Dạy học theo hướng phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh từ trường hợp bài thơ “Thuốc đắng” của Mai Văn Phấn

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Dạy học theo hướng phát triển năng lực đọc hiểu  
cho học sinh từ trường hợp bài thơ “Thuốc đắng”  
của Mai Văn Phấn  
Lê Hải Anh1, Chu Thị Thuỷ2  
TÓM TẮT: Năng lực đọc hiểu văn bản là nền tảng trong các năng lực văn  
1 Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội  
học nói chung. Đây là vấn đề đã được nghiên cứu nhiều nhưng nó vẫn còn  
144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
cần được nhìn nhận sâu và kĩ hơn nữa. Bám sát mục tiêu phát triển năng  
Email: lehaianh@vnu.edu.vn  
lực của chương trình giáo dục tổng thể năm 2018, chúng tôi đề xuất một  
phương pháp đọc hiểu ở một trường hợp lựa chọn là ngữ liệu mở. Chúng  
tôi chọn một văn bản không có trong chương trình và sách giáo khoa hiện  
hành: Bài thơ “Thuốc đắng” của tác giả Mai Văn Phấn để tiến hành thực  
nghiệm vì đây là một văn bản đáp ứng được những tiêu chí mà nghiên cứu  
này đặt ra: hay, lạ, nhiều cơ hội khai thác để tiệm cận hướng phát triển  
năng lực nhưng vẫn vừa sức học sinh.  
2 Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn  
Tổ 17 phường Sông Cầu, thành phố Bắc Kạn,  
tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam  
Email: Chuthuycdc[email protected]  
TỪ KHÓA: Đọc hiểu; năng lực; Mai Văn Phấn; “Thuốc đắng”.  
Nhận bài 06/11/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 16/12/2019 Duyệt đăng 25/12/2019.  
1. Đặt vấn đề  
trong văn bản. Như vậy, văn bản văn học luôn chỉ là sự khởi  
Vấn đề phát triển năng lực văn học cho học sinh (HS)  
thông qua hoạt động đọc hiểu văn bản văn học đã được đặt  
ra từ nhiều năm. Các nhà giáo dục (GD), các nhà quản lí,  
giáo viên (GV), HS đều hiểu được tầm quan trọng của năng  
lực đọc hiểu trong việc dạy học môn Ngữ văn. Tuy nhiên,  
quá trình dạy đọc hiểu cho HS chưa đạt được hiệu quả như  
mong muốn. Lí do chính là thay đổi chưa triệt để, chưa  
bài bản, chưa đi vào lõi của hoạt động. Đặt vấn đề dạy đọc  
hiểu văn bản văn học theo định hướng phát triển năng lực  
cho HS trong thời điểm hiện nay, chúng tôi muốn đề xuất  
cách thức thực hiện mới đối với một hoạt động GD quen  
thuộc. Thiết nghĩ, mọi vấn đề đều có thể có nhiều cách giải  
đầu của nghĩa. Bất cứ cách hiểu văn bản nào cũng là một  
sự diễn dịch được thực hiện một cách thiếu tự giác. Thiếu  
người đọc, văn bản chỉ là một hệ thống kí hiệu trên bản in.  
Hành động đọc biến văn bản thành tác phẩm. Tác phẩm văn  
học được hiểu như là một quá trình (một hiện tượng động),  
không nhất thành bất biến mà được mở rộng nghĩa hầu như  
vô tận nhờ người đọc. Đến đây, vai trò của tác giả đã chấm  
dứt, nhường chỗ cho sự đọc phong phú và đầy bất ngờ của  
độc giả. Nghĩa của tác phẩm được người đọc kiến tạo liên  
tục, vượt khỏi tầm kiểm soát của tác giả.  
Người đọc trong tầm đón nhận của mình, bằng sự liên  
tưởng, tưởng tượng sẽ lấp đầy các, khoảng trắng trong  
quyết, mục tiêu cuối cùng là hiệu quả trên HS như mong văn bản, kiếm tìm các hàm ngôn, phát hiện những khả thể  
mỏi của tất cả những người làm GD. Trong xu hướng của nghĩa, tìm ra logic của kết cấu và mối liên hệ chỉnh thể  
chương trình (CT) sách giáo khoa (SGK) mới về độ mở của của các yếu tố trong văn bản. Vai trò của người đọc có tính  
ngữ liệu, chúng tôi chọn một văn bản không có trong CT quyết định trong việc biến văn bản thành tác phẩm. Vai trò  
và SGK hiện hành, bài thơ “Thuốc đắng” của tác giả Mai chủ động của người đọc phải đi liền với việc tôn trọng tính  
Văn Phấn để tiến hành thực nghiệm vì đây là một văn bản: khách quan của của tác phẩm. Dạy đọc hiểu văn bản trong  
1/ Đáp ứng được những tiêu chí mà nghiên cứu này đặt nhà trường chính là dạy cách tiếp nhận văn bản một cách  
ra: hay, lạ, nhiều cơ hội khai thác để tiệm cận hướng phát hiệu quả nhất, vừa bám sát đặc trưng của văn bản văn học  
vừa đạt được các tiêu chí khoa học.  
triển năng lực; 2/ Vừa sức HS. Bài thơ “Thuốc đắng” phù  
hợp chọn dạy cho HS lớp 8 hoặc lớp 9. Hình thức, các tầng  
nghĩa và ngôn ngữ thơ đủ để HS lứa tuổi này tiếp nhận.  
2.1.2. Năng lực đọc hiểu văn bản văn học  
Trong các năng lực văn học, năng lực đọc hiểu được xem  
là quan trọng nhất vì tất cả các năng lực khác đều liên quan  
đến đọc hiểu, được phát triển trên nền tảng của đọc hiểu  
văn bản. Từ cuối thế kỉ XX, các nước phương Tây và một  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lí luận và thực tiễn  
2.1.1. Văn bản và lí thuyết tiếp nhận  
Sự phát hiện ra văn bản là một sự kiện quan trọng trong số nước Châu Á có nền GD hiện đại (Nhật Bàn, Hàn Quốc,  
nghiên cứu văn học đầu thế kỉ XX. Trong đó, điểm quan Singapore…) đã rất chú trọng việc dạy đọc hiểu. Nhiều  
trọng nhất của lí thuyết về văn bản xác định ý nghĩa của tác công trình nghiên cứu sâu tập trung vào phát triển kĩ năng  
phẩm văn học không phải là một cái gì đương nhiên, có sẵn đọc hiểu cho HS đồng thời với việc thay đổi vai trò của GV.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
60  
Lê Hải Anh, Chu Thị Thuỷ  
Thái độ học tập chủ động tích cực của HS song song với câu hỏi đọc hiểu khá đơn giản, nhiều HS vẫn lúng túng và  
trả lời sai. Phần lớn HS không thể tiếp nhận các văn bản  
nghệ thuật ngoài SGK. Trong phạm vi bài viết này, chúng  
tôi không đề cập đến các lí do thuộc về CT, SGK, quy trình  
kiểm tra đánh giá mà chỉ tập trung vào phương pháp dạy  
học. CT, SGK và đề thi có thể thay đổi dễ dàng, nhưng  
phương pháp không dễ thay đổi nếu không xuất phát từ  
một nền tảng triết lí, một cách nghĩ, một cách làm mới chứ  
không phải là những thao tác có tính kĩ thuật.  
Nguyên tắc GD hiện đại đề cao vai trò tích cực, chủ động,  
sáng tạo của HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Nhiều  
nhà GD nhắc đến nguyên lí “Tôi nghe tôi quên, Tôi nhìn  
tôi nhớ, Tôi làm tôi hiểu” khi xây dựng các lí thuyết mới.  
HS chỉ tiếp nhận được 20% kiến thức nếu học thụ động.  
Muốn hiểu và nhớ được kiến thức lâu dài, HS cần tự mình  
tiếp nhận, kết nối, xử lí thông tin với sự hướng dẫn của GV.  
Việc tiếp nhận văn bản văn học không nằm ngoài nguyên  
tắc nhận thức trên đây.  
Ở góc độ chuyên biệt, đọc hiểu văn bản văn học là hoạt  
động phức tạp nhất trong tiếp nhận văn bản do đặc thù của  
đối tượng. Nếu không dạy HS cách tự chiếm lĩnh tri thức  
trong lĩnh vực văn học, chúng ta không chỉ hạn chế năng  
lực nhận thức chung mà còn làm hỏng năng lực thẩm mĩ  
của HS. Trải qua một thời gian quá dài, GD trong nước chỉ  
chú trọng tri thức và năng lực khoa học tự nhiên, bỏ quên  
phần quan trọng nhất: năng lực thẩm mĩ trong mối liên hệ  
với hình thành nhân cách HS. Vấn đề này hiện đã được đặt  
ra trong CT GD tổng thể. CT đề ra yêu cầu về năng lực  
thẩm mĩ như sau:  
Năng lực thẩm mĩ của HS bao gồm năng lực âm nhạc,  
năng lực mĩ thuật, năng lực văn học. Mỗi năng lực được  
thể hiện qua các hoạt động sau đây: 1/ Nhận thức các yếu  
tố thẩm mĩ; 2/ Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mĩ; 3/  
Tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mĩ. Yêu cầu  
cần đạt về năng lực thẩm mĩ đối với HS mỗi lớp học, cấp  
học được quy định trong CT các môn Âm nhạc, Mĩ thuật,  
Ngữ văn và được thực hiện trong CT của nhiều môn học,  
hoạt động GD, phù hợp với đặc điểm của mỗi môn học và  
hoạt động GD, trong đó ba môn học đã nêu là chủ đạo. Từ  
những nội dung đã trình bày ở trên, chúng tôi khẳng định  
tính cấp thiết của việc dạy đọc hiểu văn bản văn học theo  
định hướng phát triển năng lực.  
quyền tự chủ của GV đã góp phần cải thiện năng lực văn  
học cho HS một cách rõ rệt. Đọc hiểu là hành động sử dụng  
các tri thức công cụ và các kĩ năng khác để tiếp nhận và  
nắm bắt các tầng nghĩa của văn bản (Tư tưởng của tác giả,  
các lớp hiển ngôn và hàm ngôn, cảm xúc chủ đạo, cấu trúc  
văn bản, đặc điểm ngôn từ nghệ thuật, các thủ pháp nghệ  
thuật, giá trị của văn bản đối với nhận thức và tình cảm của  
người đọc…). Năng lực đọc hiểu văn bản có những biểu  
hiện cụ thể như sau:  
- HS nắm được tri thức lí luận văn học - công cụ để đọc  
hiểu văn bản văn học: bản chất và giá trị của văn học, thể  
loại, thi pháp, phong cách, tiếp nhận…  
- Có kiến thức về văn học Việt Nam, văn học nước ngoài:  
các thời kì phát triển của văn học, đặc điểm, thành tựu, các  
tác giả, tác phẩm tiêu biểu.  
- Có kiến thức về văn bản: Các dạng kết cấu văn bản,  
đoạn văn bản, liên kết câu, đoạn, phong cách văn bản; Kiến  
thức ngôn ngữ: từ, câu, các biện pháp tu từ…  
- Biết vận dụng các biện pháp, phương pháp, kĩ thuật,  
chiến thuật đọc hiểu văn bản.  
- Có khả năng ứng dụng tri thức văn học vào tìm hiểu,  
nắm bắt các giá trị sống thực tế.  
2.1.3. Thực trạng đọc hiểu văn bản trong trường phổ thông và  
tính cấp thiết của việc thay đổi phương pháp dạy học  
Từ năm 2006 đến nay, phương pháp dạy học môn Ngữ  
văn có nhiều thay đổi, trong đó có thay đổi về tên gọi các  
bước tiến hành giờ học văn bản. Phần trọng tâm trước đây  
được gọi bằng những thao tác “Phân tích”, “Bình giảng”  
đã được thống nhất thay bằng “Đọc hiểu”. Đề thi môn Ngữ  
văn cũng thiết kế phần đọc hiểu chiếm đến 30% tổng điểm.  
Đây là sự thay đổi trước hết về quan niệm dạy học từ chỗ  
xem thầy là người truyền thụ, độc quyền tri thức, kĩ năng  
thuyết trình, giảng bình văn học của thầy là quyết định đến  
việc xem người học là chủ thể của quá trình nhận thức, sự  
chủ động và kĩ năng đọc hiểu văn bản của HS là yếu tố  
quyết định. Sau nữa là thay đổi về cách thức dạy học, tập  
trung mạnh hơn vào việc tổ chức cho HS tự học, phát triển  
tư duy độc lập và phản xạ với các yêu cầu từ phía GV.  
Tuy nhiên, từ quan niệm đến thực hành vẫn có khoảng  
cách rất lớn. Do nhiều nguyên nhân, bài đọc hiểu trên lớp  
vẫn nghiêng về việc thuyết trình của GV hơn là hoạt động  
tự tiếp nhận của HS. Nhiều GV đã nỗ lực đầu tư đổi mới  
nhưng vẫn khó thoát ra khỏi quán tính và khuôn mẫu cũ.  
Trong đó, nặng nề nhất là hệ thống tri thức đọc hiểu vẫn do  
GV áp đặt. Rất khó để HS tự phát hiện ra các nghĩa của văn  
bản, vẻ đẹp của ngôn từ và sự độc đáo của thủ pháp. Việc  
trả bài của HS sau đó vẫn mang tính chất lặp lại những gì  
GV cung cấp. Khả năng tìm ra cái khác, cái mới, tự phát  
hiện giá trị của văn bản tập trung vào số ít HS giỏi các cấp.  
Số này chiếm tỉ lệ quá nhỏ so với tổng lượng HS. Sự thụ  
động của HS thể hiện rõ nhất khi cần đọc hiểu các văn bản  
ngoài CT. Trong các kì thi, ngữ liệu cho câu hỏi đọc hiểu  
2.2. Đề xuất biện pháp dạy đọc hiểu văn bản văn học định  
hướng phát triển năng lực (trường hợp bài thơ Thuốc đắng của  
Mai Văn Phấn)  
2.2.1. Mai Văn Phấn và bài thơ Thuốc đắng  
a. Nhà thơ Mai Văn Phấn  
Mai Văn Phấn sinh ngày 29 tháng 11 năm 1955 tại Kim  
Sơn, Ninh Bình. Năm 1974, Mai Văn Phấn nhập ngũ, đến  
năm 1981 ông xuất ngũ và theo học Ngôn ngữ học và Văn  
hóa Nga tại Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Năm 1983,  
ông tiếp tục tu nghiệp tại Trường Đại học Sư phạm Maxim  
Gorky, Minsk (Thủ đô của Byelorussian SSR). Hiện nay,  
ông sống và sáng tác tại thành phố Hải Phòng. Mai Văn  
phần lớn là văn bản nhật dụng, bình luận báo chí, với những Phấn đã xuất bản 21 tập sách ở Việt Nam. Ở nước ngoài,  
Số 24 tháng 12/2019  
61  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Mai Văn Phấn xuất bản 17 cuốn thơ. Thơ của ông đã được vị kiến thức cần thiết cung cấp là: Khái niệm thể loại; Đặc  
dịch ra 28 thứ tiếng, xuất hiện trong hơn 50 tuyển tập thơ điểm văn bản thơ: Hình ảnh thơ, tứ thơ, ngôn ngữ thơ, cảm  
và tạp chí quốc tế. Mai Văn Phấn giành giải thưởng văn học xúc.  
Cikada 2017 của Thụy Điển. Giải Cikada được sáng lập  
năm 2004 và được trao cho các nhà thơ Đông Á.  
b. Bài thơ “Thuốc đắng”  
*Tạo bối cảnh cho trải nghiệm văn học, trong đó: Cần  
gợi lên các kết nối cá nhân, lịch sử, văn hoá hoặc khái niệm  
rộng rãi ở bạn đọc; Cần mời gọi những trải nghiệm văn học  
“Thuốc đắng” được xem là bài thơ khai mở hành trình của bạn đọc HS (bước vào văn bản và khám phá các khả  
thơ Mai Văn Phấn sau 1990. Sau “Thuốc đắng”, Mai Văn năng) chứ không chỉ là tìm kiếm thông tin: tác giả, hoàn  
Phấn sáng tác liên tục, không gian thơ ngày càng mở rộng cảnh ra đời của bài thơ.  
với nhiều cung bậc và màu sắc đa dạng. Năm 1991, bài  
*HS được hướng dẫn để nêu ra những cách hiểu văn bản  
thơ được trao giải nhất, giải thưởng văn học Nguyễn Bỉnh khác nhau  
Khiêm của Hải Phòng. Bài thơ cũng được nhiều nhà thơ,  
- Sử dụng chiến lược đọc suy luận (Make inferences or  
dịch giả nước ngoài chú ý và dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp. make guesses) dựa trên các chi tiết trong văn bản và kinh  
Nguyên văn bài thơ như sau:  
Thuốc đắng  
nghiệm của bản thân… Có thể thấy, cách tổ chức bài học  
văn ở đây chú trọng vào việc hình thành và phát triển ở  
HS những năng lực đọc dựa trên nền tảng tri thức công cụ  
và việc kết nối giữa văn bản với mỗi cá nhân HS, nhất là  
mời gọi những trải nghiệm văn học của bạn đọc HS. Trong  
đó, mỗi văn bản không chỉ đưa đến cho HS một cơ hội trải  
nghiệm việc đọc mà quan trọng hơn là giúp HS hình thành,  
phát triển hệ thống kiến thức và kĩ năng đọc văn thông qua  
việc tìm hiểu và vận dụng những tri thức lí luận có tính chất  
công cụ.  
(Cho Ngọc Trâm)  
Cơn sốt thiêu con trên giàn lửa  
Cha cũng có thể thành tro nữa  
Thuốc đắng không chờ được rồi  
Giữ tay con  
Cha đổ  
Ngậm ngꢀi thả lòng chꢁn vơi...  
Con ơi! Tí tách sương rơi  
- Tổ chức hoạt động nhóm để HS có cơ hội trao đổi, thảo  
luận, bảo vệ ý kiến cá nhân trong một tập thể nhỏ.  
*Liên hệ từ văn bản đến đời sống: Học Văn học để HS  
nhận thức về các giá trị, để rồi dựa vào đó có thể xem xét  
lại thế giới quan của chính mình. Từ hiểu văn bản, HS nêu  
ra những suy nghĩ của mình về những giá trị đời sống được  
gợi ra từ bài thơ.  
*Tập phản biện khi thấy bất đồng ý kiến với các bạn, với  
GV. Việc phản biện vừa giúp HS có dịp hoàn thiện năng lực  
thuyết trình, khả năng bảo vệ quan điểm, trải nghiệm cảm  
giác làm chủ bản thân vừa chia sẻ kinh nghiệm thẩm mĩ cá  
nhân với người khác.  
Nhọc nhằn vắt qua đêm lạnh  
Và những cánh hoa mỏng mảnh  
Đưa hương phải nhờ rễ cay.  
Mồ hôi keo thành chai tay  
Mꢀa xuân tràn vào chꢁn đắng  
Tuổi cha nước mắt lặng lặng  
Sự thật khóc òa vu vơ.  
Con đang ăn gì trong mơ  
Cha để chꢁn lên cửa sổ  
Khi lớn bằng cha bây giờ  
Đáy chꢁn chắc còn bão tố.  
*Luyện tập vận dụng: Đọc hiểu một văn bản khác, trình  
bày quan điểm cá nhăn bằng các hình thức nói, viết.  
(Hải Phòng, tháng 7 năm 1990)  
2.2.3. Đề xuất hướng dạy đọc hiểu bài thơ “Thuốc đắng” của Mai  
Văn Phấn  
a. Bước thứ nhất: Cung cấp kiến thức công cụ  
Nguyên tắc dạy tri thức công cụ: Kiến thức lí luận vốn  
2.2.2. Đề xuất một hướng dạy đọc hiểu văn bản theo hướng phát  
triển năng lực  
a. Mục tiêu  
1/ HS hình thành và phát triển năng lực đọc văn bản một trừu tượng, không dễ hiểu đối với HS phổ thông. Vì vậy, đặt  
cách độc lập. GV chỉ đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức để HS câu hỏi phải đơn giản, chấp nhận việc diễn đạt hướng về ý  
biết cách phân tích và đánh giá văn bản văn học; 2/ HS có không hướng về lời để tránh lối nói hàn lâm khó hiểu; Kiến  
khả năng đưa ra các quan điểm cá nhân về văn bản; 3/ HS thức lí luận dù khó vẫn phải dạy trước để HS có thói quen  
có khả năng tiếp nhận các văn bản văn học khác của Việt tư duy khái quát, có tri thức công cụ để đọc hiểu bất cứ văn  
Nam và thế giới ở tất cả các thể loại; 4/ HS có khả năng bản nào cùng thể loại; GV nhất thiết phải hướng dẫn HS  
phản biện các ý kiến đánh giá khác về văn bản; 5/ HS biết dùng ngữ liệu để hiểu kiến thức lí luận. Có thể tiến hành đặt  
cách tự đọc hiểu một văn bản thơ trữ tình.  
câu hỏi như sau (xem Bảng 1):  
b. Phương pháp được đề xuất  
b. Bước thứ 2: Tạo bối cảnh để HS có được trải nghiệm  
*Cung cấp kiến thức công cụ: Để HS có thể đọc hiểu trước khi đọc hiểu  
được các văn bản văn học thì phải cung cấp tri thức công  
Ở bước này, HS không chỉ tìm kiếm thông tin mà phải  
cụ cho các em. Tri thức công cụ ở đây là kiến thức lí luận học cách xử lí thông tin, sử dụng thông tin cho việc tạo  
văn học đơn giản, dễ hiểu nhất về thể loại thơ. Những đơn tâm thế trước khi đọc hiểu văn bản. Việc tìm hiểu trước  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
62  
Lê Hải Anh, Chu Thị Thuỷ  
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu  
“John Roberts - Chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kì từng  
giúp HS làm quen với tác giả và tác phẩm, tạo đường dẫn  
để việc đọc hiểu sau này đạt hiệu quả. Phần này HS chuẩn  
bị trước ở nhà, tại lớp, GV đặt ra hai câu hỏi để HS nghiên tốt nghiệp đại học Harvard. Gần đây, ông có đến tham dự lễ  
cứu trước:  
tốt nghiệp trung học của cậu con trai. Ngài Chánh án đã bắt  
đầu bài diễn văn của mình trong sự ngỡ ngàng của đám học  
trò non nớt chưa từng trải đời. Lũ trẻ vô cùng kinh ngạc bởi  
điều chúng chờ đợi là những lời chúc may mắn, mong mọi  
điều tốt đẹp sẽ đến trong tương lai, nhưng ông đã không  
làm thế. Ông nói: “Từ giờ về sau, ta hi vọng con sẽ bị đối xử  
bất công, bởi chỉ có như vậy con mới có thể cảm nhận được  
giá trị của sự công bằng. Ta hi vọng con có thể nếm trải một  
chút mùi vị của sự phản bội, bởi chỉ có như vậy con mới  
có thể hiểu được tầm quan trọng của sự chân thành. Xin lỗi  
phải nói thế này, nhưng ta hi vọng con cảm nhận được sự cô  
đơn hàng ngày, bởi chỉ có như vậy con mới hiểu được rằng  
bạn bè không phải là điều đương nhiên mà con cần phải giữ  
gìn. Ta hi vọng con có thể gặp xui xẻo một vài lần, bởi chỉ  
có như vậy con mới hiểu được ý nghĩa của may mắn trong  
đời, để con khiêm tốn hiểu rằng thành công mình có lẽ là  
nhờ vận may, và sự thất bại của người khác cũng không  
phải là đáng đời. Ta hi vọng thi thoảng con bị người khác  
coi thường, chỉ có như vậy con mới hiểu được học cách tôn  
trọng và lắng nghe là quan trọng tới mức nào. Và ta cũng hi  
Câu hỏi 1: Hãy nói những điều em biết về nhà thơ Mai  
Văn Phấn? Điều gì làm em ấn tượng nhất về nhà thơ Mai  
Văn Phấn?  
Câu hỏi 2: Bài thơ được viết trong hoàn cảnh nào? Từ  
hoàn cảnh đó, cùng với việc đọc văn bản, theo em bài thơ  
có thể viết về điều gì?  
Mục tiêu cần đạt ở câu hỏi 1: HS nắm được vị trí, đóng  
góp của thơ Mai Văn Phấn, đặc điểm thơ Mai Văn Phấn.  
Cao hơn nữa, HS có thể so sánh với các tác giả khác cùng  
thời để hình dung được vị trí của tác giả trong bối cảnh văn  
học Việt Nam đương đại. Nội dung này nếu thực hiện tốt sẽ  
cho HS sự tự hào và ngưỡng mộ đối với một tác giả lớn của  
Việt Nam. Mục tiêu cần đạt ở câu hỏi 2: HS nắm được hoàn  
cảnh ra đời của bài thơ, từ đó gợi ý đến cảm hứng của tác  
phẩm, đó là tình cảm cha con.  
c. Bước thứ ba: HS tự xây dựng ý nghĩa của tác phẩm  
trên cơ sở văn bản bài thơ  
Bước này sẽ tiến hành với hình thức seminar tại lớp. Ở  
bước này, GV là chủ toạ điều hành thảo luận. HS nêu ý kiến vọng con sẽ học được đủ đau đớn để học cách cảm thông.  
Cho dù ta có hi vọng những điều này hay không thì thật ra  
sớm muộn gì nó cũng sẽ xảy ra trong cuộc sống của con.  
Con có thể tiếp thụ giáo huấn hoặc thu hoạch được gì trong  
đó hay không, đều dựa vào việc con có nhìn thấy những bài  
học trong khổ đau của mình hay không.”  
Câu 1: Xác định biện pháp tu từ cú pháp trong đoạn in  
nghiêng, nêu hiệu quả của biện pháp tu từ đó?  
Câu 2: Vì sao vị Chánh án không chúc các HS gặp nhiều  
may mắn? Ông hi vọng HS gặp những điều gì trong cuộc  
sống sau này?  
Câu 3: Trong lời phát biểu trên, thông điệp được ngài  
Chánh án gửi đến các HS là gì?  
Câu 4: Liên hệ với bài thơ Thuốc đắng của Mai văn Phấn  
để thấy những nét tương đồng trong tư tưởng của hai người  
cha.  
ủng hộ hay phản bác các luận điểm của chuyên gia, tự nêu  
lên ý kiến của mình về văn bản văn học, tranh luận với nhau  
để cùng nhìn thấy văn bản dưới nhiều góc độ. Cuối giờ,  
các em tự viết tóm tắt về buổi thảo luận, cùng thống nhất  
ra những điểm nhất quán và những điểm không đồng tình.  
Cách thức tiến hành như sau:  
Hoạt động 1: Phát hiện ý nghĩa của tác phẩm  
- Chia nhóm;  
- Các nhóm tìm hiểu văn bản bài thơ, nêu ra các cách hiểu  
về ý nghĩa bài thơ;  
- Các nhóm nêu quan điểm, thảo luận, phản biện;  
- GV hướng dẫn HS chọn ra những cách hiểu phù hợp  
nhất. Gợi ý để tìm hiểu ý nghĩa tác phẩm (xem Bảng 2)  
Hoạt động 2: Liên hệ thực tế: GV đưa các ra các gợi  
ý để HS thảo luận trong nhóm; Các nhóm nêu quan điểm,  
thảo luận, phản biện.  
Hoạt động 4: Đọc bài thơ “Thuốc đắng” (bản dịch tiếng  
Anh của Lê Đình Nhất Lang), so sánh với bản tiếng Việt,  
rút ra nhận xét riêng.  
Hoạt động 3: Tích hợp liên văn bản  
Bảng 1: Tìm hiểu tổng quan  
Câu hỏi  
Kiến thức  
Ghi chú  
Thơ là gì?  
Thơ là một thể loại văn học ra đời sớm nhất của nhân loại.  
Thơ là thể loại trữ tình  
GV nhắc đến 3 thể loại văn học chính (Tự  
sự, trữ tình, kịch)  
Trong bài thơ, sự kiện hay cảm Trong thơ, cảm xúc của nhà thơ trước sự kiện mới là quan GV gợi ý đển HS sử dụng ngữ liệu phát hiện  
xúc quan trọng hơn? trọng. vấn đề.  
Các hình ảnh trong bài thơ được Hình ảnh thơ thường được nảy sinh bằng sự liên tưởng, tượng GV gợi ý đển HS sử dụng ngữ liệu phát hiện  
tác giả xây dựng bằng cách nào? tượng của nhà thơ.  
Hình ảnh thơ thường có tính biểu tượng.  
vấn đề.  
Lời thơ có đặc điểm gì?  
Lời thơ được cấu tạo đặc biệt: có tính gián đoạn, tính lạ hóa, có Phần này, GV phải lí giải kĩ những đặc điểm  
nhịp điệu, giàu ẩn dụ, nhiều khoảng trống, khoảng trắng.  
khó.  
Số 24 tháng 12/2019  
63  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Bảng 2: Tìm hiểu chi tiết  
Các gợi ý để HS liên hệ Văn bản  
với thực tế cuộc sống  
Ý nghĩa của văn bản  
Hành động của người Cơn sốt thiêu con trên giàn lửa  
cha mang tính ép buộc Cha cũng có thể thành tro nữa  
Bài thơ bắt đầu bằng một khoảnh khắc dữ dội, gay cấn:  
- Câu 1: Mô tả căn bệnh của con: cơn bênh nặng  
thô bạo. Nhưng vì sao Thuốc đắng không chờ được rồi +Lưu ý các từ “thiêu”, “giàn lửa”  
người cha làm vậy? Hãy Giữ tay con  
nghĩ về cha mình, có Cha đổ  
bao giờ cha các em như Ngậm ngùi thả lòng chén vơi...  
vậy không? Em hiểu  
thêm được gì về tình  
cảm của cha mình?  
Cơn sốt là chi tiết thật nhưng có ý nghĩa biểu tượng. Căn bệnh hủy diệt dần cơ thể  
đứa con.  
- Câu 2: căn bệnh của con hủy diệt cả tinh thần người cha  
- Câu 3,4: thuốc đắng + những hành động của người cha bề ngoài có vẻ nghiệt  
ngã.  
+Giữ tay con: thô bạo, áp chế  
+ Từ “đổ”: động tác mạnh (so sánh với bón, rót)  
- Câu 5: sau hành động thô bạo, nghiệt ngã là sự ngậm ngùi, xót xa  
+ Từ “thả”: buông tay để rơi => người cha kiệt sức vì buộc phải cưỡng bức con  
uống thuốc.  
Ý nghĩa:  
Nhận thức của người cha về sự cấp bách của hoàn cảnh. Nếu không uống thuốc  
(đắng), đứa con có thể không cứu được.  
Nỗi xót xa thương con khi buộc con phải uống thuốc đắng.  
Khổ thơ dồn nén cả về nghĩa và lời.  
Dân gian đã có câu Con ơi! Tí tách sương rơi  
“Thuốc đắng giã tật”. Ý Nhọc nhằn vắt qua đêm lạnh  
Mở đầu là “con ơi!” nhưng là lời người cha nói với chính mình.  
- Sương rơi, đêm lạnh, nhọc nhằn: cuộc sống không dễ dàng. Hạt sương đó dù rất  
kiến của em về vấn đề Và những cánh hoa mỏng mảnh nhỏ cũng phải nhọc nhằn vắt qua đêm lạnh mới có.  
này như thế nào?  
Đưa hương phải nhờ rễ cay.  
- Hương của những cánh hoa mỏng mảnh đến từ đâu? Từ những chùm rễ đắng cay  
cũng như con muốn khỏe lại phải chấp nhận uống thuốc đắng.  
Ý nghĩa: khổ thơ trĩu nặng suy tư của người cha. Sau khi bắt ép con mình uống chén  
thuốc đắng, có một dòng nước mắt thầm lặng chảy bên trong con người anh ta với  
nhiều trạng thái cảm xúc đan xen: thương, ngậm ngùi, xót xa, tin tưởng, hi vọng….  
Mồ hôi keo thành chai tay  
Mùa xuân tràn vào chén đắng  
Tuổi cha nước mắt lặng lặng  
Sự thật khóc oà vu vơ.  
Khổ thơ này là những suy niệm của người cha về cuộc đời. Những suy niệm được  
gợi lên từ chén thuốc đắng đứa con buộc phải uống để khỏi bệnh.  
- Mùa xuân và chén đắng: Từ những hình ảnh cụ thể trở thành những biểu tượng.  
Mùa xuân là biểu tượng của sự sống, của cái bắt đầu, sự tươi mới, của hi vọng lúc  
này tràn vào lòng chén đắng.  
- Nước mắt người cha lặng lặng, là thứ nước mắt rơi trong im lặng, là nước mắt vô  
hình mà người đàn ông không muốn phơi bày.  
Ý nghĩa: Chén thuốc cha cho con uống không chỉ là thuốc bệnh thể xác. Nó còn là  
thuốc cho tinh thần mà cha đúc rút được, nhưng con chưa thể nhận chén thuốc đó  
nên cha giữ lại trong bài thơ như một lời nhắn nhủ.  
Sự thật khóc oà vu vơ.  
Câu thơ này liên quan trực tiếp đến hoàn cảnh xã hội đã nêu ở trên. Sự thật lúc này  
khóc òa lên bởi nó bị dồn nén đến đỉnh điểm, không thể kìm giữ được nữa. Tuy  
nhiên, mới là cái khóc vu vơ, chưa thể làm nên sự thay đổi. Nhưng dù vu vơ vẫn  
hơn là bị bưng bít.  
Người cha trong bài thơ Con đang ăn gì trong mơ  
viết những dự cảm về một Cha để chén lên cửa sổ  
tương lai còn nhiều bão Khi lớn bằng cha bây giờ  
tố. Theo em, vì sao ông Đáy chén chắc còn bão tố.  
không viết về một tương  
- Con đang ăn gì trong mơ: Hình ảnh đứa con trong giấc ngủ hồn nhiên. Vì sao là  
“ăn”? Vì đó là bản năng, cái mà trẻ con mới có.  
- Hình ảnh cha để chén lên cửa sổ là một biểu tượng. (thủ pháp điện ảnh) Chiếc  
chén đã hết thuốc đó, cha đặt nó lên cửa sổ như đặt nó vào kí ức của cha và con.  
Bài thơ Thuốc đắng được xem là khai mở con đường thơ của Mai Văn Phấn, chiếc  
chén đặt trên cửa sổ cũng chính là chiếc chén được đặt vào bài thơ quan trọng  
này. Xuất hiện năm 1990, đến nay đã gần 40 năm vẫn vẹn nguyên trong tình cha  
con của họ.  
lai màu hồng cho con gái  
bé bỏng của mình?  
Em hình dung về cuộc  
sống mai sau như thế nào?  
- Đáy chén chắc còn bão tố: Gian khó, bão tố cuộc đời là cái sẽ đồng hành trong  
suốt đời người. Con rồi sẽ lớn, chén cuộc đời còn đựng nhiều thuốc đắng vì bão  
tố trong đáy chén vẫn vần vũ. Và suốt đời con sẽ còn phải nhận thuốc đắng để  
trưởng thành.  
Ý nghĩa: Khổ thơ cuối cũng chính là dự cảm của người cha về cuộc đời phía trước  
mà thực tế chứng minh dự cảm đó hoàn toàn đúng.  
Nếu phải đối diện với bất  
công, trắc trở, tại họa,  
em nghĩ mình sẽ vượt  
qua như thế nào?  
Tổng hợp: Bài thơ là tình phụ tử nhưng thể hiện ở một phương diện riêng: cách người cha yêu thương con, cách cha dạy con đối diện với cuộc đời.  
Không có bài học đạo đức nào, chỉ có những sự thật trần trụi và đắng chát cha muốn con nhìn ra và chấp nhận nếm trải để lớn lên và sống. Bài  
thơ còn là những lo âu của người cha về những bão tố con sẽ phải đi qua. Âu lo và bình tĩnh, âu lo và chấp nhận, âu lo và chờ đợi.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
64  
pdf 5 trang baolam 26060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dạy học theo hướng phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh từ trường hợp bài thơ “Thuốc đắng” của Mai Văn Phấn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfday_hoc_theo_huong_phat_trien_nang_luc_doc_hieu_cho_hoc_sinh.pdf