A proposed revised version of the scoring rubrics of VSTEP 3-5 level
Ton Nu My Nhat / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 02(45) (2021) 117-125
117
02(45) (2021) 117-125
A proposed revised version of the scoring rubrics of VSTEP 3-5 level
Phiên bản đề xuất chỉnh sửa bộ tiêu chí đánh giá kỳ thi VSTEP bậc 3-5
Ton Nu My Nhata,b*
Tôn Nữ Mỹ Nhậta,b*
aInstitute of Linguistics, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam
aViện Ngôn ngữ, Ðại học Duy Tân, Ðà Nẵng, Việt Nam
bFaculty of English Language, School of Foreign Language, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam
bKhoa Tiếng Anh, Trường Ngoại Ngữ, Ðại học Duy Tân, Ðà Nẵng, Việt Nam
(Ngày nhận bài: 03/11/2020, ngày phản biện xong: 27/02/2021, ngày chấp nhận đăng: 08/03/2021)
Abstract
VSTEP (Vietnamese Standardized Test of English Proficiency) is a proficiency test in line with the Six-level
framework for foreign language proficiency in Vietnam (VNFLPF), equivalent to the CEFR, issued by the MOET dated
March 3, 2015. Of the versions for different target groups, the VSTEP 3-5 level is undoubtedly the most wide-spread so
far, and common in multiple institutions of higher education in Vietnam. This article is to describe and critically
evaluate the issued scoring rubrics of the two productive skills – Speaking and Writing; and basing on an analysis and
modification of the descriptors, to propose revised versions of the marking rubrics. The product represents the more
concise and clearer rubrics. The revised versions are of practical significance to the practice of English language
teaching for graduates and post-graduates, the issue of training the assessors of the two productive skills, and/or the
endeavor of self-improvement on the part of instructors of English in order to ensure standardized quality in assessment.
Keywords: VSTEP; VSTEP 3-5; scoring rubrics; Six-level framework for foreign language proficiency in Vietnam.
Tóm tắt
VSTEP (Vietnamese Standardized Test of English Proficiency) là kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Anh theo Khung năng
lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (tương đương với trình độ A1, A2, B1, B2, C1,C2), được Bộ GD&ĐT ban
hành vào tháng 03 năm 2015. Trong những phiên bản của VSTEP, dành cho những đối tượng khác nhau, thì bài thi
VSTEP bậc 3-5 là phổ biến hơn cả và đang được sử dụng rộng rãi trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay. Bài
viết này nhằm mục tiêu miêu tả và đánh giá bộ tiêu chí đánh giá hai kỹ năng Nói và Viết của kỳ thi này, và dựa trên
những kết quả phân tích và chỉnh sửa ngôn từ, kết quả nghiên cứu đã cho ra 2 bộ tiêu chí đánh giá ngắn gọn, súc tích, và
rõ ràng hơn. Hai bộ tiêu chí đánh giá mới có ý nghĩa đối với thực tiễn dạy-học tiếng Anh bậc đại học, sau đại học, cũng
như với thực tế bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chấm thi hai kỹ năng Nói, Viết, hay/và thực tế tự bồi dưỡng của giảng viên
tiếng Anh để bảo đảm chất lượng trong quá trình chấm thi hướng đến các chuẩn quốc tế.
Từ khóa: Kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Anh của Việt Nam; Kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Anh của Việt Nam bậc 3-5;
Tiêu chí chấm thi; Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.
*Corresponding Author: Ton Nu My Nhat; Institute of Linguistics, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam;
Faculty of English Language, School of Foreign Language, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam
Email: tnmynhat70@gmail.com
Ton Nu My Nhat / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 02(45) (2021) 117-125
118
1. Introduction
and Task 2 [3]. It is claimed that the
development of these rating rubrics was based
on the Vietnamese six-level language
proficiency framework and the other CEFR-
aligned rating schemes such as IELTS and
Cambridge English exams such as PET, FCE,
and CAE.
The Vietnamese Standardized Test of
English Proficiency (VSTEP) was released
according to Decision No. 729/QĐ-BGDĐT,
dated March 11, 2015 [1]. It is claimed that this
‘first-ever made-in-Vietnam standardized EFL
tests’ was developed ‘intensively with utmost
effort and energy’ [2, p. 74]. There are five
VSTEP variants for different targeted groups,
of which the VSTEP 3-5 level is the most
influential. This multi-level test is aimed to
cater for the certification needs of a large
number of groups. Many institutions in
Vietnam have made use of this specification to
award the B1-C1 English proficiency
certificates to multiple target groups in recent
years. It has widely been used in colleges and
examination bodies in Vietnam because it is
well developed, reliable, and economical in
comparison to the international tests.
These analytic scales contain five features for
Speaking test
-
Grammar, Vocabulary,
Pronunciation, Fluency, Organization - and four
features for Writing test - Task completion,
Organization, Vocabulary, Grammar. All
four/five analytical criteria are shared across the
whole test and equally weighted. The number of
criteria is, thus, within limit [4, p. 193].
Each of the feature has descriptors for 11
points - ascending from 0 to 10. The descriptors
are intended to focus the readers’ attention on
the test-takers’ strengths, not on their
deficiencies. That there are up to 11 points
presents a marked weakness. Pollitt (1990,
cited in [5, p. 123]) points out that it is ‘overly
optimistic to expect a test of writing to be able
to distinguish reliably between five scale points
or more.’ In addition, although the benefits of
analytical scoring are to provide valuable
diagnostic information for test-takers, only the
overall score is reported, which means ‘a good
deal of information provided by the analytic
scale is lost’ [5, p. 120].
Given the wide-spread use of this nation-
wide test, this article is to argue that the scoring
rubrics of the two productive skills of VSTEP
3-5 is far from practical and to propose a
revised version of the rubrics. In this article,
the currently-circulated scoring rubrics for
the two productive skills will first be
described in terms of superficial textual
features and practicality. The paper will then
go on to describe how the rating scales have
been revised - the features modified and the
procedures, which is followed by the
presentation of the revised products. The final
section concerns itself with the factors to
consider in order to assure scoring quality of
these tests.
It should also be noted that the rules for
deriving the overall score are rather complicated:
first, each feature is marked on a 11-point scale;
then, each score is converted to the assigned
level: 4-5.5 equals Level 3; 6-8 equals Level 4;
8.5-10 equals Level 5); finally, the overall score
reported is decided, basing on a combination of
the four/five individual scores.
2. The study
2.1. A critical analysis of VSTEP 3-5 scoring
rubrics
A close analysis of the rubrics of two writing
tasks reveals that they are different in only the
feature of Task completion. Another minor
There are three rubrics altogether - one for
Speaking test, and two for Writing test - Task 1
Ton Nu My Nhat / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 02(45) (2021) 117-125
119
difference can be seen in Organization,
concerning paragraphing, restricting to one
descriptor in the middle scores.
layout also results in the ever-highest number
of pages of all rubrics we can refer to so far;
each rubric takes up five pages. As Luoma [6,
p. 81] states, to be useful, the scale descriptors
need to be practical, because if they are not
brief, it is hard to memorize and use the scale
One noticeable weakness of these rubrics
lies with the layout. That they are written in
Vietnamese and there are too many columns
and rows due to the large number of points
highly obscures differentiation between the
band scores. Lack of meticulous attention to the
consistently. Table
1
summarizes the
superficial textual features of these three
scoring rubrics.
Table 1: Textual features of three scoring rubrics
Features
SPEAKING scoring
WRITING TASK 1
scoring rubric
WRITING TASK 2
scoring rubric
rubric
12
5
12
1,259
5
12
1,423
No. of column
No. of row
No. of word
No. of page
6
2,230
5
5
4
5
4
5
No. of features
To be practical, these weaknesses need
taking into consideration and modifications are
highly mandated.
(4) The descriptors were accordingly
grouped into four levels.
(5) Basing on Vietnamese grammar, I
conducted a discourse analysis of the group of
descriptors in each level and modified the
descriptors. Specifically,
2.2. Methodology
The procedures were as follows:
(1) The PDF files were converted to Word;
eliminating the repeated descriptors;
(2) For each feature, the points and the
associated descriptors were set in lines, not in
columns. For example:
reordering some syntactic elements so
that distinctions between the levels would
be easier to identify, understand, and
remember;
1. Phát âm tương đối rõ ràng những từ và
cụm từ đơn giản nhưng do đôi khi khó nghe nên
người đối thoại vẫn phải yêu cầu nhắc lại.
deleting unnecessary words (mostly modal
words, such as ‘chỉ’, ‘được’, ‘một cách’...);
2. Phát âm rõ ràng và dễ hiểu những từ và
cụm từ, tuy còn mắc khá nhiều lỗi về các âm
đơn lẻ và các lỗi về âm khác.
rewording confusing words and expressions
if any.
For example:
(3) The number of levels were reduced:
Basing on the rules of converting from 11-point
scale to 3-5 levels, I combined points 10 and 9
to produce Level 5, points 8, 7and 6 to produce
Level 4, points 5 and 4 to produce Level 3,
leaving all the lower points to “Không xét”
(unqualified for any levels of 3-5).
Original: Chỉ sử dụng được một cách hạn
chế một số cấu trúc ngữ pháp và
mẫu câu đơn giản đã học.
Revised: Sử dụng hạn chế một số cấu trúc
đơn giản.
Original: Đáp ứng đầy đủ và hiệu quả các
yêu cầu của đề bài.
Ton Nu My Nhat / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 02(45) (2021) 117-125
120
Revised: Đáp ứng các yêu cầu của đề bài
paragraphing was maintained as a feature for
both tasks because paragraphing also must be
observed in this functional genre.
đầy đủ, hiệu quả.
Original: Một số lỗi về sự không thống nhất
và không phù hợp trong giọng văn.
3. Findings and discussion
Revised: Một số lỗi về tính thống nhất, phù
hợp trong giọng văn.
The time-consuming procedures have
resulted in the revised versions which bear out
many strengths in comparison to the original
versions: they are shorter, clearer, more user-
friendly, and accordingly more useful and
practical (Table 2 and Table 3). Table 4
compares the two versions.
Finally, I combined the two rubrics for two
tasks of the writing test into only one scale. The
only feature which presents to be different,
namely Task completion, was categorized into
the subscales for Task 1 and those for Task 2.
Furthermore, the descriptor associated to
Table 2: Scoring rubrics for speaking test (Tiêu chí chấm điểm bài thi Nói)
BẬC NGỮ PHÁP
PHẠM VI
TỪ VỰNG
PHẠM VI
KIỂM SOÁT
PHÁT ÂM
ÂM ĐƠN LẺ
TRỌNG ÂM,
NGỮ ĐIỆU
ĐỘ LƯU
LOÁT
NGẬP
NGỪNG
NÓI DÀI
BỐ CỤC
NỘI DUNG
PHÁT TRIỂN
CHỦ ĐỀ
MẠCH LẠC
LIÊN KẾT
ĐỘ CHÍNH
XÁC
. Cấu trúc đơn . Từ,
ngữ: . Độ chính xác: .Từ, ngữ: (rất) . Liên kết: giữa
Không
xét
giản, hạn chế/
thông dụng về thấp/ tương đối ngắn/ câu đã các từ, ngữ;
chính xác;
chủ đề (rất) rõ ràng/ rõ ràng học thuộc;
. Trả lời câu hỏi:
. Có thể thể quen thuộc;
/ dễ hiểu;
.Rời rạc/ ngập không phù hợp/
hiện ý;
. Có thể lặp từ, . Người nghe: ngừng/ chậm tương đối phù hợp
ngữ; thấy khó hiểu / chạp; . Phương tiện liên
. Đúng chính yêu cầu nhắc .Có thể nói kết: kết từ thông
tả / dạng thức. lại; vấp, nhắc lại; dụng “và”,
. Lỗi: âm đơn lẻ, .Ý đơn giản, “nhưng”, “vì”; có
. Lỗi: cơ bản,
hệ thống/
nhiều.
-
khá nhiều.
hầu
như thể lặp
không
diễn . Phát triển ý: hầu
đạt được ý như không/ hạn
phức tạp.
chế, dùng từ gợi ý
trong đề, liệt kê
. Câu đơn:
chính xác /
ít lỗi;
. Câu phức:
có thể có
nhiều lỗi.
. Có thể thể
hiện ý: rõ
ràng.
. Từ, ngữ: về . Từ, âm đơn lẻ: . Ý đơn giản: . Liên kết: có liên
chủ đề quen
thuộc/ không hiểu;
quen thuộc; . Lỗi: âm đơn lẻ, chậm, ngập
rõ ràng, dễ
trôi chảy;
. Ý phức tạp:
kết giữa các ý;
. Trả lời câu hỏi:
phù hợp,
3
. Đôi lúc lặp
từ, ngữ;
. Lỗi: một số / . Có nhấn trọng từ vựng.
nhiều; lỗi kết âm từ.
hợp từ, diễn
trọng âm; một ngừng, do phải . Phương tiện liên
số/ nhiều tìm cấu trúc và kết: môt số/ đa
dạng phương tiện
. Có thể phát đơn giản / phức
triển câu trả
lời bằng các
cụm từ, câu
đơn;
tạp; có thể thể
đạt ý.
hiện quan hệ liên
kết chưa chính
xác; đôi khi lặp.
Ton Nu My Nhat / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 02(45) (2021) 117-125
121
. Lỗi: có thể
mắc khi nói
. Phát triển ý: liệt
kê / tương đối dễ
các đoạn dài; dàng;
biết sửa lỗi. . Mở rộng ý:
chưa rõ / lặp / với
(những) chi tiết,
ví dụ minh họa
phù hợp;
. Các dạng
. Từ, ngữ: về
. Từ, âm đơn lẻ: . Ý đơn giản . Phương tiện liên
câu đơn: chính hầu hết các
xác, linh hoạt; chủ đề quen
(hầu như) rõ
ràng, chính
xác, tự nhiên,
dễ hiểu;
và phức tạp:
giao tiếp dễ
dàng, tương
đối/ khá lưu
loát;
kết: nhiều/ đa
dạng; thể hiện
(khá) rõ ràng mối
quan hệ giữa các
ý.
4
. Câu phức:
một số/ khá
nhiều;
thuộc/ không
quen thuộc;
. Lặp từ, ngữ: ít . Trọng âm từ:
. Lỗi: một số, khi, với các
tương đối
chính xác;
. Có thể nói . Phát triển ý: dễ
các đoạn dài: dàng;
không hệ
chủ đề không
thống, có thể
quen thuộc;
. Có nhấn trọng có thể lặp từ; . Mở rộng ý: với
tự sửa, không . Kết hợp từ,
âm câu;
. Lỗi: có thể
mắc một số
lỗi nhỏ/
không hệ
thống, có thể
sửa lỗi;
những chi tiết, ví
dụ minh họa phù
hợp.
gây hiểu
nhầm.
diễn đạt: tương . Có thể hiện
đối chính xác; ngữ điệu câu.
. Chính tả / dạng
thức từ: (tương
đối) chính xác
(cao);
. Ngập
. Có từ, ngữ ít
thông dụng;
cụm từ cố định,
thành ngữ.
ngừng: thỉnh
thoảng, không
quá lâu.
. Lỗi: một số;
lỗi kết hợp từ,
dạng thức từ,
diễn đạt ý.
. Nhiều cấu trúc . Từ, ngữ:
. Từ, âm đơn .Đoạn dài: dễ . Phát triển, mở
câu: đa dạng,
linh hoạt,
chính xác;
phong phú; có
từ, ngữ thuộc
tần số sử dụng
lẻ: rõ ràng,
chính xác, tự
nhiên, dễ hiểu; .Lặp từ, sửa
dàng, lưu loát, rộng ý: dễ dàng,
5
tự nhiên;
(khá) tường tận,
với những chi tiết,
ví dụ minh họa
phù hợp; kết luận
phù hợp;
. Lỗi: khó phát thấp; thành ngữ; . Trọng âm từ, lỗi: đôi khi,
hiện/ hầu như . Lặp từ, ngữ:
không.
câu: chính xác; hiếm khi;
thay đổi để thể .Ngập ngừng:
hiện các sắc
thái ý nghĩa
hiếm khi; có
thể còn còn
ngập ngừng
khi tìm từ, ngữ khác nhau;
thay thế;
. Lỡ lời: đôi khi/ phù hợp; thay
hầu như không; đổi để thể hiện
. Lỗi: nhỏ; một các sắc thái ý
hầu như
. Tổ chức ý: rõ
không; chỉ khi ràng, mạch lạc,
diễn đạt một số cấu trúc chặt chẽ;
. Ngữ điệu câu: chủ đề/ khái
. Phương tiện liên
kết: (khá) thành
thạo, đa dạng các
phương tiện.
niệm khó.
vài / không.
nghĩa khác nhau.
Ton Nu My Nhat / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 02(45) (2021) 117-125
122
Table 3: Scoring rubrics for Writing test (Tiêu chí chấm điểm bài thi Viết)
BAND Không xét
. Không đáp ứng . Đáp ứng một nửa . Đáp ứng (gần như) .Đáp ứng các yêu
3
4
5
yêu cầu nào của đề hay một phần yêu
đầy đủ yêu cầu của
đề bài;
cầu của đề bài đầy
đủ, hiệu quả;
bài;
cầu của đề bài;
. Bài viết hoàn
toàn không phù
hợp, không thể
hiểu được;
. Thể hiện mục đích . Thể hiện mục đích .Phát triển điểm
bài viết không rõ
viết (nhìn chung) rõ
chính đầy đủ với
ràng (ở một số chỗ); ràng;
(tất cả) thông tin chi
. Có thể nhầm lẫn ý . Dạng thức bài viết tiết phù hợp;
. Trình bày được chính với thông tin có thể không phù
.Thể hiện mục đích
viết rõ ràng, hiệu
quả; giọng văn
thống nhất, phù
hợp.
rất ít ý, phần lớn
những ý này không . Một số phần có
phù hợp, lặp lại.
chi tiết;
hợp ở một số chỗ;
. Các điểm chính:
được trình bày (gần
như) đầy đủ;
thể không rõ ràng,
không phù hợp
hoặc lặp lại;
. Phát triển ý: hầu
. Các điểm chính có hết thông tin chi tiết
thể không được trình phù hợp; 1-2 điểm
bày đầy đủ; có xu
hướng tập trung vào phát triển hơn nữa;
những chi tiết; . Có thể mắc 1-2,
. Có thể mắc một số một số lỗi (nhỏ) về
lỗi về tính thống tính thống nhất, phù
chính có thể cần
nhất, phù hợp trong hợp trong giọng văn.
giọng văn.
. Bỏ thi / Không
viết từ nào/ Viết lại phần yêu cầu của
. Đáp ứng một
. Đáp ứng (gần . Đáp ứng đầy đủ
như) đầy đủ các / hiệu quả các yêu
yêu cầu của đề bài; cầu của đề bài;
. Những ý chính: . Những ý chính:
phát triển gần như phát triển đầy đủ,
một bài theo trí
nhớ/thuộc lòng;
. Bài hoàn toàn
không phù hợp/
khôngthể hiểu
được;
. Hầu như không
đáp ứng yêu cầu
nào của đề bài;
. Quan điểm
không được thể
hiện;
đề bài;
. Những ý chính:
trình bày một số,
có thể lặp, phát
triển không đầy
đủ với những chi
tiết phù hợp/
không phù hợp;
. Quan điểm thể
hiện không hẳn
rõ ràng trên toàn
bài; có thể không
rút ra kết luận.
đầy đủ, với hầu hết phù hơp, đươc
thông tin chi tiết rộng/ chứng minh
phù hợp; đầy đủ;
̣ mở
. Quan điểm thể . Quan điểm thể
hiện nhìn chung rõ hiện rõ ràng trên
ràng trên toàn bài, toàn bài.
có thể lặp/ không
rõ ở một số phần/
phần kết luận.
. Không trả lời
đầy đủ bất cứ yêu
cầu nào của đề
bài;
. Trình bày 1-2 ý
chính nhưng
(phần lớn) không
được phát triển.
Ton Nu My Nhat / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 02(45) (2021) 117-125
123
. Phương tiện liên kế. Chia đoạn không . Chia đoạn (tương
những từ nối cơ bản hợp lý, hoặc đối) logic;
thường gặp; không viết theo
. Chia đoạn đủ và hợp
lí;
. Phương tiện liên kết: . Phương tiện liên kết:
. Tổ chức thông tin, đoạn;
lập luận: không có, .Phương tiện liên
trong câu, liên câu;
nhiều; phù hợp; có
phong phú, linh hoạt,
hiệu quả;
hạn chế.
kết: sử dụng đúng
một số từ nối,
thể quá nhiều/ ít/ đôi . Tổ chức thông tin,
khi còn sai;
lập luận: lô-gíc,
phương tiện cơ
. Tổ chức thông tin,
mạch lạc, hiệu quả.
bản, thường gặp, ở lập luận: hợp lý,
trong câu, liên
câu; có thể lặp,
mạch lạc.
thiếu chính xác;
.Tổ chức thông tin,
lập luận: mạch lạc.
. Sử dụng phạm . Sử dụng phạm vi . Sử dụng được dải từ . Sử dụng dải từ rất
vi từ (rất) hạn từ hẹp theo chủ đề rộng rộng, bao gồm
chế. bài viết; có xu . Sử dụng một số từ ít những từ ít thông
. Sử dụng từ, ngữ hướng lặp một số thông dụng, ngữ cố dụng, ngữ cố định;
rời rạc; từ; định, có thể mắc lỗi; chính xác, linh hoạt;
. Mắc (rất) nhiều . Sử dụng từ, ngữ cơ . Dùng từ tương đối
lỗi, lỗi có thể làm bản; phù hợp phong cách;
thay đổi nghĩa; . Mắc (khá nhiều) lỗi,. (Rất) Ít lỗi hệ thống,
. Dùng từ (nhìn chung)
phù hợp phong cách;
. (Hầu như) không
mắc lỗi, hoặc 1-2 lỗi
không hệ thống;
thỉnh thoảng gây
khó hiểu.
lỗi có thể gây
khó hiểu.
không gây khó hiểu.
. Viết một vài từ, . Cấu trúc đơn . Cấu trúc: đơn giản và . Cấu trúc: đa dạng
ngữ đã học thuộc giản: sử dụng phức tạp; - đơn giản và phức
trước; chính xác; . Đa số các câu không tạp; chính xác, linh
Không viết . Cấu trúc phức có lỗi;
.
hoạt;
được thành câu;
tạp: có thể sử dụng . Có thể mắc lỗi không . Gần như không
. Cấu trúc đơn sai;
hệ thống, hầu như
mắc lỗi, hoặc 1-2
giản: một vài, sử . Có thể (tương không gây khó hiểu, lỗi không hệ thống,
dụng chính xác;
. (Nhiều) lỗi cơ nhưng
bản, làm thay đổi hoặc thỉnh thoảng
nghĩa; gây khó khăn cho
đối nhiều) lỗi, hiểu nhầm.
không gây khó
hiểu.
không,
. Lỗi xuất hiện người đọc;
rất nhiều và làm
thay đổi nghĩa.
Ton Nu My Nhat / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 02(45) (2021) 117-125
124
Table 4: The original scoring rubrics vs. The revised
Features
SPEAKING scoring rubric
WRITING scoring rubric
ORIGINAL
REVISED
ORIGINAL
10 (five each)
24 (12 each)
2,682 (1259 +
1423)
REVISED
No. of column
No. of row
No. of word
12
6
2,230
6
5
856
5
9
931
No. of page
No. of levels
No. of
10 (5 each)
5
11
5
2
4
5
2
4
4
11
4
features
multiple sample scripts/ oral performances that
exemplify points on the scale. It is believed that
“only when all raters are in close agreement on
the scores for these samples that reliable
scoring can take place.” (White, 1984, cited in
[5, p. 128]
Luoma [6, p.80] maintains the number of
levels in a scale is one of the ‘central questions
in scale development’, adding that ‘the lower
the number of levels, the more consistent the
decisions.’ The basic rules to have been
followed when I revised the descriptors are
“brief, clear, definite, and comprehensible
independently” [4, p. 205-207]. Brevity makes
these scales user-friendly, for assessors, who
may use the scales as a reference during the
rating process, and for assessor-trainers, who
need to facilitate the trainees in training
workshops. Clarity refers to simple wordings
and sentence structures to help readers
understand the descriptors more quickly and
easily.
- As far as the speaking test is concerned,
each candidate’s performance must be recorded
for the second independent rating.
- As for the writing test, there can be a
number of other measures. First, each script
must be scored independently by two raters.
The first rating can be done on a rating sheet,
which is hidden from the second rater; they are
allowed neither to write any comments nor to
underline errors when scoring scripts. A third
rater is invited to adjudicate in cases of
discrepancy. Second, rating must be done in a
“controlled reading” - “readers meet together
to grade scripts at the same place and time” in
order to eliminate unnecessary sources of error
variance and to form a positive social
environment helping to maintain the assessing
standards (White, 1984, cited in [5, p. 128]. An
additional measure is randomly checking the
results by senior assessors to ensure individual
raters have followed the agreed-upon standards
for grading of the ongoing assessment. This
step is also aimed to keep records on the level
In order to assure scoring quality, every
effort should be made to maintain high
reliability in assessing these two productive
skills, such as:
- Conducting seminars on assessment,
VSTEP, CEFR and/or Vietnamese 6-level
framework, when the trained, experienced
assessors returning from workshops can train
the others in the staff;
- Regarding the scoring rubrics, there should
be extensive training so that would-be raters
come to an understanding of the criteria
through repeated discussion and exposure to
Ton Nu My Nhat / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 02(45) (2021) 117-125
125
References
of expertise of the raters so that decisions can
be made on whether each can be kept on,
retrained, or dropped.
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 729/QĐ-
BGDĐT “Ban hành định dạng đề thi đánh giá năng
lực sử dụng tiếng Anh từ bậc 3 đến bậc 5 theo
khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt
Nam, Hà Nội, ngày 11 tháng 3 năm 2015”.
4. Conclusion
In this article, to my best knowledge, for the
first time, the scoring rubrics of the VSTEP 3-
5, is critically analyzed and described from the
perspective of Vietnamese grammar and a
revised rubric is proposed, which is far more
[2] Quynh, N. T. N. (2020), Vietnamese Standardized
Test of English Proficiency - A Panorama. In Lily
I-Wen Su, et al. (eds). (2020), English Language
Proficiency Testing in Asia. Routledge, pp. 71-1000
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu “Hướng dẫn áp
dụng Định dạng đề thi đánh giá năng lực sử dụng
tiếng Anh từ bậc 3 đến bậc 5 theo Khung năng lực
ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam trong việc xây
dựng đề thi và chấm thi (Phê duyệt kèm theo Quyết
định số: 730/QĐ-BGDĐT ngày 11 tháng 3 năm
2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
concise,
linguistically
grounded,
and
undoubtedly useful to users.
Weigle (2020) states:
the scoring rubric is critical, as it represents
as explicitly as possible the definition of the
skill(s) that the test is intended to measure...It is
not enough for a rubric to be clear and explicit: it
must also be useable and interpretable, certainly
by raters, and preferably by any and all
stakeholders in the testing process, particularly
test takers and decision makers. (p. 122)
[4] Council of Europe. 2001. The Common European
Framework of Reference for Languages (CEFR) -
euroexam international (www.euroexam.org)
[5] Weigle, S. C. 2002. Assessing Writing. New York:
Cambridge University Press.
[6] Luoma, S. 2002. Assessing Speaking. New York:
Cambridge University Press.
KPG exams. The A/ B/ C level. Speaking Test –
Assessing Oral Production. Oral Examiners
information
Pack,
September
2014.
VSTEP 3-5 has had a positive reception
among students, lecturers, and other community
members. I hope that the revised versions are of
some practical significance to the endeavor of
the stakeholders in order to bring excellence to
EFL education and assessment.
Pölzleitner and Bauer. 2020. Assessment Scale for
Written Work / Assessment Scale for Written Work
in
Lower
School
Bạn đang xem tài liệu "A proposed revised version of the scoring rubrics of VSTEP 3-5 level", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
a_proposed_revised_version_of_the_scoring_rubrics_of_vstep_3.pdf

