Ứng dụng thi pháp học của M.M. Bakhtin trong nghiên cứu - phê bình văn học ở Việt Nam từ cấp độ khái niệm

No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.48-55  
DOI:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
ỨNG DỤNG THI PHÁP HỌC CỦA M.M. BAKHTIN TRONG NGHIÊN CỨU –  
PHÊ BÌNH VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ CẤP ĐỘ KHÁI NIỆM  
Phan Trọng Hoàng Linh1*  
1 Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học Huế  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
M.M. Bakhtin là người có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử thi pháp học hiện đại trên  
thế giới. Từ thập niên 80 của thế kỷ trước, trong sự phát triển của thi pháp học ở  
nước ta, việc tiếp nhận ngày càng đầy đủ các quan điểm thi pháp học của Bakhtin  
có ý nghĩa quan trọng, góp phần định hình diện mạo thi pháp học Việt Nam trong  
gần bốn thập kỷ. Bài viết này trình bày một cái nhìn hệ thống đối với tình hình  
ứng dụng các khái niệm thi pháp học của Bakhtin trong nghiên cứu – phê bình  
văn học ở Việt Nam, từ đó đưa ra một số đánh giá và đề xuất cho việc ứng  
dụng Bakhtin trong tương lai.  
Ngày nhận bài:  
24/7/2020  
Ngày duyệt đăng:  
20/9/2020  
Từ khóa:  
M.M. Bakhtin, thi pháp học,  
khái niệm, nghiên cứu - phê  
bình văn học, Việt Nam  
1. Đặt vấn đề  
Từ cuối thế kỷ XX, trên phạm vi thế giới, vai trò  
của M.M. Bakhtin (1895 – 1975) ngày một trở nên  
quan trọng trên nhiều địa hạt như triết học, mỹ học,  
ngôn ngữ và nghiên cứu văn học. Vào những năm 80  
của thế kỷ trước, ông bắt đầu ảnh hưởng đến các nhà  
lý luận và nghiên cứu văn học ở Việt Nam, cùng trong  
quá trình thi pháp học trở lại nước ta một cách mạnh  
mẽ và có hệ thống. Hầu như các tư tưởng quan trọng  
của ông đều trở nên phổ biến trong giới học thuật, có  
sự chi phối không nhỏ tới tiến trình thi pháp học ở Việt  
Nam, trên cả bình diện lý thuyết, lẫn thực hành phê  
bình và sáng tác. Trong bài viết này, chúng tôi đặt ra  
mục tiêu khái quát và hệ thống lại tình hình ứng dụng  
các khái niệm thi pháp học của Bakhtin ở nước ta gần  
bốn thập niên vừa qua, từ đó, nêu lên một số đánh giá  
và hướng đến một số đề xuất cho triển vọng ứng dụng  
Bakhtin trong tương lai.  
(có chỉnh sửa, bổ sung ở lần tái bản năm 1963) [1] và  
Sáng tác của François Rabelais và nền văn hóa dân  
gian Trung cổ và Phục hưng (1965) [2], có thể thấy rõ  
ý thức của tác giả muốn hợp nhất toàn bộ ý tưởng học  
thuật vào một hệ thống. Song, mong muốn đó không  
thể ngăn được giới nghiên cứu nhận ra ba mảng đóng  
góp nổi bật của ông trong các vấn đề liên quan đến  
carnaval, đối thoại và thể loại văn học. Điều này bắt  
nguồn từ tiềm năng nghiên cứu độc lập của mỗi bộ  
khái niệm mà Bakhtin xây dựng. Phần nhiều trong đó  
là các khái niệm sẵn có nhưng được Bakhtin xác lập  
một nội hàm mới. Liên quan đến nguyên lý carnaval là  
các khái niệm như carnaval, trào tiếu, nghịch dị, giễu  
nhại,… Với nguyên lý đối thoại là các khái niệm như  
đối thoại, tiểu thuyết đa thanh, tác giả, nhân vật, giọng  
điệu,… Với lý thuyết thể loại văn học là các khái niệm  
như tiểu thuyết, sử thi, dung hợp thể loại, thời - không  
gian, lời văn hai giọng, không hoàn kết,…  
2. Nội dung nghiên cứu  
Trong các công trình quan trọng nhất của Bakhtin,  
Ở Việt Nam, việc ứng dụng các khái niệm của  
Bakhtin theo từng mảng tri thức là rất phổ biến. Kiểu  
đặc biệt là hai cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoievski  
P.T.H.Linh/ No.18_Oct 2020|p.48-55  
ứng dụng này, bên cạnh những thuận tiện, cũng tiềm  
““Carnaval hóa” trong tiểu thuyết Việt Nam đương  
ẩn một số nguy cơ. Tuy nhiên, thao tác phân loại của  
chúng tôi sẽ không dựa trên lần lượt từng khái niệm,  
xuất phát từ thực tế là hiệu quả ứng dụng thường  
không được thể hiện nhiều qua việc trích dẫn hoặc  
gợi nhắc một vài thuật ngữ riêng lẻ. Hơn nữa, việc  
tổng hợp toàn bộ công trình, bài viết có xuất hiện một  
hoặc một vài thuật ngữ của Bakhtin nằm ngoài khả  
năng bao quát của chúng tôi, nhất là với tình trạng  
Bakhtin đã có lúc trở thành cái tên thời thượng trong  
giới nghiên cứu văn học Việt Nam, và trích dẫn ông  
trở thành cái mốt.  
đại” (2017) của Vũ Thị Thanh Hoài [13],…  
+ Cách ứng dụng thứ hai: “Thực hành thơ như là  
thực hành sống - Hồ Thế Hà - một trải nghiệm chơi”  
(2015) [14], “Trò chơi ngôn ngữ trong Không biết  
đâu mà lần của Văn Thành Lê” (2016) [15] của Phan  
Tuấn Anh,… Và các chuyên luận: Những dấu hiệu  
của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam  
đương đại (Giai đoạn 1986 - 2012) (2016) của Phùng  
Gia Thế [16], Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết  
Việt Nam (2018) của Huỳnh Thu Hậu [17],…  
Nhận xét:  
Tương ứng với mỗi mảng tri thức của Bakhtin,  
việc phân loại công trình được chúng tôi tiến hành  
lần lượt trên hai cấp độ tiêu chí: cấp độ đầu tiên dựa  
vào đối tượng nghiên cứu: văn học nước ngoài hay  
văn học Việt Nam; cấp độ thứ hai dựa vào cách thức  
ứng dụng: sử dụng lý thuyết như bộ “mã khóa” duy  
nhất để lý giải đối tượng, hay là kết hợp lý thuyết của  
Bakhtin với các lý thuyết khác.  
Thứ nhất, số lượng của các công trình ứng dụng  
nguyên lý carnaval trong nghiên cứu - phê bình văn  
học được phân bố khá đồng đều ở các nhóm tiêu chí  
mà chúng tôi đưa ra. Điều đó cho thấy độ “phủ sóng”  
trên diện rộng của Bakhtin đối với giới nghiên cứu  
văn học nước ta.  
Thứ hai, nguyên lý carnaval được vận dụng nhiều  
nhất với tư cách cơ sở mỹ học để lý giải các hiện  
tượng liên quan đến cái hài gắn với cái tục trong văn  
học Việt Nam và văn học nước ngoài qua các thời  
đại. Trước khi các công trình của Bakhtin được dịch  
và giới thiệu ở Việt Nam, tiếng cười bật ra từ cái tục  
gần như chỉ được xem là mặt trái của chủ nghĩa tự  
nhiên, có tính nguy hại đối với đời sống thẩm mỹ.  
Trong cuốn Văn học phương Tây (Nxb. Giáo dục)  
[18], một công trình được biên soạn bởi nhiều học  
giả uy tín và từ lâu đã trở thành tài liệu phổ biến cho  
sinh viên ngữ văn trên giảng đường đại học khắp cả  
nước, thì đến lần tái bản thứ 3 năm 1999, chương viết  
về F. Rabelais hầu như vẫn chú trọng vào giá trị phê  
phán nhà nước phong kiến và giáo hội Cơ đốc, cổ vũ  
khoa học và chủ nghĩa nhân văn, còn các phương  
diện liên quan đến cái tục đều không được nhắc đến.  
Việc nghiên cứu mảng dâm tục trong thơ Hồ Xuân  
Hương cũng tương tự, hoặc chú trọng vào ý nghĩa  
phê phán xã hội, hoặc có thừa nhận sức hấp dẫn của  
các biểu tượng lấp lửng thì cũng gần như bế tắc trong  
việc biện minh cho mặt tích cực của chúng. Có thể  
nói, việc tiếp nhận lý thuyết carnaval của Bakhtin với  
công trình Sáng tác của François Rabelais và nền  
văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng là bước  
ngoặt trong nghiên cứu cái tục như một giá trị mỹ  
học ở nước ta, nhờ đó, phạm trù cái hài cũng được  
xem xét đầy đủ, toàn diện hơn.  
2.1. Ứng dụng các khái niệm liên quan đến  
nguyên lý carnaval  
- Ứng dụng nguyên lý carnaval trong nghiên  
cứu - phê bình các hiện tượng văn học nước ngoài  
+ Cách ứng dụng thứ nhất: “Sự song hành của  
thời gian carnaval trong Don Quixote của Cervantes”  
(2005) của Đào Duy Hiệp [3], “Tính chất carnaval  
trong tiếng cười của Mark Twain” (2008) của Dương  
Thị Ánh Tuyết [4], “Dấu ấn Carnaval hóa trong  
Truyện mười ngày của Boccacio” (2008) của Trần  
Nhật Thư [5], “Không gian và thời gian nghệ thuật  
trong tiểu thuyết Don Quixote của Cervantes - từ lý  
thuyết văn hóa trào tiếu dân gian” (2014) của Phan  
Trọng Hoàng Linh [6],…  
+ Cách ứng dụng thứ hai: “Gogol - thử nhận chân  
một thế giới nghệ thuật” (2002) [7], “Thử nhận chân  
thế giới nghệ thuật của Gogol” (2009) [8] của Phạm  
Một nỗi đau riêng)” (2008) của Ôn Thị Mỹ Linh  
[9],… Đặc biệt, còn có các chuyên luận: Tự sự kiểu  
Mạc Ngôn (2013) của Nguyễn Thị Tịnh Thy [10],  
Nghệ nhân và Margarita (M. Bulgakov) và đặc  
điểm tiểu thuyết huyền thoại thế kỷ XX (2016) của  
Nguyễn Thị Như Trang [11],…  
- Ứng dụng nguyên lý carnaval trong nghiên  
cứu - phê bình các hiện tượng văn học Việt Nam  
Thứ ba, đối với văn học từ thời trung đại trở về  
trước, tính chất carnaval trong tác phẩm thường được  
nhìn nhận từ sự thâm nhập của văn hóa, tín ngưỡng  
+ Cách ứng dụng thứ nhất: “Thế giới thơ Nôm  
Hồ Xuân Hương” (1990) của Đỗ Đức Hiểu [12],  
P.T.H.Linh/ No.18_Oct 2020|p.48-55  
dân gian. Còn với văn học hiện đại và đặc biệt là văn  
văn học Nga. Toàn bộ tiểu luận đầy ắp giá trị tư liệu  
và những điểm phát hiện, kiến giải độc đáo về thế  
giới tư tưởng của một trong những văn hào vĩ đại  
nhất thế giới.  
học hậu hiện đại, carnaval hóa thường được xác định  
như một nguyên tắc thế giới quan của thời đại mới đề  
cao dân chủ, đa nguyên, chống đại tự sự, giải thiêng  
huyền thoại,… Đã xuất hiện những chuyên luận và  
tiểu luận được đầu tư nhiều tâm huyết, trong đó,  
người nghiên cứu kế thừa thành công quan niệm của  
Bakhtin để chủ động phát hiện và phân tích thuyết  
phục giá trị tư tưởng - thẩm mỹ của các hiện tượng  
văn học trong và ngoài nước. Có thể nhắc đến “Thực  
hành thơ như là thực hành sống - Hồ Thế Hà - một  
trải nghiệm chơi” (2015) của Phan Tuấn Anh, Nghệ  
nhân và Margarita (M. Bulgakov) và đặc điểm tiểu  
thuyết huyền thoại thế kỷ XX (2016) của Nguyễn  
Thị Như Trang, Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu  
hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại (Giai  
đoạn 1986 - 2012) (2016) của Phùng Gia Thế,…  
Đề xuất:  
Thứ nhất, đối với việc ứng dụng nguyên lý  
carnaval trong nghiên cứu - phê bình văn học, cần  
tránh cách hiểu giản lược các khái niệm, đặc biệt là  
khái niệm nghịch dị. Trong chuyên luận về Rabelais,  
Bakhtin đã khái quát hành trình của cái nghịch dị qua  
các giai đoạn lịch sử văn hóa. Ở mỗi giai đoạn, sắc thái  
nghĩa của cái nghịch dị đều có sự biến chuyển do tác  
động phức tạp của đời sống tư tưởng, văn hóa, chính  
trị. Cảm quan carnaval thẩm thấu trong hình tượng  
nghịch dị, gắn với tiếng cười nhị chức năng được  
Bakhtin lý giải trong sáng tác của Rabelais cũng chỉ  
chủ đạo ở một thời đoạn nhất định. Thế nhưng, một  
vài nhà nghiên cứu, có thể vì không đọc kỹ trước tác  
của Bakhtin, đã đánh đồng cảm quan carnaval như một  
thuộc tính phổ quát của cái nghịch dị, dẫn đến tình  
trạng đọc sai, hiểu nhầm không đáng có.  
Thứ tư, việc kết hợp nguyên lý carnaval với các lý  
thuyết khác trong nghiên cứu - phê bình văn học ở  
nước ta mang lại nhiều đóng góp học thuật hơn so  
với cách ứng dụng còn lại, vốn phần nhiều thiên về  
tính thể nghiệm lý thuyết. Đáng chú ý bậc nhất là tiểu  
luận nghiên cứu về N.V. Gogol của Phạm Vĩnh Cư.  
Gọi là “tiểu luận” nhưng tổng số dung lượng lên đến  
hơn 80 trang giấy in khổ A4, chia thành hai phần.  
Phần đầu với nhan đề “Gogol - thử nhận chân một  
thế giới nghệ thuật”, công bố lần đầu trên tạp chí Văn  
học nước ngoài, số 5/2002, sau được đưa vào in  
chung trong sách Sáng tạo và giao lưu năm 2007.  
Phần sau với nhan đề “Thử nhận chân thế giới nghệ  
thuật của Gogol” tiếp tục đăng trên Văn học nước  
ngoài, số 5/2009. Có thể dễ dàng nhận ra sự tiếp thu  
quan niệm của Bakhtin trong cách triển khai vấn đề:  
cũng bắt đầu với tiếng cười như là nhân tố bộc lộ  
cảm quan của nhà văn về thế giới và con người, từ đó  
tỏa ra các phương diện còn lại của thế giới nghệ  
thuật. Ông cũng tiếp thu kiến giải của Bakhtin trong  
bài “Rabelais và Gogol (Nghệ thuật ngôn từ và văn  
hóa trào tiếu dân gian)” để định danh Gogol là “nhà  
văn trào tiếu”, tiếng cười của Gogol là “tiếng cười  
hai chiều”, và thế giới hình tượng của Gogol là thế  
giới được khúc xạ qua cái “gương nghệ thuật nghịch  
dị”. Các chủ đề như tôn giáo, tình yêu, cái đương thời  
và cái lịch sử, cái dân tộc và cái nhân loại đều được  
Phạm Vĩnh Cư trừu xuất và diễn giải trên nền tảng  
quan niệm về “tính tiểu thuyết” trong lý thuyết thể  
loại của Bakhtin. Đây xứng đáng là công trình nghiên  
cứu tiêu biểu được viết trên nền tảng tri thức uyên  
bác của một chuyên gia hàng đầu về tiếng Nga và  
Thứ hai, cần xác định rõ cơ sở của việc ứng dụng  
nguyên lý carnaval khi nghiên cứu. Một số công trình  
đã không tách bạch trong việc xác định yếu tố carnaval  
tồn tại trong tác phẩm như một truyền thống văn hóa,  
hay như một nguyên tắc thế giới quan của thời đại mới  
mà những phát kiến của Bakhtin đã góp phần hình  
thành. Nếu là một truyền thống văn hóa thì nhà nghiên  
cứu cần chỉ ra đường dây kết nối giữa trường hợp cụ  
thể của đối tượng nghiên cứu với mạch nguồn văn hóa  
trào tiếu dân gian, có tính đến nét đặc thù của từng khu  
vực văn hóa. Dẫu biết nhiều lý thuyết gia và người  
sáng tác thuộc trào lưu hậu hiện đại rất hâm mộ  
Bakhtin, thì cảm quan carnaval trong tác phẩm của họ  
cũng chịu sự quy định tất yếu từ đặc trưng văn hóa  
thời đại họ đang sống. Nhiều nhà nghiên cứu đã có  
phát hiện đầy lý thú về tính chất carnaval của không  
gian mạng internet, cũng như sự chi phối của nó trong  
sáng tác nghệ thuật. Và thiết nghĩ, chính những hình  
thái mới của ngày hôm nay làm nên giá trị của tư duy  
carnaval, chứ không phải sự bảo lưu trọn vẹn từ truyền  
thống hàng trăm, hàng nghìn năm trước.  
Thứ ba, đề xuất này được rút ra từ hai đề xuất nói  
trên: mọi thực hành lý thuyết đều cần lấy đối tượng  
nghiên cứu làm trung tâm, tránh hiện tượng minh họa  
lý thuyết, “đẽo chân cho vừa giày”, gây tổn hại đến  
tính độc đáo tự thân của đối tượng nghiên cứu. Giá trị  
của một công trình học thuật là đến từ thực chất của  
P.T.H.Linh/ No.18_Oct 2020|p.48-55  
phương pháp vận dụng và kết quả nghiên cứu, chứ  
không phải từ tính thời thượng của lý thuyết  
nghiên cứu.  
có mặt ở Việt Nam và tạo nên những hiệu ứng sôi  
nổi, số lượng các công trình áp dụng lý thuyết đối  
thoại để nghiên cứu văn học chưa thật sự phong phú,  
đặc biệt là mảng ứng dụng trong nghiên cứu các hiện  
tượng văn học nước ngoài; số lượng công trình để lại  
ấn tượng cũng rất khiêm tốn. Đến hết năm 2018,  
chúng tôi chỉ mới tìm thấy cuốn chuyên luận Thi  
pháp văn xuôi A.S. Pushkin của tác giả Thành Đức  
Hồng Hà, trong đó, người viết kế thừa một số gợi dẫn  
của Bakhtin về tiểu thuyết đa thanh để nghiên cứu  
vấn đề người kể chuyện và lời nhân vật trong văn  
xuôi Pushkin.  
Thứ tư, đã hơn một thập niên kể từ thời điểm  
công trình Sáng tác của François Rabelais và nền văn  
hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng được dịch giả  
Từ Thị Loan chuyển ngữ. Chừng đó thời gian đã quá  
đủ cho những bước đi ban đầu, bỡ ngỡ làm quen, tập  
tành vận dụng trong nghiên cứu văn học. Theo chúng  
tôi, cho đến lúc này, việc ứng dụng nguyên lý carnaval  
vẫn còn tiềm năng, nhưng chủ yếu là trong sự kết hợp  
thực hành liên lý thuyết. Đây là hướng đi cần được  
phát huy.  
Thứ hai, các nhà nghiên cứu thường tham chiếu  
nguyên lý đối thoại vào tác phẩm văn học ở các yếu tố  
như lời văn, giọng điệu, ngôi kể, điểm nhìn,… Tính  
đối thoại của nội dung tư tưởng trong tác phẩm phần  
lớn được quan sát từ hai góc độ: từ bản chất đối thoại  
của phát ngôn thẩm mỹ (cũng giống như bản chất đối  
thoại của một phát ngôn thông thường, chỉ khác ở giá  
trị thẩm mỹ); hoặc từ góc độ đối thoại liên văn bản  
theo tinh thần của những người phát triển khái niệm  
này từ nguyên lý đối thoại của Bakhtin. Chẳng hạn,  
trong chuyên luận Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ  
XXI: Lạ hóa một cuộc chơi (2017), tác giả Thái Phan  
Vàng Anh xác định, việc tổ chức lời đối thoại và các  
yếu tố trần thuật như ngôi kể, điểm nhìn đã mở ra  
những trường nhìn khác nhau, tạo điều kiện để các  
tiếng nói được vang lên bình đẳng, cho dù sự tương  
đồng hay khác biệt về lập trường tư tưởng. Tính đa  
thanh của tiểu thuyết Việt Nam đương đại còn biểu  
hiện qua phương diện liên văn bản như một nguyên tắc  
trung tâm của việc mô hình hóa thế giới trong văn học  
hậu hiện đại, mà xu hướng của nó là dùng triết lý và  
giễu nhại để khẳng định tinh thần đối thoại. Công trình  
nghiên cứu này đã càng xác quyết sự vận động không  
thể đảo ngược của văn xuôi nước ta trong thiên niên  
kỷ mới theo khuynh hướng đối thoại như một nguyên  
tắc nghệ thuật trên tinh thần của Bakhtin.  
Với tư cách của một người tiếp nhận Bakhtin,  
chúng tôi hoàn toàn không loại trừ bản thân ra khỏi  
những điểm hạn chế của thực tế ứng dụng như đã nêu  
trên. Những đề xuất này chỉ thể hiện thái độ cầu thị,  
học hỏi của chính người viết, nhằm hướng tới những  
công trình nghiên cứu thật sự có giá trị trong tương lai.  
2.2. Ứng dụng các khái niệm liên quan đến  
nguyên lý đối thoại  
- Ứng dụng nguyên lý đối thoại trong nghiên  
cứu - phê bình các hiện tượng văn học nước ngoài:  
Chuyên luận Thi pháp văn xuôi A.S. Pushkin (2017)  
của Thành Đức Hồng Hà [19].  
- Ứng dụng nguyên lý đối thoại trong nghiên  
cứu - phê bình các hiện tượng văn học Việt Nam  
+ Cách ứng dụng thứ nhất: “Lý thuyết đối thoại  
và mấy nét nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Chí  
Phèo của Nam Cao” (1998) của Trần Đình Sử [20],  
“Tính đối thoại trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân  
Khánh” (2012) của Thái Phan Vàng Anh [21], “Tính  
đối thoại trong lời thơ Đây thôn Vỹ Dạ” (2019) [22]  
của Lê Huy Bắc,… Năm 2016, tác giả Lê Thị Thúy  
Hằng đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài  
Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986  
đến 2010 [23].  
Thứ ba, sự xuất hiện của nguyên tắc đối thoại theo  
cách hiểu của Bakhtin, nhưng với tư cách một nguyên  
tắc sáng tác, là dấu hiệu cho thấy sự biến chuyển dứt  
khoát về tư duy nghệ thuật của văn học Việt Nam, đặc  
biệt là tiểu thuyết Việt Nam, từ 1986. Nó là tiền đề tạo  
ra sức sống mới của toàn bộ nền văn học với nhiều  
gương mặt cá tính trong phong cách nghệ thuật lẫn  
chiều sâu triết luận. Luận điểm này được thể hiện rất rõ  
trong luận án Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt  
Nam từ 1986 đến 2010 (2016) của tác giả Lê Thị Thúy  
Hằng, một công trình nghiên cứu được đầu tư công  
phu, bao quát được nhiều tác gia, tác phẩm tiêu biểu.  
+ Cách ứng dụng thứ hai: “Nguyễn Minh Châu  
và sự độc đáo của một giọng văn” (2003) [24] của  
Nguyễn Đăng Điệp, “Tính đối thoại - phương thức  
kết nối với thế giới tự nhiên trong tiểu thuyết Việt  
Nam đương đại” (2017) của Nguyễn Thùy Trang  
[25],… Ngoài ra còn có chuyên luận Những cách tân  
nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại  
(2009) của Mai Hải Oanh [26],…  
Đánh giá:  
Thứ nhất, mặc dù đã hơn hai mươi năm từ ngày  
cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoievski chính thức  
P.T.H.Linh/ No.18_Oct 2020|p.48-55  
Thứ tư, trong quá trình phát triển lý thuyết để nâng  
2.3. Ứng dụng các khái niệm liên quan đến thể  
loại văn học  
cao hiệu quả ứng dụng, nhiều nhà nghiên cứu đã chủ  
động phê phán giới hạn của nhóm Bakhtin ở quan  
niệm về biểu hiện của tính đối thoại trong tác phẩm  
văn học. Bên cạnh nhiều ý kiến đúng đắn cũng có một  
vài luận điểm chưa thật sự hợp lý, nhưng chắc chắn,  
một tư duy phản biện như vậy là cực kỳ cần thiết đối  
với hoạt động tiếp nhận lý thuyết văn học nước ngoài.  
Và xét riêng ở góc độ này, việc tiếp nhận nguyên lý  
đối thoại ở Việt Nam tạo ra được nhiều giá trị lý luận  
và thực tiễn hơn việc tiếp nhận nguyên lý carnaval.  
Toàn bộ công trình tiểu biểu trong việc ứng dụng  
các khái niệm của Bakhtin liên quan đến thể loại văn  
học mà chúng tôi tìm thấy đều chọn đối tượng nghiên  
cứu là văn học Việt Nam, trong đó:  
+ Cách ứng dụng thứ nhất: Tiểu luận “Từ nguyên  
tắc đa âm đến một số hiện tượng trong văn học Việt  
Nam” (1990) của Đặng Anh Đào [27].  
+ Cách ứng dụng thứ hai: Văn xuôi Việt Nam sau  
1975 (2012) của Nguyễn Thị Bình [28], Tiểu thuyết  
Việt Nam đầu thế kỷ XXI - cấu trúc và khuynh hướng  
(2015) của Hoàng Cẩm Giang [29], Tiểu thuyết Việt  
Nam đương đại từ góc nhìn diễn ngôn (2016) của  
Nguyễn Thị Hải Phương [30], Tương tác thể loại  
trong văn xuôi Việt Nam đương đại (2016) của Trần  
Viết Thiện [31], Phê bình ký hiệu học (2018) của Lã  
Nguyên [32],…  
Đề xuất:  
Ngoài những ý tương tự đã được trình bày trong  
phần đề xuất đối với việc ứng dụng nguyên lý  
carnaval, như yêu cầu không giản lược hóa, tránh vì  
hiểu chưa thấu đáo mà làm mất đi nội hàm vốn có  
của các khái niệm; yêu cầu lấy đối tượng nghiên cứu  
làm trung tâm, tránh “đẽo chân vừa giày”;… chúng  
tôi xin nêu thêm mấy ý liên quan đến việc ứng dụng  
nguyên lý đối thoại:  
Đánh giá:  
Thứ nhất, Bakhtin là nhà lý luận về tiểu thuyết,  
nên lý thuyết thể loại văn học của ông được tiếp nhận  
rộng rãi với vai trò trung tâm của những ý kiến bàn  
về tiểu thuyết ở hai vấn đề: quan hệ giữa tiểu thuyết  
với sử thi và quan hệ giữa tiểu thuyết với thơ. Nếu  
vấn đề thứ nhất gần như nhận được sự tán thành tuyệt  
đối thì vấn đề thứ hai thường xuyên được các nhà  
nghiên cứu phát triển trên cơ sở phản biện.  
Thứ nhất, cần đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng  
nguyên lý đối thoại trong nghiên cứu - phê bình văn  
học, nhưng không phải để khẳng định sự hiện hữu  
của nguyên tắc đối thoại ở cấp độ tổng quát của cả  
nền văn học hoặc cả nền tiểu thuyết, vấn đề đã được  
nhiều công trình nghiên cứu giải quyết ổn thỏa. Trên  
cái nền của nguyên tắc đối thoại, cần đi vào diện mạo  
của từng nhà văn riêng biệt, nhất là những nhà văn  
từng trải qua thời điểm “chuyển giao” để thấy được  
sự vận động trong tư duy nghệ thuật.  
Thứ hai, theo chúng tôi, việc tiếp nhận lý thuyết  
thể loại văn học của Bakhtin, nhất là ở quan niệm về  
sử thi và tiểu thuyết, trước hết xuất phát từ đòi hỏi tự  
thân của giới nghiên cứu và sáng tác trong việc xác  
định bản chất của nền văn học Việt Nam thời chiến.  
Điều này được thể hiện rất rõ trong các nghiên cứu  
của Lã Nguyên, người am hiểu sâu sắc và vận dụng  
có hệ thống lý thuyết của Bakhtin qua hàng loạt tiểu  
luận được lần lượt công bố trong thời gian dài: “Diện  
mạo văn học Việt Nam 1945 - 1975 (Nhìn từ góc độ  
thi pháp thể loại)” (1995), “Nhìn lại các bước đi.  
Lắng nghe những tiếng nói (Về văn học Việt Nam  
thời đổi mới 1975 - 1991)” (2005), “Những dấu hiệu  
của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam  
qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị  
Hoài” (2006), “Văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam:  
Quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống” (2012)  
và “Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học  
Việt Nam sau 1975” (2014). Dù mục tiêu cụ thể và  
cách thức triển khai mỗi tiểu luận có khác nhau,  
nhưng từ góc độ thể loại, có thể nhìn nhận chúng như  
một sự kết nối tiến trình thể loại của văn học đất  
Thứ hai, cần tận dụng tốt hơn những tiềm năng  
nghiên cứu vốn chưa lưu tâm khai thác nhiều trong quan  
niệm của Bakhtin về cấu trúc đối thoại nội tại có tính  
chỉnh thể của tác phẩm văn học, từ đó đưa ra được  
những đánh giá hợp lý về mức độ đa thanh giữa các nhà  
văn, hoặc giữa các tác phẩm của cùng một nhà văn.  
Tránh hiện tượng chồng chéo, thiếu thống nhất: nêu lên  
cơ sở lý thuyết là đối thoại liên chủ thể, nhưng thực  
hành ứng dụng lại ở góc độ đối thoại liên văn bản.  
Thứ ba, trong quan điểm của chúng tôi, kết hợp  
liên lý thuyết là con đường hữu hiệu nhất nhằm phát  
huy tính năng sản của lý thuyết nghiên cứu, vì nhà  
phê bình biết dung hợp những nhân tố tinh túy,  
nhưng cần thiết và phù hợp với đối tượng nghiên  
cứu, trong lý thuyết đối thoại của Bakhtin vào hệ  
thống do mình tạo lập. Do đó, đây là hướng đi cần  
được cổ vũ để nguyên lý đối thoại có thể tiếp tục tạo  
nên những giá trị mới cho đời sống nghiên cứu -  
phê bình văn học ở Việt Nam.  
P.T.H.Linh/ No.18_Oct 2020|p.48-55  
nước ở hai chặng, với những đặc điểm riêng: từ 1945  
Trong số những gương mặt văn chương sau 1975,  
Lã Nguyên đặc biệt chú ý ba cái tên: Nguyễn Huy  
Thiệp, Phạm Thị Hoài và Đặng Thân, vì tác phẩm  
của họ, theo ông, đi liền với một hệ hình tư duy mới  
trong nghệ thuật: hệ hình hậu hiện đại. Nếu Nguyễn  
Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài là bước chuyển với các  
dấu hiệu, các yếu tố hậu hiện đại “giống những tảng  
đá hộc xây đắp nền móng đưa văn học dân tộc phát  
triển theo một hướng mới”, thì Đặng Thân đã là  
“bước ngoặt quyết đoán của văn học hậu hiện đại  
Việt Nam” [32;118]. Các tiểu luận liên quan đến chủ  
đề hậu hiện đại của Lã Nguyên đều được viết rất  
công phu, uyên bác và cả hóm hỉnh trên nền tảng của  
những mô hình thế giới diễn ngôn và truyện kể vô  
cùng độc đáo do chính ông phát hiện từ thực tế văn  
bản. Thế nhưng, mức độ đồng thuận của học giới  
trước những kết luận khoa học của ông không phải  
bao giờ cũng giống nhau. Nếu người ta tán thành rất  
cao với trường hợp Đặng Thân thì cũng không ít ý  
kiến nghi ngờ trường hợp Nguyễn Huy Thiệp và  
Phạm Thị Hoài, hai tác gia thường được số đông xếp  
vào phạm trù hiện đại. Hơn nữa, dựa trên những tiêu  
chí của dấu hiệu/ yếu tố hậu hiệu đại được Lã  
Nguyên phân tích, thì dường như chính ông đã “đành  
đoạn ngó lơ” với nhiều tên tuổi từng được ông ghi  
danh trong nền văn học Việt Nam đổi mới như  
Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy  
Anh,…  
đến 1975 và từ 1975 đến nay.  
Điểm khác biệt cốt yếu giữa văn học Việt Nam  
trước và sau 1975 là gì? Theo Lã Nguyên, đó là:  
“Trước 1975, văn học Việt Nam chủ yếu là văn học  
sử thi. Văn học sau 1975 lại chủ yếu là văn học thế  
sự” [32;102]. Sau 1945, tính phức tạp của các  
phương diện mâu thuẫn, đối lập bị khắc phục triệt để  
nhằm tạo ra sự thống nhất một chiều, trên cơ sở tất cả  
thể loại đều được quy về một loại hình nội dung cơ  
bản là thể hiện trạng thái sử thi của thế giới, với lý  
tưởng thẩm mỹ hướng về cái đẹp và cái cao cả. Theo  
chúng tôi, cần nhấn mạnh rằng, đó không phải cái  
đẹp như một phạm trù mỹ học phổ quát, mà là cái  
đẹp trong sự định hướng để trở thành cái cao cả, nên  
thực chất lý tưởng thẩm mỹ giai đoạn này chỉ gói gọn  
trong phạm trù cái cao cả. Phát triển tiếp ý trên, Lã  
Nguyên nhận định, với một loại hình nội dung và lý  
tưởng thẩm mỹ như vậy, văn học giai đoạn này là  
mảnh đất màu mỡ cho sự thống soái của truyện và  
thơ trữ tình, nhưng lại là khắc tinh đối với tiểu thuyết  
theo tinh thần hiện đại của Bakhtin. Văn học 1945 -  
1975 không phải không đặt ra vấn đề đời tư - thế sự,  
song chỉ với tư cách những motif phụ trợ, góp phần  
soi sáng trạng thái sử thi của thế giới. Nó khác hẳn  
với nội dung đời tư - thế sự trong văn học 1975 được  
bắt nguồn từ nhu cầu tự thân và được cắt nghĩa từ  
kinh nghiệm cá nhân của tác giả. Như vậy, xét trên  
nguyên tắc thế giới quan của tư duy thể loại, văn học  
Việt Nam từ 1975 đến nay là sự tiếp nối quá trình  
phát triển của giai đoạn hiện đại hóa văn học, sau  
một chặng đột biến do sự quy định của bối cảnh lịch  
sử đặc thù: chiến tranh. Cái nhìn sử thi hóa về thế  
giới chuyển dần thành cái nhìn tiểu thuyết hóa về con  
người. Chúng tôi cho rằng, thực ra không phải văn  
học sau 1975 “chủ yếu là văn học thế sự”. Văn học  
sử thi vẫn được dung dưỡng để duy trì mạch sống của  
riêng nó. Có lẽ, nên diễn đạt là thành tựu văn học sau  
1975 chủ yếu được xác lập bởi văn học thế sự thì  
chuẩn xác hơn. Lã Nguyên nhận xét, dù sự khác nhau  
là rất lớn, nhưng văn học trước và sau 1975 vẫn  
chung một điểm: đều là sự thống ngự của những  
tiếng nói rất to hướng về thực tại. Những tiếng nói  
thầm trong văn xuôi của Nguyễn Minh Châu, Bảo  
Ninh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Châu  
Diên,… là trường hợp ngoại lệ. Song, dẫu nói to hay  
nói thầm, văn học lúc này ít nhiều đều gắn với tiếng  
cười trào tiếu, giễu nhại, thứ phân biệt nó với giọng  
điệu trang trọng, quyền uy của văn học cách mạng.  
Thứ ba, mặc dù số lượng công trình được chúng  
tôi điểm tên ở đây khá khiêm tốn so với các công  
trình ứng dụng hai nguyên lý carnaval và đối thoại,  
nhưng trên thực tế, số lượng công trình chịu ảnh  
hưởng quan niệm thể loại của Bakhtin là nhiều  
không kể xiết. Thậm chí, có thể nói, sự phân biệt sử  
thi và tiểu thuyết của Bakhtin đã trở thành một tri  
thức có tính đại trà xuất hiện trong bất cứ công trình  
nào có nhắc đến tiểu thuyết ở nước ta. Chính điều  
này khiến chúng tôi buộc phải thu hẹp phạm vi tổng  
thuật chủ yếu vào các chuyên luận được xuất bản  
thành sách. Và xét trong phạm vi ấy, đối tượng  
nghiên cứu hầu hết được tập trung ở mảng văn học  
Việt Nam, đặt trong cái nhìn khái quát. Thực tế đó  
cũng hợp lý, vì có lẽ không nhiều học giả nước ta  
đủ khả năng bao quát toàn cảnh sự vận động của  
một nền tiểu thuyết nước ngoài.  
Đề xuất:  
Bakhtin cho rằng tiểu thuyết là thể loại đang tiếp  
diễn vận động, chưa định hình thành một bộ khung  
rắn chắc, không ngừng dung hợp các hình thức văn  
P.T.H.Linh/ No.18_Oct 2020|p.48-55  
chương và ngoại văn chương vào cấu trúc bên trong  
[2] M.M. Bakhtin (2006), Writing of François  
Rabelais and folklore of the Middle Ages and  
Renaissance, translated by Tu Thi Loan, Social  
Science Publishing House, Hanoi.  
của nó. Đây là quan niệm vừa chuẩn xác, vừa chừa ra  
một độ mở rất lớn để các thế hệ nghiên cứu đi sau  
tiếp tục phát triển, trên cơ sở khái quát thực tế vận  
động của thể loại trong thời đại mới. Ta thấy, không  
hiếm khi thể nghiệm táo bạo của nhà văn đã dẫn đến  
những hình hài mới của tiểu thuyết gây bối rối cho cả  
các chuyên gia trong giới nghiên cứu. Ở Việt Nam có  
thể nhắc đến trường hợp Đặng Thân. Nhưng ngay cả  
những trường hợp đó thì cũng không nằm ngoài một  
hướng phát triển mở đầy linh hoạt của thể loại mà  
Bakhtin đã tiên đoán. Do đó, chúng tôi cho rằng,  
chừng nào còn chưa đến thời điểm suy tàn của tiểu  
thuyết như có người từng cảnh báo, thì quan điểm về  
thể loại của Bakhtin vẫn là nền tảng lý thuyết để chúng  
ta dõi theo hành trình tiểu thuyết trong tương lai.  
[3] Dao Duy Hiep (2008), Literary criticism from  
modern theory, Educational Publishing House,  
Hanoi.  
[4] Duong Thi Anh Tuyet (2008), "The carnaval  
nature in Mark Twain's laughter", Journal of Literary  
Researches, No. 4, p.96-108.  
[5] Tran Nhat Thu (2008), "The Carnaval’s Mark  
in  
Boccatio's  
Ten-Day  
Story",  
source:  
chi/c96/n550/Da-uan-Carnaval -ho-a-in-n-muo-i-nga-  
y-cu-a-Boccatio.html, updated: May 20, 2018.  
[6] Phan Trong Hoang Linh (2014), "Art space  
and time in Cervantes' novel Don Quixote - from folk  
satirical theory", Journal of Science and Technology,  
University of Hue Science, no.2, p.37-46.  
3. Kết luận  
Từ những năm 1980 đến nay, thi pháp học như  
một bộ môn nghiên cứu giá trị nghệ thuật của tác  
phẩm văn học liên tục được truyền bá rộng rãi vào  
Việt Nam với nhiều trường phái, chi nhánh. Trong  
dòng chảy ấy, những phát kiến vĩ đại của Bakhtin,  
đặc biệt là các vấn đề liên quan đến carnaval, đối  
thoại và thể loại văn học, đã trở thành một nhánh  
trọng yếu và còn nhiều tiềm năng. Do vậy, trong bài  
viết này, chúng tôi hướng đến một cái nhìn hệ thống  
đối với việc ứng dụng các khái niệm thi pháp học của  
Bakhtin ở Việt Nam. Cách ứng dụng Bakhtin thông  
qua các khái niệm riêng lẻ được thực hiện rất phổ  
biến trong nhiều công trình nghiên cứu văn học ở  
nước ta, bởi tính dễ dàng, tiện lợi, không đòi hỏi quá  
nhiều công phu nghiền ngẫm lý thuyết. Nhưng cũng  
vì thế, các công trình có giá trị chỉ thuộc về số ít; còn  
lại, đa phần rơi vào tình trạng “hớt ngọn”, “nói theo”,  
“đẽo chân cho vừa giày”,… Dẫu vậy, chỉ với thiểu số  
các công trình có giá trị kể trên, chúng ta cũng có thể  
nhận ra một pham vị đối tượng tiếp cận khá phong  
phú. Về cách thức vận dụng lý thuyết, bên cạnh  
những khả thủ cũng khó tránh khỏi một số bất cập,  
đặc biệt là ở những công trình ứng dụng đầu tiên.  
Tiềm năng của lý thuyết ở một vài khu vực nghiên  
cứu văn học vẫn còn bỏ trống, do đó, có thể hứa hẹn  
những viễn cảnh trong tương lai.  
[7] Pham Vinh Cu (2007), Creation and  
exchange, Educational Publishing House, Hanoi.  
[8] Pham Vinh Cu (2009), "Trying to  
acknowledge Gogol's world of art", Foreign  
Literature Magazine, No. 5, pp.89-129.  
[9] On Thi My Linh (2008), "The grotesque in  
portrayal of Oe Kenzaburo's character (through the  
novel A Personal Pain)", Journal of Literary Studies,  
No. 3, p.88 -97.  
[10] Nguyen Thi Nhu Trang (2016), Artist and  
Margarita (M. Bulgacov) and characters of the  
legendary twentieth century, Hanoi National  
University Publishing House , Hanoi.  
[11] Nguyen Thi Tinh Thy (2013), Mac Ngon  
Autobiography, Literature Publishing House, Hanoi.  
[12] Do Duc Hieu (2000), Modern Poetry,  
Writers Association Publishing House, Hanoi.  
[13]  
Vu  
Thi  
Thanh  
Hoai  
(2017),  
"Carnavalization" in contemporary Vietnamese  
novels, Journal of Literary Researches, No. 8, pp.73-  
84.  
[14] Phan Tuan Anh (2015), "Practice poetry as a  
practice living - Ho The Ha - a playing experience",  
Song Huong Magazine, No. 11, pp.60-65.  
REFERENCES  
[1] M.M. Bakhtin (1998), Problems of  
Dostoievski's Poetry, Tran Dinh Su, Lai Nguyen An  
& Vuong Tri Nhan Translating, Writers Association  
Publishing House, Hanoi.  
[15] Phan Tuan Anh (2019), Innovative  
Vietnamese literature - from reference points of  
view, Culture Publishing House, Ho Chi Minh City.  
P.T.H.Linh/ No.18_Oct 2020|p.48-55  
[16] Phung Gia The (2016), Signs of  
contemporary Vietnamese fictions", Journal of  
Postmodernism in Contemporary Vietnamese Prose  
(1986-2012), Hanoi National University Publishing  
House, Hanoi.  
Literary Researches, No. 3, p.32-37.  
[26] Mai Hai Oanh (2009), Art Innovations in  
Contemporary Vietnamese Fiction, Writers Association  
Publishing House, Hanoi.  
[17] Huynh Thu Hau (2018), Grotesque Art in  
Vietnamese Fiction, Writers Association Publishing  
House, Hanoi.  
[27] Dang Anh Dao (2007), Vietnam and the West -  
received and interfered in literature, Educational  
Publishing House, Hanoi.  
[18] Dang Anh Dao (editor) (1999), Western  
Literature, Educational Publishing House, Hanoi.  
[28] Nguyen Thi Binh (2015), Vietnamese Prose  
after 1975, Hanoi Pedagogical University Publishing  
House.  
[19] Thanh Đuc Hong Ha (2017), Poetry of prose  
A.S. Pushkin, National University Publishing House,  
Hanoi.  
[29] Hoang Cam Giang (2015), Vietnamese  
Novels in the early twenty-first century - structure  
and trends, National University Publishing House,  
Hanoi.  
[20] Tran Dinh Su (1996), Theory and literary  
criticism, Educational Publishing House, Hanoi.  
[21] Thai Phan Vang Anh (2017), Vietnamese  
Novel at the beginning of the twenty-first century -  
A game changer, Hue University Publishing  
House, Hue.  
[30] Nguyen Thi Hai Phuong (2016),  
Contemporary Vietnamese Novels  
- from the  
perspective of discourse, Vietnamese Educational  
Publishing House, Hanoi.  
[22] Le Huy Bac (2019), Symbols and symbols,  
Ho Chi Minh Synthetic General Publishing House,  
Ho Chi Minh City.  
[31] Tran Viet Thien (2016), Interaction genre in  
contemporary Vietnamese prose, Ho Chi Minh  
National University Publishing House, Ho Chi Minh  
City.  
[23] Le Thi Thuy Hang (2016), Principle of  
dialogue in Vietnamese fictions from 1986 to 2010  
(Doctoral thesis in Literature), Hue University, Hue.  
[32] La Nguyen (2018), Semantics review,  
Women Publishing House, Hanoi.  
[24] Nguyen Dang Diep (2003), Vong from the  
word, Literature Publishing House, Hanoi.  
[25] Nguyen Thuy Trang (2017), "Dialogicality -  
How to connect with the natural world in  
APPLICATION OF M.M. BAKHTIN’S POETICS  
IN LITERARY RESEARCH - CRITICISM IN VIETNAM  
FROM CONCEPTUAL LEVEL  
Article info  
Abstract  
M.M. Bakhtin had a great influence on the history of modern poetics in the world.  
From the 1980s onwards, the adoption of Bakhtin’s poetics was of great significance,  
contributing to the development of poetics in Vietnam in nearly four decades. This  
paper presents a systematic view of the application of Bakhtin’s concepts of poetics in  
literary research - criticism in Vietnam, giving some assessments and suggestions for  
the application of Bakhtin in the future.  
Recieved:  
24/7/2020  
Accepted:  
20/9/2020  
Keywords:  
M.M. Bakhtin, poetics,  
conceptual level,  
literary research -  
criticism, Vietnam  
pdf 8 trang baolam 15160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng thi pháp học của M.M. Bakhtin trong nghiên cứu - phê bình văn học ở Việt Nam từ cấp độ khái niệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_thi_phap_hoc_cua_m_m_bakhtin_trong_nghien_cuu_phe_b.pdf