Bài giảng Một số nội dung cơ bản về dân tộc tôn giáo và đấu tranh phòng chống địch lợi dụng dân tộc tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam

.
BỘ QUỐC PHÒNG  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ SỐ 23  
-----  -----  
BÀI GIẢNG  
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO  
VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG ĐỊCH LỢI DỤNG  
DÂN TỘC TÔN GIÁO  
CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM  
(Dùng cho giảng dạy sinh viên trình độ Cao đẳng, Trung cấp)  
Thừa Thiên Huế, 30 tháng 04 năm 2017  
1
B. NỘI DUNG GIẢNG DẠY  
I. Một số vấn đề cơ bản về dân tộc  
1. Một số vấn đề chung về dân tộc  
Lịch sử tiến hoá của nhân loại trải qua 4 loại hình cộng đồng tộc người: đó  
là một quá trình phát triển từ thấp lên cao theo một quy luật nhất định. Các loại  
hình cộng đồng tộc người phổ biến trong lịch sử là: Thị tộc, Bộ lạc, Bộ tộc và Dân  
tộc  
Dân tộc là vấn đề phức tạp không chỉ về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực  
tiễn. Nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc luôn là mối quan tâm hàng đầu của  
các quốc gia dân tộc. Cho đến nay, trên thế giới, dân tộc được quan tâm với hai  
nghĩa chính:  
- Dân tộc theo nghĩa tộc người . Ví dụ dân tộc Thái, dân tộc Chăm, dân tộc  
Khmer … Trong mỗi dân tộc có thể bao gồm nhiều nhóm địa phương có thể bao  
gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau, nhưng có đặc trưng về ngôn ngữ, văn hoá  
…gần gũi nhau. Chẳng hạn, dân tộc Mông có các nhóm Mông hoa, Mông xanh,  
Mông đen ; dân tộc Chứt có các nhóm địa phương như Mày, Rục, Sách, Arem, Mã  
Liềng.  
- Dân tộc theo nghĩa quốc gia dân tộc. Theo nghĩa này, dân tộc là một cộng  
đồng chính trị- xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ  
nhất định, ví dụ như dân tộc Trung Hoa, dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp. Hoặc dân  
tộc ở nhiều nước khác nhau, như người Kurd ở nhiều quốc gia khác nhau như:  
Iran, Afghanistan, Iraq, Thổ Nhĩ kỳ và một số nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ;  
1.1. Khái niệm: Dân tộc là cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, tạo  
lập một quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về: lãnh thổ quốc gia, kinh tế,  
ngôn ngữ, truyền thống, văn hoá, đặc điểm tâm lý, ý thức về dân tộc và tên gọi  
của dân tộc. Khái niệm được hiểu cơ bản như sau:  
- Có một lãnh thổ chung, được phân định bằng đường biên giới giữa các  
quốc gia, mà ở đó có một hay nhiều tộc người sinh sống. Không có biên giới lãnh  
thổ riêng thì không có dân tộc quốc gia riêng  
- Có một đời sống kinh tế chung, với một thị trường, một đồng tiền chung  
thống nhất … làm nền tảng, điều kiện vật chất cơ bản bảo đảm sự cố kết bền chặt  
của cộng đồng quốc gia dân tộc.  
- Có một ngôn ngữ giao tiếp chung. Ngôn ngữ của dân tộc đa số thường  
được chọn làm quốc ngữ của quốc gia dân tộc; ví như quốc ngữ của dân tộc Việt  
Nam là ngôn ngữ của dân tộc Việt (Kinh), quốc ngữ của dân tộc Trung Hoa là  
ngôn ngữ của dân tộc Hán …  
- Có tâm lý chung biểu hiện ở nền văn hoá, tạo nên bản sắc văn hoá của  
quốc gia dân tộc. Đây là yếu tố rất cơ bản, là “quốc hồn”, “quốc tuý”, “chứng  
minh thư” của dân tộc quốc gia để phân biệt quốc gia dân tộc này với quốc gia  
dân tộc khác.  
2
- Có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất để quản lý, điều  
hành mọi hoạt động của quốc gia dân tộc và quan hệ với các quốc gia dân tộc,  
vùng lãnh thổ khác.  
- Các thành viên trong cùng một dân tộc đều có chung một ý thức tự giác  
dân tộc, tức là ý thức tự cho mình, tự thừa nhận mình là thuộc một cộng đồng dân  
tộc, đều tự hào mình thuộc dân tộc này mà không thuộc dân tộc kia, tự hào về  
ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc mình, luôn có ý thức bảo lưu, giữ gìn ngôn ngữ,  
văn hóa, lợi ích dân tộc mình mà biểu hiện cao nhất là việc tự nhận tên dân tộc  
của bản thân mình.  
1.2. Tình hình quan hệ dân tộc trên thế giới:  
Hiện nay trên thế giới có hơn 200 quốc gia dân tộc, trong đó chỉ có khoảng  
trên dưới 10 quốc gia một tộc người, còn lại là quốc gia đa tộc người. Trong một  
quốc gia dân tộc, thường có một đến hai dân tộc có dân số đông được gọi là dân  
tộc đa số, ví như dân tộc Kinh ở Việt Nam, dân tộc Hán ở Trung Quốc, dân tộc  
Nga ở Liên bang Nga … các dân tộc có số dân ít hơn được gọi là dân tộc thiểu số.  
Thuật ngữ dân tộc thiểu số chỉ thuần tuý căn cứ vào số lượng người của dân tộc  
này ít hơn trong quan hệ so sánh với các dân tộc khác trong một quốc gia dân tộc  
tuyệt nhiên nó không phản ánh trình độ phát triển của các dân tộc.  
Lê Nin cho rằng “Chừng nào mà còn những sai biệt về mặt dân tộc và quốc  
gia giữa các dân tộc và các nước, những sự sai biệt này sẽ còn tồn tại lâu dài,  
ngay cả sau khi nền chuyên chính vô sản được thiết lập trong phạm vi toàn thế  
giới, thì chừng đó vẫn còn cơ sở xã hội và thực tiễn, vẫn còn nguy cơ tiềm ẩn mâu  
thuẫn và xung đột dân tộc”  
Hiện nay, trước sự tác động của cách mạng khoa học công nghệ, xu thế toàn  
cầu hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ, làm cho quan hệ giai cấp, dân tộc diễn biến phức  
tạp, khó lường. Như Đảng ta đã nhận định: “trên thế giới, hoà bình, hợp tác và  
phát triển vẫn là xu thế lớn trong quan hệ giữa các dân tộc. Toàn cầu hoá và các  
vấn đề toàn cầu làm cho sự hiểu biết lẫn nhau và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các  
dân tộc tăng lên, thúc đẩy xu thế khu vực hoá. Đồng thời các dân tộc đề cao ý thức  
độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, chống can thiệp áp đặt và cường quyền” (NqĐH  
Đảng X)  
Mặt khác, quan hệ dân tộc, sắc tộc hiện nay trên thế giới vẫn diễn ra rất phức  
tạp, nóng bỏng ở cả phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Mâu thuẫn, xung đột  
dân tộc, sắc tộc, xu hướng li khai, chia rẽ dân tộc đang diễn ra ở khắp các quốc gia,  
các khu vực, các châu lục trên thế giới  
Nhìn lại lịch sử loài người qua các thời đại đã được sử sách ghi lại, những  
cuộc xung đột dân tộc đẫm máu giữa dân tộc, quốc gia này với dân tộc, quốc gia  
khác. Hoặc trong nội bộ một quốc gia, vì lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị của  
các tập đoàn khác nhau đưa đến chiến tranh “nồi da nấu thịt”. Hiện nay vấn đề dân  
tộc và xung đột dân tộc trên thế giới đang là vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia.  
Theo bản báo cáo “Những xung đột vũ trang trong cuối thời kỳ chiến tranh lạnh  
1989-1992” của Viện nghiên cứu quốc tế về hoà bình ở Ôtslô (Na Uy), số lượng  
các cuộc chiến tranh nhỏ tăng lên 82 cuộc, liên quan ít nhất tới 64 quốc gia (các  
cuộc chiến tranh đẫm máu diễn ra ở Châu Âu là chủ yếu). Các cuộc xung đột năm  
3
1992 làm chết 70.000 người. Cũng theo thông tin của Viện này thì năm 1989 có 36  
cuộc xung đột, năm 1994 có 32 cuộc và năm 1995có 30 cuộc xung đột xảy ra trong  
25 vùng trên thế giới. Như vậy thế giới sau chiến tranh lạnh, thì xung đột dân tộc,  
tôn giáo bùng lên với nhịp độ hiếm thấy. Bên cạnh đó, còn những nhân tố tiềm ẩn  
sự nảy sinh xung đột mới làm cho thế giới trở nên đầy bất trắc khó lường. Có thể  
rút ra mấy vấn đề sau:  
+ Tính chất của các cuộc xung đột dân tộc trên thế giới, xét đến cùng đều  
xuất phát từ lợi ích: một bên vì lợi ích của giai cấp, dân tộc, quốc gia mà xâm  
phạm đến lợi ích của người khác; một bên để bảo vệ lợi ích sống còn của giai cấp,  
dân tộc, quốc gia mình mà quyết tâm chống lại sự xâm hại.  
+ Nhìn lại các cuộc xung đột dân tộc trên thế giới tư sau chiến tranh lạnh kết  
thúc đến nay có thể thấy: đế quốc Mỹ muốn vươn lên làm bá chủ thế giới với sự  
thử nghiệm những chính sách mới do Mỹ cầm đầu và tự cho mình quyền can thiệp  
vào bất cứ nơi nào trên thế giới, thực hiện chính sách bá quyền.  
+ Sự trỗi dậy của làn sóng dân tộc chủ nghĩa cực đoan từ các nước thuộc  
Liên Xô và Đông Âu trước đây, lan ra Châu Âu`và thế giới với mục tiêu điên  
cuồng chống chủ nghĩa xã hội, phủ nhận chủ nghĩa Mac- Lênin.  
+ Lợi dụng quyền tự quyết dân tộc làm cái cớ để rút khỏi liên minh và thành  
lập quốc gia dân tộc độc lập, hình thành nên động lực bên trong mang tính cực  
đoan dân tộc chủ nghĩa.  
+ Sự cuồng nhiệt của tinh thần dân tộc chủ nghĩa đã dẫn đến các mâu thuẫn,  
tranh chấp dân tộc, gắn dân tộc với vấn đề tôn giáo, đẩy mâu thuẫn từ thấp lên cao  
dẫn đến xung đột vũ trang và nội chiến. Thế giới hiện nay đang chịu nhiều tác  
động của làn sóng dân tộc chủ nghĩa cực đoan này.  
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế  
giới, nhưng các cuộc xung đột dân tộc, tôn giáo ở các quy mô và cường độ khác  
nhau còn xảy ra. Song nguyện vọng thiết tha của nhân dân thế giới vẫn muốn được  
sống trong hoà bình, hợp tác để cùng nhau phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc  
lần thứ IX của Đảng ta đã khẳng định: “Trong vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy  
ra chiến tranh thế giới. Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân  
tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở  
nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng. Hoà bình hợp tác và phát triển  
vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia dân tộc. Cuộc đấu  
tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, dân sinh tiến bộ và công bằng xã hội  
sẽ có những bước tiến mới”  
1.3.Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh về dân tộc và giải  
quyết vấn đề dân tộc.  
1.3.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác -Angghen  
Đứng trên lập trường duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định:  
- Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp quan hệ chặt chẽ với nhau;  
- Vấn đề dân tộc là một bộ phận của vấn đề giai cấp của giai cấp vô sản, cách  
mạng vô sản, chuyên chính vô sản;  
- Lợi ích của việc giải phóng nhân loại gắn liền với lợi ích của giai cấp công nhân  
toàn thế giới.  
4
Các ông lên án sự nô dịch áp bức dân tộc “Một dân tộc mà đi áp bức những dân  
tộc khác thì dân tộc ấy không thể có tự do”; coi áp bức giai cấp là nguồn gốc đẻ ra áp  
bức dân tộc, áp bức dân tộc nuôi dưỡng, củng cố áp bức giai cấp. Theo đó, vấn đề dân  
tộc chỉ được giải quyết triệt để khi xoá bỏ được nạn người bóc lột người, cả ở phạm vi  
quốc gia và phạm vi quốc tế. C.Mác và Ph.Ăngghen viết “Hãy xoá bỏ tình trạng người  
bóc lột người, thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ”  
Vấn đề dân tộc là những nội dung nảy sinh trong quan hệ giữa các dân tộc  
diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội tác động xấu đến mỗi dân tộc và quan hệ  
giữa các dân tộc, các quốc gia dân tộc với nhau cần phải giải quyết.  
- Vấn đề dân tộc còn tồn tại lâu dài. Bởi:  
Do dân số và trình độ phát triển KT-XH giữa các dân tộc không đều nhau;  
Do sự khác biệt về lợi ích;  
Do sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá, tâm lí;  
Do tàn dư tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc;  
Do thiếu sót, hạn chế trong hoạch định, thực thi chính sách kinh tế - xã hội  
của nhà nước cầm quyền;  
Do sự thống trị, kích động chia rẽ của bọn phản động đối với các dân tộc  
-Thực chất của vấn đề dân tộc là sự va chạm, mâu thuẫn lợi ích giữa các dân  
tộc trong quốc gia đa dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trong quan hệ  
quốc tế diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.  
TÓM LẠI: Vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng xã hội chủ  
nghĩa. Vấn đề dân tộc gắn kết chặt chẽ với vấn đề giai cấp. Giải quyết vấn đề dân  
tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa.  
1.3.2. Giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm của V.I.Lênin  
V.I.Lênin và Đảng Bônsêvich Nga đã xác định nguyên tắc cơ bản trong giải quyết  
vấn đề dân tộc, đó là:  
- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, không phân biệt lớn, nhỏ; trình độ phát  
triển cao, thấp;  
+ Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng là các dân tộc không phân biệt lớn, nhỏ, trình  
độ phát triển cao hay thấp, đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trên mọi lĩnh vực  
trong quan hệ giữa các dân tộc trong quốc gia đa dân tộc, và giữa các quốc gia dân tộc  
với nhau trong quan hệ quốc tế; xoá bỏ mọi hình thức áp bức, bóc lột dân tộc. Quyền  
bình đẳng dân tộc phải được pháp luật hoá và thực hiện trên thực tế. Đây là quyền  
thiêng liêng, là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết, xây dựng quan hệ hữu nghị  
hợp tác giữa các dân tộc.  
- Các dân tộc được quyền tự quyết, quyền làm chủ vận mệnh của mỗi dân tộc;  
Các dân tộc được quyền tự quyết, là quyền làm chủ vận mệnh của mỗi dân tộc:  
quyền tự quyết định chế độ chính trị, con đường phát triển của dân tộc mình, bao  
gồm cả quyền tự do phân lập thành quốc gia riêng và quyền tự nguyện liên hiệp  
với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, phù hợp với lợi ích chính  
đáng của các dân tộc. Kiên quyết đấu tranh chống việc lợi dụng quyền tự quyết để  
can thiệp, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc.  
- Đoàn kết các dân tộc trên cơ sở liên minh của giai cấp công nhân toàn thế  
giới;  
5
+ Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là sự đoàn kết công nhân các dân  
tộc trong phạm vi quốc gia và quốc tế, và cả sự đoàn kết quốc tế của các dân tộc,  
các lực lượng cách mạng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để giải quyết tốt  
vấn đề dân tộc, giai cấp, quốc tế. Đây là nội dung vừa phản ánh bản chất quốc tế  
của giai cấp công nhân, vừa phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân  
tộc và giải phóng giai cấp, đảm bảo cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh và khả  
năng để giành thắng lợi.  
- Ở các nước thuộc địa, có áp bức dân tộc tất yếu có đấu tranh dân tộc;  
+ Đối với vấn đề dân tộc thuộc địa, V.I.Lênin có nhiều cống hiến to lớn về  
mặt lý luận và thực tiễn. Chính sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc gây thảm  
hoạ khủng khiếp với các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa, đẩy các dân tộc này vào  
tình cảnh nghèo nàn, lạc hậu, phụ thuộc. V.I. Lênin cũng chỉ rõ vấn đề có tính quy  
luật rằng, có áp bức dân tộc tất yếu có đấu tranh dân tộc. Người dự báo, phong trào  
đấu tranh giải phóng dân tộc chống đế quốc trên quy mô toàn cầu tất yếu xảy ra.  
Đây sẽ là một phong trào cách mạng to lớn và là một bộ phận của cách mạng  
XHCN.  
- Đấu tranh không khoan nhượng tư tưởng dân tộc tiểu tư sản, dân tộc tư sản,  
dân tộc hẹp hòi.  
+ Đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng dân tộc tiểu tư  
sản, dân tộc tư sản, tư tưởng sôvanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, bệnh ấu trĩ tả  
khuynh, cơ hội cải lương trong giải quyết vấn đề dân tộc trong phong trào cộng sản  
và công nhân quốc tế.  
TÓM LẠI: Chủ nghĩa Mac-Lênin đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất  
của dân tộc và vấn đề dân tộc  
- Dân tộc và vấn đề dân tộc còn tồn tại lâu dài;  
- Vừa là mục tiêu trước mắt nhằm giải quyết vấn đề lực lượng cách mạng,  
vừa gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản nhằm xoá bỏ mọi ách  
áp bức giai cấp, áp bức dân tộc;  
- Xây dựng mối quan hệ dân tộc mới bình đẳng, tự quyết, liên hiệp giai cấp  
công nhân các dân tộc để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng XHCN.  
Chủ nghĩa Mac- Lênin không tuyệt đối hoá vấn đề dân tộc nhưng cũng  
không xem nhẹ vấn đề này. Chỉ dưới CNXH, các dân tộc, quan hệ dân tộc mới  
hoàn toàn bình đẳng, có quyền tự quyết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển  
trong hoà bình. Ngày nay, vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc vẫn là mục  
tiêu quan trọng, đồng thời trở thành vấn đề thời sự, mang tính toàn cầu.  
1.3.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc  
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là cơ sở lý  
luận trực tiếp để Đảng, Nhà nước ta hoạch định và thực thi chính sách dân tộc. Nội  
dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc gồm những vấn đề cơ bản sau đây  
1. Độc lập tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc.  
2. Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn các nước đấu tranh giành độc lập.  
3. Kết hợp hài hoà giải quyết vấn đề dân tộc với giai cấp; độc lập dân tộc với  
CNXH; chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.  
6
Tư tưởng về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, hoà  
bình, thống nhất đất nước  
+ Các dân tộc phải tự mình đứng lên đấu tranh để giành lấy quyền tự do, độc  
lập ấy.  
- Tư tưởng về kết hợp hài hoà giải quyết vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp,  
độc lập dân tộc với CNXH, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế  
+ Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc mình theo con  
đường cách mạng vô sản;  
+ Người thấy được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa là mâu thuẫn  
dân tộc, thấy được tiềm năng và động lực cách mạng của nhân dân các nước thuộc  
địa;  
+ Các dân tộc thuộc địa phải dựa vào sức của chính mình, đồng thời biết  
tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động thế giới;  
+ Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường  
cách mạng vô sản, theo hình mẫu của Cách mạng tháng Mười Nga 1917.  
+ Theo Hồ Chí Minh, tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng,  
dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.  
- Tư tưởng về tập hợp quần chúng nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết  
toàn dân tộc  
+ Tập hợp tất cả những người Việt Nam yêu nước, không phân biệt trẻ, già,  
gái, trai, giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, ở trong nước hay đang ở nước  
ngoài;  
+ Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu để tập hợp lực lượng cách  
mạng  
+ Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, dựa trên nền tảng khối liên  
minh công nhân – nông dân- tri thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.  
+ Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế. Ngay từ khi tìm  
thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là  
một bộ phận của cách mạng thế giới.  
+ Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải rộng rãi, phải lâu dài. Hồ Chí Minh  
đã khẳng định rất gọn và rõ: “Đoàn kết rộng rãi và lâu dài: Đoàn kết của ta không  
những rộng rãi mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là  
một thủ đoạn chính trị”  
Tóm lại: Tư tưởng của Người luôn trung thành với quan điểm chủ nghĩa  
Mác - Lênin, bám sát thực tiễn cách mạng, đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam. Tư  
tưởng về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh về nội dung toàn  
diện, phong phú, sâu sắc, khoa học và cách mạng; đó là những luận điểm cơ bản  
chỉ đạo, lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo  
vệ độc lập dân tộc; xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trong đại gia đình  
các dân tộc Việt Nam và giữa dân tộc Việt Nam với các quốc gia dân tộc trên thế  
giới.  
Người rất quan tâm chăm sóc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng  
bào các dân tộc thiểu số. Khắc phục tàn dư tư tưởng phân biệt, kì thị dân tộc, tư  
tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi. Người quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm  
7
công tác dân tộc. Lên án, vạch trần mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc  
để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.  
2. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam và quan điểm chính sách dân tộc của Đảng  
Nhà nước ta hiện nay.  
2.1.Tình hình dân tộc ở Nước ta:  
Theo Viện Dân tộc học (được Nhà nước cho thành lập năm 1968), đưa ra  
các tiêu chí để phân biệt các dân tộc ở Nước ta, tiêu chí này đưa ra đòi hỏi đảm bảo  
tính khoa học, vừa đảm bảo tính thực tiễn phù hợp với bức tranh tộc người Việt  
Nam. Giới chuyên môn đã thống nhất về các tiêu chí để xác định thành phần tộc  
người ở Nước ta là:  
+ Sự cộng đồng về mặt ngôn ngữ;  
+ Có các đặc điểm chung về sinh hoạt- văn hoá;  
+ Có ý thức tự giác tộc người.  
- Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, dựa trên 3 tiêu chí trên để xác định có 54  
dân tộc anh em cùng chung sống. Dân tộc Kinh có số dân 85,7% ở (¼ vùng đất);  
Các dân tộc thiểu số với 14,3% ở (¾ vùng đất);  
Trên 1 triệu có 5(Tày, Thái, Mường, Khmer, HMông)  
Từ 600.000 đến dưới 1 tr có 3(Hoa, Nùng, Dao)  
Từ 100.000 đến dưới 600.000 có11 (Giarai, Bana, Êđê, Sán Chay, Chăm, Xơđăng,  
SánDìu, CơHo, Hrê. RaGiai. Mnông)  
Từ 10.000 đến dưới 100.000 có 17 dân tộc;  
Từ 1.000 đến dưới 10 nghìn có 12 dân tộc;  
Từ 376 đến 709 có 5 (Ơđu, Brâu, Rơmăn, PuPéo, SiLa)  
Cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay là kết quả của một quá trình hình  
thành và phát triển lâu dài trong lịch sử. Trong 54 dân tộc anh em, có những dân  
tộc vốn sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thuở ban đầu; có những  
dân tộc di cư từ nơi khác đến vào các thời điểm khác nhau kéo dài mãi cho đến  
trước cách mạng tháng Tám năm 1945. Hướng di cư, tụ cư đến từ cả bốn hướng: từ  
Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, Đông vào.  
Thực tiễn lịch sử Việt Nam khẳng định, các dân tộc anh em trong cộng đồng  
dân tộc Việt Nam, đã chung lưng đấu cật chống thiên tai địch hoạ khắc nghiệt để  
xây dựng cuộc sống cho cộng đồng và đấu tranh chống giặc ngoại xâm tàn bạo để  
giành và giữ nền độc lập. Đoàn kết trong lao động, trong đấu tranh là truyền thống  
của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Từ khi có Đảng, truyền thống  
đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc anh em càng được phát huy mạnh mẽ, là một  
trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy  
nhiên, trong vấn đề dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta vẫn có nguy  
cơ tiềm ẩn mất ổn định dẫn đến phức tạp, có thể gây ra “điểm nóng” nếu chúng ta  
không ngăn chặn kịp thời và không có những biện pháp tốt để giải quyết. Có  
những vấn đề do lịch sử để lại (vấn đề người Chăm, người Khơme ....). Những vấn  
đề do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch gây nên chính sách “chia để trị”  
của chủ nghĩa thực dân, đế quốc trước đây, xưng Vua của người Mông ở Đồng  
Văn (Hà Giang) năm 1946; hoạt động của bọn phản động Fulrô; vừa qua toà án  
Tây Nguyên xử một số kẻ cầm đầu người dân tộc phá rối trật tự an ninh tại một số  
8
nơi. Chứng tỏ rằng, có bàn tay của kẻ thù bên ngoài muốn thông qua đó để tiến  
hành âm mưu “diễn biến hoà bình” đối với nước ta, kích động, chia rẽ các dân tộc  
nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị.  
2.2 Khái quát đặc điểm các dân tộc ở nước ta hiện nay :  
Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc cùng sinh  
sống. Các dân tộc ở Việt Nam có đặc trưng sau :  
Một là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết gắn bó xây dựng  
quốc gia dân tộc thống nhất.  
Đây là đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Trong  
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, do yêu cầu khách quan của công  
cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ dân tộc ta đã phải sớm đoàn kết thống  
nhất. Các dân tộc ở Việt Nam đều có chung cội nguồn, chịu ảnh hưởng chung của  
điều kiện tự nhiên, xã hội, chung vận mệnh dân tộc, chung lợi ích cơ bản - quyền  
được tồn tại, phát triển. Đoàn kết thống nhất đã trở thành giá trị tinh thần truyền  
thống quý báu của dân tộc, là sức mạnh để dân tộc ta tiếp tục xây dựng và phát  
triển đất nước.  
Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ trên địa  
bàn rộng lớn, chủ yếu là miền núi, biên giới, hải đảo.  
Không có dân tộc thiểu số nào cư trú duy nhất trên một địa bàn mà không  
xen kẽ với một vài dân tộc khác. Nhiều tỉnh miền núi các dân tộc thiểu số chiếm  
đa số dân số như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Lai  
Châu...  
Ba là, các dân tộc ở nước ta có quy mô dân số và trình độ phát triển không  
đều.  
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc không đều nhau. Có dân tộc  
đã đạt trình độ phát triển cao, đời sống đã tương đối khá như dân tộc Kinh, Hoa,  
Tày, Mường, Thái..., nhưng cũng có dân tộc trình độ phát triển thấp, đời sống còn  
nhiều khó khăn như một số dân tộc ở Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên...  
Bốn là, mỗi dân tộc ở Việt Nam đều có sắc thái văn hoá riêng, góp phần làm  
nên sự đa dạng, phong phú, thống nhất của văn hoá Việt Nam.  
Các dân tộc đều có sắc thái văn hoá về nhà cửa, ăn mặc, ngôn ngữ, phong tục  
tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo và ý thức dân tộc riêng, góp phần tạo nên sự đa  
dạng, phong phú của văn hoá Việt Nam.  
Các dân tộc Việt Nam có điểm chung thống nhất về văn hoá, ngôn ngữ,  
phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, ý thức quốc gia dân tộc. Sự thống nhất  
trong đa dạng là đặc trưng của văn hoá các dân tộc ở Việt Nam.  
2.3. Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay  
Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn có quan điểm nhất quán :  
“Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi  
điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật  
thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam"  
Tổng kết thực tiễn thực hiện đường lối, chính sách dân tộc và công tác dân  
tộc của Đảng và Nhà nước ta trong mấy chục năm qua, Nghị quyết Hội nghị lần  
thứ 7 Ban chấp hành TW Đảng khoá IX về công tác dân tộc ngày 12/03/2003 đã  
9
khẳng định những quan điểm cơ bản của Đảng ta về vấn đề dân tộc, giải quyết vấn  
đề dân tộc là:  
Thứ nhất, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản,  
lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam;  
Thứ hai, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương  
trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự  
nghiệp CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kiên  
quyết đấu tranh chống mọi âm mưu thủ đoạn chia rẽ dân tộc.  
Thứ ba, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh-  
quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải  
quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển  
nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát  
huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự  
nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.  
Thứ tư, ưu tiên đầu tư phát triển KT-XH các vùng dân tộc và miền núi; khai  
thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững  
môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các  
dân tộc, đồng thời tăng cường hỗ trợ của trung ương và sự tương trợ, giúp đỡ của  
các địa phương trong cả nước.  
Thứ năm, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của  
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị.  
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) bổ sung, hoàn thiện quan  
điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc là: "Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có  
vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại  
gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;  
cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,  
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống  
vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và  
phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân  
tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng  
xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và  
xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển  
kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. củng cố và nâng cao chất lượng hệ  
thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện chính sách ưu  
tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ  
công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập  
quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu  
hiện kì thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”  
II. Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo  
1. Một số vấn đề chung về tôn giáo  
10  
Tôn giáo không chỉ tình cảm tâm linh mà tôn giáo là một hình thái ý thức xã  
hội. Phản ánh của tôn giáo là phản ánh hoang đường hư ảo hiện thực khách quan.  
Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và  
lịch sử xã hội xác định. Xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội  
phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên xã hội.  
Ph.Ăngghen khẳng định “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh  
hư ảo vào trong đầu óc của con người, của những lực lượng bên ngoài chi phối  
cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần  
thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”  
C.Mac khẳng định: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là  
trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những  
trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”  
1.1. Khái niệm: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh hiện thực khách  
quan, theo quan niệm hoang đường, ảo tưởng phù hợp với tâm lí, hành vi của con  
người.  
Trong đời sống xã hội, tôn giáo là một cộng đồng xã hội, với các yếu tố: Hệ  
thống giáo lí tôn giáo, nghi lễ tôn giáo, tổ chức tôn giáo với đội ngũ giáo sĩ và tín  
đồ, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động tôn giáo.  
1.2. Phân biệt tôn giáo với mê tín dị đoan.  
Mê tín dị đoan là những hiện tượng (ý thức, hành vi) cuồng vọng của con  
người đến mức mê muội, trái với lẽ phải và hành vi đạo đức, văn hoá cộng đồng,  
gây hậu quả tiêu cực trực tiếp đến đời sống vật chất tinh thần của cá nhân, cộng  
đồng xã hội. Đây là một hiện tượng xã hội tiêu cực, phải kiên quyết bài trừ, nhằm  
lành mạnh hoá đời sống tinh thần xã hội.  
1.3. Nguồn gốc của tôn giáo .  
- Nguồn gốc kinh tế - xã hội: Trong xã hội nguyên thuỷ, do trình độ lực  
lượng sản xuất thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối, lệ thuộc và bất lực trước tự  
nhiên. Vì vậy họ đã gán cho tự nhiên những lực lượng siêu tự nhiên có sức mạnh,  
quyền lực to lớn, quyết định đến cuộc sống và họ phải tôn thờ.  
Khi xã hội có giai cấp đối kháng, nạn áp bức, bóc lột, bất công của giai cấp  
thống trị đối với nhân dân lao động là nguồn gốc nảy sinh tôn giáo. V.I.Lênin đã  
viết: "Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất  
nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia" Hiện nay, con  
người vẫn chưa hoàn toàn làm chủ tự nhiên và xã hội; các cuộc xung đột giai cấp,  
dân tộc, tôn giáo, thiên tai, bệnh tật,... vẫn còn diễn ra, nên vẫn còn nguồn gốc để  
tôn giáo tồn tại.  
- Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo. Tôn giáo bắt nguồn từ sự nhận thức  
hạn hẹp, mơ hồ về tự nhiên, xã hội có liên quan đến đời sống, số phận của con  
người. Con người đã gán cho nó những sức mạnh siêu nhiên, tạo ra các biểu tượng  
tôn giáo. Mặt khác, trong quá trình biện chứng của nhận thức, con người nảy sinh  
những yếu tố suy diễn, tưởng tưởng xa lạ với hiện thực khách quan, hình thành nên  
các biểu tượng tôn giáo.  
- Nguồn gốc tâm lí của tôn giáo. Tình cảm, cảm xúc, tâm trạng lo âu, sợ hãi,  
buồn chán, tuyệt vọng đã dẫn con người đến sự khuất phục, không làm chủ được  
11  
bản thân là cơ sở tâm lí để hình thành tôn giáo. Mặt khác, lòng biết ơn, sự tôn kính  
đối với những người có công khai phá tự nhiên và chống lại các thế lực áp bức  
trong tình cảm, tâm lí con người cũng là cơ sở để tôn giáo nảy sinh.  
1.4. Tính chất của tôn giáo:  
- Tính lịch sử của tôn giáo: Tôn giáo ra đời, tồn tại và biến đổi phản ánh và  
phụ thuộc vào sự vận động, phát triển của tồn tại xã hội. Tôn giáo còn tồn tại rất  
lâu dài, nhưng sẽ mất đi khi con người làm chủ hoàn toàn tự nhiên, xã hội và tư  
duy.  
- Tính quần chúng của tôn giáo: Tôn giáo phản ánh khát vọng của quần  
chúng bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái (dù đó là hư ảo). Tôn giáo  
đã trở thành nhu cầu tinh thần, đức tin, lối sống của một bộ phận dân cư. Hiện nay,  
một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân tin theo các tôn giáo.  
- Tính chính trị của tôn giáo: Xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp.  
Giai cấp thống trị lợi dụng tôn giáo làm công cụ hỗ trợ để thống trị áp bức bóc lột  
và mê hoặc quần chúng. Những cuộc chiến tranh tôn giáo đã và đang xảy ra, thực  
chất vẫn là xuất phát từ lợi ích của những lực lượng xã hội khác nhau lợi dụng tôn  
giáo để thực hiện mục tiêu chính trị của mình.  
1. Tình hình tôn giáo trên thế giới và quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về giải  
quyết vấn đề tôn giáo trong cách mạng XHCN  
1.1. Tình hình tôn giáo trên thế giới  
Theo Từ điển Bách khoa Tôn giáo thế giới năm 2001, hiện nay trên thế giới  
có tới 10.000 tôn giáo khác nhau, trong đó khoảng 150 tôn giáo có hơn 1 triệu tín  
đồ. Những tôn giáo lớn trên thế giới hiện nay gồm có:  
- Kitô giáo (bao gồm Công giáo, Tin Lành, Anh giáo hay Chính thống giáo)  
có khoảng 2 tỉ tín đồ, chiếm 33% dân số thế giới;  
- Hồi giáo: 1,3 tỉ tín đồ, chiếm 22% dân số thế giới;  
- Ấn Độ giáo 900 triệu tín đồ, chiếm 15% dân số thế giới;  
- Phật giáo 360 triệu, chiếm 6% dân số thế giới.  
Như vậy, chỉ tính các tôn giáo lớn đã có 4,2 tỉ người tin theo, chiếm 76%  
dân số thế giới. Trong những năm gần đây hoạt động của các tôn giáo khá sôi  
động, diễn ra theo nhiều xu hướng:  
- Có xu hướng mở rộng ảnh hưởng ra toàn cầu;  
- Các tôn giáo cũng có xu hướng dân tộc hoá, bình dân hoá, mềm hoá các  
giới luật lễ nghi để thích nghi, tồn tại, phát triển trong từng quốc gia dân tộc;  
- Các tôn giáo cũng tăng các hoạt động giao lưu, thực hiện thêm các chức  
năng phi tôn giáo theo hướng thế tục hoá, tích cực tham gia các hoạt động xã hội  
để mở rộng ảnh hưởng làm cho sinh hoạt tôn giáo đa dạng, sôi động và không kém  
phần phức tạp.  
Đáng chú ý là gần đây, xu hướng đa thần giáo phát triển song song với xu  
hướng nhất thần giáo, tuyệt đối hoá, thần bí hoá giáo chủ đang nổi lên; đồng thời,  
nhiều “hiện tượng tôn giáo lạ” ra đời, trong đó có không ít tổ chức tôn giáo là một  
trong những tác nhân gây xung đột tôn giáo, xung đột dân tộc gay gắt trên thế giới  
hiện nay. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiếp tục lợi dụng tôn giáo để  
chống phá, can thiệp vào các quốc gia dân tộc độc lập.  
12  
Tình hình, xu hướng hoạt động của các tôn giáo thế giới có tác động, ảnh  
hưởng không nhỏ đến sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam. Một mặt, việc mở rộng giao  
lưu giữa các tổ chức tôn giáo Việt Nam với các tổ chức tôn giáo thế giới đã giúp  
cho việc tăng cường trao đổi thông tin, góp phần xây dựng tinh thần hợp tác hữu  
nghị, hiều biết lẫn nhau vì lợi ích của các giáo hội và đất nước; góp phần đấu tranh  
bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch với Việt  
Nam; góp phần đào tạo chức sắc tôn giáo Việt Nam. Mặt khác, các thế lực thù địch  
cũng lợi dụng sự mở rộng giao lưu đó để tuyên truyền, kích động đồng bào tôn  
giáo trong và ngoài nước chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt  
Nam.  
1.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về giải quyết vấn đề tôn giáo trong cách  
mạng XHCN  
Giải quyết vấn đề tôn giáo là một quá trình lâu dài gắn với quá trình phát  
triển của cách mạng XHCN trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo  
dục, khoa học công nghệ nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.  
Để giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, cần thực hiện các vấn đề có tính nguyên tắc sau:  
Một là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội  
cũ, xây dựng xã hội mới- xã hội XHCN.  
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, chỉ có thể giải phóng quần chúng khỏi  
ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo bằng cách từng bước giải quyết nguồn gốc tự  
nhiên, nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Đó phải là kết quả của sự nghiệp cải tạo xã  
hội cũ, xây dựng xã hội mới một cách toàn diện. Theo đó, giải quyết vấn đề tôn  
giáo phải sử dụng tổng hợp các giải pháp trên tất cả các lĩnh vực nhằm xác lập  
được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo đói, dốt nát. Tuyệt  
đối không được sử dụng mệnh lệnh hành chính cưỡng chế để tuyên chiến, xoá bỏ  
tôn giáo.  
Hai là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng  
của công dân, kiên quyết bài trừ mê tín dị đoan  
Trong chủ nghĩa xã hội, tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận  
nhân dân, còn tồn tại lâu dài. Bởi vậy, phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn  
giáo và quyền tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân. Nội dung cơ bản của  
quyền tự do tín ngưỡng là: Bất kì ai cũng được tự do theo tôn giáo mà mình lựa  
chọn, tự do không theo tôn giáo, tự do chuyển đạo hoặc bỏ đạo. Nhà nước xã hội  
chủ nghĩa bảo đảm cho mọi công dân, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo đều  
được bình đẳng trước pháp luật. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo  
pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Mọi tổ chức và cá nhân đều phải tôn trọng  
quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng tôn giáo của  
công dân. Tôn trọng gắn liền với không ngừng tạo điều kiện cho quần chúng tiến  
bộ mọi mặt, bài trừ mê tín dị đoan, bảo đảm cho tín đồ, chức sắc tôn giáo hoạt  
động theo đúng pháp luật.  
Ba là, quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo  
Tôn giáo có tính lịch sử, nên vai trò, ảnh hưởng của từng tôn giáo đối với  
đời sống XH cũng thay đổi theo sự biến đổi của tồn tại XH. Bởi vậy, khi xem xét,  
đánh giá, giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo cần phải quán triệt quan  
13  
điểm lịch sử, cụ thể, tránh giáo điều, máy móc, rập khuôn cứng nhắc. Những hoạt  
động tôn giáo đúng pháp luật được tôn trọng, hoạt động ích nước lợi dân được  
khuyến khích, hoạt động trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích dân tộc bị xử lí theo  
pháp luật.  
Bốn là, phân biệt rõ mối quan hệ giữa hai mặt chính trị và tư tưởng trong  
giải quyết vấn đề tôn giáo.  
Trong xã hội, sinh hoạt tôn giáo tồn tại hai loại mâu thuẫn:  
- Mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai cấp bóc lột  
và thế lực lợi dụng tôn giáo chống lại cách mạng với lợi ích của nhân dân lao động,  
đó là mặt chính trị của tôn giáo.  
- Mâu thuẫn không đối kháng giữa những người có tín ngưỡng khác nhau  
hoặc giữa người có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng, đó là mặt tư tưởng của tôn  
giáo. Cho nên, một mặt phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, mặt  
khác phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ mặt chính trị phản động của các thế lực lợi  
dụng tôn giáo. Việc phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải quyết vấn  
đề tôn giáo nhằm: Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quần chúng  
nhân dân, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo; Phát huy tinh thần yêu nước của  
những chức sắc tiến bộ trong các tôn giáo; Kiên quyết vạch trần và xử lí kịp thời  
theo pháp luật những phần tử lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống phá cách mạng.  
3. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta  
3.1. Khái quát tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay  
Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo và nhiều người tin theo các tôn giáo.  
Đến năm 2010, cả nước có 12 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân: Phật  
giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ cư sĩ  
Phật hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Ba’hai, Minh Chơn đạo, Minh Lý đạo, Bửu Sơn  
Kỳ Hương đang hoạt động;  
-Phật giáo: du nhập vào Việt Nam có 2 hệ phái: Phật giáo Nam tông (từ phía  
Nam truyền lên) và Phật giáo Bắc tông (từ phía Bắc truyền xuống) qua hai con  
đường:  
+ Đường bộ: năm 198, Phật giáo được qua đường bộ từ Trung Quốc xuống  
với tên tuổi của các danh Tăng nổi tiếng như: Ma Ha Kỳ Vực, Khâu Đà La...  
+ Đường thuỷ: Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ 2 hướng:  
+ Thế kỷ XIII, đạo Phật được truyền từ Srilanca vào Đồng bằng  
sông Cửu Long.  
+ Giữa thế kỷ XVI, vào thời nhà Thanh một số thiền sư thuộc  
Thiền phái Lâm Tế đã đi theo các tàu buôn vào đầu tiên là khu vực tỉnh Bình Định.  
- Công giáo: Đạo Công giáo du nhập vào từ đầu thế kỷ XVI. Năm 1533 ở  
tỉnh Nam Định đã lác đác xuất hiện giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo. Nhưng do  
bất đồng ngôn ngữ, không quen thông thổ nên việc truyền đạo không có kết quả.  
Năm 1615 đến 1665, các giáo sĩ thuộc Bồ Đào Nha từ Ma Cao (TQ) vào  
Việt Nam truyền giáo khắp cả đàng trong và đàng ngoài.  
Giáo hội Công giáo Việt Nam chia làm 3 giáo tỉnh (Hà Nội, Huế, Sài Gòn),  
với 3 vị tổng giám mục người Việt Nam phụ trách. Hiện ở Việt Nam có 6 đại  
chủng viện và trên 5.456 nhà thờ, nhà nguyện  
14  
- Tin lành: Có khoảng trên 1.000.000 người theo đạo Tin lành với gần 100 tổ  
chức, hệ phái, nhóm Tin lành khác nhau;  
Hiện nay đã có 9 tổ chức Tin lành đã được Nhà nước công nhận về mặt tổ  
chức, số còn lại thường được gọi là hội thánh, nhóm Tin lành tư gia;  
Đạo Tin lành được truyền vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX do Hội Truyền  
giáo Phước âm Liên hiệp của Mỹ truyền vào, đến năm 1911 thiết lập được tổ chức  
đầu tiên ở Đà Nẵng;  
Hội thánh Tin lành Việt Nam (1927) là tiền thân của Hội thánh Tin lành Việt  
Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam). Đây là hai tổ chức  
Tin lành chiếm khoảng khoảng trên 70% số lượng tín đồ Tin lành ở Việt Nam hiện  
nay. Đạo Cao đài thờ Thiên nhãn, có nghĩa là “mắt trời”;  
- Cao đài có 09 Hội thánh có tổ chức giáo hội gồm: Cao đài Tây Ninh, Cao  
đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Minh Chơn đạo, Truyền giáo Cao  
đài, Cao đài Cầu Kho Tam Quan, Cao đài Chơn lý, Cao đài Chiếu Minh Long  
Châu, Cao đài Bạch y.  
Năm 2009 có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín  
đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo  
Cao đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4  
ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao đài).  
- Tín đồ Hồi giáo khoảng hơn 72.000 người; cư trú ở 13/63 tỉnh (TP). Hồi  
giáo ở nước ta hình thành hai dòng:  
+ Một là: Cộng đồng Hồi giáo tuân thủ tương đối giáo lý Hồi giáo nguyên  
thuỷ gọi là Chăm Islam, sống tập trung ở 12 tỉnh, thành phố: An Giang, TP. Hồ  
Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Ninh Thuận, Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền  
Giang, Long An, Bình Dương, Bình Phước và Thủ đô Hà Nội.  
+ Hai là: Cộng đồng theo Hồi giáo đã bị “Chăm hoá” gọi là Chăm Bàni,  
sống tập trung ở ba tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Phước.  
Đến năm 2009 là 79 cơ sở. Trong đó, Chăm Islam có 40 thánh đường, 22  
tiểu thánh đường; Chăm Bàni có 17 thánh đường (chùa).  
- Đạo Phật giáo Hoà Hảo: Được khai sáng trên nền tảng đạo Bửu Sơn Kỳ  
Hương của ông Đoàn Minh Huyên và lấy pháp tu Tịnh độ tông làm căn bản tu  
hành. Do ông Huỳnh Phú Sổ sáng lập năm 1939 ở làng Hoà Hảo (TT Phú Mỹ, Phú  
Tân, An Giang);  
Đạo Phật giáo Hoà Hảo với giáo pháp là học Phật, tu Nhân, tại gia cư sĩ,  
thực hiện Tứ ân: Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo, Ân đồng bào nhân  
loại;  
Hiện nay, có gần 1,3 triệu tín đồ ở 24 tỉnh (TP).  
-Với 32 tổ chức giáo hội, hội thánh có trên 20 triệu tín đồ các tôn giáo, với  
trên 85.000 chức sắc, nhà tu hành và trên 26.000 cơ sở thờ tự các tôn giáo ở hầu  
hết các tỉnh, thành phố trong cả nước.  
Trong những năm gần đây các tôn giáo đẩy mạnh hoạt động nhằm phát triển tổ  
chức, phát huy ảnh hướng trong đời sống tinh thần xã hội. Các giáo hội đều tăng cường  
hoạt động mở rộng ảnh hưởng, thu hút tín đồ; tăng cường quan hệ với các tổ chức tôn  
giáo thế giới. Các cơ sở tôn giáo được tu bổ, xây dựng mới khang trang đẹp đẽ; các lễ  
15  
hội tôn giáo diễn ra sôi động ở nhiều nơi. Đại đa số tín đồ chức sắc tôn giáo hoạt động  
đúng pháp luật, theo hướng “tốt đời, đẹp đạo”. Tuy nhiên tình hình tôn giáo còn có  
những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Vẫn còn có chức  
sắc, tín đồ mang tư tưởng chống đối, cực đoan, quá khích gây tổn hại đến lợi ích dân  
tộc; vẫn còn các hoạt động tôn giáo xen lẫn với mê tín dị đoan, còn các hiện tượng  
tà giáo hoạt động làm mất trật tự an toàn xã hội.  
Các thế lực thù địch vẫn luôn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách  
mạng Việt Nam. Chúng gắn vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” với cái gọi là “tự do  
tôn giáo” để chia rẽ tôn giáo, dân tộc; tài trợ, xúi giục các phần tử xấu trong các  
tôn giáo truyền đạo trái phép, lôi kéo các tôn giáo vào những hoạt động trái pháp  
luật, gây mất ổn định chính trị.  
Tình hình tôn giáo ở Thừa Thiên Huế.  
Phật giáo: chiếm 60% dân số. Hòa thượng: 24; Thượng tọa: 52; Đại đức:  
344, Có 1 học viện PG, 2 Tuệ Tĩnh đường, 242 chùa.  
Thiên chúa giáo: chiếm gần 6 % dân số Có 131 nhà thờ, 1 Đại chủng viện,  
56 giáo xứ;Có 02 giám mục và 115 linh mục.  
Đạo Cao Đài và Tin lành: số lượng tín đồ rất ít: Cao Đài có 200 tín đồ, Tin  
lành có 300 tín đồ  
3.2. Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay  
Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề  
tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta  
khẳng định: tôn giáo còn tồn tại lâu dài, còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận  
nhân dân; tôn giáo có những giá trị văn hoá, đạo đức tích cực phù hợp với xã hội  
mới; đồng bào tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân  
tộc. Công tác tôn giáo vừa quan tâm giải quyết hợp lí nhu cầu tín ngưỡng của  
quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách  
mạng.  
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là  
+ Công tác vận động quần chúng sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần xây  
dựng và bảo vệ Tổ quốc theo Việt Nam XHCN.  
+ Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do  
Đảng lãnh đạo.  
Về chính sách tôn giáo, Đảng ta khẳng định: “Đồng bào các tôn giáo là bộ  
phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn  
trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công  
dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo  
các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo. Phát huy  
những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng  
bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”. Các tổ chức tôn giáo  
hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Thực hiện tốt các  
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của  
đồng bào các tôn giáo. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công  
tác tôn giáo. Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi  
16  
dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm  
quyền tự do tôn giáo của nhân dân"  
III. Đấu tranh phòng chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo chống  
phá cách mạng Việt Nam  
1. Âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam  
của các thế lực thù địch  
- Chống phá cách mạng Việt Nam là âm mưu không bao giờ thay đổi của  
các thế lực thù địch. Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc đang đẩy mạnh chiến lược “diễn  
biến hoà bình” chống Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư  
tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân  
tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân  
sự.  
Như vậy, vấn đề dân tộc, tôn giáo là một trong những lĩnh vực trọng yếu mà  
các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạng, cùng với việc lợi dụng trên  
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng để chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa ở  
Việt Nam; xoá vai trò lãnh đạo của Đảng với toàn xã hội, thực hiện âm mưu  
“không đánh mà thắng”.  
- Để thực hiện âm mưu chủ đạo đó, chúng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo  
nhằm các mục tiêu cụ thể sau:  
+ Trực tiếp phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với  
dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, chia rẽ đồng bào theo tôn  
giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, hòng làm  
suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.  
+ Kích động các dân tộc thiểu số, tín đồ chức sắc các tôn giáo chống lại  
chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước;  
Đối lập các dân tộc, các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng nhằm xoá bỏ sự  
lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam;  
Vô hiệu hoá sự quản lí của Nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội,  
gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo.  
Coi tôn giáo là lực lượng đối trọng với Đảng, nhà nước ta, nên chúng  
thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ về vật chất, tinh thần để các phần tử chống đối  
trong các dân tộc, tôn giáo chống đối Đảng, Nhà nước, chuyển hoá chế độ chính trị  
ở Việt Nam.  
+ Chúng tạo dựng các tổ chức phản động trong các dân tộc thiểu số, các tôn  
giáo như Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hội thánh Tin Lành Đề Ga, Nhà  
nước Đề Ga độc lập, Mặt trận giải phóng Khơme Crôm, Mặt trận Chămpa để tiếp  
tục chống phá cách mạng Việt Nam.  
2. Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam  
của các thế lực thù địch  
2.1. Đặc điểm các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách  
mạng Việt Nam của các thế lực thù địch:  
+ Rất thâm độc, tinh vi, xảo trá, đê tiện dễ làm cho người ta tin và làm theo.  
+ Chúng thường sử dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”;  
17  
+ Những vấn đề lịch sử để lại; những đặc điểm văn hoá, tâm lí của đồng bào  
các dân tộc, các tôn giáo;  
+ Những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc, các tôn  
giáo; những thiếu sót trong thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, chính sách dân  
tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta để chống phá cách mạng Việt Nam.  
2.2. Thủ đoạn đó được biểu hiện cụ thể ở các dạng sau:  
Một là, chúng tìm mọi cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ  
Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, mà trực tiếp là quan  
điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.  
Hai là Chúng lợi dụng những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chính sách  
dân tộc, tôn giáo để gây mâu thuẫn, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt  
Nam.  
Ba là, chúng lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động tư  
tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai; kích động, chia rẽ quan hệ  
lương - giáo và giữa các tôn giáo hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân  
tộc.  
Bốn là, chúng tập trung phá hoại các cơ sở kinh tế xã hội; mua chuộc, lôi  
kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống đối chính quyền, vượt biên trái  
phép, gây mất ổn chính trị - xã hội, bạo loạn, tạo các điểm nóng để vu khống Việt  
Nam đàn áp các dân tộc, các tôn giáo vi phạm dân chủ, nhân quyền để cô lập, làm  
suy yếu cách mạng Việt Nam.  
Năm là, chúng tìm mọi cách để xây dựng, nuôi dưỡng các tổ chức phản động  
người Việt Nam ở nước ngoài; tập hợp, tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong  
các dân tộc, các tôn giáo ở trong nước hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam  
* TÓM LẠI: Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá  
cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch rất nham hiểm. Tuy nhiên, âm mưu  
thủ đoạn đó của chúng có thực hiện được hay không thì không phụ thuộc hoàn toàn  
vào chúng, mà chủ yếu phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự  
chủ động tiến công của chúng ta  
3. Giải pháp đấu tranh phòng, chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống  
phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch  
Để vô hiệu hoá sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam của các thế  
lực thù địch thì giải pháp chung cơ bản nhất là thực hiện tốt chính sách phát triển  
kinh tế - xã hội, mà trực tiếp là chính sách dân tộc, tôn giáo, nâng cao đời sống vật  
chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc, các tôn giáo, củng cố xây dựng khối đại  
đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, theo mục tiêu dân  
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hiện nay, cần tập trung  
vào những giải pháp cơ bản, cụ thể sau :  
Một là, ra sức tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn  
giáo của Đảng, Nhà nước; về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo  
chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch cho toàn dân. Đây là giải  
pháp đầu tiên, rất quan trọng. Chỉ trên cơ sở nâng cao nhận thức, tư tưởng của cả  
hệ thống chính trị, của toàn dân mà trực tiếp là của đồng bào các dân tộc, tôn giáo  
18  
về các nội dung trên, thì chúng ta mới thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, vô  
hiệu hoá được sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch.  
- Nội dung tuyên truyền giáo dục phải mang tính toàn diện, tổng hợp. Hiện  
nay cần tập trung vào phổ biến sâu rộng các chủ trương chính sách phát triển kinh  
tế - xã hội vùng dân tộc, tôn giáo, chính sách dân tộc, tôn giáo cho đồng bào các  
dân tộc, các tôn giáo.  
- Cách tiến hành: Phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật  
của nhà nước, khơi dậy lòng tự tôn tự hào dân tộc, truyền thống đoàn kết giữa các  
dân tộc, tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thường xuyên  
tuyên truyền, giáo dục để đồng bào hiểu rõ âm mưu thủ đoạn chia rẽ dân tộc, tôn  
giáo, lương giáo của các thế lực thù địch, để đồng bào đề cao cảnh giác không bị  
chúng lừa gạt lôi kéo lợi dụng. Vận động đồng bào các dân tộc, tôn giáo đạo thực  
hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, thực hiện đúng chính sách, pháp luật về dân tộc,  
tôn giáo.  
Hai là, tăng cường xây dựng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ  
vững ổn định chính trị- xã hội. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm  
nâng cao nội lực, tạo nên sức đề kháng trước mọi âm mưu thủ đoạn nham hiểm của  
kẻ thù. Cần tuân thủ những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn  
kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.  
- Nội dung: Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải dựa trên nền tảng  
khối liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện đại  
đoàn kết phải rộng rãi, lâu dài. Mở rộng, da dạng hoá các hình thức tập hợp nhân  
dân, nâng cao vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Kiên quyết đấu tranh  
loại trừ nguy cơ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.  
- Cách tiến hành: Riêng đối với vấn đề dân tộc, tôn giáo, trước tiên cần phải  
thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn  
trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, các tôn giáo. Chống kì thị chia rẽ dân tộc, tôn  
giáo, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ti mặc cảm  
dân tộc, tôn giáo. Chủ động giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các  
vùng dân tộc, tôn giáo, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia. Đây là tiền đề quan  
trọng để vô hiệu hoá sự chống phá của kẻ thù.  
Ba là, Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng, xét đến cùng có ý  
nghĩa nền tảng để vô hiệu hoá sự lợi dụng của kẻ thù.  
- Nội dung: chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân  
tộc, các tôn giáo. Khi đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, đồng bào sẽ đoàn kết,  
tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt quyền lợi, nghĩa vụ công dân thì không kẻ  
thù nào có thể lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam.  
Đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả các chương trình, dự án ưu tiên phát triển kinh tế -  
xã hội miền núi vùng dân tộc, vùng tôn giáo tạo mọi điều kiện giúp đỡ đồng bào  
các dân tộc, các tôn giáo nhanh chóng xoá đói giảm nghèo nâng cao dân trí, sức  
khoẻ, bảo vệ bản sắc văn hoá các dân tộc.  
- Cách tiến hành: Khắc phục sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội giữa  
các dân tộc, các tôn giáo; sự kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo. Thực hiện bình đẳng  
19  
đoàn kết các dân tộc các tôn giáo phải bằng các những hành động thiết thực cụ thể  
như: ưu tiên đầu tư sức lực tiền của giúp đồng bào phát triển sản xuất.  
Bốn là, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị  
- Nội dung: phát huy vai trò của những người có uy tín trong các dân tộc, tôn  
giáo tham gia vào phòng chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá  
cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Tích cực xây dựng hệ thống chính  
trị ở cơ sở vùng dân tộc, vùng tôn giáo.  
- Cách tiến hành: Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng, sử  
dụng đội ngũ cán bộ cả cán bộ lãnh đạo quản lí và cán bộ chuyên môn kĩ thuật,  
giáo viên là người dân tộc thiểu số, người có tôn giáo Bởi đây là đội ngũ cán bộ sở  
tại có rất nhiều lợi thế trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo. Đổi mới công  
tác dân vận vùng dân tộc, tôn giáo theo phương châm: chân thành, tích cực, thận  
trọng, kiên trì, vững chắc; sử dụng nhiều phương pháp phù hợp với đặc thù từng  
dân tộc, từng tôn giáo.  
Năm là, chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng làm thất bại mọi âm mưu  
thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch  
- Nội dung: Cần thường xuyên vạch trần bộ mặt phản động của kẻ thù để  
nhân dân nhận rõ và không bị lừa bịp. Đồng thời, vận động, bảo vệ đồng bào các  
dân tộc, tôn giáo để đồng bào tự vạch mặt bọn xấu cùng những thủ đoạn xảo trá  
của chúng. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong cuộc  
đấu tranh này.  
- Cách tiến hành: Kịp thời chủ động giải quyết tốt các điểm nóng liên quan  
đến vấn đề dân tộc, tôn giáo. Chủ động, kịp thời phát hiện, dập tắt mọi âm mưu,  
hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo kích động lôi kéo đồng bào gây bạo  
loạn. Khi xuất hiện điểm nóng, cần tìm rõ nguyên nhân, biện pháp giải quyết kịp  
thời, không để lan rộng, không để kẻ thù lấy cớ can thiệp; xử lí nghiêm minh theo  
pháp luật những kẻ cầm đầu, ngoan cố chống phá cách mạng. Đồng thời, kiên trì  
thuyết phục vận động những người nhẹ dạ, cả tin nghe theo kẻ xấu quay về với  
cộng đồng; đối xử khoan hồng, độ lượng, bình đẳng với những người lầm lỗi đã ăn  
năn hối cải, phục thiện.  
KẾT LUẬN  
ChÝnh s¸ch d©n téc vµ t«n gi¸o cña жng vµ Nhµ nưíc ta lµ mét chñ trư¬ng chÝnh  
s¸ch lín, xuyªn suèt b»ng những quan ®iÓm, nguyªn tắc, chÝnh s¸ch vµ quy ®Þnh cô thÓ.  
lu«n ®îc c¸c cÊp c¸c ngµnh vµ toµn d©n thùc hiÖn tèt. B¶o ®¶m quyÒn tù do d©n chñ vµ tù  
do tÝn ngìng cña c¸c d©n téc trong céng ®ång c¸c d©n téc ViÖt nam. Nhưng CNĐQ vµ c¸c  
thÕ lùc thï ®Þch lu«n tim mäi c¸ch lîi dông vÊn ®Ò d©n téc, t«n gi¸o chèng ph¸ c¸ch m¹ng  
ViÖt nam. Nhưng chóng cã thùc hiÖn ®ưîc hay kh«ng hoµn toµn phô thuéc vµo chóng ta.  
ĐÓ thùc hiÖn cã hiÖu qu¶ nhiÖm vô phßng chèng ®Þch lîi dông vÊn ®Ò d©n téc, t«n gi¸o ®Ó  
chèng ph¸ c¸ch m¹ng ViÖt Nam cña kÎ thï ®ßi hái mçi ngưêi d©n nãi chung vµ sinh viªn  
nãi riªng ph¶i thưêng xuyªn nªu cao tinh thÇn c¶nh gi¸c c¸ch m¹ng, n¾m ch¾c tinh hinh,  
gãp phÇn x©y dùng vững ch¾c trËn ®Þa tư tưëng vµ khèi ®¹i ®oµn kÕt toµn d©n ë mäi lóc  
mäi n¬i, nhËn râ b¶n chÊt, ©m mưu, thñ ®o¹n cña CNĐQ vµ c¸c thÕ lùc thï ®Þch ®èi víi  
CM ViÖt Nam hiÖn nay.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 21 trang baolam 23040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Một số nội dung cơ bản về dân tộc tôn giáo và đấu tranh phòng chống địch lợi dụng dân tộc tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docbai_giang_mot_so_noi_dung_co_ban_ve_dan_toc_ton_giao_va_dau.doc