Tư duy huyền thoại hóa nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng trong một số tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 9-15  
9
TƯ DUY HUYỀN THOẠI HÓA NHÂN VẬT TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG  
TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI  
Nguyễn Thị Ái Thoa*  
Trường Đại học Phú Yên  
Ngày nhận bài: 12/04/2021; Ngày nhận đăng: 28/05/2021  
Tóm tắt  
Trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tư duy huyền thoại hóa được nhiều nhà văn ưa  
chuộng và có những thể nghiệm thành công nhất định. Trong đó, việc tái tạo nhân vật tôn giáo,  
tín ngưỡng được xem là hướng lựa chọn khá phổ biến. Đó là làm cho nhân vật trở nên thiêng  
hóa, thần thánh hóa hoặc tỏa sáng vẻ đẹp về nhân cách, tư tưởng và trí tuệ mà người thường  
không có được. Đồng thời, các nhà văn cũng làm mới lại nhân vật huyền thoại thông qua cảm  
quan hiện đại.  
Từ khóa: tư duy huyền thoại hóa, nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng, tiểu thuyết Việt Nam  
đương đại  
là một trong những xu thế thi pháp của văn  
học viết thế kỷ XX và cũng là một trong  
những biểu hiện của sự tương tác phức tạp,  
biến động của văn học so với thần thoại qua  
các thời đại văn học sử. Nói về mối quan hệ  
giữa văn học và huyền thoại (có lúc Lại  
Nguyên Ân đồng nhất với thần thoại), tác  
giả nhận định “Về mặt loại hình, thần thoại  
và văn học viết là hai phương thức nhìn và  
mô tả thế giới khác nhau về nguyên tắc.  
Nếu ở thời đại tiền văn tự, ý thức thần thoại  
giữ vai trò chủ đạo thì ở thời kỳ các nền  
văn hóa chữ viết, ý thức ấy chịu áp lực của  
tư duy logic ngôn từ. Tuy thế, chính ở lĩnh  
vực nghệ thuật và văn học, tác động của ý  
thức thần thoại, sự tái hiện một cách vô  
thức các cấu trúc thần thoại vẫn tiếp tục có  
ý nghĩa mặc dù nguyên tắc trần thuật theo  
lịch sử, theo đời thường đã toàn thắng” (Lại  
Nguyên Ân, 2004, tr.158).  
1. Đặt vấn đề  
Tác giả quyển Thi pháp của huyền  
thoại – E.M.Meletinsky cho rằng: “Thi  
pháp của sự huyền thoại hóa là một trong  
những phương pháp tổ chức tự sự sau khi  
đập vỡ hay phá hủy mạnh mẽ cấu trúc của  
tiểu thuyết cổ điển thế kỷ XIX thoạt đầu  
thông qua các song chiếu và các biểu  
tượng, chúng giúp cho việc sắp xếp chất  
liệu cuộc sống hiện đại và cấu trúc hành  
động nội tâm, rồi sau đó bằng cách sáng tạo  
cốt truyện huyền thoại độc lập để thiết kế ý  
thức tập thể đồng thời với lịch sử phổ quát”  
(Meletinsky E.M, 2004, tr.464). Trong  
cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên  
Ân chia ra hai xu hướng huyền thoại hóa là  
huyền thoại hóa ý thức xã hội và huyền  
thoại hóa như một thi pháp đặc thù. Xu  
hướng thứ nhất, huyền thoại hóa ý thức xã  
hội thường thể hiện sự sùng bái các thế lực  
siêu nhiên, là “công cụ lũng đoạn tâm lý  
quần chúng” (Lại Nguyên Ân, 2004,  
tr.157). Bên cạnh đó, xu hướng thứ hai,  
huyền thoại hóa như một thi pháp đặc thù,  
_____________________________  
Trên thế giới, xu hướng huyền thoại  
hóa diễn ra ở nhiều lĩnh vực, từ tiểu thuyết,  
thơ cho đến kịch, nhưng mạnh mẽ hơn cả  
vẫn là ở thể loại tiểu thuyết. James Joyce và  
Thomas Mann được xem là hai đại diện  
tiêu biểu của trào lưu huyền thoại hóa trong  
* Email: [email protected]  
10  
Journal of Science – Phu Yen University, No.27 (2021), 9-15  
tiểu thuyết thế kỷ XX. Với họ, huyền thoại  
hóa là một trong những khía cạnh mang lại  
cho tiểu thuyết tính trí tuệ và chất triết lý.  
Nhắc đến James Joyce, người ta nhớ đến  
các tác phẩm kinh điển của ông như  
Ulysses, Tưởng nhớ Finnegan. Nếu như  
trong Ulysses, tác giả lấy cốt truyện từ sử  
thi Odyssés của Home và các nhân vật  
trong tác phẩm cũng được đối sánh các  
nhân vật huyền thoại trong thiên sử thi này  
thì Tưởng nhớ Finnegan dùng huyền thoại  
để giải thích bản thân huyền thoại. Cùng  
với James Joyce, trong tiểu thuyết Núi thần  
và Anh em nhà Joseph, Thomas Mann có  
sự cải biến mô hình nghi lễ huyền thoại và  
tạo dựng những cốt truyện lấy từ Kinh  
Thánh, các truyền thuyết trong kinh Coran,  
đồng thời ông cũng thể hiện sự hiểu biết  
của mình về huyền thoại Ai Cập. Chính vì  
thế, tiểu thuyết huyền thoại của Thomas  
Mann còn được coi là “tiểu thuyết về cái  
huyền thoại” (Meletinsky).  
tác phẩm đáng chú ý như: Những đêm hoang  
mạc (J.Amado), Vương quốc trần gian (A.  
Carpentier), Những con sông sâu thẳm  
(J.M.Arguedas), Lá rụng, Trăm năm cô đơn  
(G.Garcia Marquéz). Điểm tương đồng của  
các tác phẩm trên là sử dụng những motif  
huyền thoại dân gian để phê phán, vạch trần  
những mặt trái của xã hội.  
Nằm trong dòng chảy của văn xuôi  
Việt Nam đương đại, tiểu thuyết từ sau  
1975 và nhất là sau 1986, đảm đương sứ  
mệnh quan trọng là đổi mới tư duy tiểu  
thuyết. Trong quan niệm nghệ thuật về con  
người, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã có sự  
dịch chuyển từ quan niệm con người kiểu  
sử thi sang quan niệm con người thế sự, đời  
tư. Nhà văn lấy con người làm điểm quy  
chiếu lịch sử với mong muốn nắm bắt  
những chân lý phổ quát về con người. Chịu  
sự chi phối của quy luật thời bình, con  
người trong văn học tồn tại như một nhân  
vị độc lập. Một trong những đổi mới quan  
trọng của tiểu thuyết giai đoạn này là các  
nhà văn đã sử dụng tư duy huyền thoại  
trong sáng tác. Cụ thể là việc vận dụng  
những câu chuyện huyền thoại về các nhân  
vật tôn giáo, những phong tục, tập quán, lễ  
hội trong tín ngưỡng dân gian; các cổ mẫu,  
biểu tượng với những ý nghĩa phổ quát vốn  
tồn tại trong tiềm thức của nhân loại, trong  
tâm thức cộng đồng. Tư duy ấy tuy chưa  
được sử dụng phổ biến trong các sáng tác  
văn học đương đại Việt Nam, nhưng nhiều  
nhà văn ưa chuộng và đã có những thể  
nghiệm thành công nhất định. Đặc biệt,  
việc sử dụng tư duy huyền thoại hóa các  
nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng là một hướng  
đi đặt ra nhiều thử thách nhưng khá thú vị  
và độc đáo, mang lại sức hấp dẫn rất riêng  
cho một số tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam  
đương đại.  
Ngoài ra, còn phải kể đến Kafka với  
hàng loạt các tác phẩm như: Vụ án, Lâu  
đài, Biến dạng, Sự im lặng của thủy quái.  
Nét độc đáo ở Kafka là ông đã phi thường  
hóa nhân vật khiến cho hình tượng nghệ  
thuật không còn lãng mạn mà trở nên  
huyền ảo. Ông đã tạo ra thứ “mê lộ hình  
ảnh” mà ở đó, ranh giới của không – thời  
gian và những biến cố đều bị xóa nhòa. Đặc  
biệt, Kafka không đi vào tái hiện chất quái  
dị nằm ở khía cạnh vật chất, hình thức mà  
ông khai thác trạng thái lo âu, bất ổn ngay  
bên trong con người – nguyên nhân dẫn tới  
những nghịch lý bí ẩn và quái đản.  
Từ những năm 50 – 60 của thế kỷ  
XX, tư duy huyền thoại hóa bắt đầu phát  
triển ở các nền văn học Mỹ Latinh và một  
số nước Á – Phi. Tiểu thuyết thời kỳ này có  
sự kết hợp giữa chất trí tuệ luận đề hiện đại  
kiểu châu Âu với truyền thống thần thoại và  
folklore xưa. Có thể kể ra hàng loạt những  
2. Nội dung  
Trong văn xuôi Việt Nam đương  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 9-15  
11  
đại, tư duy quen thuộc để tái tạo nhân vật  
tôn giáo, tín ngưỡng là làm cho nhân vật trở  
nên thiêng hóa, thần thánh hóa hoặc tỏa  
sáng vẻ đẹp về nhân cách, tư tưởng và trí  
tuệ mà người thường không có được. Đồng  
thời, các nhà văn cũng làm mới lại nhân vật  
huyền thoại thông qua cảm quan hiện đại.  
Điều này thể hiện sinh động qua nhân vật  
Đức Phật trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng  
Savitri và Tôi của Hồ Anh Thái, nhân vật  
sư Vô Uý trong Đội gạo lên chùa của  
Nguyễn Xuân Khánh, nhân vật Mẫu trong  
tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn  
Xuân Khánh.  
đất nước và con người nơi đây. Trong tác  
phẩm Đức Phật, nàng Savitri và Tôi, Hồ  
Anh Thái đã khắc họa thành công nhân vật  
Đức Phật. Bên cạnh những vẻ đẹp vốn có  
từ huyền thoại, Đức Phật trong tiểu thuyết  
này còn để lại dấu ấn trong lòng người đọc  
bởi những vẻ đẹp rất riêng.  
Dưới ngòi bút của Hồ Anh Thái, Đức  
Phật được tái hiện là nhân vật đẹp đẽ từ khi  
sinh ra, xuất thân quyền quý, giàu lòng từ  
bi nhưng sớm có những dằn vặt, suy tư về  
thân phận con người. Sự khác thường của  
hoàng tử lúc chào đời không bao phủ bằng  
những yếu tố thần kỳ như trong truyền  
thuyết, ngược lại, hoàng tử được sinh ra  
như bao người phàm trần, có khác chăng là  
nổi bật ở dung mạo đẹp đẽ “Hoàng tử mới  
chào đời thì hoàn toàn tỉnh táo. Trắng hồng  
bụ bẫm” (Hồ Anh Thái, 2015, tr.30). Lớn  
lên, chàng thông minh, đĩnh ngộ, hứa hẹn là  
một đấng quân vương tài giỏi. Tuy nhiên,  
điều khiến phụ vương ngài lo lắng, là chàng  
quá từ bi. Và để hoàng tử quên đi những  
vướng bận về nhân gian, cả triều đình phải  
tạo ra một cuộc sống hạnh phúc, viên mãn  
giả tạo. Thế nhưng, trong một lần ra khỏi  
kinh thành, chàng chứng kiến cảnh bệnh  
tật, chết chóc cũng như những trầm luân,  
khổ ải của kiếp người “Mọi chúng sinh đều  
kiếm tìm hạnh phúc. Nhưng hầu hết đều mù  
quáng vì thiếu hiểu biết, vì những tham  
vọng của mình, đến mức họ không tìm thấy  
gì ngoại trừ nỗi khổ” (Hồ Anh Thái, 2015,  
tr.80). Kể từ đó, Siddhattha quyết tâm từ bỏ  
cuộc sống vàng son, từ bỏ vương quyền để  
đi tìm con đường giải thoát, đi tìm hạnh  
phúc vĩnh hằng. Và sau sáu năm trời tu khổ  
hạnh trong rừng Uruvela, cuối cùng, hoàng  
tử Siddhattha cũng đạt thấu đạt được chân  
lý và chàng thực sự trở thành Buddha  
“Chàng không còn là một con người bình  
thường nữa. Chàng đã được khai minh. Giờ  
đây chàng là Buddha – Người Giác Ngộ”  
Thế giới nhân vật trong Đức Phật,  
nàng Savitri và tôi hầu hết được xây dựng  
từ những nhân vật trong tôn giáo, văn hóa  
Ấn Độ. Bằng cách mượn cốt truyện tôn  
giáo, với cách tiếp cận riêng của mình, Hồ  
Anh Thái đã tái xây dựng những nhân vật  
huyền thoại với một cách thể hiện mới mẻ  
và độc đáo. Đặc biệt, mọi tâm huyết và bút  
lực của Hồ Anh Thái đều tập trung hướng  
tới cuộc đời và sự nghiệp tìm con đường  
giải thoát cho chúng sinh của Đức Phật  
bằng tài năng, đức độ giáo hóa và sự nỗ lực  
không mệt mỏi của người.  
Theo lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Đức  
Phật là một nhân vật có thật. Chính người  
đã tìm ra con đường giải thoát, đạt đến cảnh  
giới của sự giác ngộ và đi khắp thế gian để  
giáo hóa chúng sinh. Sự ngưỡng vọng, tôn  
kính của nhân dân đối với Đức Phật khiến  
cho những câu chuyện về người càng được  
thêu dệt bởi bao ánh hào quang huyền bí và  
mầu nhiệm. Và vượt khỏi biên giới Ấn Độ,  
Đức Phật trở thành nhân vật mang vẻ đẹp  
huyền thoại, là đấng từ bi, đấng giác ngộ  
hiện hữu trong đời sống tâm linh của nhiều  
tín đồ trên thế giới. Vốn có thời gian dài  
từng sống, học tập và làm việc ở đất nước  
Ấn Độ, lại là nhà nghiên cứu văn hóa, nhà  
văn Hồ Anh Thái am hiểu khá sâu sắc về  
12  
Journal of Science – Phu Yen University, No.27 (2021), 9-15  
(Hồ Anh Thái, 2015, tr.166).  
thả vòi xuống như chào. Rồi nó quay mình  
đi trở lại chuồng” (Hồ Anh Thái, 2015, tr.355).  
Đạo từ bi của Phật còn giúp chúng  
Những chi tiết trên đều giống với  
những câu chuyện người ta kể về Đức Phật  
trên con đường giác ngộ của người. Tuy  
nhiên, sự vĩ đại của Đức Phật chỉ được bao  
phủ bởi những chi tiết thần bí, nhiều phép  
lạ như cách nghĩ xưa nay mà sự vĩ đại ấy  
được Hồ Anh Thái thể hiện trong sự gần  
gũi, giản dị. Đức Phật vừa mang những  
kiến thức rộng của mình hướng tới chúng  
sinh, giúp con người diệt dục, sống từ bi,  
hướng thiện mà người còn sống cuộc sống  
của một con người trần tục, để lắng nghe,  
để thấu hiểu những khổ ải chốn nhân gian.  
Nhưng không vì thế mà Đức Phật của ông  
mất đi sự linh thiêng. Sự linh thiêng ở Đức  
Phật của Hồ Anh Thái được tạo nên bởi sức  
mạnh lòng thương yêu, bác ái “Một khi  
không còn hận thù, trái tim con người chỉ  
còn tràn đầy lòng yêu thương. Và chính  
lòng từ bi này sẽ đem đến bình yên và hạnh  
phúc” (Hồ Anh Thái, 2015, tr.166). Bản  
thân nhân vật Đức Phật là một huyền thoại,  
nhưng khi đi vào tác phẩm, Đức Phật lại  
được huyền thoại hóa ở tầm vóc của một  
nhà tư tưởng, một triết gia. Sự phi thường  
của người không phải là phép thuật thần  
thông mà thể hiện ở cái nhìn của một nhân  
cách lớn thấu đạt được chân lý. Sức mạnh  
của Đức Phật thể hiện trong các triết thuyết  
của ngài. Phật đi đến đâu, dân chúng ở đó  
cũng theo và trở thành tín đồ của người. Từ  
hoàng hậu, công chúa, hoàng tử cho đến  
thứ dân, ai ai cũng thành kính và tôn quý  
người. Ngay cả những người ăn chơi nổi  
tiếng như công tử Yasa hay giết người  
không gớm tay như tướng cướp Anguli  
Mala cũng bị thu phục. Trái tim yêu thương  
và tấm lòng bác ái của Đức Phật còn làm  
lay động đến cả con vật. Trước con voi dữ  
hung hãn, người đã thuần phục bằng ánh  
mắt yêu thương “Con voi dừng lại một hồi.  
Nó nhìn hai con người đứng trước mặt. Nó  
sinh thoát khỏi chiến tranh, đất nước an  
hưởng cuộc sống thái bình. Chỉ vì bất hòa  
trong việc tranh giành đập chứa nước, hai  
nước cộng hòa Sakya và bộ tộc Koliya đã  
nảy sinh thù hận, dẫn tới nguy cơ bùng nổ  
chiến tranh. Và Phật dạy rằng “Nếu còn có  
máu chảy trong người, con người còn sống  
thì còn làm ra nước, tìm ra nước. Nước  
sông quý thì quý thật, nhưng nước chẳng  
quý bằng máu” (Hồ Anh Thái, 2015,  
tr.273). Lời dạy đó không chỉ giúp người  
dân hai nước thoát khỏi nạn binh đao mà  
còn là một lời cảnh tỉnh: trên thế gian này,  
con người mới là quý nhất.  
Bên cạnh các nhân vật có từ huyền  
thoại được các nhà văn tiếp nhận và tái hiện  
lại, trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại,  
cũng có những huyền thoại được chính nhà  
văn nhào nặn, sáng tạo nên. Bởi huyền  
thoại không chỉ hướng về thế giới cổ xưa,  
hướng về lịch sử mà còn nhấn mạnh sự phi  
thường của một cá nhân về một phương  
diện nào đó trong thời hiện đại. Những  
nhân vật hiện đại được các nhà văn sáng  
tạo và xây dựng theo hướng huyền thoại  
hóa có thể xem là những nhân vật xuất  
chúng, nổi bật giữa hệ thống nhân vật hiện  
hữu trong tác phẩm. Họ mang dáng dấp,  
tính cách hay chiến công của người anh  
hùng trong thần thoại, trong sử thi. Và tất  
cả ẩn đằng sau một vẻ ngoài bình dị của  
con người hiện đại. Sư Vô Uý trong Đội  
gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh là  
nhân vật như vậy.  
Nhân vật sư Vô Úy hội đủ những  
phẩm chất cao quý của bậc chân tu: từ bi,  
bác ái, sống chân thật, yêu thương, giúp đỡ  
mọi người. Lòng từ bi của ông đã cảm hóa  
được Sư Độ, vốn là một tướng cướp; cứu  
sống và cảm hóa cả chú hổ con nơi hang  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 9-15  
13  
chùa Ổi. Ông cũng đã dang rộng vòng tay  
cưu mang chị em Nguyệt – An, vốn là  
những đứa trẻ có cha mẹ bị giặc Pháp giết.  
Trong chiến tranh, ông hòa cùng số phận  
của dân tộc, tham gia hoạt động và che giấu  
cách mạng, âm thầm chống lại bọn ác ôn.  
Bị giặc hành hạ, đánh đập đến trọng thương  
nhưng ông vẫn khẳng khái, bảo toàn nhân  
phẩm. Cho đến khi hòa bình lặp lại, những  
chính sách cải cách ruộng đất một lần nữa  
đẩy cuộc đời sư Vô Úy vào bi kịch: ông  
phải đi cải tạo vì bị nghi ngờ thuộc thành  
phần bất hảo. Nhưng, sự chịu đựng gian  
khổ theo tinh thần chữ Nhẫn trong Phật  
giáo cùng đức hy sinh và nghị lực sống phi  
thường đã giúp sư Vô Úy vượt qua những  
bể dâu của cuộc đời và nhìn đời bằng ánh  
nhìn bao dung, thanh thản. Qua cảm nhận  
của chú tiểu An từ lúc bé thơ cho đến khi  
khôn lớn, sư Vô Úy luôn là biểu tượng của  
vẻ đẹp tôn giáo, là ánh sáng của Phật pháp,  
là sự hiện diện của Phật tính giữa cuộc sống  
đời thường “Lúc nào cái bóng từ bi của  
thầy cũng bao bọc che chở cho tôi. Người  
là người cha thứ hai, người mẹ thứ hai của  
tôi. Còn hơn cả thế… Hơn nữa thầy còn là  
người cha tinh thần, dẫn dắt tôi đi trên con  
đường cao thượng. Sự cao thượng của đức  
Phật từ bao đời nay đã thấm đẫm tâm hồn  
làng quê. Thiếu nó tâm hồn con người ta sẽ  
bị què quặt” (Nguyễn Xuân Khánh, 2011,  
tr.651). Để phi thường hóa nhân vật,  
Nguyễn Xuân Khánh không sử dụng những  
chi tiết huyền bí, ly kì mà tập trung vào tính  
thiện, vào Phật tính, vào lòng tư bi cứu độ  
chúng sinh. Những trầm luân, khổ ải của  
thế gian, nhân vật sư Vô Úy đều đã trải qua  
và đối mặt với tâm thế vô cùng bình thản.  
Ở sư Vô Úy, người đọc bắt gặp ông hiện  
hữu những vẻ đẹp trong tâm hồn, tư tưởng  
của đấng từ bi, tầm vóc của đấng giác ngộ  
và cả những khổ hạnh của kiếp người trong  
cõi trần gian.  
Nếu như hai tác phẩm trên lấy cảm  
hứng từ Phật giáo thì Mẫu Thượng Ngàn  
của Nguyễn Xuân Khánh tìm về với tín  
ngưỡng, văn hóa bản địa của dân tộc Việt,  
cụ thể là tín ngưỡng thờ Mẫu. Tác phẩm lấy  
bối cảnh là hiện thực và cuộc sống người  
dân làng Cổ Đình thời Pháp thuộc. Theo  
nhà nghiên cứu Đoàn Ánh Dương, huyền  
thoại xuất hiện bàng bạc trong tác phẩm,  
bắt nguồn từ những biểu tượng văn hóa,  
mối tị hiềm giữa các dòng họ và đặc biệt  
kết tụ xung quanh đạo Mẫu. Mẫu Thượng  
Ngàn và các Mẫu nói chung trong Mẫu  
Thượng Ngàn được Nguyễn Xuân Khánh  
tiếp tục huyền thoại hóa qua việc miêu tả sự  
sùng bái của quần chúng và sự hiện diện ở  
những nhân vật nữ. Mẫu tuy không xuất  
hiện trực tiếp nhưng luôn thường trực trong  
tâm thức và đời sống tinh thần của người  
dân xứ Cổ Đình. Những con người nơi đây  
như bà tổ cô, cụ đồ Tiết, ông Huyền, bà  
Mùi, Nhụ, Điều…đều tin vào sự linh thiêng  
của thánh Mẫu, vào nguồn gốc thấm đẫm  
tinh thần nhân đạo. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt  
kết nối các sự kiện, kết nối các nhân vật  
chính là các phiên hầu thánh, khi thế giới  
tâm linh hòa quyện cùng tiếng đàn. Dường  
như, cuộc đời, số phận của con người nơi  
đây và cả những câu chuyện kỳ lạ: các con  
vật linh (rắn thần, hắc xà), cái chết của  
Philippe, của Julien, câu chuyện về những  
chiếc bình vôi có mắt, chuyện cô Chín đền  
Sòng ngự ở gốc cây sung… đều có sự chi  
phối vô hình của thánh Mẫu. Không cụ thể  
về dáng vóc, hình hài, nhưng nhìn đâu, con  
người ta cũng thấy hồn của Mẫu như lời  
của các nhân vật trong truyện như nhân vật  
Nhụ đã hai lần khẳng định: “Thầy em nói,  
ở nước mình, chỗ nào cũng có Mẫu”  
(Nguyễn Xuân Khánh, 2006, tr.68), “Anh  
ạ, ngày xưa, có lần mẹ em bảo: Đã là người  
ta, con ơi, ai chẳng là con của Mẫu”  
(Nguyễn Xuân Khánh, 2006, tr.807).  
14  
Journal of Science – Phu Yen University, No.27 (2021), 9-15  
Không phải ngẫu nhiên mà người phụ nữ  
trong Mẫu Thượng Ngàn đều đẹp một cách  
phồn thực, tràn trề sinh lực từ bà Tổ cô, bà  
Mùi, cô Hoa, chị ba Pháo, bà ba Váy, cô  
Nhụ đến bà Đà… Bởi vì, tất cả đều là hiện  
thân của Mẫu, tâm hồn của Mẫu, vẻ đẹp  
của Mẫu và sức sống của Mẫu. Đặc biệt,  
nhân vật cô Mùi với vẻ đẹp phồn thực, đậm  
tính nữ và quyến rũ với “Đôi vú nở nang.  
Eo thon nhỏ. Đôi mông nẩy đều chắc nịch  
hứa hẹn sự đông đàn dài lũ. Gương mặt cô  
tròn vành vạnh, mày ngài đen nhánh như  
mực nho, đôi mắt đen trắng phân minh”  
(Nguyễn Xuân Khánh, 2006, tr.244). Nhan  
sắc ấy khiến gã chủ đồn điền Philippe phải  
mê đắm “Mùi càng vùng vẫy thì Philippe  
càng hả hê. Cô ta đầy đặn quá. Cô ta mát  
mẻ quá. Cô ta mạnh mẽ quá, cô ta dư thừa  
sinh lực, cô ta lắm chất đàn bà. Như một hồ  
nước ấm áp sâu vời vợi khôn cùng, Mùi  
nhấn chìm Philippe vào bể ái ân không khi  
nào cạn” (Nguyễn Xuân Khánh, 2006,  
tr.359) và đánh đổi mọi giá để có được tình  
yêu của người đẹp. Hay như bà Ba Váy –  
“Một người đàn bà có sắc đẹp lồ lộ ai trông  
cũng thấy ngay. Một cái đẹp của sức sống.  
Một cái đẹp của da thịt mỡ màng… Ở bà ta,  
những chỗ nào da thịt hở ra cũng thấy ngồn  
ngộn ngọt ngào” (Nguyễn Xuân Khánh,  
2006, tr.57). Vì vậy, cô Mùi, bà Ba Váy là  
những nhân vật được huyền thoại hóa, tiêu  
biểu cho vẻ đẹp của sự phồn thực trong tín  
ngưỡng dân gian. Đặc biệt, trong tác phẩm,  
hình ảnh “bầu vú”, “bầu ngực” xuất hiện  
nhiều lần như một biểu tượng. Đó là “đôi  
vú thỗn thện” của cô Ngơ, bầu vú tỏa  
hương thơm “ngan ngát, man mác, ngầy  
ngậy, hăng hắc, dịu dàng” của cô Mùi, bầu  
vú đầy quyến rũ nhưng bị chồng hành hạ  
mỗi khi nổi cơn ghen của bà Ba Váy, cái vú  
quá cỡ “bằng ba quả dừa” của bà Đà… Ẩn  
đằng sau những người phụ nữ ấy và những  
biểu tượng ấy chính là sức sống, linh hồn  
của đạo Mẫu. Qua đó, người đọc dễ dàng  
nhận ra nhân vật chính của tác phẩm không  
ai khác hơn là thánh Mẫu, một đại diện tiêu  
biểu cho nền văn hóa Việt như trong bài  
viết “Một cuốn tiểu thuyết thật hay về nền  
văn hóa Việt” đăng trên báo Nhân Dân điện  
tử, ngày 12–7–2006, nhà văn Nguyên Ngọc  
từng khẳng định “Quả vậy, nếu đi tìm một  
nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết này, thì  
hẳn có thể nói nhân vật chính đó là nền văn  
hóa Việt, cái thực tại vừa vô cùng hiện thực,  
vừa rất hư ảo, bền chặt, xuyên suốt mà cũng  
lại biến hóa khôn lường, rất riêng và rất  
chung, rất bản địa mà cũng rất nhân loại”  
(Nguyên Ngọc, 2006).  
Có thể nhận ra, hành trình trở về với  
huyền thoại của các nhà văn đương đại  
ngoài việc khoác lên cho tác phẩm những  
màu sắc tươi mới thì còn hướng tới khám  
phá những giá trị tự thân của đời sống văn  
hóa Việt. Qua đó, con người lắng nghe  
được tiếng vọng từ quá khứ qua thế giới  
hình tượng nhân vật huyền thoại vừa lạ lại  
vừa quen.  
3. Kết luận  
Nhìn chung, trong nỗ lực cách tân  
tiểu thuyết, tư duy huyền thoại hóa thể hiện  
ý thức lạ hóa của nhà văn khi kể lại một câu  
chuyện thiêng về nhân vật tôn giáo, tín  
ngưỡng. Bên cạnh đó, tư duy huyền thoại  
hóa trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986  
còn sáng tạo ra những nhân vật huyền thoại  
hiện đại, phảng phất bóng dáng và thuộc  
tính của những nhân vật huyền thoại cổ.  
Thực tế đó cũng cho thấy, trong tiểu thuyết  
Việt Nam đương đại có sử dụng yếu tố  
huyền thoại, tư duy huyền thoại hóa chịu sự  
chi phối của tính liên văn bản trên nhiều  
phương diện. Đó là từ việc sử dụng chất  
liệu huyền thoại từ trong quá khứ, các nhà  
văn đã tái tạo, nhào nặn lại theo cách của  
riêng mình. Khác với nguyên mẫu, nhân vật  
huyền thoại tôn giáo, tín ngưỡng giờ đây đã  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 9-15  
15  
được hiểu theo ý nghĩa mới, cách nhìn và  
diễn giải mới trong một hoàn cảnh xã hội –  
văn hóa mới. Trên cơ sở đó, những tín hiệu  
thẩm mỹ mới cũng được thiết lập khi chúng  
để lại dấu ấn rất riêng trong lòng bạn đọc  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội (tái bản).  
Nguyễn Xuân Khánh (2006), Mẫu Thượng Ngàn, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.  
Nguyễn Xuân Khánh (2011), Đội gạo lên chùa, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.  
Meletinsky, E.M. (2004), Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn và Song Mộc dịch,  
Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.  
Nguyên Ngọc (2006), Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hóa Việt,  
Vi%e1%bb%87t-491629/, cập nhật vào 13/1/2015.  
Hồ Anh Thái (2015), Đức Phật, nàng Savitri và Tôi, Nxb. Trẻ (tái bản), Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
The legendary myth of belief and religious characters in some Vietnamese  
modern novels  
Nguyen Thi Ai Thoa  
Phu Yen University  
Received: April 12, 2021; Accepted: May 28, 2021  
Abstract  
In Vietnamese modern novels, mythical thinking is favored by many writers and has  
certain successful experiences. In particular, the reproduction of religious and belief  
characters is considered a fairly popular choice direction. It is to make the character  
sacred, sanctified or shined with the beauty of personality, ideology and wisdom that  
ordinary people cannot have. At the same time, the writers also renew the legendary  
character through their modern senses.  
Keywords: legendary nyth, belief, religious characters, Vietnamese modern novels  
pdf 7 trang baolam 27820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tư duy huyền thoại hóa nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng trong một số tiểu thuyết Việt Nam đương đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_duy_huyen_thoai_hoa_nhan_vat_ton_giao_tin_nguong_trong_mo.pdf