Tư duy huyền thoại hóa nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng trong một số tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 9-15
9
TƯ DUY HUYỀN THOẠI HÓA NHÂN VẬT TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG
TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Nguyễn Thị Ái Thoa*
Trường Đại học Phú Yên
Ngày nhận bài: 12/04/2021; Ngày nhận đăng: 28/05/2021
Tóm tắt
Trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tư duy huyền thoại hóa được nhiều nhà văn ưa
chuộng và có những thể nghiệm thành công nhất định. Trong đó, việc tái tạo nhân vật tôn giáo,
tín ngưỡng được xem là hướng lựa chọn khá phổ biến. Đó là làm cho nhân vật trở nên thiêng
hóa, thần thánh hóa hoặc tỏa sáng vẻ đẹp về nhân cách, tư tưởng và trí tuệ mà người thường
không có được. Đồng thời, các nhà văn cũng làm mới lại nhân vật huyền thoại thông qua cảm
quan hiện đại.
Từ khóa: tư duy huyền thoại hóa, nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng, tiểu thuyết Việt Nam
đương đại
là một trong những xu thế thi pháp của văn
học viết thế kỷ XX và cũng là một trong
những biểu hiện của sự tương tác phức tạp,
biến động của văn học so với thần thoại qua
các thời đại văn học sử. Nói về mối quan hệ
giữa văn học và huyền thoại (có lúc Lại
Nguyên Ân đồng nhất với thần thoại), tác
giả nhận định “Về mặt loại hình, thần thoại
và văn học viết là hai phương thức nhìn và
mô tả thế giới khác nhau về nguyên tắc.
Nếu ở thời đại tiền văn tự, ý thức thần thoại
giữ vai trò chủ đạo thì ở thời kỳ các nền
văn hóa chữ viết, ý thức ấy chịu áp lực của
tư duy logic ngôn từ. Tuy thế, chính ở lĩnh
vực nghệ thuật và văn học, tác động của ý
thức thần thoại, sự tái hiện một cách vô
thức các cấu trúc thần thoại vẫn tiếp tục có
ý nghĩa mặc dù nguyên tắc trần thuật theo
lịch sử, theo đời thường đã toàn thắng” (Lại
Nguyên Ân, 2004, tr.158).
1. Đặt vấn đề
Tác giả quyển Thi pháp của huyền
thoại – E.M.Meletinsky cho rằng: “Thi
pháp của sự huyền thoại hóa là một trong
những phương pháp tổ chức tự sự sau khi
đập vỡ hay phá hủy mạnh mẽ cấu trúc của
tiểu thuyết cổ điển thế kỷ XIX thoạt đầu
thông qua các song chiếu và các biểu
tượng, chúng giúp cho việc sắp xếp chất
liệu cuộc sống hiện đại và cấu trúc hành
động nội tâm, rồi sau đó bằng cách sáng tạo
cốt truyện huyền thoại độc lập để thiết kế ý
thức tập thể đồng thời với lịch sử phổ quát”
(Meletinsky E.M, 2004, tr.464). Trong
cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên
Ân chia ra hai xu hướng huyền thoại hóa là
huyền thoại hóa ý thức xã hội và huyền
thoại hóa như một thi pháp đặc thù. Xu
hướng thứ nhất, huyền thoại hóa ý thức xã
hội thường thể hiện sự sùng bái các thế lực
siêu nhiên, là “công cụ lũng đoạn tâm lý
quần chúng” (Lại Nguyên Ân, 2004,
tr.157). Bên cạnh đó, xu hướng thứ hai,
huyền thoại hóa như một thi pháp đặc thù,
_____________________________
Trên thế giới, xu hướng huyền thoại
hóa diễn ra ở nhiều lĩnh vực, từ tiểu thuyết,
thơ cho đến kịch, nhưng mạnh mẽ hơn cả
vẫn là ở thể loại tiểu thuyết. James Joyce và
Thomas Mann được xem là hai đại diện
tiêu biểu của trào lưu huyền thoại hóa trong
* Email: [email protected]
10
Journal of Science – Phu Yen University, No.27 (2021), 9-15
tiểu thuyết thế kỷ XX. Với họ, huyền thoại
hóa là một trong những khía cạnh mang lại
cho tiểu thuyết tính trí tuệ và chất triết lý.
Nhắc đến James Joyce, người ta nhớ đến
các tác phẩm kinh điển của ông như
Ulysses, Tưởng nhớ Finnegan. Nếu như
trong Ulysses, tác giả lấy cốt truyện từ sử
thi Odyssés của Home và các nhân vật
trong tác phẩm cũng được đối sánh các
nhân vật huyền thoại trong thiên sử thi này
thì Tưởng nhớ Finnegan dùng huyền thoại
để giải thích bản thân huyền thoại. Cùng
với James Joyce, trong tiểu thuyết Núi thần
và Anh em nhà Joseph, Thomas Mann có
sự cải biến mô hình nghi lễ huyền thoại và
tạo dựng những cốt truyện lấy từ Kinh
Thánh, các truyền thuyết trong kinh Coran,
đồng thời ông cũng thể hiện sự hiểu biết
của mình về huyền thoại Ai Cập. Chính vì
thế, tiểu thuyết huyền thoại của Thomas
Mann còn được coi là “tiểu thuyết về cái
huyền thoại” (Meletinsky).
tác phẩm đáng chú ý như: Những đêm hoang
mạc (J.Amado), Vương quốc trần gian (A.
Carpentier), Những con sông sâu thẳm
(J.M.Arguedas), Lá rụng, Trăm năm cô đơn
(G.Garcia Marquéz). Điểm tương đồng của
các tác phẩm trên là sử dụng những motif
huyền thoại dân gian để phê phán, vạch trần
những mặt trái của xã hội.
Nằm trong dòng chảy của văn xuôi
Việt Nam đương đại, tiểu thuyết từ sau
1975 và nhất là sau 1986, đảm đương sứ
mệnh quan trọng là đổi mới tư duy tiểu
thuyết. Trong quan niệm nghệ thuật về con
người, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã có sự
dịch chuyển từ quan niệm con người kiểu
sử thi sang quan niệm con người thế sự, đời
tư. Nhà văn lấy con người làm điểm quy
chiếu lịch sử với mong muốn nắm bắt
những chân lý phổ quát về con người. Chịu
sự chi phối của quy luật thời bình, con
người trong văn học tồn tại như một nhân
vị độc lập. Một trong những đổi mới quan
trọng của tiểu thuyết giai đoạn này là các
nhà văn đã sử dụng tư duy huyền thoại
trong sáng tác. Cụ thể là việc vận dụng
những câu chuyện huyền thoại về các nhân
vật tôn giáo, những phong tục, tập quán, lễ
hội trong tín ngưỡng dân gian; các cổ mẫu,
biểu tượng với những ý nghĩa phổ quát vốn
tồn tại trong tiềm thức của nhân loại, trong
tâm thức cộng đồng. Tư duy ấy tuy chưa
được sử dụng phổ biến trong các sáng tác
văn học đương đại Việt Nam, nhưng nhiều
nhà văn ưa chuộng và đã có những thể
nghiệm thành công nhất định. Đặc biệt,
việc sử dụng tư duy huyền thoại hóa các
nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng là một hướng
đi đặt ra nhiều thử thách nhưng khá thú vị
và độc đáo, mang lại sức hấp dẫn rất riêng
cho một số tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam
đương đại.
Ngoài ra, còn phải kể đến Kafka với
hàng loạt các tác phẩm như: Vụ án, Lâu
đài, Biến dạng, Sự im lặng của thủy quái.
Nét độc đáo ở Kafka là ông đã phi thường
hóa nhân vật khiến cho hình tượng nghệ
thuật không còn lãng mạn mà trở nên
huyền ảo. Ông đã tạo ra thứ “mê lộ hình
ảnh” mà ở đó, ranh giới của không – thời
gian và những biến cố đều bị xóa nhòa. Đặc
biệt, Kafka không đi vào tái hiện chất quái
dị nằm ở khía cạnh vật chất, hình thức mà
ông khai thác trạng thái lo âu, bất ổn ngay
bên trong con người – nguyên nhân dẫn tới
những nghịch lý bí ẩn và quái đản.
Từ những năm 50 – 60 của thế kỷ
XX, tư duy huyền thoại hóa bắt đầu phát
triển ở các nền văn học Mỹ Latinh và một
số nước Á – Phi. Tiểu thuyết thời kỳ này có
sự kết hợp giữa chất trí tuệ luận đề hiện đại
kiểu châu Âu với truyền thống thần thoại và
folklore xưa. Có thể kể ra hàng loạt những
2. Nội dung
Trong văn xuôi Việt Nam đương
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 9-15
11
đại, tư duy quen thuộc để tái tạo nhân vật
tôn giáo, tín ngưỡng là làm cho nhân vật trở
nên thiêng hóa, thần thánh hóa hoặc tỏa
sáng vẻ đẹp về nhân cách, tư tưởng và trí
tuệ mà người thường không có được. Đồng
thời, các nhà văn cũng làm mới lại nhân vật
huyền thoại thông qua cảm quan hiện đại.
Điều này thể hiện sinh động qua nhân vật
Đức Phật trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng
Savitri và Tôi của Hồ Anh Thái, nhân vật
sư Vô Uý trong Đội gạo lên chùa của
Nguyễn Xuân Khánh, nhân vật Mẫu trong
tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn
Xuân Khánh.
đất nước và con người nơi đây. Trong tác
phẩm Đức Phật, nàng Savitri và Tôi, Hồ
Anh Thái đã khắc họa thành công nhân vật
Đức Phật. Bên cạnh những vẻ đẹp vốn có
từ huyền thoại, Đức Phật trong tiểu thuyết
này còn để lại dấu ấn trong lòng người đọc
bởi những vẻ đẹp rất riêng.
Dưới ngòi bút của Hồ Anh Thái, Đức
Phật được tái hiện là nhân vật đẹp đẽ từ khi
sinh ra, xuất thân quyền quý, giàu lòng từ
bi nhưng sớm có những dằn vặt, suy tư về
thân phận con người. Sự khác thường của
hoàng tử lúc chào đời không bao phủ bằng
những yếu tố thần kỳ như trong truyền
thuyết, ngược lại, hoàng tử được sinh ra
như bao người phàm trần, có khác chăng là
nổi bật ở dung mạo đẹp đẽ “Hoàng tử mới
chào đời thì hoàn toàn tỉnh táo. Trắng hồng
bụ bẫm” (Hồ Anh Thái, 2015, tr.30). Lớn
lên, chàng thông minh, đĩnh ngộ, hứa hẹn là
một đấng quân vương tài giỏi. Tuy nhiên,
điều khiến phụ vương ngài lo lắng, là chàng
quá từ bi. Và để hoàng tử quên đi những
vướng bận về nhân gian, cả triều đình phải
tạo ra một cuộc sống hạnh phúc, viên mãn
giả tạo. Thế nhưng, trong một lần ra khỏi
kinh thành, chàng chứng kiến cảnh bệnh
tật, chết chóc cũng như những trầm luân,
khổ ải của kiếp người “Mọi chúng sinh đều
kiếm tìm hạnh phúc. Nhưng hầu hết đều mù
quáng vì thiếu hiểu biết, vì những tham
vọng của mình, đến mức họ không tìm thấy
gì ngoại trừ nỗi khổ” (Hồ Anh Thái, 2015,
tr.80). Kể từ đó, Siddhattha quyết tâm từ bỏ
cuộc sống vàng son, từ bỏ vương quyền để
đi tìm con đường giải thoát, đi tìm hạnh
phúc vĩnh hằng. Và sau sáu năm trời tu khổ
hạnh trong rừng Uruvela, cuối cùng, hoàng
tử Siddhattha cũng đạt thấu đạt được chân
lý và chàng thực sự trở thành Buddha
“Chàng không còn là một con người bình
thường nữa. Chàng đã được khai minh. Giờ
đây chàng là Buddha – Người Giác Ngộ”
Thế giới nhân vật trong Đức Phật,
nàng Savitri và tôi hầu hết được xây dựng
từ những nhân vật trong tôn giáo, văn hóa
Ấn Độ. Bằng cách mượn cốt truyện tôn
giáo, với cách tiếp cận riêng của mình, Hồ
Anh Thái đã tái xây dựng những nhân vật
huyền thoại với một cách thể hiện mới mẻ
và độc đáo. Đặc biệt, mọi tâm huyết và bút
lực của Hồ Anh Thái đều tập trung hướng
tới cuộc đời và sự nghiệp tìm con đường
giải thoát cho chúng sinh của Đức Phật
bằng tài năng, đức độ giáo hóa và sự nỗ lực
không mệt mỏi của người.
Theo lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Đức
Phật là một nhân vật có thật. Chính người
đã tìm ra con đường giải thoát, đạt đến cảnh
giới của sự giác ngộ và đi khắp thế gian để
giáo hóa chúng sinh. Sự ngưỡng vọng, tôn
kính của nhân dân đối với Đức Phật khiến
cho những câu chuyện về người càng được
thêu dệt bởi bao ánh hào quang huyền bí và
mầu nhiệm. Và vượt khỏi biên giới Ấn Độ,
Đức Phật trở thành nhân vật mang vẻ đẹp
huyền thoại, là đấng từ bi, đấng giác ngộ
hiện hữu trong đời sống tâm linh của nhiều
tín đồ trên thế giới. Vốn có thời gian dài
từng sống, học tập và làm việc ở đất nước
Ấn Độ, lại là nhà nghiên cứu văn hóa, nhà
văn Hồ Anh Thái am hiểu khá sâu sắc về
12
Journal of Science – Phu Yen University, No.27 (2021), 9-15
(Hồ Anh Thái, 2015, tr.166).
thả vòi xuống như chào. Rồi nó quay mình
đi trở lại chuồng” (Hồ Anh Thái, 2015, tr.355).
Đạo từ bi của Phật còn giúp chúng
Những chi tiết trên đều giống với
những câu chuyện người ta kể về Đức Phật
trên con đường giác ngộ của người. Tuy
nhiên, sự vĩ đại của Đức Phật chỉ được bao
phủ bởi những chi tiết thần bí, nhiều phép
lạ như cách nghĩ xưa nay mà sự vĩ đại ấy
được Hồ Anh Thái thể hiện trong sự gần
gũi, giản dị. Đức Phật vừa mang những
kiến thức rộng của mình hướng tới chúng
sinh, giúp con người diệt dục, sống từ bi,
hướng thiện mà người còn sống cuộc sống
của một con người trần tục, để lắng nghe,
để thấu hiểu những khổ ải chốn nhân gian.
Nhưng không vì thế mà Đức Phật của ông
mất đi sự linh thiêng. Sự linh thiêng ở Đức
Phật của Hồ Anh Thái được tạo nên bởi sức
mạnh lòng thương yêu, bác ái “Một khi
không còn hận thù, trái tim con người chỉ
còn tràn đầy lòng yêu thương. Và chính
lòng từ bi này sẽ đem đến bình yên và hạnh
phúc” (Hồ Anh Thái, 2015, tr.166). Bản
thân nhân vật Đức Phật là một huyền thoại,
nhưng khi đi vào tác phẩm, Đức Phật lại
được huyền thoại hóa ở tầm vóc của một
nhà tư tưởng, một triết gia. Sự phi thường
của người không phải là phép thuật thần
thông mà thể hiện ở cái nhìn của một nhân
cách lớn thấu đạt được chân lý. Sức mạnh
của Đức Phật thể hiện trong các triết thuyết
của ngài. Phật đi đến đâu, dân chúng ở đó
cũng theo và trở thành tín đồ của người. Từ
hoàng hậu, công chúa, hoàng tử cho đến
thứ dân, ai ai cũng thành kính và tôn quý
người. Ngay cả những người ăn chơi nổi
tiếng như công tử Yasa hay giết người
không gớm tay như tướng cướp Anguli
Mala cũng bị thu phục. Trái tim yêu thương
và tấm lòng bác ái của Đức Phật còn làm
lay động đến cả con vật. Trước con voi dữ
hung hãn, người đã thuần phục bằng ánh
mắt yêu thương “Con voi dừng lại một hồi.
Nó nhìn hai con người đứng trước mặt. Nó
sinh thoát khỏi chiến tranh, đất nước an
hưởng cuộc sống thái bình. Chỉ vì bất hòa
trong việc tranh giành đập chứa nước, hai
nước cộng hòa Sakya và bộ tộc Koliya đã
nảy sinh thù hận, dẫn tới nguy cơ bùng nổ
chiến tranh. Và Phật dạy rằng “Nếu còn có
máu chảy trong người, con người còn sống
thì còn làm ra nước, tìm ra nước. Nước
sông quý thì quý thật, nhưng nước chẳng
quý bằng máu” (Hồ Anh Thái, 2015,
tr.273). Lời dạy đó không chỉ giúp người
dân hai nước thoát khỏi nạn binh đao mà
còn là một lời cảnh tỉnh: trên thế gian này,
con người mới là quý nhất.
Bên cạnh các nhân vật có từ huyền
thoại được các nhà văn tiếp nhận và tái hiện
lại, trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại,
cũng có những huyền thoại được chính nhà
văn nhào nặn, sáng tạo nên. Bởi huyền
thoại không chỉ hướng về thế giới cổ xưa,
hướng về lịch sử mà còn nhấn mạnh sự phi
thường của một cá nhân về một phương
diện nào đó trong thời hiện đại. Những
nhân vật hiện đại được các nhà văn sáng
tạo và xây dựng theo hướng huyền thoại
hóa có thể xem là những nhân vật xuất
chúng, nổi bật giữa hệ thống nhân vật hiện
hữu trong tác phẩm. Họ mang dáng dấp,
tính cách hay chiến công của người anh
hùng trong thần thoại, trong sử thi. Và tất
cả ẩn đằng sau một vẻ ngoài bình dị của
con người hiện đại. Sư Vô Uý trong Đội
gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh là
nhân vật như vậy.
Nhân vật sư Vô Úy hội đủ những
phẩm chất cao quý của bậc chân tu: từ bi,
bác ái, sống chân thật, yêu thương, giúp đỡ
mọi người. Lòng từ bi của ông đã cảm hóa
được Sư Độ, vốn là một tướng cướp; cứu
sống và cảm hóa cả chú hổ con nơi hang
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 9-15
13
chùa Ổi. Ông cũng đã dang rộng vòng tay
cưu mang chị em Nguyệt – An, vốn là
những đứa trẻ có cha mẹ bị giặc Pháp giết.
Trong chiến tranh, ông hòa cùng số phận
của dân tộc, tham gia hoạt động và che giấu
cách mạng, âm thầm chống lại bọn ác ôn.
Bị giặc hành hạ, đánh đập đến trọng thương
nhưng ông vẫn khẳng khái, bảo toàn nhân
phẩm. Cho đến khi hòa bình lặp lại, những
chính sách cải cách ruộng đất một lần nữa
đẩy cuộc đời sư Vô Úy vào bi kịch: ông
phải đi cải tạo vì bị nghi ngờ thuộc thành
phần bất hảo. Nhưng, sự chịu đựng gian
khổ theo tinh thần chữ Nhẫn trong Phật
giáo cùng đức hy sinh và nghị lực sống phi
thường đã giúp sư Vô Úy vượt qua những
bể dâu của cuộc đời và nhìn đời bằng ánh
nhìn bao dung, thanh thản. Qua cảm nhận
của chú tiểu An từ lúc bé thơ cho đến khi
khôn lớn, sư Vô Úy luôn là biểu tượng của
vẻ đẹp tôn giáo, là ánh sáng của Phật pháp,
là sự hiện diện của Phật tính giữa cuộc sống
đời thường “Lúc nào cái bóng từ bi của
thầy cũng bao bọc che chở cho tôi. Người
là người cha thứ hai, người mẹ thứ hai của
tôi. Còn hơn cả thế… Hơn nữa thầy còn là
người cha tinh thần, dẫn dắt tôi đi trên con
đường cao thượng. Sự cao thượng của đức
Phật từ bao đời nay đã thấm đẫm tâm hồn
làng quê. Thiếu nó tâm hồn con người ta sẽ
bị què quặt” (Nguyễn Xuân Khánh, 2011,
tr.651). Để phi thường hóa nhân vật,
Nguyễn Xuân Khánh không sử dụng những
chi tiết huyền bí, ly kì mà tập trung vào tính
thiện, vào Phật tính, vào lòng tư bi cứu độ
chúng sinh. Những trầm luân, khổ ải của
thế gian, nhân vật sư Vô Úy đều đã trải qua
và đối mặt với tâm thế vô cùng bình thản.
Ở sư Vô Úy, người đọc bắt gặp ông hiện
hữu những vẻ đẹp trong tâm hồn, tư tưởng
của đấng từ bi, tầm vóc của đấng giác ngộ
và cả những khổ hạnh của kiếp người trong
cõi trần gian.
Nếu như hai tác phẩm trên lấy cảm
hứng từ Phật giáo thì Mẫu Thượng Ngàn
của Nguyễn Xuân Khánh tìm về với tín
ngưỡng, văn hóa bản địa của dân tộc Việt,
cụ thể là tín ngưỡng thờ Mẫu. Tác phẩm lấy
bối cảnh là hiện thực và cuộc sống người
dân làng Cổ Đình thời Pháp thuộc. Theo
nhà nghiên cứu Đoàn Ánh Dương, huyền
thoại xuất hiện bàng bạc trong tác phẩm,
bắt nguồn từ những biểu tượng văn hóa,
mối tị hiềm giữa các dòng họ và đặc biệt
kết tụ xung quanh đạo Mẫu. Mẫu Thượng
Ngàn và các Mẫu nói chung trong Mẫu
Thượng Ngàn được Nguyễn Xuân Khánh
tiếp tục huyền thoại hóa qua việc miêu tả sự
sùng bái của quần chúng và sự hiện diện ở
những nhân vật nữ. Mẫu tuy không xuất
hiện trực tiếp nhưng luôn thường trực trong
tâm thức và đời sống tinh thần của người
dân xứ Cổ Đình. Những con người nơi đây
như bà tổ cô, cụ đồ Tiết, ông Huyền, bà
Mùi, Nhụ, Điều…đều tin vào sự linh thiêng
của thánh Mẫu, vào nguồn gốc thấm đẫm
tinh thần nhân đạo. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt
kết nối các sự kiện, kết nối các nhân vật
chính là các phiên hầu thánh, khi thế giới
tâm linh hòa quyện cùng tiếng đàn. Dường
như, cuộc đời, số phận của con người nơi
đây và cả những câu chuyện kỳ lạ: các con
vật linh (rắn thần, hắc xà), cái chết của
Philippe, của Julien, câu chuyện về những
chiếc bình vôi có mắt, chuyện cô Chín đền
Sòng ngự ở gốc cây sung… đều có sự chi
phối vô hình của thánh Mẫu. Không cụ thể
về dáng vóc, hình hài, nhưng nhìn đâu, con
người ta cũng thấy hồn của Mẫu như lời
của các nhân vật trong truyện như nhân vật
Nhụ đã hai lần khẳng định: “Thầy em nói,
ở nước mình, chỗ nào cũng có Mẫu”
(Nguyễn Xuân Khánh, 2006, tr.68), “Anh
ạ, ngày xưa, có lần mẹ em bảo: Đã là người
ta, con ơi, ai chẳng là con của Mẫu”
(Nguyễn Xuân Khánh, 2006, tr.807).
14
Journal of Science – Phu Yen University, No.27 (2021), 9-15
Không phải ngẫu nhiên mà người phụ nữ
trong Mẫu Thượng Ngàn đều đẹp một cách
phồn thực, tràn trề sinh lực từ bà Tổ cô, bà
Mùi, cô Hoa, chị ba Pháo, bà ba Váy, cô
Nhụ đến bà Đà… Bởi vì, tất cả đều là hiện
thân của Mẫu, tâm hồn của Mẫu, vẻ đẹp
của Mẫu và sức sống của Mẫu. Đặc biệt,
nhân vật cô Mùi với vẻ đẹp phồn thực, đậm
tính nữ và quyến rũ với “Đôi vú nở nang.
Eo thon nhỏ. Đôi mông nẩy đều chắc nịch
hứa hẹn sự đông đàn dài lũ. Gương mặt cô
tròn vành vạnh, mày ngài đen nhánh như
mực nho, đôi mắt đen trắng phân minh”
(Nguyễn Xuân Khánh, 2006, tr.244). Nhan
sắc ấy khiến gã chủ đồn điền Philippe phải
mê đắm “Mùi càng vùng vẫy thì Philippe
càng hả hê. Cô ta đầy đặn quá. Cô ta mát
mẻ quá. Cô ta mạnh mẽ quá, cô ta dư thừa
sinh lực, cô ta lắm chất đàn bà. Như một hồ
nước ấm áp sâu vời vợi khôn cùng, Mùi
nhấn chìm Philippe vào bể ái ân không khi
nào cạn” (Nguyễn Xuân Khánh, 2006,
tr.359) và đánh đổi mọi giá để có được tình
yêu của người đẹp. Hay như bà Ba Váy –
“Một người đàn bà có sắc đẹp lồ lộ ai trông
cũng thấy ngay. Một cái đẹp của sức sống.
Một cái đẹp của da thịt mỡ màng… Ở bà ta,
những chỗ nào da thịt hở ra cũng thấy ngồn
ngộn ngọt ngào” (Nguyễn Xuân Khánh,
2006, tr.57). Vì vậy, cô Mùi, bà Ba Váy là
những nhân vật được huyền thoại hóa, tiêu
biểu cho vẻ đẹp của sự phồn thực trong tín
ngưỡng dân gian. Đặc biệt, trong tác phẩm,
hình ảnh “bầu vú”, “bầu ngực” xuất hiện
nhiều lần như một biểu tượng. Đó là “đôi
vú thỗn thện” của cô Ngơ, bầu vú tỏa
hương thơm “ngan ngát, man mác, ngầy
ngậy, hăng hắc, dịu dàng” của cô Mùi, bầu
vú đầy quyến rũ nhưng bị chồng hành hạ
mỗi khi nổi cơn ghen của bà Ba Váy, cái vú
quá cỡ “bằng ba quả dừa” của bà Đà… Ẩn
đằng sau những người phụ nữ ấy và những
biểu tượng ấy chính là sức sống, linh hồn
của đạo Mẫu. Qua đó, người đọc dễ dàng
nhận ra nhân vật chính của tác phẩm không
ai khác hơn là thánh Mẫu, một đại diện tiêu
biểu cho nền văn hóa Việt như trong bài
viết “Một cuốn tiểu thuyết thật hay về nền
văn hóa Việt” đăng trên báo Nhân Dân điện
tử, ngày 12–7–2006, nhà văn Nguyên Ngọc
từng khẳng định “Quả vậy, nếu đi tìm một
nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết này, thì
hẳn có thể nói nhân vật chính đó là nền văn
hóa Việt, cái thực tại vừa vô cùng hiện thực,
vừa rất hư ảo, bền chặt, xuyên suốt mà cũng
lại biến hóa khôn lường, rất riêng và rất
chung, rất bản địa mà cũng rất nhân loại”
(Nguyên Ngọc, 2006).
Có thể nhận ra, hành trình trở về với
huyền thoại của các nhà văn đương đại
ngoài việc khoác lên cho tác phẩm những
màu sắc tươi mới thì còn hướng tới khám
phá những giá trị tự thân của đời sống văn
hóa Việt. Qua đó, con người lắng nghe
được tiếng vọng từ quá khứ qua thế giới
hình tượng nhân vật huyền thoại vừa lạ lại
vừa quen.
3. Kết luận
Nhìn chung, trong nỗ lực cách tân
tiểu thuyết, tư duy huyền thoại hóa thể hiện
ý thức lạ hóa của nhà văn khi kể lại một câu
chuyện thiêng về nhân vật tôn giáo, tín
ngưỡng. Bên cạnh đó, tư duy huyền thoại
hóa trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986
còn sáng tạo ra những nhân vật huyền thoại
hiện đại, phảng phất bóng dáng và thuộc
tính của những nhân vật huyền thoại cổ.
Thực tế đó cũng cho thấy, trong tiểu thuyết
Việt Nam đương đại có sử dụng yếu tố
huyền thoại, tư duy huyền thoại hóa chịu sự
chi phối của tính liên văn bản trên nhiều
phương diện. Đó là từ việc sử dụng chất
liệu huyền thoại từ trong quá khứ, các nhà
văn đã tái tạo, nhào nặn lại theo cách của
riêng mình. Khác với nguyên mẫu, nhân vật
huyền thoại tôn giáo, tín ngưỡng giờ đây đã
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 9-15
15
được hiểu theo ý nghĩa mới, cách nhìn và
diễn giải mới trong một hoàn cảnh xã hội –
văn hóa mới. Trên cơ sở đó, những tín hiệu
thẩm mỹ mới cũng được thiết lập khi chúng
để lại dấu ấn rất riêng trong lòng bạn đọc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội (tái bản).
Nguyễn Xuân Khánh (2006), Mẫu Thượng Ngàn, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.
Nguyễn Xuân Khánh (2011), Đội gạo lên chùa, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.
Meletinsky, E.M. (2004), Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn và Song Mộc dịch,
Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.
Nguyên Ngọc (2006), Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hóa Việt,
Hồ Anh Thái (2015), Đức Phật, nàng Savitri và Tôi, Nxb. Trẻ (tái bản), Thành phố Hồ Chí
Minh.
The legendary myth of belief and religious characters in some Vietnamese
modern novels
Nguyen Thi Ai Thoa
Phu Yen University
Email: [email protected]n
Received: April 12, 2021; Accepted: May 28, 2021
Abstract
In Vietnamese modern novels, mythical thinking is favored by many writers and has
certain successful experiences. In particular, the reproduction of religious and belief
characters is considered a fairly popular choice direction. It is to make the character
sacred, sanctified or shined with the beauty of personality, ideology and wisdom that
ordinary people cannot have. At the same time, the writers also renew the legendary
character through their modern senses.
Keywords: legendary nyth, belief, religious characters, Vietnamese modern novels
Bạn đang xem tài liệu "Tư duy huyền thoại hóa nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng trong một số tiểu thuyết Việt Nam đương đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tu_duy_huyen_thoai_hoa_nhan_vat_ton_giao_tin_nguong_trong_mo.pdf

