Dạy ngoại ngữ trong thời kỳ hội nhập 4.0
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
TEACHING FOREIGN LANGUAGES
IN THE 4.0 INTEGRATION PERIOD
Phan Thi Tinha
Le Chi Hieub
Nguyen Thi Thu Hongc
a University of Languages & International Studies, Vietnam National University, Hanoi
Email: [email protected]
b Hanoi University of Industry
Email: [email protected]
c Thuong Mai University
Email: [email protected]
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
14/9/2021
21/9/2021
24/9/2021
26/9/2021
30/9/2021
e are living in the period of integration with the stormy development of the 4.0 Technology
W
Revolution. This situation has opened up countless new methods and channels for foreign
language teaching. The learner, the social agent of the language, can take time to meditate before posting
a message, or engage in online collaborative work that includes stages of control and feedback on extreme
efficient actions. In this situation, foreign language teaching can be integrated with the use of digital
technology into face-to-face, combined, or online training forms.
Keywords: Integration; Language teaching; Technology Revolution 4.0; Face-to-face; Combined or
online training.
1. Đặt vấn đề
ngoại ngữ trong điều kiện hiện tại.
Ngôn ngữ là yếu tố không thể tách rời khỏi cộng
đồng sử dụng nó. Ngôn ngữ là trung tâm của các
vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa và bản sắc
của cộng đồng. Do vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập hiện nay, đã có nhiều cuộc hội thảo, bài
báo trong nước cũng như quốc tế bàn về tác động
của toàn cầu hóa đối với việc dạy và học ngoại ngữ.
Tuy nhiên, việc bàn thêm về vấn đề này trong bối
cảnh phát triển toàn cầu hóa hiện nay là thực sự cần
thiết. Bài viết sẽ tập trung nghiên cứu cách thức dạy
ngoại ngữ trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
ở nước ta hiện nay.
2. Tổng quan nghiên cứu
Nhiều nhà giáo và chuyên gia giáo dục khuyến
nghị giúp người học chủ động và kiểm soát việc học
của mình. Kiến thức và kỹ năng ngôn ngữ có được
trong quá trình học tập sẽ giúp họ có thể thực hiện
các hành động xã hội trong cuộc sống thực. Vì thế,
quan điểm Định hướng Hành động dựa trên Khung
Tham chiếu Chung Châu Âu về Ngôn ngữ (CECR)
là có lợi để đạt được mục tiêu này, vì cách tiếp cận
của nó dựa trên nhiệm vụ và phương pháp sư phạm
của dự án cho phép phát triển kỹ năng bằng cách
thực hiện các nhiệm vụ trong lớp.
Mục tiêu của bài viết này là tìm kiếm và khẳng
định lại phương thức dạy ngoại ngữ phù hợp trong
các trường đại học nhằm đáp ứng với yêu cầu hội
nhập của Việt Nam. Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến
lý do và đề xuất một số ứng dụng trong giảng dạy
Theo Khung Tham chiếu Chung Châu Âu về
Ngôn ngữ “Quan điểm định hướng hành động coi
người học ngôn ngữ là các tác nhân xã hội phải
hoàn thành các nhiệm vụ (không chỉ là ngôn ngữ)
trong những hoàn cảnh và môi trường nhất định,
Volume 10, Issue 3
67
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
trong một lĩnh vực hành động cụ thể. Nếu các hành tiếp tham gia hay không vào quá trình giảng dạy
động lời nói diễn ra đồng thời với các hành động ngoại ngữ ? Vai trò của người học, người dạy và các
ngôn ngữ, thì bản thân chúng là một phần của các tổ chức trong bối cảnh hội nhập là gì?
hành động trong bối cảnh xã hội mà chỉ riêng chúng
đã mang lại ý nghĩa đầy đủ của chúng” (CECR,
2001, tr.15).
Tóm lại, hoạt động dạy-học ngoại ngữ trong thời
kỳ hội nhập đặt ra nhiều thách thức và cần những
giải pháp phù hợp với thời kỳ phát triển của cuộc
cách mạng công nghiệp đang phát triển như vũ bão.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tác giả tập
trung trả lời hai câu hỏi như: Các lý do phải thay đổi
cách dạy và học ngoại ngữ là gì? Thay đổi như thế
nào? Vì thế, trong bài viết, tác giả dùng các phương
pháp phân tích, so sánh và tổng hợp để làm sáng tỏ
vấn đề cần nghiên cứu.
Từ định nghĩa này, chúng ta hiểu rằng quan
điểm hành động, chủ yếu dựa trên tiến trình học tập
dưới dạng các nhiệm vụ phải thực hiện, được tách
ra khỏi phương pháp giao tiếp. Chúng ta chuyển từ
người học ngôn ngữ sang người sử dụng và tác nhân
xã hội, người sử dụng ngôn ngữ để cùng hành động
trong cuộc sống thực. “Quan điểm định hướng hành
động lặp lại mối quan tâm của các quốc gia trong
việc đào tạo các thành phần xã hội: những người có
khả năng làm việc cộng tác trong các dự án dài hạn
với các đối tác nước ngoài” (Thibert, 2010, tr.1).
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Một số đặc điểm của thời kỳ Cách mạng
công nghiệp 4.0
Nói về “thời kỳ hội nhập trong cao trào của cuộc
Các mạng công nghiệp 4.0 (CMCN) cũng có nghĩa
là làm nổi bật tác động của công nghệ kỹ thuật số
đối với việc dạy-học ngoại ngữ tại thời điểm chúng
đang phát triển với tốc độ của các cuộc cách mạng
công nghệ. Sự giao lưu của con người diễn ra trong
dòng chảy của thông tin và liên lạc ngày càng nhanh
chóng, mãnh liệt và phức tạp. Bằng cách đưa hàng
tỷ người dùng Internet trên khắp thế giới tiếp xúc
với nhau, Internet và các mạng xã hội được tạo ra
đang giúp phá vỡ các biên giới và do đó, thay đổi
hoàn toàn cách tiếp cận của các ngôn ngữ. Hơn nữa,
ngày nay cũng có các trang web cộng đồng dành
riêng cho việc học ngoại ngữ, ví dụ như Facebook
hoặc Twitter.
Công nghệ kỹ thuật số mang đến những cơ hội
tuyệt vời để phản ánh công việc của một người, cho
dù đó là người học, giáo viên hay người quản lý
đào tạo. Công nghệ kỹ thuật số có thể là một đòn
bẩy to lớn để phát triển cho tất cả các bên liên quan.
Trong các tình huống dựa trên công nghệ kỹ thuật
số, người học có thể dễ dàng được phép lựa chọn
thời gian và phương thức làm việc của mình. Họ
có thể dành thời gian để suy ngẫm trước khi đăng
tin nhắn, hay tham gia vào công việc hợp tác trực
tuyến bao gồm các giai đoạn kiểm soát và phản hồi
về những hành động cực kỳ hiệu quả.
Về phần mình, giáo viên vẫn phải đối phó với
các tình huống mới trong hầu hết thời gian, điều này
sẽ thúc đẩy giáo viên có khả năng phản ứng tốt nhất
có thể với các tình huống xảy ra.
4.2. Dạy ngoại ngữ với sự tích hợp của công
nghệ kỹ thuật số
Salengros-Iguenane đã tiến hành thực nghiệm
trong nhiều năm tại Trường Quốc gia Cầu đường
Pháp với các sinh viên nước ngoài học tiếng Pháp
nhằm làm nổi bật vai trò của Internet trong cách tiếp
cận văn hóa. Học phần dành cho sinh viên trình độ
Từ đầu những năm 2000 của thế kỷ, một số
nhà ngôn ngữ học như Puren (2006), Bourguignon
(2006) đã đưa ra một số nghiên cứu về Đường hướng
hành động. Đường hướng hành động lấy quan điểm
chủ đạo là các dự án tập thể. Thông qua các sự án
này, lớp học thực hiện hành động mà không dừng
lại các hoạt động giao tiếp, giả định. Phương pháp
này cũng được trình bày trong Khung tham chiếu
Châu Âu (CEFR, 2000). Theo Bourguignon (2006),
với Đường hướng hành động, Khung Tham chiếu
Châu Âu làm đảo lộn hình ảnh truyền thống của
dạy/học/đánh giá ngôn ngữ ở cấp độ thực hành dạy
cũng như quá trình học.
Tại Việt Nam, giáo sư N.Q.Thuấn (2018) cũng
khẳng định tầm quan trọng của Đường hướng hành
động trong giảng dạy ngoại ngữ. Đường hướng giáo
học pháp này đã làm thay đổi các quan điểm truyền
thống về dạy và học ngoại ngữ. Tuy nhiên, phương
pháp này cũng bộc lộ một số hạn chế như thiếu cơ
sở lý thuyết vững chắc và việc áp dụng vào thực
tiễn sư phạm không dễ dàng.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong giảng dạy ngoại ngữ-văn hóa, bài viết
quan tâm đến những tác động của toàn cầu hóa đối
với việc giảng dạy ngoại ngữ, các phương pháp,
các phương thức tiếp cận và công cụ của nó là gì?
Các phương pháp dạy-học ngoại ngữ (phương pháp
chung, ngoại ngữ thứ nhất, ngoại ngữ thứ hai, cho
các mục tiêu cụ thể, ở các trường đại học, v.v.).
Tác giả cũng quan tâm đến việc người học có
luôn vẫn được coi là các tác nhân xã hội của ngôn
ngữ được sử dụng như Đường hướng hành động
(action-oriented approach) chủ trương không? Hay
họ chỉ được coi là “khách hàng”? Ngôn ngữ đã trở
thành sản phẩm tiêu dùng chưa?
Quan trọng hơn là làm thế nào để khái niệm
“nhu cầu” và cách phân tích nhu cầu lại được sử
dụng rộng rãi như vậy kể từ khi phương pháp giao A2 - B1 của CECR (Hội đồng Châu Âu, 2001), có
68
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
tên “Chia sẻ văn hóa của người Pháp”, nhằm giúp
Thứ nhất, trước khi đọc, sử dụng các công cụ kỹ
sinh viên thích nghi tốt hơn với đặc thù của trường thuật số như Kahoot, powerpoint, video, máy chiếu
học Pháp.
Phương pháp tiếp cận được áp dụng dựa trên đặc
thù của việc đào tạo thanh thiếu niên và tầm quan
để khám phá nội dung tổng thể của lĩnh vực được
thể hiện trong văn bản.
Thứ hai, trong quá trình đọc, các công cụ
trọng của việc trao quyền tự chủ và tính linh hoạt powerpoint, máy chiếu giúp khai thác nội dung của
của các khóa học.
văn bản.
Các chủ đề được giải quyết, tương ứng với kiến
Thứ ba, sau khi đọc, để củng cố các khái niệm
thức văn hóa xã hội, liên quan đến báo chí, ca khúc, và kỹ năng đọc, các công cụ như: powerpoint, máy
điện ảnh, truyện tranh, lịch sử, văn học, thơ ca và từ chiếu, máy chiếu đa vật thể, ứng dụng Kahoot và
vựng của giới trẻ.
Edmodo được sử dụng.
Với mỗi chủ đề, tác giả khảo sát người học về
Thứ tư, cuối cùng Kahoot và Edmodo được sử
những gì họ muốn khám phá, sau đó chọn trên các dụng để đánh giá, củng cố kiến thức và có thể để
trang Web, các tài liệu thô để sử dụng làm tài liệu chuẩn bị bài sau.
giảng dạy.
Như vậy mỗi giai đoạn có các nhiệm vụ phù
Người học có phiếu làm việc (các yêu cầu hoạt hợp, trong đó các công cụ CNTT hỗ trợ cũng được
động và hướng dẫn) và phiếu nghiên cứu (danh sử dụng một cách phù hợp.
sách các trang web được chọn và phân loại theo các
phần) cho phép họ làm việc theo tốc độ của riêng
mình và đảm bảo tính linh hoạt theo lựa chọn của
họ. Việc lựa chọn tài liệu tuân theo một số tiêu chí
nhất định: tài liệu dễ đọc trên màn hình, dễ tiếp cận
thông tin, chất lượng của nguồn kỹ thuật số, tài liệu
phù hợp với mục tiêu và chương trình đào tạo, chặt
chẽ về nội dung.
Cùng với những đóng góp có giá trị sư phạm,
nghiên cứu này còn có những đóng góp có giá
trị khoa học. Nghiên cứu khai thác các nguồn tài
nguyên kỹ thuật số (sử dụng các công cụ và ứng
dụng kỹ thuật số như Kahoot và Emodo), nhằm
mục đích sử dụng và kết hợp cùng với các phương
tiện truyền thống trong giờ học và sau giờ học thông
qua trao đổi hoặc làm việc trực tuyến.
Giai đoạn tìm kiếm thông tin (khám phá) giúp
người học làm những bài tổng hợp bằng miệng hoặc
bằng văn bản, những thuyết trình nói trước đám
đông, những bảng câu hỏi, những bài làm cho phép
thể hiện quan điểm, mô tả hoặc tranh luận.
4.3. Kỹ thuật số và đào tạo trực tiếp, đào tạo kết
hợp, đào tạo trực tuyến
Có nhiều cách tố chức lớp học ngoại ngữ tích
hợp kỹ thuật số với các hình thức đào tạo: trực tiếp,
kết hợp, trực tuyến.
Các phân tích xác nhận rằng mô hình và đường
hướng sư phạm được áp dụng đáp ứng các mục tiêu
và mong đợi của những người tham gia và tôn trọng
các lựa chọn cá nhân của họ. Người học đánh giá
cao việc sử dụng Internet, nghiên cứu trực tuyến
và hướng dẫn linh hoạt được giáo viên áp dụng. Họ
trải nghiệm cảm giác được tự do, được xây dựng
kiến thức cho riêng mình. Những người tham gia
cũng nói rằng họ cảm thấy thoải mái hơn trong môi
trường của họ.
Nguyễn Thị Thu Hồng (2020) trong quá trình
thực hiện luận văn tiến sĩ của mình đã tiến hành một
thực nghiệm khác được nhằm thiết kế phương pháp
sư phạm với hỗ trợ công nghệ thông tin (CNTT) theo
quan điểm Định hướng Hành động, thực nghiệm này
kéo dài mười tuần với 55 sinh viên năm thứ 3, Viện
Hợp tác Quốc tế của Đại học Thương mại.
Ta có thể “dạy học” trong phòng đa phương tiện
hoặc với những sinh viên đã mang theo máy, bằng
cách ở bên cạnh sinh viên trong khi họ làm việc cá
nhân hoặc theo nhóm nhỏ. Hoặc ngược lại, sẽ là
một khóa đào tạo hoàn toàn trực tuyến, trong đó
những người tham gia không thấy mặt nhau. Hoạt
động này có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác
nhau, chẳng hạn như thông qua trao đổi bằng hội
nghị truyền hình.
Tất nhiên, nhiều tình huống trung gian có thể
xảy ra: những tình huống phổ biến và hứa hẹn nhất
hiện nay là đào tạo kết hợp, tức là kết hợp các buổi
học trực tiếp và trực tuyến.
4.4. Đào tạo kết hợp
Đào tạo kết hợp tại trường đại học chỉ mới phổ
biến và lan rộng trong khoảng mười lăm năm nay.
Tuy nhiên, hình thức đào tạo này đang ngày càng
gặt hái thành công trong giáo dục đại học ở tất cả
các ngành và đặc biệt là trong dạy-học ngoại ngữ.
Có nhiều lý do để thực hiện hình thức này như:
Mỗi giai đoạn của chương trình học gắn với các
nhiệm vụ tương ứng trong đó tác giả sử dụng sự hỗ
trợ của các công cụ CNTT phù hợp.
- Trong giai đoạn bắt đầu, tác giả đã sử dụng nền
tảng Kahoot để xác minh kiến thức thu được liên
quan đến bài học trước.
- Chúng ta có thể tận dụng tối đa những ưu điểm
của hai loại hình, tập trung và trực tuyến.
- Đào tào trực tuyến có thể tạo ra nhiều hình
thức linh hoạt và sự thay đổi trong giảng dạy, nhờ
Với một bài đọc hiểu, tác giả chia làm các bước
như sau:
Volume 10, Issue 3
69
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
các công nghệ hỗ trợ. Chẳng hạn, ta có thể tận dụng cũng gặp rất nhiều trở ngại từ cả phía giáo viên và
tính đồng bộ về thời gian và thời lượng truy cập, tốc học sinh. Trở ngại từ nhận thức, cơ sở hạ tầng đến
độ làm việc của sinh viên và đa dạng hóa các nguồn mức độ áp dụng sao cho phù hợp và nên áp dụng
tài liệu và các hoạt động hoặc thậm chí là cung cấp mô hình nào là hợp lý nhất,…
các phương pháp sư phạm.
Tương lai của giảng dạy ngoại ngữ sẽ như thế
- Việc tạo thuận lợi cho sinh viên tiếp xúc thường nào trong 5-10 năm nữa? Đây là câu hỏi cần được
xuyên với ngôn ngữ cũng được chú trọng. Tính linh các nhà nghiên cứu sư phạm và giảng viên tìm câu
hoạt liên quan đến lịch học và địa điểm, điểm danh trả lời. Đặc biệt, thế giới đã thay đổi chóng mặt do
đối của sinh viên đi thực tập, lịch trình trùng lặp ảnh hưởng của dịch Covid toàn cầu, liệu học ngoại
hoặc thậm chí lớp quá đông là một lý do khác lý giải ngữ chỉ đơn thuần là phương pháp học truyền thống
cho việc tạo ra các lớp đào tạo kết hợp.
“face to face” hay cần phải thay đổi những gì? Liệu
học ngoại ngữ chỉ là đơn thuần ứng dụng công nghệ
thông tin vào dạy và học? Nếu ứng dụng thì cần ứng
dụng những công cụ gì cho hiệu quả? Khi sinh viên
không thể đến lớp thì phương pháp nào là hiệu quả
nhất? Học sinh chỉ cần học ở nhà thì tính hiệu quả
đến đâu?
Có rất nhiều câu hỏi và thách thức cần chúng
ta nghiên cứu và trả lời. Chúng tôi hy vọng rằng
tất cả các câu hỏi này sẽ được tiếp tục xem xét
giải đáp trong khuôn khổ một bài báo tiếp theo
với chủ đề Dạy Kết Hợp (Blended learning) trong
hoàn cảnh mới.
- Giáo viên có thể sử dụng phương pháp kết
hợp để phân chia các nhóm sinh viên khi lớp học
quá đông.
- Một số khóa đào tạo sẽ không thể tồn tại nếu
không có phần đào tạo trực tuyến, trên nền tảng
cộng tác trực tuyến. Trong trường hợp này, lớp học
sẽ được chia ra để luân phiên giữa học trực tiếp và
trực tuyến.
- Việc đào tạo trực tiếp sẽ được sửa đổi trong quá
trình đào tạo kết hợp so với việc chỉ đào tạo hoàn
toàn trực tiếp. Điều này là nhờ việc đưa các buổi
học này vào một kịch bản giáo dục tổng thể, trong
đó việc chuẩn bị bài giảng, chẳng hạn, có thể diễn
ra trước đó theo hình thức trực tuyến và công việc
6. Kết luận
Công nghệ kỹ thuật số mang đến những cơ hội
cá nhân được chuyển tải một phần trực tuyến, điều tuyệt vời để phát triển công việc của một người, cho
này giúp có thể dành thời gian chung cho các hoạt dù đó là người học, giáo viên hay quản lý đào tạo.
động tương tác nhóm.
Trong điều kiện hiện có của các trường đại học của
chúng ta hiện nay, cho thấy hình thức đào tạo kết
hợp là phù hợp. Có nhiều lý do để thực hiện hình
thức này vì chúng ta có thể tận dụng tối đa những
ưu điểm của hai loại hình, tập trung và trực tuyến.
Cách tiếp cận này cho phép giảng viên sử dụng
CNTT như một phương thức hỗ trợ để huy động
những kiến thức và kinh nghiệm của sinh viên, tạo
động lực học tập trong sinh viên của mình, đồng
thời cũng giúp họ tìm kiếm thông tin và có ý tưởng
tiếp cận với vô số tài liệu làm cơ sở cho cơ hội làm
việc nhóm, chia sẻ kiến thức.
Tóm lại, trong điều kiện hiện tại của các trường
đại học của chúng ta hiện nay, chúng tôi thấy rằng
hình thức đào tạo kết hợp là phù hợp.
5. Thảo luận
Việc ứng dụng phương pháp hành động vào
giảng dạy ngoại ngữ tuy nhiên vẫn còn bộc lộ một
số hạn chế như thiếu cơ sở lý thuyết vững chắc, áp
dụng vào thực hành sư phạm còn khó khăn (Thuan,
2018). Ngay cả việc áp dụng các hình thức khác
như công nghệ thông tin, e-learning vào giảng dạy
Tai lieu tham khao
Ammouden, A. (2014). Intégration des TIC et
perspective actionnelle dans l’enseignement/
apprentissage du FLE : Le cas de la licence
de français en Algérie, Université de Bejaia.
org/2773. DOI : 10.4000/alsic.2773.
Calvet, L.-J. (2017). Les langues : quel
avenir ? Les effets linguistiques de la
mondialisation. CNRS éditions, Paris: Didier.
Demaizière, F.,
& Grosbois, M. (2014).
Numérique et enseignement-apprentissage
des langues en Lansad–Quand, comment,
pourquoi ? (Day va hoc ngon ngu va ky thuat
so o Lansad - Khi nao, nhu the nao, tai sao?).
Apprentissage des Langues et Systèmes
d’Information et de Communication, https://
journals.openedition.org/alsic/2691.
Derivry-Plard, M. (2015). Les enseignants
de langues dans la mondialisation. La
guerre des représentations dans le champ
linguistique de l’enseignement. Archives
Contemporaines, col. “Pluralité des langues
et des Identités et Didactique”, 162 p.
70
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
Hong, N. T. T. (2020). Élaboration d’une
approche pédagogique assistée par les
TIC dans la perspective actionnelle pour
améliorer la compréhension de textes
en français commercial des étudants de
l’université de commerce du Vietnam (Xay
dung mot phuong phap su pham co su ho
tro cua CNTT theo duong huong hanh dong
nham cai thien nang luc doc hieu van ban
tieng Phap thuong mai cua sinh vien truong
Dai hoc Thuong mai). Luan an Tien si
chuyen nganh Ly luan va phuong phap day
hoc tieng Phap, Dai hoc Ngoai ngu – Dai hoc
Quoc gia Ha Noi.
Puren, C. (2006). De l’approche communicative
à la perspective actionnelle. Le Français
dans le Monde, n°347, pp.37- 40.
Richterich, R. (1985). Besoins langagiers et
objectifs d’apprentissage. Paris, Hachette.
Rivens Mompean, A. (2014). Les centres
de langues : des dispositifs pluriels à un
openedition.org/alsic/2747.
Salengros-Iguenane, I. (2014). Internet pour
une approche culturelle. Alsic, http://
journals.openedition.org/alsic/2733; DOI:
Thibert, R. (2010). Pour des langues plus
vivantes à l’école. Dossier d’actualité de la
VST, n° 58.
Thuan, N. Q. (2018). Duong huong hanh dong:
Mot duong huong ly thuyet moi hay duong
huong giao tiep phat trien nang cao?. Dai
hoc Ngoai ngu – Dai hoc Quoc gia Ha Noi.
Nissen, E. (2014). Les spécificités des formations
hybrides en langues. Apprentissage des
langues et systèmes d’information et de
DOI : 10.4000/alsic.2773.
DẠY NGOẠI NGỮ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 4.0
Phan Thị Tìnha
Lê Chí Hiếub
Nguyễn Thị Thu Hồngc
a Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: [email protected]
b Đại học Công nghiệp Hà Nội
Email: [email protected]
c Đại học Thương mại
Email: [email protected]
Ngày nhận bài:
14/9/2021
Ngày phản biện: 21/9/2021
Ngày tác giả sửa: 24/9/2021
Ngày duyệt đăng: 26/9/2021
Ngày phát hành: 30/9/2021
húng ta đang sống trong thời kỳ hội nhập với sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng Công
C
nghệ 4.0. Tình hình này đã mở ra vô số phương thức và kênh mới cho giảng dạy ngoại ngữ. Người
học, tác nhân xã hội của ngôn ngữ, có thể dành thời gian để suy ngẫm trước khi đăng tin nhắn, hay tham
gia vào công việc hợp tác trực tuyến bao gồm các giai đoạn kiểm soát và phản hồi về những hành động cực
kỳ hiệu quả. Trước tình hình đó, dạy ngoại ngữ có thể tích hợp với việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số vào
các hình thức đào tạo trực tiếp, kết hợp hoặc trực tuyến.
Từ khóa: Thời kỳ hội nhập; Dạy ngoại ngữ; Tích hợp; Cách mạng Công nghiệp 4.0; Đào tạo trực tiếp;
Kết hợp; Trực tuyến.
Volume 10, Issue 3
71
Bạn đang xem tài liệu "Dạy ngoại ngữ trong thời kỳ hội nhập 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
day_ngoai_ngu_trong_thoi_ky_hoi_nhap_4_0.pdf

