Dạy ngoại ngữ trong thời kỳ hội nhập 4.0

KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
TEACHING FOREIGN LANGUAGES  
IN THE 4.0 INTEGRATION PERIOD  
Phan Thi Tinha  
Le Chi Hieub  
Nguyen Thi Thu Hongc  
a University of Languages & International Studies, Vietnam National University, Hanoi  
b Hanoi University of Industry  
c Thuong Mai University  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
14/9/2021  
21/9/2021  
24/9/2021  
26/9/2021  
30/9/2021  
e are living in the period of integration with the stormy development of the 4.0 Technology  
W
Revolution. This situation has opened up countless new methods and channels for foreign  
language teaching. The learner, the social agent of the language, can take time to meditate before posting  
a message, or engage in online collaborative work that includes stages of control and feedback on extreme  
efficient actions. In this situation, foreign language teaching can be integrated with the use of digital  
technology into face-to-face, combined, or online training forms.  
Keywords: Integration; Language teaching; Technology Revolution 4.0; Face-to-face; Combined or  
online training.  
1. Đặt vấn đề  
ngoại ngữ trong điều kiện hiện tại.  
Ngôn ngữ là yếu tố không thể tách rời khỏi cộng  
đồng sử dụng nó. Ngôn ngữ là trung tâm của các  
vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa và bản sắc  
của cộng đồng. Do vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa  
và hội nhập hiện nay, đã có nhiều cuộc hội thảo, bài  
báo trong nước cũng như quốc tế bàn về tác động  
của toàn cầu hóa đối với việc dạy và học ngoại ngữ.  
Tuy nhiên, việc bàn thêm về vấn đề này trong bối  
cảnh phát triển toàn cầu hóa hiện nay là thực sự cần  
thiết. Bài viết sẽ tập trung nghiên cứu cách thức dạy  
ngoại ngữ trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0  
ở nước ta hiện nay.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Nhiều nhà giáo và chuyên gia giáo dục khuyến  
nghị giúp người học chủ động và kiểm soát việc học  
của mình. Kiến thức và kỹ năng ngôn ngữ có được  
trong quá trình học tập sẽ giúp họ có thể thực hiện  
các hành động xã hội trong cuộc sống thực. Vì thế,  
quan điểm Định hướng Hành động dựa trên Khung  
Tham chiếu Chung Châu Âu về Ngôn ngữ (CECR)  
là có lợi để đạt được mục tiêu này, vì cách tiếp cận  
của nó dựa trên nhiệm vụ và phương pháp sư phạm  
của dự án cho phép phát triển kỹ năng bằng cách  
thực hiện các nhiệm vụ trong lớp.  
Mục tiêu của bài viết này là tìm kiếm và khẳng  
định lại phương thức dạy ngoại ngữ phù hợp trong  
các trường đại học nhằm đáp ứng với yêu cầu hội  
nhập của Việt Nam. Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến  
lý do và đề xuất một số ứng dụng trong giảng dạy  
Theo Khung Tham chiếu Chung Châu Âu về  
Ngôn ngữ “Quan điểm định hướng hành động coi  
người học ngôn ngữ là các tác nhân xã hội phải  
hoàn thành các nhiệm vụ (không chỉ là ngôn ngữ)  
trong những hoàn cảnh và môi trường nhất định,  
Volume 10, Issue 3  
67  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
trong một lĩnh vực hành động cụ thể. Nếu các hành tiếp tham gia hay không vào quá trình giảng dạy  
động lời nói diễn ra đồng thời với các hành động ngoại ngữ ? Vai trò của người học, người dạy và các  
ngôn ngữ, thì bản thân chúng là một phần của các tổ chức trong bối cảnh hội nhập là gì?  
hành động trong bối cảnh xã hội mà chỉ riêng chúng  
đã mang lại ý nghĩa đầy đủ của chúng” (CECR,  
2001, tr.15).  
Tóm lại, hoạt động dạy-học ngoại ngữ trong thời  
kỳ hội nhập đặt ra nhiều thách thức và cần những  
giải pháp phù hợp với thời kỳ phát triển của cuộc  
cách mạng công nghiệp đang phát triển như vũ bão.  
Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tác giả tập  
trung trả lời hai câu hỏi như: Các lý do phải thay đổi  
cách dạy và học ngoại ngữ là gì? Thay đổi như thế  
nào? Vì thế, trong bài viết, tác giả dùng các phương  
pháp phân tích, so sánh và tổng hợp để làm sáng tỏ  
vấn đề cần nghiên cứu.  
Từ định nghĩa này, chúng ta hiểu rằng quan  
điểm hành động, chủ yếu dựa trên tiến trình học tập  
dưới dạng các nhiệm vụ phải thực hiện, được tách  
ra khỏi phương pháp giao tiếp. Chúng ta chuyển từ  
người học ngôn ngữ sang người sử dụng và tác nhân  
xã hội, người sử dụng ngôn ngữ để cùng hành động  
trong cuộc sống thực. “Quan điểm định hướng hành  
động lặp lại mối quan tâm của các quốc gia trong  
việc đào tạo các thành phần xã hội: những người có  
khả năng làm việc cộng tác trong các dự án dài hạn  
với các đối tác nước ngoài” (Thibert, 2010, tr.1).  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Một số đặc điểm của thời kỳ Cách mạng  
công nghiệp 4.0  
Nói về “thời kỳ hội nhập trong cao trào của cuộc  
Các mạng công nghiệp 4.0 (CMCN) cũng có nghĩa  
là làm nổi bật tác động của công nghệ kỹ thuật số  
đối với việc dạy-học ngoại ngữ tại thời điểm chúng  
đang phát triển với tốc độ của các cuộc cách mạng  
công nghệ. Sự giao lưu của con người diễn ra trong  
dòng chảy của thông tin và liên lạc ngày càng nhanh  
chóng, mãnh liệt và phức tạp. Bằng cách đưa hàng  
tỷ người dùng Internet trên khắp thế giới tiếp xúc  
với nhau, Internet và các mạng xã hội được tạo ra  
đang giúp phá vỡ các biên giới và do đó, thay đổi  
hoàn toàn cách tiếp cận của các ngôn ngữ. Hơn nữa,  
ngày nay cũng có các trang web cộng đồng dành  
riêng cho việc học ngoại ngữ, ví dụ như Facebook  
hoặc Twitter.  
Công nghệ kỹ thuật số mang đến những cơ hội  
tuyệt vời để phản ánh công việc của một người, cho  
dù đó là người học, giáo viên hay người quản lý  
đào tạo. Công nghệ kỹ thuật số có thể là một đòn  
bẩy to lớn để phát triển cho tất cả các bên liên quan.  
Trong các tình huống dựa trên công nghệ kỹ thuật  
số, người học có thể dễ dàng được phép lựa chọn  
thời gian và phương thức làm việc của mình. Họ  
có thể dành thời gian để suy ngẫm trước khi đăng  
tin nhắn, hay tham gia vào công việc hợp tác trực  
tuyến bao gồm các giai đoạn kiểm soát và phản hồi  
về những hành động cực kỳ hiệu quả.  
Về phần mình, giáo viên vẫn phải đối phó với  
các tình huống mới trong hầu hết thời gian, điều này  
sẽ thúc đẩy giáo viên có khả năng phản ứng tốt nhất  
có thể với các tình huống xảy ra.  
4.2. Dạy ngoại ngữ với sự tích hợp của công  
nghệ kỹ thuật số  
Salengros-Iguenane đã tiến hành thực nghiệm  
trong nhiều năm tại Trường Quốc gia Cầu đường  
Pháp với các sinh viên nước ngoài học tiếng Pháp  
nhằm làm nổi bật vai trò của Internet trong cách tiếp  
cận văn hóa. Học phần dành cho sinh viên trình độ  
Từ đầu những năm 2000 của thế kỷ, một số  
nhà ngôn ngữ học như Puren (2006), Bourguignon  
(2006) đã đưa ra một số nghiên cứu về Đường hướng  
hành động. Đường hướng hành động lấy quan điểm  
chủ đạo là các dự án tập thể. Thông qua các sự án  
này, lớp học thực hiện hành động mà không dừng  
lại các hoạt động giao tiếp, giả định. Phương pháp  
này cũng được trình bày trong Khung tham chiếu  
Châu Âu (CEFR, 2000). Theo Bourguignon (2006),  
với Đường hướng hành động, Khung Tham chiếu  
Châu Âu làm đảo lộn hình ảnh truyền thống của  
dạy/học/đánh giá ngôn ngữ ở cấp độ thực hành dạy  
cũng như quá trình học.  
Tại Việt Nam, giáo sư N.Q.Thuấn (2018) cũng  
khẳng định tầm quan trọng của Đường hướng hành  
động trong giảng dạy ngoại ngữ. Đường hướng giáo  
học pháp này đã làm thay đổi các quan điểm truyền  
thống về dạy và học ngoại ngữ. Tuy nhiên, phương  
pháp này cũng bộc lộ một số hạn chế như thiếu cơ  
sở lý thuyết vững chắc và việc áp dụng vào thực  
tiễn sư phạm không dễ dàng.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Trong giảng dạy ngoại ngữ-văn hóa, bài viết  
quan tâm đến những tác động của toàn cầu hóa đối  
với việc giảng dạy ngoại ngữ, các phương pháp,  
các phương thức tiếp cận và công cụ của nó là gì?  
Các phương pháp dạy-học ngoại ngữ (phương pháp  
chung, ngoại ngữ thứ nhất, ngoại ngữ thứ hai, cho  
các mục tiêu cụ thể, ở các trường đại học, v.v.).  
Tác giả cũng quan tâm đến việc người học có  
luôn vẫn được coi là các tác nhân xã hội của ngôn  
ngữ được sử dụng như Đường hướng hành động  
(action-oriented approach) chủ trương không? Hay  
họ chỉ được coi là “khách hàng”? Ngôn ngữ đã trở  
thành sản phẩm tiêu dùng chưa?  
Quan trọng hơn là làm thế nào để khái niệm  
“nhu cầu” và cách phân tích nhu cầu lại được sử  
dụng rộng rãi như vậy kể từ khi phương pháp giao A2 - B1 của CECR (Hội đồng Châu Âu, 2001), có  
68  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
tên “Chia sẻ văn hóa của người Pháp”, nhằm giúp  
Thứ nhất, trước khi đọc, sử dụng các công cụ kỹ  
sinh viên thích nghi tốt hơn với đặc thù của trường thuật số như Kahoot, powerpoint, video, máy chiếu  
học Pháp.  
Phương pháp tiếp cận được áp dụng dựa trên đặc  
thù của việc đào tạo thanh thiếu niên và tầm quan  
để khám phá nội dung tổng thể của lĩnh vực được  
thể hiện trong văn bản.  
Thứ hai, trong quá trình đọc, các công cụ  
trọng của việc trao quyền tự chủ và tính linh hoạt powerpoint, máy chiếu giúp khai thác nội dung của  
của các khóa học.  
văn bản.  
Các chủ đề được giải quyết, tương ứng với kiến  
Thứ ba, sau khi đọc, để củng cố các khái niệm  
thức văn hóa xã hội, liên quan đến báo chí, ca khúc, và kỹ năng đọc, các công cụ như: powerpoint, máy  
điện ảnh, truyện tranh, lịch sử, văn học, thơ ca và từ chiếu, máy chiếu đa vật thể, ứng dụng Kahoot và  
vựng của giới trẻ.  
Edmodo được sử dụng.  
Với mỗi chủ đề, tác giả khảo sát người học về  
Thứ tư, cuối cùng Kahoot và Edmodo được sử  
những gì họ muốn khám phá, sau đó chọn trên các dụng để đánh giá, củng cố kiến thức và có thể để  
trang Web, các tài liệu thô để sử dụng làm tài liệu chuẩn bị bài sau.  
giảng dạy.  
Như vậy mỗi giai đoạn có các nhiệm vụ phù  
Người học có phiếu làm việc (các yêu cầu hoạt hợp, trong đó các công cụ CNTT hỗ trợ cũng được  
động và hướng dẫn) và phiếu nghiên cứu (danh sử dụng một cách phù hợp.  
sách các trang web được chọn và phân loại theo các  
phần) cho phép họ làm việc theo tốc độ của riêng  
mình và đảm bảo tính linh hoạt theo lựa chọn của  
họ. Việc lựa chọn tài liệu tuân theo một số tiêu chí  
nhất định: tài liệu dễ đọc trên màn hình, dễ tiếp cận  
thông tin, chất lượng của nguồn kỹ thuật số, tài liệu  
phù hợp với mục tiêu và chương trình đào tạo, chặt  
chẽ về nội dung.  
Cùng với những đóng góp có giá trị sư phạm,  
nghiên cứu này còn có những đóng góp có giá  
trị khoa học. Nghiên cứu khai thác các nguồn tài  
nguyên kỹ thuật số (sử dụng các công cụ và ứng  
dụng kỹ thuật số như Kahoot và Emodo), nhằm  
mục đích sử dụng và kết hợp cùng với các phương  
tiện truyền thống trong giờ học và sau giờ học thông  
qua trao đổi hoặc làm việc trực tuyến.  
Giai đoạn tìm kiếm thông tin (khám phá) giúp  
người học làm những bài tổng hợp bằng miệng hoặc  
bằng văn bản, những thuyết trình nói trước đám  
đông, những bảng câu hỏi, những bài làm cho phép  
thể hiện quan điểm, mô tả hoặc tranh luận.  
4.3. Kỹ thuật số và đào tạo trực tiếp, đào tạo kết  
hợp, đào tạo trực tuyến  
Có nhiều cách tố chức lớp học ngoại ngữ tích  
hợp kỹ thuật số với các hình thức đào tạo: trực tiếp,  
kết hợp, trực tuyến.  
Các phân tích xác nhận rằng mô hình và đường  
hướng sư phạm được áp dụng đáp ứng các mục tiêu  
và mong đợi của những người tham gia và tôn trọng  
các lựa chọn cá nhân của họ. Người học đánh giá  
cao việc sử dụng Internet, nghiên cứu trực tuyến  
và hướng dẫn linh hoạt được giáo viên áp dụng. Họ  
trải nghiệm cảm giác được tự do, được xây dựng  
kiến thức cho riêng mình. Những người tham gia  
cũng nói rằng họ cảm thấy thoải mái hơn trong môi  
trường của họ.  
Nguyễn Thị Thu Hồng (2020) trong quá trình  
thực hiện luận văn tiến sĩ của mình đã tiến hành một  
thực nghiệm khác được nhằm thiết kế phương pháp  
sư phạm với hỗ trợ công nghệ thông tin (CNTT) theo  
quan điểm Định hướng Hành động, thực nghiệm này  
kéo dài mười tuần với 55 sinh viên năm thứ 3, Viện  
Hợp tác Quốc tế của Đại học Thương mại.  
Ta có thể “dạy học” trong phòng đa phương tiện  
hoặc với những sinh viên đã mang theo máy, bằng  
cách ở bên cạnh sinh viên trong khi họ làm việc cá  
nhân hoặc theo nhóm nhỏ. Hoặc ngược lại, sẽ là  
một khóa đào tạo hoàn toàn trực tuyến, trong đó  
những người tham gia không thấy mặt nhau. Hoạt  
động này có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác  
nhau, chẳng hạn như thông qua trao đổi bằng hội  
nghị truyền hình.  
Tất nhiên, nhiều tình huống trung gian có thể  
xảy ra: những tình huống phổ biến và hứa hẹn nhất  
hiện nay là đào tạo kết hợp, tức là kết hợp các buổi  
học trực tiếp và trực tuyến.  
4.4. Đào tạo kết hợp  
Đào tạo kết hợp tại trường đại học chỉ mới phổ  
biến và lan rộng trong khoảng mười lăm năm nay.  
Tuy nhiên, hình thức đào tạo này đang ngày càng  
gặt hái thành công trong giáo dục đại học ở tất cả  
các ngành và đặc biệt là trong dạy-học ngoại ngữ.  
Có nhiều lý do để thực hiện hình thức này như:  
Mỗi giai đoạn của chương trình học gắn với các  
nhiệm vụ tương ứng trong đó tác giả sử dụng sự hỗ  
trợ của các công cụ CNTT phù hợp.  
- Trong giai đoạn bắt đầu, tác giả đã sử dụng nền  
tảng Kahoot để xác minh kiến thức thu được liên  
quan đến bài học trước.  
- Chúng ta có thể tận dụng tối đa những ưu điểm  
của hai loại hình, tập trung và trực tuyến.  
- Đào tào trực tuyến có thể tạo ra nhiều hình  
thức linh hoạt và sự thay đổi trong giảng dạy, nhờ  
Với một bài đọc hiểu, tác giả chia làm các bước  
như sau:  
Volume 10, Issue 3  
69  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
các công nghệ hỗ trợ. Chẳng hạn, ta có thể tận dụng cũng gặp rất nhiều trở ngại từ cả phía giáo viên và  
tính đồng bộ về thời gian và thời lượng truy cập, tốc học sinh. Trở ngại từ nhận thức, cơ sở hạ tầng đến  
độ làm việc của sinh viên và đa dạng hóa các nguồn mức độ áp dụng sao cho phù hợp và nên áp dụng  
tài liệu và các hoạt động hoặc thậm chí là cung cấp mô hình nào là hợp lý nhất,…  
các phương pháp sư phạm.  
Tương lai của giảng dạy ngoại ngữ sẽ như thế  
- Việc tạo thuận lợi cho sinh viên tiếp xúc thường nào trong 5-10 năm nữa? Đây là câu hỏi cần được  
xuyên với ngôn ngữ cũng được chú trọng. Tính linh các nhà nghiên cứu sư phạm và giảng viên tìm câu  
hoạt liên quan đến lịch học và địa điểm, điểm danh trả lời. Đặc biệt, thế giới đã thay đổi chóng mặt do  
đối của sinh viên đi thực tập, lịch trình trùng lặp ảnh hưởng của dịch Covid toàn cầu, liệu học ngoại  
hoặc thậm chí lớp quá đông là một lý do khác lý giải ngữ chỉ đơn thuần là phương pháp học truyền thống  
cho việc tạo ra các lớp đào tạo kết hợp.  
“face to face” hay cần phải thay đổi những gì? Liệu  
học ngoại ngữ chỉ là đơn thuần ứng dụng công nghệ  
thông tin vào dạy và học? Nếu ứng dụng thì cần ứng  
dụng những công cụ gì cho hiệu quả? Khi sinh viên  
không thể đến lớp thì phương pháp nào là hiệu quả  
nhất? Học sinh chỉ cần học ở nhà thì tính hiệu quả  
đến đâu?  
Có rất nhiều câu hỏi và thách thức cần chúng  
ta nghiên cứu và trả lời. Chúng tôi hy vọng rằng  
tất cả các câu hỏi này sẽ được tiếp tục xem xét  
giải đáp trong khuôn khổ một bài báo tiếp theo  
với chủ đề Dạy Kết Hợp (Blended learning) trong  
hoàn cảnh mới.  
- Giáo viên có thể sử dụng phương pháp kết  
hợp để phân chia các nhóm sinh viên khi lớp học  
quá đông.  
- Một số khóa đào tạo sẽ không thể tồn tại nếu  
không có phần đào tạo trực tuyến, trên nền tảng  
cộng tác trực tuyến. Trong trường hợp này, lớp học  
sẽ được chia ra để luân phiên giữa học trực tiếp và  
trực tuyến.  
- Việc đào tạo trực tiếp sẽ được sửa đổi trong quá  
trình đào tạo kết hợp so với việc chỉ đào tạo hoàn  
toàn trực tiếp. Điều này là nhờ việc đưa các buổi  
học này vào một kịch bản giáo dục tổng thể, trong  
đó việc chuẩn bị bài giảng, chẳng hạn, có thể diễn  
ra trước đó theo hình thức trực tuyến và công việc  
6. Kết luận  
Công nghệ kỹ thuật số mang đến những cơ hội  
cá nhân được chuyển tải một phần trực tuyến, điều tuyệt vời để phát triển công việc của một người, cho  
này giúp có thể dành thời gian chung cho các hoạt dù đó là người học, giáo viên hay quản lý đào tạo.  
động tương tác nhóm.  
Trong điều kiện hiện có của các trường đại học của  
chúng ta hiện nay, cho thấy hình thức đào tạo kết  
hợp là phù hợp. Có nhiều lý do để thực hiện hình  
thức này vì chúng ta có thể tận dụng tối đa những  
ưu điểm của hai loại hình, tập trung và trực tuyến.  
Cách tiếp cận này cho phép giảng viên sử dụng  
CNTT như một phương thức hỗ trợ để huy động  
những kiến thức và kinh nghiệm của sinh viên, tạo  
động lực học tập trong sinh viên của mình, đồng  
thời cũng giúp họ tìm kiếm thông tin và có ý tưởng  
tiếp cận với vô số tài liệu làm cơ sở cho cơ hội làm  
việc nhóm, chia sẻ kiến thức.  
Tóm lại, trong điều kiện hiện tại của các trường  
đại học của chúng ta hiện nay, chúng tôi thấy rằng  
hình thức đào tạo kết hợp là phù hợp.  
5. Thảo luận  
Việc ứng dụng phương pháp hành động vào  
giảng dạy ngoại ngữ tuy nhiên vẫn còn bộc lộ một  
số hạn chế như thiếu cơ sở lý thuyết vững chắc, áp  
dụng vào thực hành sư phạm còn khó khăn (Thuan,  
2018). Ngay cả việc áp dụng các hình thức khác  
như công nghệ thông tin, e-learning vào giảng dạy  
Tai lieu tham khao  
Ammouden, A. (2014). Intégration des TIC et  
perspective actionnelle dans l’enseignement/  
apprentissage du FLE : Le cas de la licence  
de français en Algérie, Université de Bejaia.  
org/2773. DOI : 10.4000/alsic.2773.  
Calvet, L.-J. (2017). Les langues : quel  
avenir ? Les effets linguistiques de la  
mondialisation. CNRS éditions, Paris: Didier.  
Demaizière, F.,  
& Grosbois, M. (2014).  
Numérique et enseignement-apprentissage  
des langues en Lansad–Quand, comment,  
pourquoi ? (Day va hoc ngon ngu va ky thuat  
so o Lansad - Khi nao, nhu the nao, tai sao?).  
Apprentissage des Langues et Systèmes  
d’Information et de Communication, https://  
journals.openedition.org/alsic/2691.  
Derivry-Plard, M. (2015). Les enseignants  
de langues dans la mondialisation. La  
guerre des représentations dans le champ  
linguistique de l’enseignement. Archives  
Contemporaines, col. “Pluralité des langues  
et des Identités et Didactique”, 162 p.  
70  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ  
Hong, N. T. T. (2020). Élaboration d’une  
approche pédagogique assistée par les  
TIC dans la perspective actionnelle pour  
améliorer la compréhension de textes  
en français commercial des étudants de  
l’université de commerce du Vietnam (Xay  
dung mot phuong phap su pham co su ho  
tro cua CNTT theo duong huong hanh dong  
nham cai thien nang luc doc hieu van ban  
tieng Phap thuong mai cua sinh vien truong  
Dai hoc Thuong mai). Luan an Tien si  
chuyen nganh Ly luan va phuong phap day  
hoc tieng Phap, Dai hoc Ngoai ngu – Dai hoc  
Quoc gia Ha Noi.  
Puren, C. (2006). De l’approche communicative  
à la perspective actionnelle. Le Français  
dans le Monde, n°347, pp.37- 40.  
Richterich, R. (1985). Besoins langagiers et  
objectifs d’apprentissage. Paris, Hachette.  
Rivens Mompean, A. (2014). Les centres  
de langues : des dispositifs pluriels à un  
dispositif modélisé?. Alsic, http://journals.  
openedition.org/alsic/2747.  
Salengros-Iguenane, I. (2014). Internet pour  
une approche culturelle. Alsic, http://  
journals.openedition.org/alsic/2733; DOI:  
Thibert, R. (2010). Pour des langues plus  
vivantes à l’école. Dossier d’actualité de la  
VST, n° 58.  
Thuan, N. Q. (2018). Duong huong hanh dong:  
Mot duong huong ly thuyet moi hay duong  
huong giao tiep phat trien nang cao?. Dai  
hoc Ngoai ngu – Dai hoc Quoc gia Ha Noi.  
Nissen, E. (2014). Les spécificités des formations  
hybrides en langues. Apprentissage des  
langues et systèmes d’information et de  
DOI : 10.4000/alsic.2773.  
DẠY NGOẠI NGỮ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 4.0  
Phan Thị Tìnha  
Lê Chí Hiếub  
Nguyễn Thị Thu Hồngc  
a Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội  
b Đại học Công nghiệp Hà Nội  
c Đại học Thương mại  
Ngày nhận bài:  
14/9/2021  
Ngày phản biện: 21/9/2021  
Ngày tác giả sửa: 24/9/2021  
Ngày duyệt đăng: 26/9/2021  
Ngày phát hành: 30/9/2021  
húng ta đang sống trong thời kỳ hội nhập với sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng Công  
C
nghệ 4.0. Tình hình này đã mở ra vô số phương thức và kênh mới cho giảng dạy ngoại ngữ. Người  
học, tác nhân xã hội của ngôn ngữ, có thể dành thời gian để suy ngẫm trước khi đăng tin nhắn, hay tham  
gia vào công việc hợp tác trực tuyến bao gồm các giai đoạn kiểm soát và phản hồi về những hành động cực  
kỳ hiệu quả. Trước tình hình đó, dạy ngoại ngữ có thể tích hợp với việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số vào  
các hình thức đào tạo trực tiếp, kết hợp hoặc trực tuyến.  
Từ khóa: Thời kỳ hội nhập; Dạy ngoại ngữ; Tích hợp; Cách mạng Công nghiệp 4.0; Đào tạo trực tiếp;  
Kết hợp; Trực tuyến.  
Volume 10, Issue 3  
71  
pdf 5 trang baolam 22280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dạy ngoại ngữ trong thời kỳ hội nhập 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfday_ngoai_ngu_trong_thoi_ky_hoi_nhap_4_0.pdf