Tính triết lí trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
TÍNH TRIẾT LÍ TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ
Nguyễn Minh Ca
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tây Đô
Email: [email protected]
Lịch sử bài báo
Ngày nhận: 14/7/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 26/8/2020; Ngày duyệt đăng: 14/5/2021
Tóm tắt
Với phương pháp khảo sát - thống kê, phân tích - tổng hợp và các thao tác chứng minh, so sánh,...
bài viết khảo sát và phân định những nội dung về tính triết lí trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc
Tư. Kết quả khảo sát 70 truyện ngắn của nhà văn, chúng tôi ghi nhận được 79 câu triết lí với bốn nội dung
được phân định, cụ thể: triết lí về cuộc sống; triết lí về con người; triết lí về nghề nghiệp; triết lí về tình yêu
(những phân định này chỉ mang tính chất tương đối). Có thể nói, những triết lí của nhà văn đã và đang có
tác động khá lớn đến tư tưởng của người đọc trong hơn thập niên vừa qua.
Từ khoá: Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tính triết lí trong truyện ngắn.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHILOSOPHY IN THE SHORT STORIES BY NGUYEN NGOC TU
Nguyen Minh Ca
Faculty of Literature, Tay Do University
Email: [email protected]
Article history
Received: 14/7/2020; Received in revised form: 26/8/2020; Accepted: 14/5/2021
Abstract
This article surveys, analyzes, and delineates the philosophical contents found in 70 short stories by
Nguyen Ngoc Tu. The results pinpoint 79 philosophical sentences with four discerned contents, namely:
philosophy of life, philosophy of people, philosophy of career, and philosophy of love (these discernments are
tentative). It can be said that these philosophies have significantly impacted the readers over the past decade.
Keywords: Cognitive value, educational and aesthetic value, Nguyen Ngoc Tu.
Trích dẫn: Nguyễn Minh Ca. (2021). Tính triết lí trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Tạp chí Khoa học Đại
học Đồng Tháp, 10(6), 106-113.
106
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 106-113
1. Đặt vấn đề
Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách thông
thường, triết lí chính là kết quả của một quá trình nhận
thức của con người nhằm đúc kết những chân lí về
các vấn đề nhân sinh và xã hội. Đó là kết quả của quá
trình nhận thức, đi sâu khám phá, chỉ ra được bản chất
có tính quy luật của sự vật để khái quát thành những
luận đề có giá trị phổ quát trong cuộc sống. Hay nói
cách khác, triết lí là những điều mà chúng ta đúc kết
được từ trong cuộc sống, đó có thể là những bài học,
những suy tưởng, những quan niệm… sau đó trải qua
thử thách của thời gian và nó đã trở thành những chân
lí mang tính phổ quát trong đời sống.
Bàn về khái niệm triết lí, Thanh Lê trong Từ
điển xã hội học khẳng định: “bất cứ xã hội nào cũng
xác định khái niệm về cái thiện cái ác, cái đẹp và cái
xấu, cái vinh và cái nhục… Đó là những giá trị của
xã hội mà mọi cá nhân trong xã hội phải tuân theo”
(Thanh Lê, 2003, tr. 98-99). Nhóm tác giả Hoàng Phê
chủ biên trong Từ điển tiếng Việt lí giải về triết lí với
nội hàm rộng hơn: “triết lí theo nghĩa thứ nhất là lí
luận về triết học, nghĩa thứ hai là những quan niệm
chung về con người về những vấn đề nhân sinh và
xã hội” (Hoàng Phê và cs. 2010, tr. 1179). Cùng với
quan điểm này, nhóm tác giả Nguyễn Như Ý và Bùi
Quang Tịnh cũng khẳng định: “Triết lí là những quan
niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh
và xã hội” (Nguyễn Như Ý và cs. 1999, tr. 1389).
2. Nội dung
2.1. Nhận xét chung về việc vận dụng những
triết lí trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn
Ngọc Tư
Bảng 1. Những câu thể hiện tính triết lí trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Triết lí về
cuộc sống
Triết lí về
con người
Triết lí về
nghề nghiệp
Triết lí về
tình yêu
Phân loại triết lí
Tổng số
Số lượng
Tỷ lệ (%)
40
25
3
11
14
79
50,6
31,6
3,8
100
2.2. Nội dung về tính triết lí trong truyện ngắn
chúng tôi ghi nhận vấn đề nhà văn quan tâm nhiều của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
Kết quả thống kê (70 truyện ngắn trong 9 tập),
nhất đó là về cuộc sống 40 câu triết lí chiếm 50,6%
trên tổng số 79 câu triết lí được khảo sát, phân loại.
Điều này cho ta thấy, riêng về những vấn đề trong
cuộc sống rất được nhà văn quan tâm và chiêm
nghiệm. Bởi lẽ, nhà văn là người có khả năng quan
sát rất tinh tế về cuộc sống và là một nhà văn có
nhiều trải nghiệm trong cuộc sống, đặc biệt là về
vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong tổng số 79
câu triết lí thì triết lí về tình yêu và nghề nghiệp có
tần số xuất hiện tương đối ít (11 câu về tình yêu và
3 câu về nghề nghiệp) so với những câu triết lí có
nội dung về cuộc sống và con người (40 câu triết lí
về cuộc sống và 25 câu triết lí về con người). Cần
khẳng định, đặc trưng phương pháp nghiên cứu
ngành Văn học là Phương pháp định tính nên những
con số thống kê và phân loại (định lượng) có vai trò
khẳng định vững chắc những quan điểm lập trường
của người nghiên cứu. Những nội dung về tính triết
lí của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư xuất phát từ những
đặc trưng trong sáng tác của nhà văn, từ tư tưởng,
chiêm nghiệm của nhà văn về cuộc sống, con người,
nghề nghiệp và tình yêu chứ không dựa vào những
con số nêu trên.
2.2.1. Triết lí về cuộc sống
Nghiên cứu về những triết lí của nhà văn về cuộc
sống, chúng tôi ghi nhận quan niệm của Nguyễn Ngọc
Tư về vấn đề này là hình ảnh quê hương không thể
tách rời trong cuộc sống; cuộc sống có quy luật riêng
của nó vì vậy nên biết chấp nhận; sống phải vì bản
thân, sống phải có lập trường, sống thẳng.
Hình ảnh quê hương không thể tách rời trong
cuộc sống: triết lí về quê hương, về vai trò của quê
hương trong cuộc sống, Nguyễn Ngọc Tư cho rằng:
là con người ai cũng có quê, có đất, không quê, không
đất nước xem như chưa phải là một con người đúng
nghĩa. Nhà văn luôn dành tình cảm đặc biệt cho quê
hương bằng trái tim yêu thương và thái độ trân trọng.
Trong truyện Giàn bầu trước ngõ, tác giả đã cho
người đọc thấy được mối quan hệ giữa quê hương
và con người có ý nghĩa như thế nào: “Có thể bứt
người ta ra khỏi quê hương nhưng không thể tách
quê hương ra khỏi chính trái tim con người (Giàn
bầu trước ngõ)” (Nguyễn Ngọc Tư, 2020). Nhà văn
cho rằng quê hương chính là cái nôi nuôi dưỡng bao
tâm hồn và chắp cánh mơ ước rất nhiều người, đồng
107
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
thời cũng là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống chuộc được” (Củi mục trôi về) (Nguyễn Ngọc Tư,
của người dân được thể hiện qua những nét sinh hoạt 2014, tr. 132). Triết lí về cuộc sống, về số phận con
hằng ngày. Không ai có thể tách quê hương ra khỏi người, Nguyễn Ngọc Tư nhìn vào quan hệ nhân - quả,
chính mình bởi vì quê hương đã gắn bó máu thịt với duyên của nhà phật và giọng điệu đôi khi chua chát
con người. Ai trong chúng ta cũng trải qua tuổi thơ,
lớn lên, trưởng thành rồi lập nghiệp vươn mình đến
những vùng đất mới, và đôi khi xem đó là quê hương
thứ hai. Mở rộng khái niệm về quê hương, theo nhà
văn quê hương được hiểu là đất nước, Tổ quốc mình:
“Làm người đừng suy nghĩ hẹp hòi, đừng tưởng nơi
mình sinh ra, nơi có mồ mả ông cha là quê hương,
khắp đất nước này chỗ nào cũng là quê cả” (Giàn bầu
trước ngõ), (Nguyễn Ngọc Tư, 2020). Bên cạnh đó,
trong truyện (Chợ nổi Cà Mau - chút tình sông nước),
nhà văn còn mượn hình ảnh dòng sông Gành Hào để
nói lên tình cảm, sự nhớ ơn, dù đi đâu cũng trở về
với cội nguồn: “Nước sông Gành Hào ngày ngày ra
biển rồi sao lại quay về há không phải vì không nỡ xa,
không phải vì thương nhớ chợ nổi Cà Mau đó sao?
Sông còn vậy, huống chi người?” (Nguyễn Ngọc Tư,
2020). Tất cả những điều này đã hòa nhập vào dòng
chảy của tâm hồn, của nhà văn với cảm nghĩ được
trở về quê hương.
cho số phận con người. Trong truyện ngắn Sổ lồng,
con người cũng có lúc rơi vào trạng thái tuyệt vọng
muốn từ bỏ mọi thứ để giải thoát chính mình nhưng
cuộc đời không cho phép. Đó là một niềm tin tốt đẹp
và tươi sáng, mỗi người tồn tại trên cõi đời đều có
một mục đích sống và thể hiện hết mình. Nhân vật
Lí là một người phụ nữ đáng trách nhưng cũng đáng
thương vì muốn che giấu cái thai trong người không
để cho mọi người biết, cô đã nhanh chóng nhận lời tỏ
tình người đàn ông lạ làm chồng. Khi biết Mai Liên
không phải là con gái ruột, người chồng đã tìm đến
rượu để giải sầu với thái độ xua đuổi hết sức tàn nhẫn,
thậm chí đánh vợ. Lí đã lặng lẽ bỏ về nhà má trên
người mang theo những vết thương sưng vù. Chính vì
thế, chị đã nghiệm ra rằng: “Nợ đời con vay thì phải
trả” (Sổ lồng), (Nguyễn Ngọc Tư, 2014, tr. 59). Hay
đó là ông Sáu trong truyện Biển người mênh mông
làm nghề bán vé số khắp nơi luôn nuôi hi vọng một
ngày nào đó tìm được vợ. Và khi gặp được Phi - một
con người thích sống phiêu lãng, hai con người xa lạ
bỗng trở thành tri âm tri kỷ của nhau. Cuộc đời thì
mênh mông, ông Sáu thì nhỏ bé nhưng vẫn cố gắng
đi tìm để nói lời xin lỗi và mong được tha thứ: “Tính
chết mấy lần rồi, nhưng còn mắc nợ đời. Nợ thì phải
trả chớ bỏ đi đâu” (Biển người mênh mông), (Nguyễn
Theo nhà văn, những người phủ nhận nơi mình
sinh ra và những ai chưa từng có quê hương tuổi thơ,
quê hương trong tâm thức là những người mất gốc
và đôi khi nhìn họ thật đáng thương. Trong tác phẩm
Đất, nhà văn đưa ra hệ quả của sự phát triển là người
dân mất dần đất của mình và mất đất là mất quê. Để
giữ được mảnh đất tổ tiên đôi khi phải đổi bằng sinh Ngọc Tư, 2005, tr. 112).
mạng con người: “Không có đất thì mình không là
cái gì hết” (Đất), (Nguyễn Ngọc Tư, 2016, tr. 151).
Cuộc sống này đôi khi làm cho con người phải
lựa chọn được - mất rất nhiều, và đừng hoài vọng về
quá khứ, càng hoài niệm chỉ khiến con người càng đau
khổ,… Nguyễn Ngọc Tư đưa ra triết lí, sống đôi khi
là một lựa chọn được - mất giữa vật chất và tinh thần:
“Làm ra đồng tiền chân chính đúng là đổ mồ hôi, sôi
con mắt, mất mát tình thâm” (Chuyện vui điện ảnh),
(Nguyễn Ngọc Tư, 2005, tr. 35). Để nghiêm túc với
nghề, đôi khi nhân vật chú Sa phải làm nhiều người
không vui cho lắm, nhưng biết làm sao được, nhân vật
phải lựa chọn cách sống, lập trường sống của mình.
Còn đây lại là trường hợp khác của quy luật cuộc
sống mà không phải ai cũng thấu hiểu “Người đời
thường vậy, họ chém ta một nhát rồi quên đi, thì chỉ
nói cho sướng miệng thôi, cho đỡ buồn thôi chứ chết
chóc ai đâu, ai biểu ta ngồi đó ôm vết sẹo với nỗi đau
khôn tả” (Đau gì như thể) (Nguyễn Ngọc Tư, 2020).
Trong truyện ngắn Đau gì như thể, nhà văn đã đưa
Cuộc sống có quy luật riêng của nó vì vậy nên
biết chấp nhận: triết lí về cuộc sống, nhà văn quan
niệm, cuộc sống này có quy luật riêng của nó vì vậy
nên biết chấp nhận. Chấp nhận cũng là một cách sống,
một dạng sống. Đối với Nguyễn Ngọc Tư, việc hiểu
được quy luật của cuộc sống có vai trò rất quan trọng
đối với chúng ta. Những u uẩn của cuộc đời cũng từ sự
hiểu biết hạn hẹp về cuộc sống mà ra. Nếu như không
giải thích được tại sao mọi việc lại diễn ra như thế, chỉ
cần nhìn nhận đó là số phận là định mệnh để không
nhận lấy khổ đau. Đôi khi người ta nhìn về quá khứ
nhớ lại những ngày tháng có những kỉ niệm hay chuỗi
ngày mất mát đau thương, lỗi lầm không gì có thể cứu
được, Nguyễn Ngọc Tư đã truyền tải một thông điệp
qua truyện ngắn Củi mục trôi về: “Có những số phận
mà trăm ngàn quyển kinh kệ cũng bó tay, không cứu
108
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 106-113
ra triết lí của mình về việc sống trong dư luận của xã người ta sẽ bị ném đá một vài lần, đau chút nhưng
hội. Nhân vật ông Tư Nhỏ bị mọi người hiểu nhầm, chết vì mấy cục đá đó thì lãng quá” (Osho và bồ)
dùng những lời nói không hay xúc phạm đến danh
dự, cho rằng ông là người làm hại đời con gái nuôi,
khiến cô mang bầu. Cuộc đời luôn đẩy ông vào những
bể khổ đầy trái ngang và sự hiểu lầm nhưng ông đã
bỏ qua những lời nói thiên hạ và sống an nhiên hơn.
Theo Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta phải biết trân quý
cuộc sống của mình “vì tuổi trẻ chẳng hai lần thắm
lại” (Xuân Diệu): “Tôi biết không có gì vĩnh viễn.
Sự biết này làm tôi hay buồn, khi ta ngồi cạnh nó, ta
ở trong nó, cùng với nó, nghe thấy, chạm được nó,
nhưng ta cũng đang mất nó, từ từ” (Khói trời lộng
lẫy) (Nguyễn Ngọc Tư, 2010, tr. 134).
(Nguyễn Ngọc Tư, 2010, tr. 62).
Bên cạnh đó, nhà văn cho rằng cuộc sống
dẫu muôn màu muôn vẻ, dẫu phức tạp khôn lường
nhưng con người cần phải có lập trường sống cho
riêng mình, hòa tan tính cách đồng nghĩa với việc
mất đi giá trị của bản thân. Trong truyện ngắn Gió
lẻ và Người năm cũ, Nguyễn Ngọc Tư đã bàn luận
về điều đó qua những câu triết lí: “Không biết trên
thế gian này có con chim nào tìm tới cái chết vì tiếng
hót của con chim khác? Có con chó nào bỗng dưng
đâm đầu vào đá vì tiếng sủa của con chó khác? Có
con bò nào nhảy xuống tự chìm chỉ vì tiếng kêu của
con bò khác?” (Gió lẻ) (Nguyễn Ngọc Tư, 2008, tr.
147). Nhân vật Mỹ Ái không định hướng được cuộc
sống của mình và gần như không còn khả năng giao
tiếp được với xã hội trước khi nhân vật gặp được
nhân vật Dự - người đem tình thương và giúp Mỹ Ái
hòa nhập lại với cộng đồng, hay: “Cuộc đời đã tằn
tiện chia sớt lại cơ hội cuối cùng của chú, cũng bởi
vì chú đã hoài phí nhiều” (Người năm cũ) (Nguyễn
Ngọc Tư, 2010, tr. 152). Việc lựa chọn cách sống,
lập trường sống kiên định giúp con người nhanh đạt
được mục đích của mình hơn: “Đường bằng gang
tay hai người không muốn đi, lại lòng vòng cho phí
cuộc đời” (Ngày đã qua) (Nguyễn Ngọc Tư, 2003,
tr. 156) hay “Đường đời gang tấc mà vì nỗi gì mà đi
vòng cho xa hoài xa mãi” (Người năm cũ) (Nguyễn
Ngọc Tư, 2010, tr. 153).
Có thể nói, khi trình bày triết lí của mình về
cuộc sống, Nguyễn Ngọc Tư đưa ra khá nhiều quy
luật của cuộc sống, những hiện thực mà con người
đã và đang đi qua không chỉ có trong không gian
truyện ngắn. Nhiều lựa chọn, cách giải quyết, lí
giải của nhà văn có thể là kênh tham khảo khá tốt
đối với người đọc, đặc biệt là với bạn đọc trẻ tuổi.
Sống phải vì bản thân, sống phải có lập trường, sống
thẳng: Một trong những triết lí của Nguyễn Ngọc Tư
về cuộc sống là phải hiểu về quy luật của nó, đôi khi
chấp nhận như cách lí giải của Phật giáo. Chúng tôi
còn khảo sát và nhận diện được nhân sinh quan của
tác giả về cuộc sống là phải sống vì bản thân, sống
phải có lập trường và sống thẳng. Trong truyện ngắn
Chuồn chuồn đạp nước, tác giả thể hiện quan niệm
của mình về cách sống: sống là vì mình, cho mình
hay sống vì thiên hạ, sống cho thiên hạ, theo chiều
hướng, nhìn nhận của thiên hạ: “- Quan trọng người
ta trong mắt mình như thế nào. Tao thấy mầy cứ mệt
mỏi vì chuyện mình như thế nào trong mắt người ta”
(Chuồn chuồn đạp nước) (Nguyễn Ngọc Tư, 2008,
tr. 23). Truyện kể về ông thầy giáo trả lời sai trên
sóng truyền hình khi hỗ trợ con mình thi trực tiếp ở
trường quay và ray rứt vì điều đó (vì quan niệm thầy
giáo là người nắm tri thức, phải biết mọi thứ). Nhân
vật ông bố từ trước đến giờ luôn sống theo cách nhìn
nhận của xã hội nên việc trả lời sai câu hỏi ở trường
quay đã làm ông gần như không thể sống được vì
sợ dư luận. Nhà văn đưa ra một tình huống truyện
mang tính thời sự không chỉ ở Việt Nam mà còn ở
nhiều nước châu Á khác khiến người đọc phải suy
nghỉ nhiều về cách lựa chọn quan niệm sống. Hay
trong truyện ngắn Osho và bồ, nhân vật Vĩnh nhận
ra được nhiều điều từ câu nói của Osho: “Trong đời
Một trong những quan niệm về cách sống trong
xã hội, tác giả đặc biệt quan tâm đến tích cách của
người Nam Bộ trong những trang viết của mình; đó
là sống thật, thẳng thắn và ví như cây đước ở vùng
sình lầy: “Sống làm sao như cây đước thẳng đuột ưỡn
ngực giữa sình lầy” (Ngọn đèn không tắt) (Nguyễn
Ngọc Tư, 2000, tr. 12). Những năm tháng chiến tranh
đã đi qua, đất nước hòa bình, những câu chuyện lịch
sử vẫn còn đọng lại trong mỗi con người Xóm Gạch.
Ông Hai Tương là người từng tham gia kháng chiến,
là nhân chứng lịch sử. Mọi người vẫn hay gởi thơ mời
ông đi nói chuyện khởi nghĩa nhưng không ai nhớ ông
đã mất từ bao giờ. Tươi là đứa cháu của ông sẽ nối
tiếp truyền thống giữ ngọn lửa ấy. Một cô bé trẻ tuổi
nhưng đã thể hiện được tinh thần, trách nhiệm của
con người yêu cách mạng. Cây đước là biểu tượng
cho tính cách của người Cà Mau và Tây Nam Bộ nói
109
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
khác, một cái nhìn thiện cảm và tôn trọng người đối
diện: “Chú em đang đau ở trong tâm phải hôn? Chỉ
có người đau mới uống từng chút như vầy. Phi cười,
anh vốn ít lời, lại không thích kể lể chuyện mình.
Ông già lại không ép, ông nói nỗi buồn như cái ao,
càng đào càng sâu, ai ác làm gì” (Biển người mênh
mông) (Nguyễn Ngọc Tư, 2005, tr. 111). Tư tưởng
của nhân vật ông Sáu cũng đã phần nào thể hiện quan
điểm của nhà văn khi nhìn về những đau khổ của con
người trong cuộc sống: “Người ta buồn nhất, cô đơn
nhất là khi ngủ dậy. Và khi ngoài trời đang nắng ráo
mà không biết phải đi đâu, về đâu” (Biển người mênh
mông), (Nguyễn Ngọc Tư, 2005, tr. 111).
chung. Sự thẳng thắn từ lâu đã trở thành “đặc sản”
trong tính cách văn hóa của người Nam Bộ.
Có thể kết luận, khi trình bày những quan niệm
của mình thông qua những triết lí về cuộc sống,
Nguyễn Ngọc Tư cho chúng ta thấy được tác giả là
người có nhiều trải nghiệm trong cuộc sống. Chiêm
nghiệm, đúc kết của nhà văn về cuộc sống phản ánh
những mặt, mảng hiện thực của đời sống đương đại
và chúng đậm chất thời sự. Những triết lí của nhà văn
về cuộc sống có tác động lớn đến người đọc, đặc biệt
là giới trẻ trong hơn thập kỷ qua.
2.2.2. Triết lí về con người
Qua khảo sát tính triết lí về con người trong
truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (25 câu),
chúng tôi cho rằng yếu tố con người trong sáng tác
của nhà văn luôn mang một nỗi niềm tâm sự. Nhà văn
thường gửi vào nhân vật của mình nhiều nỗi buồn và
sự cô đơn trong cuộc sống. Bên cạnh đó, dưới lăng
kính của nhà văn, chúng ta còn thấy được yếu tố con
người trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư còn là
con người với quan niệm sống nghĩa tình, chân thành
và ý thức sống đẹp, sống có niềm tin, luôn nhìn về
phía trước.
Bên cạnh đó, triết lí về con người trong truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư còn là con người với
quan niệm sống nghĩa tình, chân thành và con người
với ý thức sống đẹp, sống có niềm tin, luôn nhìn về
phía trước. Tình yêu thương, sự quan tâm, chia sẻ
là những tình cảm tốt đẹp trong cuộc sống. Đồng
thời cũng khuyên con người hãy sống chân thành,
tự nguyện trao yêu thương sẽ nhận được yêu thương
nồng nhiệt từ mọi người. Bên cạnh đó, trong truyện
Làm mẹ, chúng ta thấy được cách ứng xử giữa các
nhân vật. Dì Diệu luôn mong muốn có một đứa con
như bao gia đình khác nhưng lúc còn trẻ dì có khối u ở
buồng trứng không thể sinh con được nên đã thuê chị
Lành - người phụ nữ làm nghề gánh nước đẻ mướn.
Chị Lành đồng ý vì nhà nghèo rất cần tiền lo cho mẹ
già ở quê. Hai người tiến hành kí hợp đồng và đầy
đủ quy ước. Ngày em bé sắp chào đời, chị Lành bỏ
đi vì nghĩ đến chuyện giao đứa con yêu thương cho
người ta. Vài ngày sau, chị Lành trở về ôm dì Diệu
khóc. Không gì có thể vay mượn, thuê mướn được
như cảm giác làm mẹ: “Người có tình có nghĩa, dễ gì
bỏ nhau được” (Nguyễn Ngọc Tư, 2003, tr. 97). Cuối
cùng dì Diệu đi lấy tờ hợp đồng và đốt cháy thành
tro. Qua đây, nhà văn giúp cho chúng ta hiểu thêm
về lối sống đẹp là sống có tình có nghĩa. Hay trong
tác phẩm Cuối mùa nhan sắc, nhân vật Ông Chín
khuyên Đào nên gặp nhân vật Thường Khanh bằng
chính tình yêu thương của mình: “Không tránh được
hoài đâu, cô à, mà có gì phải tránh né nhau, người ta,
sống ở đời cốt là tấm lòng” (Nguyễn Ngọc Tư, 2003,
tr. 44). Nguyễn Ngọc Tư cho rằng, phàm là con người
sống phải có tình thâm và sống đẹp vì cây cỏ còn có
nhu cầu đấy. Nhà văn so sánh: “Thâm tình cũng như
nước dưới sông, có chảy đi đâu, có chèm vè ở đâu
cũng hợp lại thành một dòng xuôi chảy mãi. Một dòng
Nỗi buồn và sự cô đơn của con người trong cuộc
sống là kiểu nhân vật thường thấy trong thi pháp sáng
tác của nhà văn Nam Bộ này: “Con người ta, hết đau
bề nầy tới đau bề khác” (Cải ơi) (Nguyễn Ngọc Tư,
2005, tr. 12). Truyện ngắn Cải ơi nói về hành trình
tìm đứa con gái suốt mười ba năm. Lúc nhỏ, Cải vì
quá ham chơi đã làm mất cặp trâu không dám về nhà,
nó ra đi không trở về nữa. Người vợ buồn và trách
ông Năm Nhỏ cho rằng ông giết đứa con gái riêng
của mình. Chính vì thế mà gia đình sống trong cảnh
đau buồn và không một ngày hạnh phúc. Mặc cho
người đời nói ông giết con nhưng ông vẫn tin sẽ có
một ngày tìm được con. Hằng ngày khi tiếp xúc với
vợ, ông nhận thấy trong đôi mắt của bà lúc nào cũng
tỏ ra sự căm ghét nên ông quyết định tìm con từ cánh
đồng này sang cánh đồng khác nhưng không thấy. Nỗi
đau cứ chất chồng và ông đã đi trộm trâu của người
trong xóm để được lên đài truyền hình, hy vọng nói
lên bao nhiêu điều mà bấy lâu nay chưa nói: “Cải ơi!
ba là Năm Nhỏ nè, về nhà mình ở Cỏ Cháy đó, nhớ
không?. Về đi con, tội má con vò võ có một mình.
Con là trọng, chứ đôi trâu nhằm nhò gì,... Về nghe
con ơi Cải...” (Nguyễn Ngọc Tư, 2005, tr. 12). Còn
đây là cách nhìn của ông Sáu về nỗi đau của người
110
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 106-113
xuôi mải miết” (Nguyễn Ngọc Tư, 2003, tr. 113). nhưng cũng thể hiện rõ quan điểm của chị đối với
Và: “Cỏ còn muốn sống đẹp, tốt hơn nữa, huống chi người làm nghệ thuật.
mình” (Cỏ xanh), (Nguyễn Ngọc Tư, 2000, tr. 31).
Trong tác phẩm Chuyện của Điệp, nhà văn cho rằng
một người không có nhân nghĩa thì cho dù cố gắng
nhiều như thế nào cũng khó thành công trong cuộc
sống và cả trong nghệ thuật: “Con muốn diễn hay
thì phải sống nhân ngãi trước đã, mình sống có tình
đóng vai nào cũng dễ (Chuyện của Điệp) (Nguyễn
Ngọc Tư, 2000, tr. 47).
Truyện ngắn Chuyện của Điệp là một trường hợp
điển hình về quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Nhân
vật người bà dạy cháu mình làm nghệ thuật (Điệp):
“Con muốn diễn hay thì phải sống nhân ngãi trước
đã, mình sống có tình đóng vai nào cũng dễ” (Nguyễn
Ngọc Tư, 2010, tr. 47). Theo Nguyễn Ngọc Tư, để
đóng được những vai nhân nghĩa trong nghệ thuật
người nghệ sĩ cần sống nhân nghĩa trước đã, sống mà
Như đã trình bày, triết lí về con người Nguyễn có tình thì đóng vai nào cũng dễ. Để cuộc sống có
Ngọc Tư quan niệm là con người cần phải có niềm ý nghĩa, mỗi cá nhân hòa nhập với mọi người, cùng
tin, cần có cái nhìn lạc quan về tương lai. Trong tác chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Sống trong xã hội không
phẩm Đất mũi mù xa, nhà văn cho rằng: “Đời người ai sống đơn độc vẫn có nhiều mối quan hệ như trong
có bao lâu đâu, không nhìn phía trước sau cứ lo ngoái gia đình thì có quan hệ huyết thống ông bà, cha mẹ,
lại” (Nguyễn Ngọc Tư, 2020). Nhà văn cho rằng con anh em, rộng hơn là bạn bè, bà con, làng xóm. Tất
người nên nhìn về phía trước, nhìn về tương lai để có cả tạo nên một quan hệ thống nhất không thể tách
được những điều tốt hơn. Quá khứ chỉ là mốc thời rời. Khi ai đó gặp hoạn nạn chúng ta sẵn lòng giúp
gian giúp cho mọi người nhìn về những gì đã trải đỡ, động viên vượt qua khó khăn. Đó là một nghĩa
qua và điều rất khó có thể từ bỏ quá khứ không dễ cử cao đẹp: “Người có tình có nghĩa, dễ gì bỏ nhau
dàng. Cuộc đời của mỗi người hữu hạn nên thay đổi được” (Nguyễn Ngọc Tư, 2003, tr. 97).
cách nhìn về cuộc sống để dung hòa mọi thứ xung
quanh. Trong tác phẩm Cánh đồng bất tận nhà văn
còn truyền tải tư tưởng sống vị tha và luôn nhìn về
phía trước với ước mơ tươi đẹp: “Đứa bé không cha
nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và
vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con,
đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn” (Nguyễn
Ngọc Tư, 2010, tr. 218). Sau những ngày tha hương
trên những cánh đồng bất tận, song tồn với nỗi hận
tình của người cha tên Út Vũ, hai chị em Nương,
Điền phải sống trong cảnh thiếu tình thương, thiếu đi
bàn tay chăm sóc ân cần của người mẹ. Cả hai không
bao giờ oán trách cha và mẹ vì chúng hiểu rõ những
gì đang diễn ra trong cuộc sống hiện tại và luôn ước
mơ về một mái ấm gia đình chắc có lẽ còn rất xa vời
với Nương và Điền. Trước cảnh tượng bị xâm hại,
cô gái bé nhỏ không đổ lỗi cho số phận mà vẫn tin
rằng ánh sáng tươi đẹp của niềm tin sẽ giúp cô chấp
nhận nỗi đau và tìm ra lẽ sống.
Nhà văn chiêm nghiệm sống ở đời chúng ta
đều có quyền đặt mục đích hướng tới thành công
nhưng không phải là sự tranh giành, ép buộc tất cả
mọi việc thuộc về mình. Trong truyện Chuyện của
Điệp, Nguyễn Ngọc Tư giúp cho chúng ta biết được
cách nghĩ và cách sống của người nghệ sĩ: “Cái gì
của mình trước sau gì cũng của mình, cái gì không
phải của mình đừng giành giật uổng công” (Nguyễn
Ngọc Tư, 2010, tr. 51). Hay trong tác phẩm Chuyện
vui điện ảnh, tác giả viết: “Làm ra đồng tiền chân
chính đúng là đổ mồ hôi, sôi con mắt, mất mát tình
thâm” (Nguyễn Ngọc Tư, 2010, tr. 35).
Nhân phẩm và đồng tiền là hai vấn đề thường
đối lập trong nghệ thuật và trong xã hội, đôi khi
chúng ta phải lựa chọn. Theo nhà văn, là một nghệ
sĩ chân chính, đừng bao giờ đánh mất nhân phẩm
của mình: “Một nghệ sỹ chân chính thì không cần
những đồng tiền hạ thấp nhân phẩm mình” (Nguyễn
Ngọc Tư, 2020). Nhân vật nghệ sĩ trong truyện ngắn
của Nguyễn Ngọc Tư thể hiện tính điềm đạm, trung
2.2.3. Triết lí về nghệ thuật
Triết lí về người làm nghệ thuật, nhà văn thực có thể kể đến Sỹ trong Nửa mùa, một con người
Nguyễn Ngọc Tư cho rằng cần giữ nhân nghĩa, làm việc hết mình để viết nên những khúc hát tâm
đạo đức nghề nghiệp cho mình và đừng vì đồng tình làm say đắm lòng người. Cuộc sống của Sỹ luôn
tiền mà hạ thấp nhân phẩm của mình. Tuy triết lí bấp bênh, giống như tấm rào cản lớn ngăn cách đến
về người làm nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà con đường thành công. Là con người sống có trách
văn Nguyễn Ngọc Tư không nhiều (3 câu triết lí) nhiệm, đặt cái tâm lên hàng dầu. Dù cho cuộc đời có
111
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
thương), (Nguyễn Ngọc Tư, 2003, tr. 14). Hay trong
xô đẩy anh vào khó khăn nhưng anh sẽ không làm
nhơ danh của người nghệ sĩ. Hay trong tác phẩm Bởi tác phẩm Ngổn ngang, nhà văn đưa ra triết lí tương
yêu thương, nhà văn cũng từng quan niệm đã là nghệ tự: “Hai đứa mình giống như đứng hai bên bờ sông,
sĩ thì không vì tiền mà sống hèn được.
nhìn thấy nhau, nghe nhau nói nhưng không đến
được với nhau đâu” (Nguyễn Ngọc Tư, 2000, tr. 68).
Có thể nói, truyện ngắn Ngổn ngang là những thử
thách, trắc trở trong tình yêu. Một người phóng viên
tên Viên yêu một người kỹ sư nổi tiếng và cuối cùng
giấc mộng tan vỡ vì đẳng cấp và lập trường sống, tư
tưởng sống khác nhau. Cuộc sống con người là một
quá trình sự chuyển hóa luân hồi luôn có sự kế thừa.
Trong tác phẩm Biển người mênh mông, đôi khi người
với người gặp nhau là một chuyện tình cờ, do duyên
mà ra (người hữu duyên ắt sẽ tương ngộ): “Tránh làm
sao được khi kịch bản cuộc đời đã bày ra một cảnh
gặp nhau” (Nguyễn Ngọc Tư, 2003, tr. 44).
2.2.4. Triết lí về tình yêu
Triết lí về tình yêu, Nguyễn Ngọc Tư cho rằng:
yêu thuộc về cảm xúc chứ không phải là sự tranh
giành; trong tình yêu cần có sự chân thành, chấp nhận
yêu là chấp nhận mất mát, chấp nhận hoàn cảnh của
nhau; nếu cuộc tình tan vỡ thì cũng đừng vì quá khứ
mà đau buồn. Truyện ngắn Chuyện của Điệp, nhà
văn chiêm nghiệm tình yêu là tự nguyện, đến từ hai
phái: “Cái gì của mình trước sau gì cũng của mình,
cái gì không phải của mình đừng giành giật uổng
công” (Nguyễn Ngọc Tư, 2000, tr. 51).Tình yêu vốn
là sự đồng điệu của hai tâm hồn, là sự rung động của
con tim. Yêu nhau là để hiểu nhau, quan tâm, chia
sẻ và sống tốt bên nhau. Nhân vật Điệp đã nhận ra
trải qua bao thử thách mới bền vững và tình yêu phải
xuất phát từ chân thành. Khi biết Hoàng không yêu
và không đáp trả lại thì Điệp quyết định ra đi. Bởi cô
nghĩ cố níu giữ sẽ gây đau khổ cho cả hai và giành
lấy tình yêu của một người không thương mình sẽ
không có hạnh phúc.
Chuyện tình - tiền cũng được nhà văn đề cập
đến trong truyện ngắn của mình với những triết lí khá
sâu sắc: “Tiền bạc có xây đắp tình yêu đâu” (Nguyễn
Ngọc Tư, 2003, tr. 33). Nhà văn không phủ nhận vai
trò của đồng tiền trong cuộc sống và trong tình yêu
hôn nhân. Tuy nhiên, nếu quá xem trọng đồng tiền
thì tình yêu rất dễ bị tan vỡ hoặc tình yêu chỉ là mua
- bán. Gió lẻ của Nguyễn Ngọc Tư giúp chúng ta
hiểu rõ thêm một chân lý. Đối với hôn nhân việc lựa
chọn người làm chồng hay làm vợ đôi lúc cũng là sự
may rủi. Có những người may mắn tìm được người
rất mực yêu thương, biết quan tâm và thấu hiểu. Bên
cạnh đó, vẫn có những người không được như ý muốn
của bản thân, thương phải một người suốt ngày buộc
người khác làm theo quy tắc đặt ra tạo sự nhàm chán
giống như đi vào cõi chết, không có niềm vui, hạnh
phúc: “Lựa chọn yêu thương con người đồng nghĩa
với việc mất mát những niềm vui” (Nguyễn Ngọc
Tư, 2008, tr. 135).
Đôi khi người ta yêu nhau nhưng chưa chắc đến
được với nhau. Tình yêu trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư được thể hiện qua nhiều cung bậc khác nhau
lúc nhẹ nhàng, đau đớn, tuyệt vọng: “Cái mất mất rồi,
cái còn hình vẫn còn đó” (Nguyễn Ngọc Tư, 2010,
tr. 83). Trong truyện Lý con sáo sang sông, Phi nghĩ
mình nhà nghèo, muốn cho người mình yêu có cuộc
sống tốt hơn nên đã âm thầm tìm hiểu nhà chồng sắp
cưới của út Thà và chấp nhận để cho cô sống bên hạnh
phúc mới nhưng cũng chính vì điều đó mà cô vẫn luôn
nghĩ rằng mình vẫn còn nợ tình cảm với Phi. Quan
niệm này của nhà văn cũng xuất hiện trong truyện
ngắn Hoang đường khi cho rằng yêu cần chân thành
và phải hết mình vì tình yêu: “Biết là lửa, nhưng con
thiêu thân vẫn muốn lao vào cháy hết một lần. Yêu
mà để dành, dè chừng, phòng hờ thì vui gì” (Nguyễn
Ngọc Tư, 2020).
Ngoài những chiêm nghiệm về tình yêu nói trên,
Nguyễn Ngọc Tư còn gửi đến người đọc những kinh
nghiệm của mình khi đánh giá tính cách của những
người đang yêu. Dòng nhớ hiện lên triết lí về lòng tin
trong tình yêu khi nhà văn miêu tả tâm trạng sự đau
khổ của người phụ nữ khi tình duyên không trọn vẹn.
Cuộc đời chấm hết với nhiều ngang trái, đau khổ. Họ
cho rằng người đàn ông là người phụ bạc: “Con người
ta, nhất là đàn ông thương ai mà vì nỗi gì đó quay lưng
lại quên mất tiêu thì không tử tế, không đáng tin chút
nào” (Nguyễn Ngọc Tư, 2003, tr. 52) hay trong tác
phẩm Nhân phủ: “Trầm tính, sâu sắc, người như vậy
Nhà văn cũng quan niệm trong tình yêu phải
biết chấp nhận hoàn cảnh nếu phải xa nhau, thậm
chí âm dương cách trở cũng phải chấp nhận. Đừng
vì sự vị kỷ của bản thân mà làm người mình yêu đau
khổ: “Đôi khi người ta vì yêu mà rứt ruột lìa xa người
mình yêu. Biết làm sao, hoàn cảnh vậy mà” (Bởi yêu
112
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 106-113
thương ai là thương tới chết mới thôi” (Nguyễn Ngọc cuộc sống, con người, nghề nghiệp và tình yêu. Trong
Tư, 2005, tr. 72). Truyện kể về một người đàn ông chỉ đó, điều nhà văn quan tâm nhiều nhất ở những câu
vì chữ tình mà giữ trong lòng một mình không muốn triết lí của mình là về quan niệm cuộc sống và về tính
tâm sự cùng ai, một con người nặng tình nặng nghĩa. cách con người trong xã hội. Theo tác giả, cuộc sống
Đôi khi trong tình yêu cũng có lúc chia tay vì một lý gắn liền với quê hương và cuộc sống luôn có quy luật
do nào đó nhưng người đau khổ nhất không phải là riêng của nó, đôi khi con người phải biết chấp nhận
phụ nữ mà là đàn ông. Hai anh em Tứ Phương và Tứ số mệnh của mình; cuộc sống luôn phức tạp nên cần
Hải đều lặng lẽ yêu chị Thể, vì không muốn gây mâu phải sống có lập trường, sống vì mình và sống thẳng.
thuẫn, hiểu lầm, Tứ Phương chấp nhận hi sinh niềm Quan niệm về con người, nhà văn khẳng định: con
vui của mình cho anh trai. Hay trong truyện Nỗi buồn người cần sống nghĩa tình, chân thành; có ý thức
rất lạ, nhà văn đã nêu lên triết lí về sự tuyệt vọng vì sống đẹp, sống có niềm tin, luôn nhìn về phía trước.
lỡ làng, không còn hi vọng có thể níu kéo được của
người đàn ông và xem mình như đã chết với tình yêu,
tuy đó là tình yêu của đồng đội, tình yêu của lòng tự
trọng: “Người ta không còn yêu mặt trăng nữa khi
biết trên ấy chỉ là sỏi đá, không sự sống” (Nguyễn
Ngọc Tư, 2000, tr. 38).
Tuy triết lí về nghề nghiệp và tình yêu ít được
nhà văn nhắc đến trong thể loại truyện ngắn nhưng
cũng góp phần thể hiện được quan niệm của nhà văn
về vấn đề trên và có khả năng tác động tích cực đến
tư tưởng người đọc.
Tài liệu tham khảo
Qua việc khảo sát 11 câu triết lí về tình yêu trong
truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta
có thể kết luận nhà văn quan tâm nhiều nhất về cuộc
sống và con người trong xã hội. Tuy triết lí về tình
yêu chưa phải là nội dung chính yếu trong nội dung
sáng tác của tác giả nhưng có vai trò tác động đến
nhận thức của người đọc, đặc biệt là giới trẻ ở Việt
Nam - lực lượng được xem là có sự đón nhận “nồng
nhiệt” những tác phẩm của nhà văn trẻ này.
Bùi Quang Tịnh và cs. (2001). Từ điển tiếng Việt .
Hà Nội: NXB Thống kê.
Hoàng Phê và cs. (2010). Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng:
NXB Đà Nẵng.
Nguyễn Minh Ca. (2019). Tính triết lý trong
truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Khải. T ạ p
chí Nhân lực Khoa học Xã hội (Viện hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam), số (77), 83-90.
Nguyễn Ngọc Tư. (2020). Tuyển tập truyện ngắn.
viewtruyen.php?cat=13&ID=1793.
3. Kết luận
Có thể khẳng định, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
là nhà văn trẻ thành công ở thể loại truyện ngắn và
là một trong những nhà văn tiêu biểu của Việt Nam
trong nền văn học đương đại. Bằng sự quan sát và
trải nghiệm của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã đúc kết
và bày tỏ những quan niệm của mình qua triết lí về
Nguyễn Như Ý và cs. (1999). Đại từ điển Tiếng Việt.
Hà Nội: NXB Văn hóa Thông tin.
Thanh Lê. (2003). Từ điển xã hội học. Hà Nội: NXB
Khoa học Xã hội Hà Nội.
113
Bạn đang xem tài liệu "Tính triết lí trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_triet_li_trong_truyen_ngan_cua_nha_van_nguyen_ngoc_tu.pdf

