Bài giảng Địa chất dầu khí (Petroleum geology) - Chương 10: Các phương pháp tìm kiếm thẩm lượng dầu khí
Chương 10: Phương pháp tìm
kiếm và đánh giá dầu khí
10.1 Những mạo hiểm trong kỉ thuật và trong
kinh tế trong công tác thăm dò dầu khí
10.2 Những yếu tố và mục tiêu thăm dò
10.3 Những giai đoạn thăm dò trong một bồn
dầu khí
10.4 Phương pháp tìm kiếm và thăm dò
10.1 Những mạo hiểm trong kỉ thuật
và trong kinh tế trong công tác tìm
kiếm dầu khí
• Có những mạo hiểm trong kỉ thuật và kinh tế
liên quan đến công tác tìm kiếm như khả năng
phục hồi dầu và chất lượng của dầu và khí
• Dầu tại chổ ít hơn 60% đôi khi là 10% và 70%
đến 90% của khí tại chổ đã được chứng minh về
mặt kinh tế là có khả năng phục hồi bởi công
nghệ hiện đại
10.1 Những mạo hiểm trong kỉ thuật
và trong kinh tế trong công tác tìm
kiếm dầu khí (tt)
• những phương pháp địa chất phải chính xác để tối
ưu hóa khả năng phục hồi này. Hơn nữa, trong nhiều
bồn dầu khí, có vài bẩy dầu quá nhỏ hay đá chứa có
chất lượng nghèo vì thế việc khai thác không hoàn
lại được chi phí khoang và sản phẩm
• Những nhà đánh giá cần dự tính là sản phẩm là dầu
hay khí , bởi vì trong khu vực xa, những khó khăn
phát sinh và điều chỉnh giác của khí tự nhiên là điều
cấm
10.1 Những mạo hiểm trong kỉ thuật
và trong kinh tế trong công tác tìm
kiếm dầu khí (tt)
• Tương tự, việc dự tính thành phần hóa của dầu
thô và khí tự nhiên rất quan trọng, đặc biệt trong
khu vực mà những kết quả chỉ gần với loại
thương mại. Đây là phần công việc của các nhà
địa chất trong công tác tìm kiếm
10.1 Những mạo hiểm trong kỉ thuật
và trong kinh tế trong công tác tìm
kiếm dầu khí (tt)
• Ở quan điểm này, nhiệm vụ dường như quá khó, nhưng
cần nhớ điều quan trọng là thiên nhiên cũng theo những
quy luật nhất định và không có những tích tụ dầu khí một
cách ngẫu nhiên dưới bề mặt trái đất.
• Những hiểu biết của những quy luật này dựa trên những
số lượng lớn các bài học từ những giếng khoan thành công
và không thành công. Việc áp dụng những quy luật này
đến các trường hợp nhất định luôn luôn khác nhau và đây
chính là nghệ thuật trong môn khoa học địa chất dầu khí
10.2 Yếu tố và nhiệm vụ
• Yếu tố của nhiệm vụ
Nhiệm vụ đầu tiên trong khai thác là nhận ra những hệ thống
địa chất mà các tích tụ dầu có thể xuất hiện. Từ những kiến
thức địa chất, chúng ta biết ra hệ thống gồm 5 nhân tố là đá
sinh, đá chứa, con đường di cư, bẫy và đá chắn (hình 1)
Đá sinh
Nhiệm vụ của các phương pháp địa vật lí là tìm ra
- loại đá
- Thể tích
- Điều kiện thành tạo
- Nhiệt độ và lịch sử chôn vùi
- Nguồn gốc hữu cơ
Những phương pháp địa vật lí có thể đóng góp
cho tất cả nhân tố trừ nhân tố cuối cùng
Đá chứa
Nhiệm vụ của phương pháp địa vật lí là tìm ra
- Loại đá
- bề dày, chiều rộng và thể tích
- điều kiện thành tạo của đá phiến sét (những
điều này thường làm sáng tỏ “type of body” và
hướng ưu tiên của độ thấm)
- đô rổng hiện tại
- độ thấm hiện tại
Một lần nữa pp ĐVL có thể đóng góp cho tất cả các
nhân tố trên trừ nhân tố cuối. Đôi khi, pp ĐVL có thể
cho vài chỉ dẫn cho chất bảo hòa đặc biệt nếu là khí
Con đường di cư
• Liên quan đến tính thấm của đá (như đá chứa bùn),
hay những khu vực có tính thấm như đứt gãy
• Mặc dù pp ĐVL không tính đế độ thấm, pp ĐVL có
thể xác định gần đúng những con đường có tính
thấm
• Tuy nhiên, vấn đề rất phức tạp bởi sự thật rằng
chúng ta đang thắc mắc con đường mang tính thấm
ở thời điểm thích hợp trong quá khứ; nó không còn
thấm giống hiện nay.
Bẫy
Trong hình 1 chúng ta thấy loại bẫy nếp lồi, trong hình 2 là
dầu nằm ở đỉnh của nếp uốn
Do đó, trong cấu trúc bẫy nhiệm vụ của pp ĐVL là tìm ra
- độ dốc của đá chứa
- sự hiện diện của bẫy đứt gãy
- hình ảnh không gian 3 chiều của đá chứa bằng
hình dạng và nguồn gốc địa tầng của đá có thể được xác
định.
Thành công lớn nhất của pp ĐVL trong quá khứ là tìm kiếm
ra các bẫy. ĐVL ngày nay cũng có thể đóng góp trong việc
tìm kiếm các bẫy địa tầng nhưng với độ chính xác chưa cao
Đá chắn
Nhiệm vụ của pp ĐVL là tìm ra
• trong bẫy cấu trúc:
-Bản chất đá nằm trên bẫy
- những rủi ro của khe nứt trong đá
- những rủi ro như một hệ thông của khe nứt một cách trực tiếp hay gián tiếp ảnh
hưởng lên bề mặt
• trong bẫy đứt gãy
- the likelihood that the fault is chemically sealed; or
- the risk that the fault vents, directly or indirectly, to the surface;
Trong bẫy kiến trúc:
- Dường như bất kì bất chỉnh hợp “critical” đều được chắn
- những thay đổi của mặt lớp biểu hiện
trong đá chắn
PP ĐVL có thể đóng góp cho tất cả những nhân tố này nhưng không bao
giờ đưa được những thông tin chính xác như chúng ta mong muốn
Cuối cùng, chúng ta cần chú rằng chỉ trong khu vực chưa được
nghiên cứu, khảo sát thì vấn đề thăm dò mới khó khăn như đã đề
cập ở trên. Often we have some wells, so that the problem is
mainly one of correlating a new prospect area to those wells – vấn
đề này thì các nhà địa vật lí thường làm rất tốt. Một lần nữa,
chúng ta có vùng sản xuất mà những thông tin địa vật lí đã biết khi
đó vấn đề là tìm ra một “geophysical analog” của vùng đó. Điều
này chúng ta dễ dàng xử lí hơn bởi vì ít nhất chúng ta cũng có thể
giải quyết trong một ngày nào đó.
Công cụ thăm dò: Mặt cắt ngang và bản đồ
đường đồng mức
•Công cụ: Mô hình, mặt cắt và bản đồ, giấy phép
và nhượng quyền khai thác
• Những hạn chế kinh tế
Kết luận
• Vì thiếu đi một pp trực tiếp tìm kiếm dầu, nhiệm vụ thăm
dò là tìm những kết hợp triển vọng của đá sinh, đá chứa,
đá chắn, con đường vận chuyển và lịch sử thành tạo địa
chất. Tuy nhiên, tất cả những điều này cần được một cái
nhìn thích đáng cho từng khu vực và kinh tế. Hơn nữa,
những triển vọng phải được nhận dạng để đưa ra sự lựa
chọn. Lựa chọn được đưa ra bởi sự cân bằng về tiềm năng
lợi ích và sự mạo hiểm. Một phần quan trọng của nhiệm
vụ thăm dò là đánh giá tiềm năng lợi ích và hạn chế mạo
hiểm
• Tất cả điều này đều xảy ra sâu trong trái đất. Nơi mà
chúng ta biết rất ít những gì chính xác ở bên dưới chân ta
10.3 Những bước thăm dò của
một bồn dầu khí
• Thăm dò dầu khí được chia ra một chuổi giai
đoạn thông tin. Với từng bước có một sự gia tăng
thông tin liên tục từ đó có thể đánh giá triển
vọng dầu khí của 1 vùng
• GĐ 1 là giai đoạn khảo sát bề mặt thông qua
bản đồ và thăm dò ĐVL
Bắt đầu với những bồn chưa được thăm dò.
Có nhiều kiến thức trước đó về bề mặt và kiến
trúc địa chất. Có nhiều báo cáo về sự hiện diện
bề mặt (ví dụ những bề mặt thấm, springs,
những mạch atfan, khí được tìm thấy trong các
giếng nước…) để khuyến khích công tác tìm kiếm
Chứng cứ bề mặt của dầu khí là rất quan
trọng trong việc tìm kiếm trong những khu vực
tỉnh dầu trên thế giới (Levorsen, 1797), mặc dù
có vài khu vực có rất nhiều chứng cứ bề mặt
nhưng được chứng minh chỉ là vùng thương mại
phụ.
• Ở giai đoạn này, trách nhiệm của người địa chất
là thu thập những kiến thức bề mặt chi tiết về
cấu trúc bề mặt ( ví dụ trong những bẫy tìm
năng) và đánh giá những khía cạnh khác phục vụ
công tác thăm dò, như những bề mặt trầm tích,
continentality, và những vùng biến chất có thể
• Công việc thăm dò về bề mặt địa tầng và cấu
trúc dưới bề mặt của nhà địa chất cần làm việc
với các nhà địa vật lý. Ở giai đoạn này, mô hình
địa chất thường được sử dụng để so sánh những
bồn chưa được thăm dò với những bồn gần
tương tự có những tính chất địa chất tương tự
• Giai đoạn II là khảo sát địa chấn (hình 204) (đây
là bước đầu tiên trong công tác thăm dò ngoài
khơi)
• Trong suốt giai đoạn này, nhiều dữ liệu được
thu thập ở cấu trúc độ sâu của bẫy tiềm năng và
những hiểu biết về đặc tính và thể tích của chất
trầm tích bắt đầu tiến triển. Điều quan sát được
là cơ hội tìm ra dầu thương mai rất khó khăn
trong tỉ lệ tổng cộng khối lượng trầm tích
(levorsen 1979), đặc biệt nếu đa phần chất trầm
tích nằm trong độ sâu của cửa sổ dầu. Khối lượng
của phiến sét (đá sinh tiềm năng) dưới bề mặt
cũng được đánh giá.
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Địa chất dầu khí (Petroleum geology) - Chương 10: Các phương pháp tìm kiếm thẩm lượng dầu khí", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_giang_dia_chat_dau_khi_petroleum_geology_chuong_10_cac_p.pptx

