Bài giảng Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên và động viên công nghiệp quốc phòng

.
BỘ QUỐC PHÒNG  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ SỐ 23  
-----  -----  
BÀI GIẢNG  
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ,  
DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN VÀ ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG  
(Dùng cho giảng dạy sinh viên trình độ Cao đẳng, Trung cấp)  
Huế, 30 tháng 05 năm 2017  
1
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG DQTV.  
1. Trong giai đoạn vận động cách mạng (1930 - 1944).  
Đảng chủ trương tổ chức cơ sở chính trị đi đôi với tổ chức các tiểu đội tự vệ để  
bảo vệ cơ sở chính trị, bảo vệ cán bộ cách mạng, hỗ trợ quần chúng đấu tranh đòi  
dân sinh, dân chủ. Giai đoạn chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng  
(8/1945) các đội du kích Bắc Sơn, Đình Cả, Vũ Nhai lần lượt được ra đời. Nhiều  
chiến sĩ du kích ưu tú đã được đứng vào hàng ngũ của Đội Việt Nam tuyên truyền  
giải phóng quân. Trong cách mạng tháng 8/1945, lực lượng du kích, tự vệ đã đóng  
vai trò chủ yếu hỗ trợ quần chúng tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền  
2. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954).  
Thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng bản  
là một pháo đài“, lực lượng du kích đã phát triển lớn mạnh không ngừng, đã thật sự  
là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc thực hiện thắng lợi “trường kỳ kháng  
chiến”. Lực lượng du kích đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch (70 % tổng số địch bị  
loại), kìm giữ, phân tán buộc địch sa lầy, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh giành  
độc lập.  
Chiến tranh du kích đã được hình thành và từng bước phát triển, phong trào du  
kích đã được đẩy mạnh hơn bao giờ hết, nhiều đội du kích trên khắp mọi miền đất  
nước của mọi người dân (già, trẻ, gái, trai) đã đánh cho quân Pháp ở mọi lúc, mọi  
nơi, làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên. Biết bao chiến sĩ du kích ưu tú  
được bổ sung cho quân đội để thành lập các đơn vị chủ lực đầu tiên. Nhiều đội dân  
quân đã trở thành lực lượng nòng cốt trong các đội dân công phục vụ chiến đấu,  
phục vụ chiến dịch. Dân quân ,du kích đã cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa  
phương làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.  
3. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975).  
a. Tại miền Nam.  
Lực lượng Du kích được phát triển từ phong trào Đồng Khởi Bến Tre năm  
1960 và không ngừng lớn mạnh qua các giai đoạn: Chiến tranh đặc biệt, Chiến  
tranh cục bộ và Việt Nam hoá chiến tranh với nhiều cách đánh phong phú với  
nhiều loại vũ khí sáng tạo. Các đội du kích chính là lực lượng bám dân, bám địa  
bàn cơ sở giúp cho Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương nắm tình hình địch, theo dõi  
các quy luật hoạt động của Mỹ - Ngụy, tổ chức trinh sát để có những kế hoạch  
chiến đấu giành thắng lợi to lớn.  
b. Tại miền Bắc.  
Thực hiện chỉ thị 119 của Ban Bí thư TƯ về tăng cường chỉ đạo xây dựng và  
hoạt động của DQTV đã tạo ra chuyển biến trong các cấp, các ngành. Phong trào  
DQTV được củng cố và phát triển cả về số lượng và chất lượng (đạt 10 -12% theo  
dân số miền Bắc ). DQTV đã góp phần quan trọng đánh bại âm mưu thả biệt kích  
ào ạt của địch, diệt và bắt sống 90% số vụ biệt kích địch tung ra miền Bắc. Trong  
chiến tranh phá hoại của địch, DQTV đã bắn rơi 400 máy bay, bắn chìm 1.000 tàu  
chiến địch, làm nòng cốt trong phong trào phòng không nhân dân, khắc phục hậu  
quả đánh phá của địch bảo đảm giao thông chiến lược, cùng với công an nhân dân  
giữ gìn ANCT - TT ATXH.  
4. Sau ngày thống nhất đất nước.  
2
Thực hiện nghị định số 83/CP ngày 05/03/1979 của Thủ tướng Chính phủ về  
quân sự hoá toàn dân, vũ trang hoá toàn dân. Tất cả các xã, phường, nhà máy, xí  
nghiệp, công nông trường, cơ quan trường học đều được quân sự hoá. Thời kỳ  
này, DQTV trên cả nước có bước phát triển đặc biệt chưa từng có so với các thời  
kỳ trước đó, thể hiện khá đầy đủ phương châm “ Vững mạnh và rộng khắp”.  
Trong thời kỳ 1980-1986, nền kinh tế của đất nước có nhiều khó khăn đồng  
thời DQTV cũng chậm đổi mới nên nhiều nơi phong trào sa sút nghiêm trọng,  
nhưng sau hội nghị toàn quốc bàn về xây dựng DQTV và quân Dự bị vào tháng  
7/1989 (thực hiện chỉ thị 55 Ban Bí thư TW, nghị định 29/ HĐBT, điều lệ DQTV),  
lực lượng DQTV có bước chuyển biến về chất, đang tiếp tục tháo gỡ những khó  
khăn và phát triển đi lên.  
Năm 1990, 1996, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã tiến hành ban hành Pháp lệnh  
về DQTV, Chính phủ có nghị định và Bộ Quốc phòng cùng với các Bộ để ra thông  
tư hướng dẫn cụ thể thi hành pháp lệnh.  
Tóm lại: Qua các giai đoạn cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản  
Việt Nam, DQTV được tổ chức trên cơ sở lực lượng chính trị của quần chúng,  
phong trào có lúc thăng, lúc trầm nhưng nhìn chung vẫn phát triển đi lên, giai đoạn  
sau cao và phong phú hơn giai đoạn trước, đã phát huy tác dụng to lớn trong các  
cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc đấu  
tranh cách mạng của dân tộc.  
B. NỘI DUNG GIẢNG DẠY  
Phần 1. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ (DQTV).  
I. Khái niệm, vị trí vai trò và nhiệm vụ của lực lượng DQTV.  
1. Khái niệm.  
Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công  
tác; là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng,  
tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc  
ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh. Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường,  
thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan của  
3
Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức  
kinh tế (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) gọi là tự vệ.  
Nội dung khái niệm.  
+ Vừa có nghĩa vụ xây dựng đất nước vừa có nghĩa vụ tham gia bảo vệ Tổ  
quốc.  
+ Là một trong các thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân, được tổ chức  
rộng rãi trong phạm vi toàn quốc.  
+ Đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự quản lý, điều hành của chính  
quyền, sự chỉ huy thống nhất của quân đội mà trực tiếp là cơ quan quân sự địa  
phương các cấp.  
+ Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn gọi là dân quân, ở cơ quan  
nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức CTXH gọi  
là tự vệ.  
2. Vị trí, vai trò.  
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, DQTV là một lực lượng chiến lược trong chiến  
tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc bảo vệ  
Tổ quốc, bảo vệ địa phương.  
- Lực lượng DQTV là một trong những công cụ để bảo vệ độc lập chủ quyền,  
thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính  
mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân. Bởi vì trong tình hình hiện nay, toàn  
Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện hai nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ  
Tổ quốc XHCN. Chúng ta phải đối phó với chiến lược “Diễn biến hoà bình”, Bạo  
loạn lật đổ và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược của kẻ thù.  
Đánh giá về vai trò DQTV, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "DQTV và du kích là  
lực lượng của toàn dân tộc, là lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc. Vô  
luận kẻ thù nào dù hung bạo đến đâu hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì  
địch nào cũng phải tan rã”.  
3. Nhiệm vụ (6 nhiệm vụ).  
- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa phương, cơ  
sở; phối hợp với các đơn vị bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển và lực  
lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ quyền, quyền chủ  
quyền trên các vùng biển Việt Nam.  
- Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng  
khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền QPTD, khu vực phòng thủ; giữ gìn an  
ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng,  
tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.  
- Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh,  
tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường và  
nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác.  
- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách  
của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; tham gia xây dựng cơ  
sở vững mạnh toàn diện, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, cơ  
sở.  
- Học tập chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự và diễn tập.  
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.  
4
(Luật DQTV quy định DQTV có 6 nhiệm vụ, so với Pháp lệnh năm 2004 – NĐ  
184 thêm 1 nhiệm vụ (nhiệm vụ 5). Các nhiệm vụ còn lại được quy định đầy đủ,  
chặt chẽ hơn và sát với yêu cầu các nhiệm vụ của DQTV)  
II. Nội dung, biện pháp xây dựng, quản lý, cơ chế lãnh đạo, điều hành.  
1. Nội dung xây dựng lực lượng DQTV.  
1.1. Thành phần, tỷ lệ, tổ chức biên chế, trang bị.  
1.1.1. Về thành phần: Gồm có hai lực lượng chính: Lực lượng DQTV nòng  
cốt (lực lượng chiến đấu) và lực lượng DQTV rộng rãi (lực lượng phục vụ chiến  
đấu).  
❖ Lực lượng DQTV nòng cốt bao gồm:  
- DQTV Bộ binh gồm: lực lượng cơ động và tại chổ.  
- DQTV Binh chủng gồm: phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông  
tin, phòng hoá, y tế.  
- DQTV Biển (đối với vùng biển) gồm: lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ.  
- LLTT: Đối với xã thuộc địa bàn trọng điểm có yêu cầu chiến đấu cao thì được  
xem xét tổ chức lực lượng dân quân thường trực.  
- Thời hạn của DQTV nòng cốt là 4 năm (điều 10, Luật DQTV).  
❖ Lực lượng DQTV rộng rãi.  
- Gồm cán bộ, chiến sỹ DQTV nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ DQTV và  
công dân trong độ tuổi quy định (nam từ đủ 18 đến hết 45, nữ từ đủ 18 đến hết 40  
tuổi).  
- Lực lượng này luôn sẵn sàng phát triển nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ,  
phòng thủ trên địa bàn tỉnh (TP) hoặc khi có chiến tranh. Đây là nguồn bổ sung  
cho lực lượng nòng cốt khi cần thiết, được sắp xếp thành các đơn vị ở thôn, bản,  
khu phố, trong các xí nghiệp, doanh nghiệp.  
1.1.2. Tỷ lệ.  
- Căn cứ vào dân số, địa bàn, bố trí dân cư, yêu cầu nhiệm vụ QP-AN, QS, tình  
hình ANCT, KT- VH-XH từng thời kỳ và khả năng bảo đảm kinh phí cho DQTV  
huấn luyện, hoạt động làm cơ sở để các địa phương xác định tỷ lệ cho phù hợp.  
- Định hướng chung về tỷ lệ.  
+ Cấp quân khu và tỉnh đạt từ 1,2% đến 1,8% dân số.  
+ Cấp huyện đạt từ 1,4 đến 2% dân số.  
+ Cấp xã tuỳ theo số dân để xác định tỷ lệ phù hợp theo quy định. (Điều 11  
Luật DQTV).  
- Đối với dân quân, hằng năm số tuyển chọn để kết nạp mới phải tương ứng với  
số đó hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân chuyển ra.  
1.1.3. Tổ chức và qui mô tổ chức.  
* Tổ chức: Tổ, Tiểu đội (Khẩu đội), Trung đội, Đại đội (Hải đội), Tiểu đoàn  
(Hải đoàn).  
* Quy mô tổ chức (Điều 18, luật DQTV).  
- Cấp Thôn: Tổ chức Tổ, Tiểu đội, Trung đội dân quân tại chỗ.  
- Cấp xã: tổ chức Trung đội dân quân cơ động. Theo yêu cầu nhiệm vụ có thể  
tổ chức tổ, tiểu đội trinh sát, thông tin, công binh, phòng hoá, y tế.  
+ Các xã trọng điểm về QP-AN tổ chức tiểu đội dân quân thường trực trong  
trung đội dân quân cơ động của xã.  
5
+ Các xã ven biển, xã đảo tổ chức tiểu đội, trung đội dân quân biển.  
- Cơ quan, tổ chức tổ chức tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn tự vệ. Cơ quan,  
tổ chức có phương tiện hoạt động trên biển tổ chức tiểu đội, trung đội, hải đội, hải  
đoàn tự vệ biển.  
- Cấp huyện: Trên cơ sở các đơn vị DQTV quy định tại các điểm a, b và c  
khoản này, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, trên địa bàn cấp huyện có thể tổ chức đại  
đội DQTV cơ động, trung đội DQTV phòng không, pháo binh, trung đội DQTV  
luân phiên thường trực.  
- Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ tình hình cụ thể của các  
doanh nghiệp nhà nước đứng chân trên địa bàn để tổ chức các tiểu đoàn tự vệ bộ  
binh và các đại đội tự vệ pháo phòng không. Các thành phố lớn tổ chức lực lượng  
pháo phòng không DQTV, các binh chủng khác tổ chức cấp đại đội.  
+ Đối với doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước quy mô tổ chức  
từ tiểu đội đến trung đội. Trường hợp mở rộng quy mô lực lượng DQTV ở các  
trạng thái và các tình huống do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quy định.  
+ Các loại hình doanh nghiệp nếu có quy mô lao động phù hợp, được giao  
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo kế hoạch của cơ quan quân sự địa phương thì  
có trách nhiệm tổ chức lực lượng tự vệ (Điều 19 luật DQTV).  
1.1.4. Chức vụ chỉ huy cơ bản của DQTV (Điều 20, luật DQTV).  
* Chỉ huy đơn vị DQTV gồm:  
+ Tiểu đội trưởng (Khẩu đội trưởng)  
+ Trung đội trưởng  
+ Đại đội trưởng (Hải đội trưởng), Chính trị viên đại đội (Chính trị viên hải  
đội).  
+ Tiểu đoàn trưởng (Hải đoàn trưởng), Chính trị viên Tiểu đoàn (Chính trị viên  
hải đoàn).  
* Chỉ huy quân sự ở cơ sở gồm:  
+ Thôn đội trưởng  
+ Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban CHQS cấp xã  
+ Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban CHQS cơ quan, tổ chức ở cơ sở  
+ Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban CHQS Bộ, ngành Trung ương  
1.1.5. Cơ cấu biên chế (Điều 21 – 24 Luật DQTV).  
- Thôn đội: Có nhiệm vụ tham mưu và tổ chức thực hiện công tác quốc phòng,  
quân sự địa phương ở thôn, quản lý, chỉ huy trực tiếp dân quân thuộc quyền. Chịu  
sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Ban CHQS cấp xã  
và phối hợp với Trưởng thôn, Công an viên và tổ chức, đoàn thể nhân dân thực  
hiện nhiệm vụ QP-AN ở thôn.  
+ Trung đội trưởng cơ động cấp xã thường do Thôn đội trưởng ở thôn nơi đặt  
trụ sở hoặc gần trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã kiêm nhiệm.  
+ Đối với thôn có tổ chức cấp trung đội, cấp tiểu đội hoặc tổ dân quân tại chỗ,  
chức danh Trung đội trưởng hoặc tiểu đội trưởng hoặc tổ trưởng dân quân tại chỗ  
do Thôn đội trưởng kiêm nhiệm.  
+ Các tiểu đội dân quân trong trung đội dân quân tại chỗ được bố trí các tiểu  
đội trưởng dân quân tại chỗ (Khoản 4, 5 Điều 16 Thông tư số 85/2010/TT-BQP  
quy định).  
6
- Ban CHQS cấp xã gồm: Chỉ huy trưởng là thành viên UBND cấp xã/, Chỉ  
huy phó/ CTV phó là cán bộ kiêm nhiệm. Số lượng chỉ huy phó ban CHQS cấp xã  
do chính phủ quy định (Điều 21 Luật DQTV). Ban CHQS cấp xã có chức năng và  
nhiệm vụ sau đây:  
+ Tham mưu cho cấp uỷ Đảng, UBND cấp xã lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực  
hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự ở cơ sở. Đăng ký, quản lý công dân trong độ  
tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV, công dân nam trong độ tuổi sẵn sàng  
nhập ngũ. Tuyển chọn công dân nhập ngũ, quản lý lực lượng Dự bị động viên theo  
quy định của pháp luật.  
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch về công tác quốc phòng, quân sự ở  
cơ sở, kế hoạch tổ chức lực lượng, huấn luyện và hoạt động của dân quân, kế  
hoạch xây dựng làng, xã chiến đấu, kế hoạch phòng thủ dân sự và tham gia xây  
dựng kế hoạch khác có liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở cơ sở.  
+ Chủ trì phối hợp với ban, ngành, đoàn thể tổ chức thực hiện công tác quốc  
phòng, quân sự theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, UBND cùng cấp và chỉ  
thị, mệnh lệnh, kế hoạch, hướng dẫn của cơ quan quân sự cấp trên.  
+ Phối hợp với ban, ngành, đoàn thể tuyên truyền, giáo dục quốc phòng, an  
ninh cho lực lượng vũ trang và nhân dân; tổ chức lực lượng dân quân, dự bị động  
viên tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện chính sách hậu  
phương quân đội.  
+ Tổ chức huấn luyện, giáo dục chính trị, pháp luật cho dân quân; chỉ huy dân  
quân được thực hiện theo nhiệm vụ (quy định tại Điều 8 của Luật DQTV).  
+ Tổ chức đăng ký, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí, trang bị của các đơn  
vị dân quân thuộc quyền theo quy định của pháp luật.  
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật tại chỗ đáp ứng yêu  
cầu nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương.  
+ Giúp UBND cấp xã kiểm tra, sơ kết, tổng kết công tác QP, quân sự địa  
phương, công tác tổ chức và hoạt động của dân quân thuộc quyền.  
- Ban CHQS cơ quan, tổ chức ở cơ sở gồm: Chỉ huy trưởng, Chính trị viên,  
Chỉ huy phó, Chính trị viên phó là cán bộ kiêm nhiệm. Ban CHQS cơ quan, tổ  
chức ở cơ sở có chức năng nhiệm vụ:  
+ Tham mưu cho cấp uỷ Đảng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức lãnh đạo, chỉ  
đạo công tác quốc phòng, quân sự của cơ quan, tổ chức mình; đăng ký, quản lý tự  
vệ tại cơ quan, tổ chức, thực hiện công tác tuyển quân và quản lý lực lượng DBDV  
dưới sự chỉ đạo của cơ quan quân sự địa phương; thực hiện nhiệm vụ giáo dục  
quốc phòng, an ninh cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ  
quan, tổ chức; thực hiện chính sách hậu phương QĐ.  
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch về công tác QP, QS của cơ quan, tổ  
chức; kế hoạch tổ chức lực lượng, huấn luyện và hoạt động của tự vệ; kế hoạch  
bảo vệ cơ quan, tổ chức; kế hoạch phòng thủ dân sự, kế hoạch bảo đảm hậu cần,  
kỹ thuật tại chỗ và tham gia xây dựng kế hoạch khác có liên quan đến nhiệm vụ  
QP-AN ở cơ sở.  
+ Giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch động  
viên quốc phòng về người, phương tiện kỹ thuật và cơ sở vật chất khác theo chỉ  
tiêu của Nhà nước; tham gia xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng cơ sở vững  
7
mạnh toàn diện, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ QP, quân sự tại địa phương  
nơi đặt trụ sở.  
+ Tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện, giáo dục chính trị, pháp luật cho tự  
vệ; chỉ huy tự vệ thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Điều 8 của Luật DQTV.  
+ Tổ chức đăng ký, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí, trang bị của các đơn  
vị tự vệ thuộc quyền theo quy định của pháp luật.  
+ Giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết về công tác  
quốc phòng, quân sự, công tác tổ chức và hoạt động của tự vệ thuộc quyền.  
- Ban CHQS bộ, ngành Trung ương: gồm Chỉ huy trưởng (là người đứng  
đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu ở bộ, ngành Trung ương kiêm nhiệm),  
Chính trị viên, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó là cán bộ kiêm nhiệm. Ban CHQS  
bộ, ngành Trung ương có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn sau:  
+ Tham mưu cho Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, cấp uỷ Đảng, người đứng đầu  
Bộ, ngành Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo về công tác GDQP toàn dân cho cán bộ,  
công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan đơn vị thuộc bộ ngành  
quản lý; phối hợp với BQP, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan liên quan khác  
tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng...  
theo quy định của pháp luật.  
+ Tham mưu cho Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, cấp uỷ Đảng, người đứng đầu  
Bộ, ngành Trung ương về kết hợp chặt chẽ giữa phát triển KT-XH với tăng cường  
QP-AN, thẩm định các kế hoạch, quy hoạch và dự án phát triển KT-XH liên quan  
đến QP-AN theo quy định của pháp luật. Thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự và  
các nhiệm vụ động viên quốc phòng.  
+ Tham mưu cho Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, cấp uỷ Đảng, người đứng đầu  
bộ, ngành TƯ phối hợp với BQP , các bộ, ngành và địa phương có liên quan xây  
dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận  
ANND, xây dựng cơ quan đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện, tham gia xây dựng  
cấp tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc; phối hợp và chỉ đạo diễn tập khu vực  
phòng thủ thuộc lĩnh vực bộ, ngành quản lý.  
+ Chỉ đạo các cơ quan đơn vị thuộc bộ, ngành phối hợp chặt chẽ với cơ quan  
quân sự địa phương thực hiện công tác tổ chức, huấn luyện, hoạt động của lực  
lượng tự vệ, xây dựng và huy động lực lượng DBDV, tuyển quân, tham gia xây  
dựng lực lượng vũ trang địa phương, phối hợp với cơ quan quân sự địa phương chỉ  
đạo các đơn vị thuộc quyền tổ chức đăng ký, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí,  
trang bị của các đơn vị tự vệ thuộc quyền.  
+ Chủ trì hoặc phối hợp với quân khu, Bộ CHQS cấp tỉnh tổ chức hội thi, hội  
thao, diễn tập cho LLTV thuộc bộ, ngành mình theo sự chỉ đạo của BQP.  
+ Thực hiện công tác chính trị, công tác thi đua, khen thưởng về công tác  
nhiệm vụ QS, quân sự, giáo dục QP-AN , phòng thủ dân sự và công tác tự vệ.  
+ Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc quyền phối hợp với cơ quan quân sự địa  
phương xây dựng kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật tại chỗ đáp ứng yêu cầu,  
nhiệm vụ quốc phòng, quân sự của Bộ, ngành.  
+ Giúp người đứng đầu bộ, ngành Trung ương phối hợp với các cơ quan chức  
năng của Bộ Quốc phòng tổ chức kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết rút kinh  
8
nghiệm về công tác quốc phòng, quân sự, giáo dục QP-AN, phòng thủ dân sự và  
công tác tự vệ. (Điều 19 Nghị định số 58/2010/NĐ-CP quy định).  
1.1.6. Vũ khí trang bị của DQTV(Điều 31, Luật DQTV).  
- DQTV được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện kỹ thuật.  
- Việc trang bị, chế độ đăng ký quản lý, sử dụng vũ khí công cụ hỗ trợ và  
phương tiện kỹ thuật của DQTV theo quy định của pháp luật. BQP đã ban hành  
Thông tư số 99/2010/TT-BQP ngày 19/7/2010 về trang bị, đăng ký và quản lý vũ  
khí, đạn, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của lực lượng DQTV.  
- Vũ khí trang bị cho DQTV từ các nguồn: do Bộ Quốc phòng cấp, các địa  
phương tự chế tạo hoặc thu được của địch. Song dù từ nguồn nào, vũ khí trang bị  
đó cũng đều là tài sản của nhà nước giao cho DQTV quản lý. Do vậy, phải được:  
+ Đăng ký, quản lý, bảo quản chặt chẽ; sử dụng đúng mục đích và đúng quy  
định của pháp luật.  
+ Cơ quan quân sự có thẩm quyền phải có quyết định biên chế, trang bị và cấp  
giấy phép sử dụng tới từng đơn vị, cá nhân.  
+ Vũ khí, trang bị đó phải được quản lý tập trung tại trụ sở cấp xã, nơi làm việc  
của Ban CHQS cơ quan, phải bảo dưỡng thường xuyên và có tủ sắt cất giữ, cơ  
quan quân sự các cấp tăng cường công tác kiểm tra vũ khí trang bị của DQTV.  
1.2. Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự (Điều 34, Luật DQTV).  
1.2.1. Giáo dục chính trị.  
- Mục đích: Nhằm làm cho mọi người nâng cao nhận thức về chính trị, lập  
trường tư tưởng vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng. Trên cơ sở đó phát huy  
tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ, bảo vệ quê hương, làng  
xóm, địa phương, đơn vị mình.  
- Nội dung giáo dục cần tập trung:  
+ Không ngừng tăng cường bản chất cách mạng và ý thức giác ngộ giai cấp cho  
cán bộ, chiến sỹ DQTV, trên cơ sở đó, thường xuyên nâng cao cảnh giác cách  
mạng, nhận rõ bản chất, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù.  
+ Giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ  
nghĩa; mục tiêu lý tưởng của Đảng. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà đảng và  
nhân dân ta lựa chọn; quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ củng cố quốc  
phòng - an ninh, chống "DBHB” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch: công tác  
quân sự địa phương, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.  
+ Một số nội dung cơ bản về hiến pháp, pháp luật, luật DQTV, nội dung  
phương pháp tiến hành vận động quần chúng...  
- Thời gian, phương pháp tổ chức giáo dục chính trị:  
+ Trong thời bình, giáo dục theo kế hoạch hàng năm, gắn với huấn luyện quân  
sự.  
+ Khi cần thiết hoặc có chiến tranh, thời gian giáo dục chính trị có thể kéo dài  
từ hai đến sáu tháng liên tục theo chương trình, nội dung, giáo trình, tài liệu huấn  
luyện do Bộ Quốc phòng quy định.  
+ Thời gian giáo dục chính trị khoảng 15% đến 20% so với tổng số thời gian  
huấn luyện chung của lực lượng DQTV.  
1.2.2. Huấn luyện quân sự.  
9
- Hàng năm lực lượng DQTV được huấn luyện theo nội dung chương trình do  
Bộ Quốc phòng quy định chung, các nội dung phù hợp và sát với cơ sở do chỉ huy  
quân sự địa phương các cấp xác định cụ thể.  
- Mục đích nhằm nâng cao kiến thức về quân sự cho lực lượng DQTV. Sẵn  
sàng đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc,  
bảo vệ thôn, xóm, làng xã, bảo vệ AN chính trị, trật tự an toàn xã hội.  
- Thời gian huấn luyện QS khoảng 80 - 85% thời gian quy định, trong đó kỹ  
thuật các quân binh chủng 35%, các nội dung hậu cần, quân y khoảng 10%. Cụ  
thể:  
+ DQTV năm thứ nhất: 15 ngày.  
+ DQTV cơ động, DQTV biển, DQTV phòng không, pháo binh, công binh,  
trinh sát, thông tin, phòng hoá, y tế: 12 ngày.  
+ DQTV tại chỗ: 7 ngày.  
+ Dân quân thường trực: 60 ngày.  
- Sau mỗi khoá huấn luyện, DQTV đều phải kiểm tra và được cấp giấy chứng  
nhận theo phân cấp quản lý.  
1.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ DQTV.  
- Vị trí vai trò: cán bộ DQTV là người trực tiếp tổ chức, quản lý, điều hành mọi  
hoạt động và chỉ huy lực lượng DQTV chiến đấu và phục vụ chiến đấu, giữ vững  
ANCT và TT ATXH ở địa phương, cơ sở.  
- Nội dung yêu cầu: Hàng năm đội ngũ cán bộ trong lực lượng DQTV được đào  
tạo bồi dưỡng chính trị, quân sự, chuyên môn kỹ thuật, pháp luật theo chương  
trình dài hạn, ngắn hạn để nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt.  
- Đối tượng bồi dưỡng và tập huấn.  
+ Chính trị viên xã đội, xã đội trưởng và xã đội phó đã qua đào tạo xã đội, cán  
bộ chuyên trách công tác QP, QS ở cơ quan, tổ chức, được tập huấn theo chương  
trình quy định tại trường quân sự cấp tỉnh, thời gian 10 ngày.  
+ Cán bộ chỉ huy từ cấp trung đội đến cấp tiểu đoàn DQTV bộ binh, cán bộ tiểu  
đội, trung đội binh chủng, cán bộ kiêm nhiệm công tác QP, QS ở cơ quan, tổ chức,  
thôn đội trưởng được tập huấn theo chương trình quy định tại cơ quan quân sự cấp  
huyện, thời gian 7 ngày.  
+ Sau khi hoàn thành chương trình huấn luyện được kiểm tra cấp giấy chứng  
nhận.  
1.4. Tổ chức lãnh đạo, chỉ huy của DQTV.  
Nắm vững cơ chế “Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự  
làm tham mưu và chỉ huy lực lượng thuộc quyền”. Nghĩa là ở từng địa phương,  
từng đơn vị cơ sở, tổ chức hoạt động của lực lượng DQTV phải đặt dưới sự lãnh  
đạo của cấp uỷ đảng, sự quản lý nhà nước và điều hành của chính quyền địa  
phương các cấp, sự chỉ huy của Ban CHQS cơ sở và cơ quan quân sự cấp trên.  
1.5. Chế độ chính sách đối với DQTV (Điều 43 – 51 Luật DQTV).  
DQTV vừa là dân, vừa là quân, không thoát ly sản xuất, hoạt động tại chỗ là  
chính, việc chăm lo tinh thần vật chất, do từng địa phương xã, phường, các đơn vị  
cơ sở thuộc các ngành nhà nước đảm nhiệm là chủ yếu. Nhưng để bảo đảm quyền  
lợi tối thiểu, Nhà nước có một số chế độ chính sách đối với DQTV như:  
10  
+ Chế độ phụ cấp trách nhiệm quản lý đơn vị của cán bộ, chỉ huy DQTV do  
Chính phủ qui định.  
+ Cán bộ, chiến sỹ DQTV trong thời gian thực hiện nhiệm vụ theo mệnh lệnh  
của cấp có thẩm quyền được hưởng trợ cấp bằng ngày công lao động theo mức do  
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định.  
+ Cán bộ chiến sỹ DQTV nòng cốt được miễn nghĩa vụ lao động công ích hàng  
năm. Trong khi huấn luyện, cán bộ, chiến sỹ DQTV chưa tham gia bảo hiểm y tế  
nếu bị ốm đau, tai nạn hoặc bị chết thì được hưởng các tiêu chuẩn như người tham  
gia đóng bảo hiểm xã hội.  
2. Một số biện pháp xây dựng DQTV trong giai đoạn hiện nay.  
2.1. Thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu rộng các quan điểm, chủ trương  
chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác DQTV.  
- Xuất phát từ vai trò của giáo dục nhằm nâng cao trình độ mọi mặt của DQTV.  
Từ yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới rất nặng nề. Từ  
âm mưu thủ đoạn chống phá của kẻ thù..  
- Nội dung giáo dục.  
+ Thường xuyên giáo dục quán triệt sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược XD và  
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người  
đối với nhiệm vụ QP-AN.  
+ Cần tập trung phổ biến luật DQTV.  
+ Nghị định, thông tư về thi hành luật DQTV cho các cấp uỷ Đảng, chính  
quyền, đoàn thể nhân dân, để mọi người, mọi tổ chức nhận thức đúng về công tác  
xây dựng lực lượng DQTV. Đó là cơ sở để huy động sức mạnh của toàn dân, của  
cả hệ thống chính trị tham gia xây dựng DQTV, làm cho công tác DQTV trở thành  
việc làm thường xuyên của dân, do dân, vì dân.  
2.2. Phát huy sức mạnh tổng hợp trên địa bàn, địa phương trong xây dựng  
lực lượng DQTV.  
- Xây dựng lực lượng DQTV là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và  
của toàn dân, nhưng trước hết là trách nhiệm của địa phương: tỉnh (TP), huyện  
(quận), xã (phường).  
- Xây dựng lực lượng DQTV phải được kết hợp với các hoạt động phục vụ  
nhiệm vụ QP–AN tại địa phương. Một mặt thông qua hiệu quả hoạt động phát hiện  
các ưu điểm, khuyết điểm để rút kinh nghiệm, từ đó nâng cao chất lượng mọi mặt  
của các đơn vị DQTV.  
- Mặt khác, có tác dụng kiểm tra và thúc đẩy trách nhiệm của các cấp, các  
ngành ở địa phương đối với xây dựng DQTV.  
- Phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và hoạt động của DQTV. Kết  
hợp lực lượng DQTV với các thành phần lực lượng khác nhất là lực lượng an ninh  
chuyên trách, trong xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh trên địa bàn, từ đó  
nâng cao chất lượng hoạt động, chiến đấu và công tác.  
2.3. Xây dựng lực lượng DQTV gắn với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn  
diện.  
11  
- Xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện là xây dựng địa phương vững mạnh trên  
mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong đó có một nội dung quan  
trọng là xây dựng về QP-AN.  
- Trong quá trình CNH – HĐH, nội dung quốc phòng làm tốt sẽ bảo đảm sự ổn  
định ở cơ sở, tạo điều kiện cho nhân dân lao động sản xuất thực hiện mục tiêu dân  
giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, góp phần xây dựng các tổ  
chức Đảng, chính quyền địa phương, cơ sở vững mạnh toàn diện.  
- Ngược lại, cơ sở vững mạnh toàn diện là môi trường xã hội có tính quyết định  
đến xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh; là hậu phương trực tiếp vững chắc của  
lực lượng DQTV chiến đấu ở cơ sở, bảo đảm cho lực lượng DQTV luôn sẵn sàng  
hoàn thành các nhiệm vụ được giao.  
2.4. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chế độ chính sách của Đảng và Nhà  
nước đối với lực lượng DQTV.  
- Chế độ chính sách có ý nghĩa rất lớn, thể hiện sự quan tâm chăm sóc của  
Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với lực lượng DQTV.  
- Trước mắt, cần phối hợp các ban ngành tổ chức hướng dẫn, thực hiện tốt chế  
độ, chính sách, chế độ khen thưởng, ngân sách bảo đảm trong tổ chức huấn luyện,  
hoạt động của lực lượng DQTV đã được luật DQTV và Nghị định của chính phủ  
số 184/CP ngày 02/11/ 2004 quy định.  
Phần 2. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN (DBĐV).  
I. Khái niệm, vị trí vai trò, quan điểm nguyên tắc  
1. Khái niệm: Lực lượng DBĐV gồm quân nhân dự bị và phương tiện kĩ thuật  
đã xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội nhằm duy  
trì tiềm lực quân sự, là yếu tố góp phần quyết định sự thắng lợi trong chiến tranh  
bảo vệ Tổ quốc.  
- Quân nhân dự bị gồm sĩ quan dự bị, quân nhân chuyên nghiệp dự bị và hạ sĩ  
quan, binh sĩ dự bị.  
- Phương tiện kĩ thuật gồm phương tiện vận tải, làm đường, xếp dỡ, thông tin  
liên lạc, y tế và một số phương tiện khác. Danh mục phương tiện kĩ thuật do Chính  
phủ quy định (Pháp lệnh về Lực lượng DBĐV năm 1996).  
Quân nhân dự bị, phương tiện kĩ thuật trong kế hoạch biên chế cho lực lượng  
thường trực của quân đội, thông qua các đơn vị DBĐV. Trong thời bình, lực lượng  
DBĐV được đăng kí, quản lí, huấn luyện theo chương trình quy định và sẵn sàng  
hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.  
2. Vị trí, vai trò công tác xây dựng lực lượng DBĐV.  
- Công tác xây dựng và huy động lực lượng DBĐV giữ vị trí rất quan trọng  
trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.  
- Là một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất góp phần xây dựng tiềm lực, thế  
trận QPTD, thế trận chiến tranh nhân dân, bảo đảm nguồn nhân lực bổ sung, mở  
rộng lực lượng quân đội khi chuyển đất nước sang trạng thái chiến tranh.  
- Lực lượng DBĐV phối hợp chặt chẽ với DQTV, công an... làm tăng thêm sức  
mạnh chiến đấu trên các địa bàn trong khu vực phòng thủ, bảo đảm sự vững chắc  
của thế trận quốc phòng ở địa phương, cơ sở.  
- Công tác xây dựng lực lượng DBĐV là biểu hiện quán triệt quan điểm về sự  
kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự  
12  
kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế với nhiệm vụ xây  
dựng và củng cố quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.  
- Lực lượng DBĐV được xây dựng để bổ sung cho lực lượng thường trực của  
quân đội.  
- Lực lượng DBĐV được xây dựng tốt sẽ làm nòng cốt cho cả xây dựng, phát  
triển kinh tế - xã hội và cả trong thực hiện chiến lược QP, AN bảo vệ Tổ quốc.  
II. Nội dung xây dựng lực lượng DBĐV.  
1. Nội dung xây dựng.  
1.1. Tạo nguồn, đăng ký, quản lý lực lượng DBĐV.  
1.1.1. Tạo nguồn.  
* Quân nhân dự bị gồm:  
- Sĩ quan dự bị:  
+ Sĩ quan xuất ngũ, phục viên, chuyển ngành.  
+ HSQ hoàn thành NVQS và qua đào tạo chương trình SQDB.  
+ Những người đã tốt nghiệp ĐH, CĐ và qua đào tạo chương trình SQDB.  
- Quân nhân chuyên nghiệp dự bị là những QNCN xuất ngũ, phục viên, chuyển  
ngành  
- Hạ sĩ quan, Binh sĩ dự bị là những Quân nhân đã hoàn thành NVQS.  
- Quân nhân dự bị hạng 2:  
+ Công dân Nam từ 26 tuổi trở lên mà chưa thực hiện NVQS.  
+ Công dân Nữ có chuyên môn mà quân đội cần (ngành Y tế, bưu điện…)  
* Phương tiện kĩ thuật (Điều 2, 4, Pháp lệnh DBĐV).  
- Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc  
gia, Nhà nước điều động, trưng mua, trưng dụng phương tiện kỹ thuật thuộc  
sở hữu cá nhân hoặc tổ chức.  
- Phương tiện vận tải: Các loại phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt,  
đường, thủy, đường không.  
- Phương tiện làm đường: các loại xe ben, xe gạt, xe lu ….  
- Phương tiện xếp dỡ: các loại xe cẩu, cần cẩu ….  
- Phương tiện thông tin liên lạc, y tế và một số loại phương tiện khác.  
1.1.2. Đăng ký quản lý nguồn.  
Việc đăng ký, quản lý lực lượng DBĐV phải có kế hoạch thường xuyên, chặt  
chẽ và chính xác, đăng ký quản lý cả con người và phương tiện kỹ thuật.  
- Đối với quân nhân dự bị, được tiến hành đăng ký, quản lý tại nơi cư trú, do  
Ban CHQS xã (phường), Ban CHQS huyện (quận, thị xã, thành phố trực thuộc  
tỉnh) thực hiện. Đăng kí quản lí phải chính xác theo từng chuyên ngành quân sự,  
độ tuổi, loại sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình, trình độ văn hoá, nhận thức về chính trị,  
trình độ hiểu biết về quân sự, chuyên môn, nghiệp vụ.  
- Đối với phương tiện kỹ thuật, phải đăng ký, quản lý chính xác thường xuyên  
cả số lượng, chất lượng, tình trạng kỹ thuật của từng phương tiện. Tuy nhiên có  
một số loại phương tiện kỹ thuật, cơ quan QS phải đăng ký trực tiếp (phương tiện  
đường sắt, đường không).  
1.2. Tổ chức, biên chế đơn vị DBĐV.  
- Đơn vị biên chế thiếu (TH): là đơn vị được tổ chức đủ các đầu mối đơn vị  
thuộc quyền theo quy định biên chế thời chiến, trong đó chỉ có một hoặc một số  
13  
đơn vị biên chế đủ quân để sẵn sang chiến đấu, các đơn vị còn lại biên chế khung  
thường trực hoặc dự nhiệm một số cán bộ chỉ huy, cơ quan chủ chốt. Được dự trữ  
đủ VKTB theo quy định biên chế thời chiến  
- Đơn vị biên chế khung thường trực (KTT): là đơn vị được tổ chức đủ các  
đầu mối đơn vị chính, nhưng chỉ biên chế một số ít cán bộ và nhân viên chuyên  
môn kỹ thuật, nghiệp vụ chủ chốt thuộc lực lượng thường trực cùng một số  
VKTB, PTKT (số VKTB, PTKT còn lại được dự trữ theo phân cấp).  
- Đơn vị không có khung thường trực (KKTT): là đơn vị có phiên hiệu  
trong tổ chức quân đội nhưng không biên chế khung mà chỉ dự nhiệm một số cán  
bộ chỉ huy, cơ quan và nhân viên CMKT chủ chốt. Số cán bộ, nhân viên này làm  
việc thường xuyên theo chức trách ở đơn vị, cơ quan minhg nhưng hang năm được  
bố trí thời gian để học tập, quản lý và xây dựng đơn vị DBĐV. Dự trữ VKTB do  
cấp trên đảm nhiệm.  
- Đơn vị xây dựng mới (XDM): là đơn vị chưa có kế hoạch xây dựng từ thời  
bình, được tổ chức theo yêu cầu phát triển của chiến tranh. Ngoài lực lượng  
DBĐV thuộc lực lượng dự trữ, còn được tiếp nhận bổ sung một phần lực lượng  
thường trực của các đơn vị quân đội khác để xây dựng  
- Đơn vị chuyên môn dự bị (CM): là đơn vị do các Bộ, ngành, UBND cấp  
tỉnh xây dựng theo chỉ tiêu kế hoạch được giao từ thời bình để giao cho lực lượng  
thường trực của Quân đội khi có lệnh động viên. Cán bộ, chiến sĩ, nhân viên  
chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ được ưu tiên tuyển chọn trong số QNDB và PTKT  
của các cơ sở thuộc Bộ, ngành hoặc UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ xây dựng đơn vị  
chuyên môn dự bị. Vũ khí do Bộ Quốc phòng dự trữ.  
* Nguyên tắc sắp xếp quân nhân dự bị vào các đơn vị DBĐV:  
- Sắp xếp người có trình độ chuyên nghiệp quân sự, chuyên môn kĩ thuật phù  
hợp với chức danh biên chế, nếu thiếu thì sắp xếp người có trình độ chuyên nghiệp  
quân sự, chuyên môn kĩ thuật tương ứng.  
- Sắp xếp quân nhân dự bị hạng một trước, nếu thiếu thì sắp xếp quân nhân dự  
bị hạng hai.  
- Sắp xếp những quân nhân dự bị cư trú gần nhau vào cùng đơn vị. Kết hợp giữa  
đúng chuyên môn quân sự với gần, gọn địa bàn động viên, trong đó lấy đúng  
chuyên nghiệp quân sự là chính  
* Đối với phương tiện kỹ thuật được sắp xếp vào đơn vị DBĐV.  
Phải có tính năng tác dụng và tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với yêu cầu sử dụng  
trong biên chế của từng đơn vị quân đội, trường hợp không có phương tiện kỹ  
thuật đáp ứng yêu cầu sử dụng thì được sắp xếp phương tiện kỹ thuật tương ứng.  
Chú ý: Theo quy định của Bộ QP thì QNDB và PTKT khi sắp xếp vào đơn vị  
DBĐV phải có tỉ lệ dự phòng thích hợp.  
1.3. Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự , diễn tập, kiểm tra.  
1.3.1. Giáo dục chính trị:  
- Mục đích: Giáo dục chính trị là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng lực lượng  
DBĐV.  
- Nội dung giáo dục cần tập trung vào đường lối, chủ trương, chính sách của  
Đảng, pháp luật của Nhà nước, quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân  
dân, xây dựng lực lượng DBĐV, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đối với cách mạng,  
14  
truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta.  
1.3.2. Huấn luyện quân sự.  
Theo phương châm “Chất lượng, thiết thực, hiệu quả, tập trung có trọng tâm,  
trọng điểm”.  
- Nội dung huấn luyện gồm kĩ thuật bộ binh, binh chủng; chiến thuật từng  
người đến cấp đại đội, công tác hậu cần, băng bó cứu thương và hoạt động chống  
"Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ.  
- Tổ chức phương pháp: Có thể huấn luyện tập trung tại các đơn vị DBĐV hoặc  
phân tán tại các địa phương, cơ sở. Cần vận dụng sáng tạo, linh hoạt những  
phương pháp huấn luyện thích hợp sát đối tượng, sát thực tế.  
1.3.3. Diễn tập.  
Nhằm nâng cao chất lượng toàn diện cho lực lượng DBĐV, đáp ứng yêu cầu  
sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu. Diễn tập thường được tiến hành cuối năm  
hoặc sau khoá huấn luyện. Sau diễn tập sẽ rút ra được những ưu điểm, khuyết  
điểm của các cấp, có kế hoạch huấn luyện bổ sung nâng cao trình độ cho từng đơn  
vị và từng QNDB.  
1.3.4. Kiểm tra.  
- Là một trong những biện pháp giúp lãnh đạo và chỉ huy các cấp nắm được  
thực trạng việc tổ chức xây dựng và chuẩn bị huy động các đơn vị DBĐV để có  
chủ trương, biện pháp phù hợp nhằm thúc đẩy việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ các  
cấp.  
- Theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, thủ trưởng hoặc cơ quan chức  
năng cấp trên thực hiện việc kiểm tra cấp dưới vào những thời gian nhất định hoặc  
vào bất kì thời gian nào. Lãnh đạo, chỉ huy từng cấp quyết định việc tổ chức kiểm  
tra công tác xây dựng LLDBĐV của cấp dưới. Bộ trưởng Bộ QP hoặc Tổng tham  
mưu trưởng kiểm tra công tác xây dựng lực lượng DBDV đối với các bộ, cơ quan  
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các địa phương, các đơn vị trong cả Nước.  
Chỉ huy trưởng cơ quan QS cấp tỉnh, huyện giúp chủ tịch UBND cấp mình kiểm  
tra việc xây dựng lực lượng DBĐV ở địa phương mình (trừ những đơn vị, cơ sở có  
nhiệm vụ xây dựng lực lượng DBĐV do cấp Bộ giao).  
1.4. Bảo đảm hậu cần, TBKT và tài chính cho việc xây dựng lực lượng  
DBĐV.  
- Vật chất, kinh phí là một yếu tố quan trọng để bảo đảm xây dựng lực lượng  
DBĐV gồm vũ khí, trang bị, hậu cần, kỹ thuật, tài chính.  
- Yêu cầu vật chất, kinh phí cho xây dựng, huấn luyện lực lượng DBĐV phải  
có số lượng đảm bảo đúng mức, đủ để triển khai khi xây dựng lực lượng DBDV.  
- Hàng năm Chính phủ giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa  
phương. Trên cơ sở chỉ tiêu được giao, các đơn vị lập kế hoạch cho công tác bảo  
đảm xây dựng lực lượng DBĐV.  
- Trong tình hình hiện nay cần quán triệt phương châm: Trung ương và địa  
phương, Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo xây dựng lực lượng DBĐV.  
III. Một số biện pháp xây dựng lực lượng DBĐV.  
- Thường xuyên giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về vị  
trí, nhiệm vụ, những quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng DBĐV.  
15  
- Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự và  
các cơ quan chức năng làm tham mưu và tổ chức thực hiện.  
- Thường xuyên củng cố, kiện toàn, bồi dưỡng cơ quan và đội ngũ cán bộ làm  
công tác xây dựng lực lượng DBĐV.  
- Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước  
đối với lực lượng DBĐV.  
Phần 3. ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG (CNQP)  
I. Khái niệm, nguyên tắc, yêu cầu động viên CNQP.  
1. Khái niệm: Động viên CNQP là huy động một phần hoặc toàn bộ năng lực sản  
xuất, sửa chữa trang bị cho Quân đội của doanh nghiệp công nghiệp ngoài lực  
lượng quốc phòng.  
- Mục đích: Nhằm huy động mọi nguồn lực của đất nước hoặc một số địa  
phương,... phục vụ cho quốc phòng, nhằm giành thế chủ động, bảo toàn, phát huy  
tiềm lực mọi mặt của quốc gia, duy trì, ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân,  
giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc  
Tổ quốc Việt Nam XHCN.  
- Nội dung.  
+ Động viên CNQP được chuẩn bị từ thời bình, là việc làm thường xuyên từ  
Trung ương đến địa phương.  
+ Động viên CNQP không áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư  
nước ngoài tại Việt Nam.  
+ Động viên CNQP được thực hiện khi có lệnh tổng động viên hoặc động viên  
cục bộ.  
2. Nguyên tắc động viên CNQP.  
- Động viên CNQP được tiến hành trên cơ sở năng lực sản xuất, sửa chữa đã có  
của các doanh nghiệp công nghiệp, Nhà nước chỉ đầu tư thêm trang thiết bị chuyên  
dùng để hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, sửa chữa trang bị cho Quân đội.  
- Việc lựa chọn, giao nhiệm vụ động viên CNQP cho các doanh nghiệp công  
nghiệp phải bảo đảm tính đồng bộ theo nhu cầu sản xuất, sửa chữa trang bị của  
Quân đội và phù hợp với năng lực sản xuất, sửa chữa trang bị của doanh nghiệp.  
- Nhà nước bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp công nghiệp,  
người lao động trong chuẩn bị và thực hành động viên CNQP.  
3. Yêu cầu động viên CNQP.  
- Chuẩn bị và thực hành động viên CNQP phải bảo đảm bí mật, an toàn, tiết  
kiệm, hiệu quả, đúng kế hoạch, nhanh chóng tăng cường sức mạnh về mọi mặt,  
sẵn sàng đối phó với các tình huống chiến tranh.  
- Chuẩn bị và thực hành động viên CNQP phải bảo đảm cho yêu cầu thực hiện  
nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của các địa phương trong thời chiến.  
II. Một số nội dung động viên CNQP.  
1. Chuẩn bị động viên CNQP.  
- Khảo sát, lựa chọn doanh nghiệp công nghiệp có khả năng sản xuất, sửa chữa  
trang bị. Sau đó xây dựng kế hoạch động viên CNQP.  
16  
- Giao chỉ tiêu động viên CNQP cho các đơn vị thuộc quyền.  
- Hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, sửa chữa trang bị.  
- Quản lí, duy trì dây chuyền sản xuất.  
- Bồi dưỡng chuyên môn cho người lao động và diễn tập động viên CNQP.  
- Dự trữ vật chất.  
2. Thực hành động viên CNQP.  
- Quyết định và thông báo quyết định động viên CNQP (do Chính phủ quy  
định).  
- Tổ chức di chuyển địa điểm các đơn vị công nghiệp phải di chuyển.  
- Tổ chức bảo đảm vật tư, tài chính.  
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ sản xuất, sửa chữa trang bị.  
- Giao, nhận sản phẩm động viên CNQP.  
III. Một số biện pháp chính thực hiện động viên CNQP.  
- Nhà nước, Chính phủ chỉ đạo chặt chẽ các Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương,  
tổng công ty, thực hiện nghiêm Pháp lệnh động viên CNQP. Các Bộ, cơ quan  
ngang bộ, địa phương, Tổng công ti phối hợp hiệp đồng chặt chẽ thực hiện nghiêm  
túc nhiệm vụ động viên CNQP.  
- Các Bộ, cơ quan ngang bộ, các địa phương, các Tổng công ty cần quán triệt  
sâu sắc cho cán bộ, công nhân viên về Pháp lệnh, Nghị định, các văn bản hướng  
dẫn về động viên CNQP của Nhà nước, Chính phủ.  
- Các doanh nghiệp công nghiệp được lựa chọn và giao chỉ tiêu động viên công  
nghiệp quốc phong cần chủ động lập kế hoạch động viên CNQP và sẵn sàng thực  
hiện nhiệm vụ theo kế hoạch, chỉ tiêu trên giao.  
KẾT LUẬN  
Xây dựng lực lượng DQTV, DBĐV và động viên công nghiệp là vấn đề lớn có  
tính chiến lược của quốc gia để đất nước chủ động đối phó với mọi tình huống. Là  
nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy,  
hơn lúc nào hết ngay từ thời bình, công tác xây dựng lực lượng DQTV, DBĐV và  
động viên CNQP phải được sự quan tâm một cách đầy đủ của toàn xã hội, trong  
đó có trách nhiệm của học sinh và sinh viên.  
C. CÂU HỎI ÔN TẬP  
Câu 1: Nêu vị trí vai trò, nhiệm vụ DQTV và những nội dung chính trong  
giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với DQTV.  
TÀI LIỆU  
Sáng mãi các chiến công của 11 cô gái Sông Hương  
Thời gian trôi qua, những gì thuộc về quá khứ có thể bị mờ dần hoặc lãng  
quên theo năm tháng, nhưng với dân tộc, quân đội Việt Nam và với những người  
trải qua những mùa chiến dịch, những trận chiến các liệt trên chiến trường chống  
Mỹ, thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là ký ức lịch sử  
không thể nào quên, nhất là đối với những người nữ du kích của Tiểu đội 11 cô gái  
sông Hương ngày ấy.  
17  
Thành phố Huế đã dựng bia tưởng niệm và ghi công 11 cô gái sông Hương  
tại phường Xuân Phú, nơi gắn với những chiến công của họ trong những ngày  
đánh Mỹ.  
Nơi đây đã trở thành địa điểm sinh hoạt văn hoá, thắp lửa truyền thống cho  
đoàn viên thanh niên và các thế hệ cách mạng, nhất là trong những ngày Tết đến  
Xuân về.  
Nói về chiến công của tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương ngày ấy, ông  
Hoàng Lanh, nguyên Bí thư thành ủy Huế lúc bấy giờ cho biết ban đầu, họ tập hợp  
nhau lại trong một tiểu đội xung phong làm nhiệm vụ tải thương, dẫn đường cho  
bộ đội tiến công vào giải phóng thành phố.  
Về sau, chính họ đã anh dũng chiến đấu đẩy lùi một tiểu đoàn thủy quân lục  
chiến Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại, có xe tăng, máy bay yểm trợ ngay giữa  
lòng thành phố Huế.  
Riêng với chị Hoàng Thị Nở, một trong số các cô gái Sông Hương thì nhớ  
như in tất cả các cô gái sinh ra và lớn lên tại làng nón Thủy Thanh, huyện Hương  
Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng đều lấy tên sông Hương làm tên chung.  
Cuối năm 1967, họ tình nguyện tham gia đội nữ vũ trang bí mật gồm 11  
người, với nhiệm vụ được giao là nắm tình hình hoạt động của bọn địch tại địa bàn  
các xã vùng ven như Thuỷ Thanh, Thuỷ An, đến Xuân Phú (thành phố Huế); tham  
gia chuyển thương binh ra ngoài, và bổ sung lực lượng chiến đấu khi cần thiết.  
Xuân Mậu Thân năm 1968, bộ đội bắt đầu đánh lớn ở thành phố Huế. Do  
thông thuộc địa bàn, 11 cô gái sông Hương được tổ chức thành một tiểu đội, ban  
ngày đi tổ chức xây dựng lực lượng nòng cốt, chiều tối đi gài đặt lựu đạn giết ác  
ôn và tổ chức đưa đón, dẫn đường cho các chiến sĩ vào chiến đấu giải phóng thành  
phố.  
Riêng trận đánh đêm 11 sáng 12/2/1968 cả tiểu đội 11 cô gái sông Hương,  
với các vũ khí được trang bị AK, K44, một số mìn và lựu đạn nhưng đã dàn trận  
khắp các địa điểm tại khách sạn Hương Giang, Đại học sư phạm, chợ Cống, Xuân  
Phú để cầm cự và đánh lui cả một tiểu đoàn lính Mỹ có nhiều xe bọc thép và máy  
bay chiến đấu yểm trợ, diệt 70 lính và 4 xe tăng, thu nhiều vũ khí của địch để trang  
bị lại phục vụ cho chiến đấu.  
Chị em háo hức đánh giặc quên ăn quên ngủ, lúc xông xáo với việc thả  
truyền đơn, đậy hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, lúc liên lạc và vận động binh lính  
ngụy trở về với nhân dân. Bất chấp hiểm nguy, trong công sự, chị em còn đùa  
nhau lính Mỹ to xác càng dễ bắn, chị em mình phải nhanh chóng, quyết liệt để  
chúng không thể trốn thoát.  
Xuân năm ấy se lạnh, Huế rét ngọt, mưa phùn lất phất. Chị em vừa chiến  
đấu, vừa ăn Tết ngay trên công sự khét lẹt mùi khói thuốc. Bánh Tết được các mẹ,  
các chị trong phố đem ra tiếp tế.  
Nhiều chị em đã anh dũng hy sinh ngay trong trận chiến đấu đó, trong đó có  
tiểu đội trưởng Phạm Thị Liên và tiểu đội phó Đỗ Thị Cúc khi tuổi đời họ còn rất  
trẻ.  
Chiến công của 11 cô gái sông Hương đã được Bác Hồ gửi thư khen:  
"Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường  
18  
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường  
Bác khen các cháu dân quân gái  
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương"  
Năm 2009, tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương còn vinh dự được Chủ  
tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những  
chiến công xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.  
Gặp lại chị Hoàng Thị Nở tại ngôi nhà số nhà 131/1 đường Bà Triệu, thành  
phố Huế bây giờ, chị cho biết sau giải phóng, trở về với đời thường, 5 trong số 11  
cô gái sông Hương ngày ấy còn sống đã có 4 lần gặp lại nhau trong các chương  
trình giao lưu các thế hệ phụ nữ tham gia kháng chiến.  
Những người đồng đội từng chung một chiến hào xưa thì nay mỗi người  
sinh sống một nơi. Chị Chế Thị Mừng và Nguyễn Thị Xê lấy chồng xa ở thành  
phố Hồ Chí Minh và Nam Định; còn lại các chị Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị  
Hợi, và chị Hoàng Thị Nở đều ở tại Thừa Thiên-Huế.  
Chị Nguyễn Thị Hoa sau giải phóng về tham gia làm công tác ở Ban quản lý  
chợ Đông Ba, chị Chế Thị Mừng làm y sĩ ở phòng khám khu vực 3, chị Hoàng Thị  
Nở làm Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Huế, nay tất cả đã ngoài 60 tuổi và đều  
nghỉ hưu.  
Mỗi người mỗi hoàn cảnh và còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng các chị đã  
vượt lên tất cả, xứng danh người phụ nữ "anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm  
đang".../.  
O DU KÍCH NHỎ  
O
Thằng  
Ra  
du  
Mỹ  
thế!  
kích  
lênh  
To  
nhỏ  
khênh  
gan  
giương  
bước  
hơn  
cao  
cúi  
béo  
súng.  
đầu.  
bụng.  
Anh hùng đâu cứ phải mày râu!  
Rền (tiếng Anh: Operation Rolling Thunder) với mục tiêu dùng ưu thế áp đảo về  
không quân để phá hủy cơ sở hạ tầng của miền Bắc Việt Nam nhằm cứu vãn tình  
thế chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Trong chiến dịch kéo dài 3 năm này,  
Không quân Mỹ và Không lực Việt Nam Cộng hòa đã sử dụng một lượng bom đạn  
khổng lồ dội xuống lãnh thổ Việt Nam tuy nhiên họ đã vấp phải sự kháng cự quyết  
liệt từ phíaquân đội và nhân dân miền Bắc Việt Nam.  
ngày 20 tháng 9 năm 1965 vào khoảng 9 giờ sáng, nữ dân quân Nguyễn Thị  
Kim Lai, lúc này mới học hết cấp II, nhận được tin một nhóm máy bay F4H tấn  
công bắn phá cầu Đá Lậu (nay là cầu Lộc Yên) thuộc thị trấnHương Khê tỉnh Hà  
Tĩnh. Một chiếc trong tốp máy bay này đã bị dân quân tự vệ Hà Tĩnh bắn rơi, họ  
nhận thấy rằng viên phi công của chiếc F4 đã kịp nhảy dù thoát vì vậy một chiến  
dịch vây bắt viên phi công này lập tức được triển khai. Cuối cùng thì trong đêm  
ngày 20, chị Lai đã phát hiện viên phi công Mỹ có tên William Andrew Robinson  
đang vướng trong bộ dây dù, lập tức chị bắn súng gọi đồng đội đến hỗ trợ và cũng  
19  
chính chị được cử áp giải viên phi công Mỹ. Theo chị Lai, lúc đó chị chỉ cao 1 mét  
47, nặng 37 kg trong khi Robinson cao tới 2 mét 2 và nặng 125 kg  
ĐẠI ĐỘI NỮ PHÁO BINH NGƯ THỦY (Lệ Thủy - Quảng Bình)  
1. Đơn vị nữ dân quân địa phương ra đời  
Đại đội dân quân nữ pháo binh Ngư Thủy được thành lập ngày 20 tháng 11  
năm 1967.  
Lúc mới thành lập, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy gồm có 37 đồng chí với  
đa số chị em tuổi đời còn rất trẻ, từ khoảng 16 đến 22 tuổi. Toàn Đại đội được biên  
chế thành ba trung đội, một trung đội chỉ huy và hai trung đội trận địa. Về vũ khí  
trang bị có 4 khẩu pháo 85 ly, 4 xe kéo pháo, máy móc đo đạc, thông tin, vô tuyến  
hữu tuyến, bàn đạc , súng bộ binh AK và CKC. Khi mới thành lập, Đại đội do  
đồng chí Ngô Thị The làm Đại đội trưởng, đồng chí Trần Thị Thản làm chính trị  
viên; trong thời kỳ 1970 - 1976, do đồng chí Trần Thị Hoanh làm Đại đội trưởng  
và đồng chí Ngô Thị Thới làm chính trị viên. Về sau, do điều kiện và tình hình  
mới của cuộc chiến đấu, quân số của Đại đội được bổ sung thêm, nâng tổng quân  
số lên 91 chị em. Tuy vậy, quân số này cũng không cố định bởi một số chị em do  
điều kiện sức khỏe hoặc gia đình đã xin nghỉ không thể tiếp tục chiến đấu.  
2. Những chiến công vang dội  
Cuối năm 1964 đầu năm 1965, cùng với việc đẩy mạnh chiến tranh xâm  
lược miền Nam, Mỹ mở rộng chiến tranh không quân và hải quân phá hoại miền  
Bắc. Ngày 5 - 8 - 1964, sau khi dựng lên " Sự kiện vịnh Bắc Bộ ", Mỹ cho máy  
bay ném bom một số nơi ở miền Bắc như cửa sông Gianh (Quảng Bình), Vinh -  
Bến Thủy (Nghệ An), Lạch Trường (Thanh Hóa), thị xã Hòn Gai (Quảng Ninh) …  
Ngày 7 - 2 - 1965, Mỹ cho máy bay ném bom bắn phá thị xã Đồng Hới (Quảng  
Bình), đảo Cồn Cỏ (Vĩnh Linh - Quảng Trị)… chính thức gây ra cuộc chiến tranh  
bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc (lần thứ nhất)  
Cùng với nhân dân toàn miền Bắc, quân dân huyện Lệ Thủy và xã Ngư  
Thủy Bắc, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy đã tham gia chống chiến tranh phá  
hoại của Mỹ ngay từ những ngày đầu và lập nên những chiến công vang dội.  
Trong vòng chưa đầy năm tháng của năm 1968, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy  
đã đánh 4 trận và được công nhận bắn cháy 3 tàu chiến Mỹ.  
- Trận đánh thứ nhất (ngày 7 - 2 - 1968)  
Ngày 7- 2 - 1968, Mỹ cùng lúc điên cuồng huy động máy bay B.52 và Hạm  
đội 7 trên biển bắn phá xuống Lệ Thủy mà trọng điểm là xã Ngư Thủy bởi ngoài  
vị trí quan trọng là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, QDHK còn biết nơi  
đây là nơi tập kết, đóng quân của nhiều đơn vị bộ đội chủ lực sẵn sàng chi viện  
cho miền Nam. Với quyết tâm đánh thắng ngay từ trận đầu cùng lòng căm thù Mỹ  
đến cao độ, dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Ngô Thị The và Chính trị viên  
Trần Thị Thản, các chị đã bám sát trận địa, mắt không rời mục tiêu mặc cho bom  
rơi đạn nổ trên đầu. Khi mục tiêu vào tầm ngắm, với 3 loạt đạn Ca-nông đầu tiên,  
chỉ trong vòng 7 phút với 48 viên đạn được bắn ra đã có 8 viên bắn trúng tàu  
HQGK, làm cho chiếc tàu mang số hiệu 013 đã bốc cháy dữ dội giữa tiếng reo hò  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 30 trang baolam 21240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên và động viên công nghiệp quốc phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docbai_giang_xay_dung_luc_luong_dan_quan_tu_ve_du_bi_dong_vien.doc