm hồn mới mong mang vẹn đạo vợ chồng, lăng loàn, trắc nết, nhưng ít  
lại hạnh phúc, họ vẫn có quyền được yêu, được ai hiểu và thấy được sự khao khát hạnh phúc vợ  
hạnh phúc như bao người khác. Chúng ta phải chồng thật sự của người phụ nữ này. Sống trong  
trân trọng, mang ơn những gì hiện tại họ đã gánh sự giàu sang nhưng người chồng gia trưởng, độc  
vác, chịu đựng, giống như nhà văn Trúc Phương đoán, lạnh lùng đã không đem lại cho bà được  
(2019, tr. 13) có nói: “Chiến tranh mà. Bọn tôi hạnh phúc của một gia đình đúng nghĩa. Bởi thế,  
có muốn mình thành thương binh đâu, thường bằng bản năng tự nhiên, trước một người đàn ông  
chúng tôi chọn cái chết. Nhưng rồi cái chết ăn phong độ, tình tứ, bà Phụng đã bứt phá ra khỏi rào  
không hết, nó chừa lại nham nhở như vầy…”.  
cản của hai tiếng gia đình. Trong tình cảnh này,  
Tác giả như nhân chứng cho buổi giao thời lời người mẹ cũng là lời của nhà văn Trúc Phương  
giữa cảnh chiến tranh và hòa bình, ông từng nếm (2019, tr. 170) quan niệm: “Phải biết nhẫn nhục  
trải và chứng kiến tất cả. Nhà văn cảm thông con à. Đối với người phụ nữ, hạnh phúc là nên  
trước những con người nghèo khổ với nhau, xót giữ cái mình đã được chứ không chăm chăm vào  
xa cho những mảnh đời không mấy may mắn. cái sẽ được để bắt bóng, bỏ hình”. Triết lí này  
Trong mỗi sáng tác, nhà văn đều dành thiện cảm không sai nhưng trong hoàn cảnh thực tại của bà  
cho con người, dành cho họ cái nhìn hết sức nhân Phụng thì nó chưa được xem là đúng. Với người  
đạo dù là khi họ từng có lối sống sai lầm như cô phụ nữ, sẽ thật sự hạnh phúc khi có được người  
Ba Rảnh trong Lũ muộn mùa. Xã hội vội vàng chồng biết tôn trọng, yêu thương, chia sẻ. cảm  
cùng những con người phiến diện đã phán xét thông với bà Phụng, Trúc Phương (2019, tr. 175)  
nhân phẩm và chà đạp lên một tấm lòng hiếu lên tiếng: “Bà Phụng vẫn không đủ nghị lực để  
thảo như Ba Rảnh khi chỉ nhìn cô từ một góc gìn giữ sự cao đạo và lòng tự trọng cổ kính hằng  
cạnh. Cô đau đớn biết dường nào khi từ một cô có trong mình. Sự mềm yếu đáng yêu hơn đáng  
72  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 70-76  
trách ở người phụ nữ mà trong đời ai cũng có tới con người nhiều hơn, nâng đỡ tâm hồn và đưa  
đôi lần trải qua,…bà Phụng đã chiến thắng lí trí họ trở về với những chuẩn mực thiện mĩ. Từ sau  
nghiêm ngặt, hà khắc trong con người bà. Và… phương châm “nhìn thẳng vào sự thật” của Đại  
điều đó đã xảy ra sau cái hôn nồng nã, cuồng si hội Đảng lần VI, năm 1986 vạch ra, văn học đã  
và ngây dại của người đàn bà lâu lắm rồi không vào cuộc đào sâu hiện thực cuộc sống và phản  
nhận được cái hôn nào từ những đêm chăn gối ánh vì con người hơn. Kế thừa và phát huy truyền  
hững hờ nhợt nhạt của một kẻ khác giống đã thống yêu nước và nhân văn của văn học dân tộc,  
lạnh lòng”.  
truyện ngắn Trúc Phương ra đời khá thành công  
Qua ngòi bút của nhà văn Trúc Phương, ta khi những hồi ức về chiến tranh, về thời kỳ đất  
thấy tác giả nhìn đời, nhìn người với toàn bộ tình nước vừa thoát khỏi chiến tranh, tình hình kinh  
yêu thương, sự xót xa, đồng thời bày tỏ nỗi đau tế - xã hội gặp không ít khó khăn vì nền kinh tế  
đớn trước những thân phận kém may mắn trong lạc hậu, chế độ bao cấp của buổi đầu xây dựng  
cuộc đời, ông nhìn họ dưới cái nhìn thánh thiện, chủ nghĩa xã hội. Thảm cảnh đời sống con người  
bao dung của tình người trong một con người, tự với cuộc sống hiện tại được nhà văn phơi bày khá  
ý thức, tự đồng cảm, làm cho con người thêm gần rõ. Cảnh đau thương, mất mát, cảnh khốn khổ  
nhau hơn. Với tinh thần ấy người đọc tìm đến tác của tầng lớp nhân dân bị áp bức dưới tay những  
phẩm của ông với nhiều mục đích, nhưng cao cả tên “Quan cách mạng”. Đảng không chỉ đạo sai,  
hơn là để thanh lọc tâm hồn, để tâm hồn mình trở sai chăng do ở trình độ còn yếu kém; tư tưởng cổ  
nên thánh thiện, trong sạch đến nhân từ.  
2.2. Mạnh dạn phơi bày đời sống nhân chưa được đầy đủ, và rồi khi thực thi nhiệm vụ  
dân với những bất bình Đảng giao phó một cách cứng nhắc, giáo điều,  
hủ nên nhận thức của một số người cầm quyền  
Sau chiến tranh, vấn đề quản lí kinh tế - xã làm khổ nhân dân, ít nhiều làm mất niềm tin của  
hội trong thời bình có nhiều điều đáng quan tâm. nhân dân đối với Đảng.  
Chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận bằng những  
Thành công trong việc khắc họa hình tượng  
năm đầu sau chiến tranh với nhiều nguyên nhân nhân vật anh Hai trong Chứng từ gốc, nhà văn  
khách quan lẫn chủ quan. Bên cạnh những thành Trúc Phương đã phơi bày, vạch trần một sự thật  
tựu đạt được, trong công cuộc xây dựng đất não nùng đến tệ hại. Nhân vật anh Hai - một  
nước, chúng ta cũng còn tồn tại nhiều thiếu sót, Trưởng ban Kinh tài Thị xã, lĩnh hội và thực  
hạn chế trong cơ chế tổ chức quản lí điều hành; hiện tinh thần cách mạng một cách “triệt để”, lấy  
trong nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa quan niệm lạc hậu, bảo thủ của mình để làm tiêu  
vẫn còn sự ấu trĩ, non nớt, gây nên sự bất bình chí thực hiện những mẫu mực truyền thống.Anh  
trong lòng người. Sự xuất hiện của nền kinh tế mang tư tưởng ấy từ cơ quan về đến gia đình,  
thị trường cũng như cuộc đấu tranh gay gắt giữa bắt gia đình một làm theo cách mạng, hai làm  
hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ theo cách mạng một cách vô tội vạ. Bởi vậy, sợ  
nghĩa đang đẩy tới sự phân cực giữa đạo đức và ảnh hưởng uy tín con trai, bà mẹ lén lút đưa cái  
phi đạo đức; nhân cách và phi nhân cách; thiện cối xay bột xuống ao giấu, mấy đứa em muốn  
và ác; ánh sáng và bóng tối,… Xã hội lúc này ăn bánh xèo phải lén mò cối đem lên, mang vô  
trở nên phức tạp hơn, con người đang phải đối buồng, đóng cửa, phân công một người gác chừng  
mặt với những “căn bệnh” nguy hại, đó là nguy anh Hai và cha để xay bột làm bánh. Cũng từ cái  
cơ của sự băng hoại các giá trị chuẩn mực, đạo bữa ăn bánh xèo “phạm pháp” ấy mà bảy đứa em  
đức truyền thống trước sức mạnh đồng tiền; nhân gái trong nhà bắt đầu nghi ngờ cái “chân lý cách  
cách và bản lĩnh của mỗi con người trong xã hội mạng” quái gở của nhân vật anh Hai. Nhà văn  
đang đứng trước thử thách lớn. Hơn lúc nào hết, Trúc Phương (2019, tr. 143) đã ghi nhận phát  
nhà văn Trúc Phương cũng như các nhà văn khác, biểu thẳng thừng của người anh Hai: “Tại sao ta  
với thiên chức của mình, văn học cần phải hướng cứ nuông chiều thói quen ăn bánh, ăn quà của  
73  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
người Việt Nam? Hơn lúc nào hết, nước ta đang hôn vào trán Câm với tất cả sự mang ơn. Trúc  
thiếu lương thực trầm trọng. Mà bánh, cả hủ tíu Phương (2019, tr. 50) bức xúc vì chuyện chỉ có  
lẫn phở cùng các loại bánh khác thì hàng ngày thế mà: “Soạt! An ninh ấp, dân quân ào tới lập  
tự nó đã làm vơi đi, mất đi bao nhiêu tấn lương biên bản, bắt 2 người ký tên phía dưới. Mới ở  
thực”. Trước “tinh thần cách mạng triệt để” của trại về lại giở trò bán dâm. Chứng nào tật nấy.  
nhân vật anh Hai, tác giả bày tỏ thái độ bức bối, Ngựa quen đường cũ… Hừ!. Tệ nạn! Trói đầu nó  
ngột ngạt khi nhìn mấy đứa nhỏ cắt tháo hết các lại gởi đi cải tạo tiếp. Có tiền nữa đây: 250 ngàn  
chiếc áo dài, áo kiểu để chữa lại thành áo bà ba một lần bán. Chứng cứ rành rành. Lôi nó đi”.  
cho hợp với phong trào quét sạch cái cũ, cái xấu Phải đến khi anh cán bộ an ninh ấp cầm cây viết  
có liên hệ máu thịt với chế độ cũ đã tồn tại suốt nhét vào tay, rồi cầm nguyên bàn tay của Câm  
trăm năm qua, thậm chí guốc cao gót phải đem vẽ hình chữ thập Câm mới mường tượng ra một  
đi chụm lửa, quần áo không cần ủi nữa để cho nó cách mơ hồ tội lỗi của mình: Tội ôm phụ nữ và  
có vẻ cần lao, giai cấp,… Một sự cứng nhắc, giáo để phụ nữ hôn. Sự ấu trĩ của người cán bộ, đại  
điều trước thời kỳ đổi mới, không có sự hòa nhập, diện luật pháp đã vô tình đẩy con người rơi vào  
thay đổi đã bóp con người ta đến ngạt thở, Trúc bi kịch, cướp mất chút hạnh phúc còn xót lại của  
Phương (2019, tr. 144) xót xa: “Nhìn tóc chúng những người kém may mắn trong cuộc sống như  
nó cháy, mặt mày đầy mụn trứng cá, cả năm trời Câm và Ba Rảnh.  
không một bận thoa kem lên mặt hay một chút  
Ngay từ đầu, nhiều nhà văn đã xác định hiện  
son phấn vào má môi cho xinh con gái, tôi thấy thực cần phơi bày đó chính là đời sống quá nhiều  
buồn như mối cắn trong lòng”. Phải chi anh Hai khốn khổ của tầng lớp nhân dân lao động, đặc biệt  
trung trực, nghiêm trang thực thi theo đường lối là nông dân lao động nghèo. Trên tinh thần phê  
Đảng còn hay, đằng này vị Trưởng ban Kinh tài phán để hoàn thiện, nhà văn mạnh dạn lên tiếng  
Thị xã này là một người hèn nhát, không trình trước chính sách thống trị của nhà cầm quyền,  
độ, không vốn sống lên chức Trưởng ty Tài chính đại diện luật pháp trong công cuộc xây dựng đất  
khi tốt nghiệp khóa cấp tốc trở về từ Nga, một vị nước, sự phân cực sâu sắc giàu nghèo trong xã hội  
“Quan cách mạng” trung thành với sự ấu trĩ, cơ đã làm cho đa số đời sống người dân vốn nghèo  
hội, mượn uy danh chiếm đoạt 127 lượng vàng khó lại càng thêm khốn khổ. Đó cũng là vấn đề  
của người dân bằng một tờ giấy viết tay rồi móc cần được nhìn nhận và chấn chỉnh kịp thời để phát  
súng ra dọa bắt bỏ tù người dân vì tội man trá. triển đất nước tốt hơn. Tinh thần nhân văn sâu sắc  
Với bản tính xấu xa, họ đội lớp áo cách mạng để toát lên trên chính những sự phê phán, nhân vật  
trục lợi cá nhân, lấy quyền lực áp bức người dân. mà ông khắc họa là những con người, đơn vị, tổ  
Một khía cạnh khác trong Lũ muộn mùa, chức mang nét riêng đặc biệt. Họ là những người  
hình ảnh các anh an ninh ấp, dân quân chỉ xuất nắm cương vị quan trọng, gánh vác trọng trách  
hiện mờ nhạt, thoáng qua nhưng lại để lại ấn của Đảng và Nhà nước, của đoàn thể, song lại  
tượng vô cùng mạnh, họ là cội nguồn cho bi kịch kém năng lực, kém phẩm chất của người cán bộ.  
cuộc đời hai nhân vật đáng thương là Thằng Câm Các nhân vật quản lí tiêu cực ấy được đặt nhầm  
và Ba Rảnh. Cảm thương cho thân phận Ba Rảnh chỗ và ngồi sai vị trí, bởi vậy họ trở thành sự ám  
phải bôn ba kiếm tiền thang thuốc cho mẹ, Thằng ảnh, rụt rè, ngờ vực trước đường lối lãnh đạo của  
Câm như đồng cảm được với thân phận nghèo Đảng mà chính những con người với trạng thái  
khổ, cô đơn của hai con người với ngôi nhà đang tư duy thô sơ, võ đoán mới là người thực thi sai  
run rẩy, lắc lư trong mưa và tiếng gầm rít của gió. lệch đường lối của Đảng và bản chất xấu xa của  
Vừa kiếm được 250 ngàn, Câm chạy ù tới nhà Ba họ trở thành mối họa cho sự phát triển của đất  
Rảnh, chậm rãi nhét vào túi Ba Rảnh thay cho sự nước ở hiện tại, thậm chí cả ở tương lai.  
chia sẻ của anh, Ba Rảnh mắt rươm rướm vì cảm  
động, không biết làm thế nào, cô vội ngước lên  
2.3. Trân trọng, tôn vinh vẻ đẹp con người  
Văn học nghệ thuật mang nội dung, giá trị  
74  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 70-76  
nhân văn từ trong bản chất. Một nền văn học được quang không lẫn vào đâu được. Có những đều  
xem là nhân văn khi nó biết quan tâm đến con tuy nhỏ nhoi, bình dị nhưng khi trong hoàn cảnh  
người, đến giá trị của con người. Maxim Gorki thì thật khó để nhấn chìm cái tầm thường, xấu xa  
từng nói “Văn học là nhân học” hay Nguyễn để đứng nghiêng về sự thuần khiết, trong sáng.  
Minh Châu phát biểu trong buổi phỏng vấn đầu  
Trong tác phẩm Thằng ngốc, nhân vật Vân  
xuân trên Báo Văn nghệ năm 1986 “Cuộc đời ngốc thật nhưng suy cho cùng lại chẳng ngốc tí  
và nghệ thuật là hai vòng tròn đồng tâm mà nào. Anh đấu tranh tư tưởng khá gay gắt mới có  
tâm điểm chính là con người”. Thực tế cho thấy thể chiến thắng được sự đểu giả của mình mà cho  
đối tượng nghiên cứu của văn học chính là con Hạnh - bạn học cũ của mình cũng người tình là  
người, những con người với mọi khía cạnh tốt Thâu, xin tá túc chờ mua vé tàu về Bắc. Hoàn  
xấu đan xen, muôn hình vạn trạng trong xã hội. cảnh bị bắt phải làm thằng ngốc, Vân đã thực hiện  
Đã là con người thì không ai là hoàn thiện, họ sứ mệnh thiêng liêng ấy đúng như một thằng ngốc  
hành động tùy vào nhận thức của chính bản thân, thật sự. Thằng bạn trời đánh đã phó mặc số phận  
với người khác có thể họ làm thế là sai, là chưa “Bồ nhí” của mình cho Vân suốt mấy ngày liền.  
đúng nhưng với nhà văn Trúc Phương, ông trân Trước một cơ thể bộn bề da thịt đang lồ lộ trong  
trọng, bày tỏ sự tôn vinh vẻ đẹp ngoại hình, nhất lớp áo ngủ mỏng như tờ giấy quyến, đang đắp  
là người phụ nữ; nét đẹp của tài năng và vẻ đẹp lên thân hình rực lửa của một người đàn bà từng  
tâm hồn trong mỗi con người. Trong tác phẩm là hoa khôi hương sắc một thời của xứ kinh đô  
Chiều quê, vẻ đẹp tâm hồn thể hiện rõ nét qua ngàn năm văn hiến. Trong cái “chuồng heo cải  
hình ảnh Lựu - cô con gái còn trinh, lấy chồng tiến” của mình, đứng trước tình bạn “vĩ đại” với  
theo lời đính ước của hai gia đình, đôi môi còn Thâu cùng lòng thương cho người bạn học cũ,  
đỏ mộng trở thành thiếu phụ khi chưa qua mười thương cho vị “Thần vệ nữ” giấu kín trong lòng  
bảy tuổi; mẹ Lựu ở vậy nuôi con khi chồng hy bấy lâu nay, phải lặn lội từ Bắc vào thăm người  
sinh sau đêm tân hôn 1 tháng; thương nhất là bà tình đã có vợ, rồi bị bỏ bơ vơ, Vân nao lòng đến  
nội, khóc gần như mù cả hai mắt, lần lượt ôm nỗi chua xót. Bản năng thằng đàn ông của anh thụt  
đau mất chồng, mất con trai, con dâu và thằng đâu mất dạng, anh tự chui vào và tự gói kín mình  
cháu nội duy nhất. Không đơn thuần nỗi đau và lại như gói một cái xác. Từng thất bại trước tình  
vẻ đẹp đó là của cá nhân, hơn thế nữa, đó là nỗi yêu, bị phản bội một cách tàn nhẫn, sự đồng cảm  
đau và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong của hai con người cùng cảnh ngộ khiến Vân càng  
thời chiến. Nhà văn Trúc Phương (2019, tr. 45) thương Hạnh hơn, cái tình yêu đúng hơn là cái  
nghẹn ngào: “Ba người phụ nữ sở hữu cho mình tình người với số phận đen đủi giống nhau chỉ  
hơn 100 năm góa bụa. Với hàng triệu, hàng triệu khác nhau ở ngoại hình. Hạnh là hoa khôi xinh  
người đàn ông phải ngã xuống trong hai cuộc đẹp một thời, còn Vân, một đứa gần như tự kỷ,  
chiến tranh kéo dài 30 năm, thử hỏi có ai tính sống khép kín trước định kiến “không chơi với  
giùm tổng số năm góa bụa hay nỗi cô đơn, sự thằng lé, không ghé với thằng lùn”. Tuy vẻ bề  
bất hạnh mà những người phụ nữ Việt Nam phải ngoài xấu trai, bị mọi người kỳ thị nhưng Vân đã  
nhận chịu là bao nhiêu không? Một lũy thừa chất sống với tất cả vẻ đẹp tâm hồn mình, có trình độ  
ngất, một đại dương mênh mông trong số kiếp nhưng anh không muốn bon chen ở nơi không  
con người mà vinh quang không thể đắp trừ”. Ai dành cho mình. Anh bị cuộc đời răn dạy vì dốt  
có thể thấu hết nỗi đau mà một con người bình phương pháp sư phạm mà ham làm thầy, không  
thường phải chịu đựng, tận sâu trong lòng họ là dạy theo giáo trình, lại dạy theo cách riêng của  
một vẻ đẹp sáng trong, một vẻ đẹp toát lên từ mình, làm tổn thương cung cách trường quy xã  
vinh quang của đất nước. Vẻ đẹp con người là hội chủ nghĩa, gây ảnh hưởng xấu lên môi trường  
mãi mãi, dù ở nơi đâu hay trong hoàn cảnh nào thì đại học, vì thế anh buộc phải chọn cách chuồn  
vẻ đẹp ấy vẫn chói ngời như một viên ngọc phát khỏi cái nơi tương đối cao sang, oai quyền ở một  
75  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
trường đại học để nhận lấy nhiệm vụ Tổ trưởng  
tổ bảo vệ; dù biết là không tốt nhưng trước tương  
lai thăng tiến của thằng bạn thân anh phải đóng  
vai người xấu; cư xử vẹn nghĩa khi chấp nhận  
nhường “biệt thự” cho người tình của bạn, bán  
luôn cái khung xe đạp, cái quạt để bàn, bán chiếc  
đồng hồ đeo tay, đồng hồ để bàn và bán cả vật kỷ  
niệm cuối cùng là hai chiếc nhẫn để dành cho tôi  
lấy vợ từ bà chị dâu góa bụa, mượn nợ, thuế chấp  
chứng minh thư,… mà đầu tư vào “Quỹ hào hiệp”  
và “Quỹ sáng tác” cho bạn mình. Điều quan trọng  
là Vân quyết định không buông trôi theo cái thị  
trường vô đạo đức về học vị, học hàm lúc bấy  
giờ, nghèo thì cạp đất mà ăn chứ không bán linh  
hồn cho quỷ dữ, tiếp tay viết luận văn thuê cho  
bọn quan muốn che lấp cái sự đần độn, ngu dốt  
để được thăng quan, tiến chức, ngồi trên đầu trên  
cổ dân để cai trị muôn đời. Tất cả vẻ đẹp trong  
con người Vân, trừ ngoại hình, được nhà văn  
miêu tả chi tiết, trong sáng và vô cùng đẹp, đó là  
hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn một người bình  
thường mà khó có người nào làm được như Vân.  
Trúc Phương đã đưa con người vào văn học  
với tất cả vẻ đẹp vốn có, từ ngoại hình, năng khiếu  
cho đến tâm hồn, nó bắt nguồn từ tính nhân văn  
trong tư tưởng và trong sáng tác của mình. Vấn  
đề quan trọng là cách nhìn con người của ông với  
những góc độ hết sức nhân văn cả khi họ đang  
nghiêng về cái xấu, ông muốn giúp chủ thể nhận  
thức và sửa điều chỉnh cái chưa đúng theo chuẩn  
mực của xã hội.  
phương diện xã hội. Tác giả đã xây dựng hình  
tượng con người với nhiều tính cách, đó là con  
người đạo đức, con người chính trị, con người  
tâm trạng, con người hành động,… Ông phản ánh  
con người với nhiều khía cạnh vừa chủ quan vừa  
khách quan. Cái xu thế tất yếu của xã hội thời kỳ  
kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực,  
cũng bộc lộ những mặt tiêu cực, hạn chế của nó.  
Văn học với sự nhạy cảm đã phát biểu một cách  
nghệ thuật cái hiện thực ấy, ở cả phần đẹp đẽ  
lẫn xấu xí. Với cái nhìn nhân đạo, nhà văn Trúc  
Phương một mặt phản ánh, lên án cái xấu hay  
cái chưa tốt; mặt khác ông cũng nhìn con người  
bằng tất cả sự cảm thông, đầy yêu thương, trân  
trọng. Bởi trong ông, quan niệm về con người  
không bao giờ là hoàn hảo, chúng hiện lên với  
tất cả các mặt tốt và xấu mà thực thể một “con  
người” định sẵn phải có. Tác giả đã mạnh dạn  
phơi bày, chỉ ra cái được và cái chưa hoàn thiện  
trong bản thân, tập thể, tổ chức,… nhằm phát huy  
hoặc có sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Tất  
cả những điều đó đã tạo nên giá trị nhân văn sâu  
sắc trong truyện ngắn nói riêng và trong chính  
sáng tác của nhà văn Trúc Phương nói chung./.  
Tài liệu tham khảo  
Hà Minh Đức (Chủ biên). (1995). Lí luận văn  
học. Hà Nội: NXB Giáo dục.  
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi  
(Đồng chủ biên). (1992). Từ điển thuật ngữ  
văn học. Hà Nội: NXB Giáo dục.  
3. Kết luận  
Nguyễn Phạm Hùng. (2001). Văn học Việt Nam  
từ thế kỷ X đến thế kỷ XX. Hà Nội: NXB Đại  
học Quốc gia.  
Xã hội nào thì văn học ấy. Giai đoạn sau  
1975, đặc biệt từ những năm 80 trở đi, nhiều nhà  
văn đã có hướng chuyển biến mới trên phương  
diện đề tài và cảm hứng sáng tác cho mình, tính  
dân chủ của văn học đang được đề cao. Có thể  
nói, trên cương vị là một người nhân đạo với tinh  
thần nhân văn sâu sắc, nhà văn Trúc Phương đã  
dành hết sự yêu thương để soi chiếu lòng người,  
sẵn sàng đối đầu và hy sinh trước những thế lực  
đen tối muốn chà đạp quyền sống của một con  
người chân chính. Trúc Phương đã thực hiện  
đúng chức năng của một nhà văn là quan tâm  
con người trên nhiều phương diện, trong đó có  
Phan Cự Đệ. (2007). Văn học Việt Nam thế kỷ  
XX. Hà Nội: NXB Giáo dục.  
Phạm Thanh Hùng. (2012). Truyện ngắn trong  
dòng văn học yêu nước đô thị Miền Nam  
giai đoạn 1954-1965. Cần Thơ: Chi nhánh  
NXB Giáo dục.  
Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam,  
Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa và Thành Thế  
Thái Bình. (2004). Lí luận văn học. Hà Nội:  
NXB Giáo dục.  
76  
pdf 7 trang baolam 19260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tinh thần nhân văn trong truyện ngắn Trúc Phương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_than_nhan_van_trong_truyen_ngan_truc_phuong.pdf