Biện pháp chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ trong tiếng Nga và tiếng Việt

BIỆN PHÁP CHUYỂN NGHĨA ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ  
TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT  
Nguyễn Thùy Linh & Lại Đào Nguyên – Lớp 1N-08  
A. MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Tiếng Nga là tiếng nói của người Nga, là tinh hoa của dân tộc Nga. Tuy  
tiếng Nga không phổ biến rộng rãi như tiếng Anh, nhưng đối với những người  
Việt Nam từng học tiếng Nga thì đó là một ngoại ngữ thật phong phú và đáng tự  
hào. Tiếng Nga khó, nhưng rất hàn lâm. Theo em, ngữ pháp tiếng Nga rất khó,  
nhưng rất logic. Khi lựa chọn đề tài về biện pháp chuyển nghĩa trong tiếng Nga,  
chúng em muốn trau dồi thêm vốn từ vựng ngữ nghĩa, cách sử dụng các biện  
pháp tu từ trong tiếng Nga, đồng thời so sánh với các biện pháp tu từ trong tiếng  
Việt.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Tiếng Nga là ngôn ngữ hay và khó, là ngôn ngữ hàn lâm, vì thế để nắm rõ  
quy luật và cách sử dụng tiếng Nga, ngoài việc học và nhớ, cần phải tìm tòi và  
thực hành nhiều. Trong khuôn khổ thời gian cho phép, chúng em xin giới thiệu  
đề tài “Biện pháp chuyển nghĩa: ẩn dụ và hoán dụ trong tiếng Nga”, qua đó  
rút ra cách vận dụng, điểm khác nhau và giống nhau giữa các biện pháp tu từ của  
tiếng Nga và tiếng Việt xét về mặt ý nghĩa từ vựng.  
3. Các vấn đề chính cần giải quyết  
- Định nghĩa biện pháp chuyển nghĩa: ẩn dụ và hoán dụ.  
- Trình bày cụ thể các loại ẩn dụ và hoán dụ.  
- So sánh biện pháp ẩn dụ và hoán dụ giữa tiếng Nga và tiếng Việt.  
B. NỘI DUNG  
I. Khái niệm chung  
3
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
- Biện pháp chuyển nghĩa từ vựng, sử dụng nghĩa bóng trong tiếng Nga  
gọi là переносное значение, đây là biện pháp chuyển tên gọi của sự vật, hiện  
tượng này thành tên gọi của sự vật hiện tượng khác dựa trên những đặc điểm  
chung giống nhau của chúng về chức năng, hình thức, màu sắc v.v.  
- Trong tiếng Nga có nhiều biện pháp chuyển nghĩa, nhưng trong bài  
chung này chúng em chỉ đề cập tới: метафора (ẩn dụ), метонимия (hoán dụ)  
và синедокха (đề dụ).  
1. Метафора (ẩn dụ)  
Định nghĩa: Ẩn dụ là phương pháp chuyển tên gọi từ sự vật này thành sự  
vật khác dựa vào đặc điểm giống nhau của chúng hay là những đặc điểm giống  
nhau của chúng về hình thức, màu sắc, vị trí…  
Trong tiếng Nga có năm loại ẩn dụ:  
+ Chuyển tên gọi từ sự vật này sang sự vật khác dựa vào điểm giống  
nhau về hình thức (сходства по форме). Напр. В нашем саду растут  
колокольчики. (= цветы)  
+ Chuyển tên gọi từ sự vật này sang sự vật khác dựa vào điểm giống  
nhau về màu sắc (сходства по цвету). Напр. Mне нравится картина  
“Золотая осень”. (= жёлтые листья осенью).  
+ Chuyển tên gọi từ sự vật này sang sự vật khác dựa vào điểm giống  
nhau vị trí của sự vật (сходства по положению предметов). Напр. При  
плавании на лодке, я люблю сидеть у носа (= нос лодки)  
+ Chuyển tên gọi từ sự vật này sang sự vật khác dựa vào điểm giống  
nhau về những đặc điểm chung, kích thước hay chất lượng... (сходства по  
общим признакам, по размеру, количеству). Напр. Самолёты летают над  
жёлтым морем хлебов (= большое поле); Злой (человек) – Злой (ветер)  
4
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
+ Chuyển tên gọi từ sự vật này sang sự vật khác dựa vào điểm giống  
nhau về chức năng (сходства по функцям). Напр. Идёт борьба за мировые  
рынки (= экономические рынки); Нога (человека) – ножка (стола, стула).  
2. Метонимия (hoán dụ)  
- Định nghĩa: Hoán dụ là phương pháp chuyển nghĩa từ sự vật này thay  
cho sự vật khác dựa trên quan hệ gần gũi giữa hai sự vật. Напр. Класс замер.  
(все ученики - cả lớp im lặng).  
- Trong tiếng Nga có bốn loại hoán dụ:  
+ Chuyển tên gọi từ sự vật sang cho người sử dụng nó hay là chuyển  
tên gọi từ hành động sang địa điểm nơi diễn ra hành động đó. Напр.  
Сарафан (девушка) за Картаном (парень) не бегает. (сарафан, картан là 2  
trang phục truyền thống cho con gái và con trai ở Nga); Переход улицы  
(действие) – возле перехода (место).  
+ Chuyển tên gọi từ vật chứa đựng thay cho vật được chứa đựng. Напр.  
Мне нравится вкусное блюдо. (еда); Она уже приготовила диетический  
стол. (еда)  
+ Chuyển tên gọi từ chất liệu thay cho vật được làm ra từ nó. Напр.  
Наша команда получила бронзу. (медаль).  
+ Chuyển tên họ của tác giả thay cho tên các tác phẩm của họ. Напр. Я  
люблю читать Чехова. (его произведение).  
3. Cинедокха (đề dụ)  
- Định nghĩa: Đề dụ là biện pháp chuyển nghĩa từ sự vật này sang sự vật  
khác dựa trên đặc điểm về quan hệ số lượng giữa các sự vật.  
- Trong tiếng Nga có bốn loại đề dụ:  
5
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
+ Chuyển tên gọi từ cái chỉnh thể thay cho bộ phận, hay chuyển tên gọi  
từ bộ phận thay cho toàn thể. Напр: Все флаги в гости будут к нам.  
(корабли государств) [1]; Он подарил мне букет сирени. (цветы)  
+ Chuyển tên gọi bộ phận cơ thể người sử dụng với ý nghĩa chỉ người.  
Напр Получите билеты на два лица. (человека) [2]  
+ Chuyển tên gọi bộ phận cơ thể con vật sử dụng thay chính cho con  
vật đó. Напр. В свиноферме на 800 голов. (свиньи) [3]  
+ Sử dụng số ít thay cho số nhiều. Напр. Француз любит пищу и вино.  
(французкие граждане) [4]  
II. Biện pháp chuyển nghĩa trong tiếng Việt  
Nhìn chung biện pháp chuyển nghĩa trong tiếng Nga và tiếng Việt cũng  
gần tương tự nhau, đều chuyển tên gọi, lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này  
thay cho tên gọi của sự vật, hiện tượng khác trên cơ sở mối quan hệ gián tiếp  
hay trực tiếp của hai sự vật, hiện tượng, có nghĩa là dựa vào những đặc điểm  
giống nhau hoặc tương tự nhau của hai sự vật hiện tượng mà chúng ta đem ra  
để phân tích, so sánh.  
Trong tiếng Việt ẩn dụ và hoán dụ thể hiện như sau:  
1. Ẩn dụ  
- Định nghĩa: Ẩn dụ là biện pháp dùng tên gọi của đối tượng này làm tên  
gọi của đối tượng khác dựa trên sự liên tưởng về mối tương đồng giữa hai đối  
tượng về mặt nào đó (như màu sắc, tính chất, trạng thái, chức năng v.v.) có giá  
rị về biểu cảm.  
- Các loại ẩn dụ thường gặp:  
+ Ẩn dụ hình thức: dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật,  
hiện tượng.  
6
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
VD1: mũi thuyền, mũi dao... Vì mũi là một bộ phận trên cơ thể dạng nhọn  
nên có thể gọi các bộ phận nhọn của các sự vật là mũi.  
VD2: “ Đất nước ta như một con thuyền  
Mũi thuyền ta đó - Mũi Cà Mau” (Xuân Diệu)  
+ Ẩn dụ cách thức: dựa vào sự giống nhau về cách thức hoạt động giữa sự  
vật, hiện tượng.  
VD:  
“ Về nhà thăm Bác làng sen  
Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”  
“thắp” chỉ hành động thắp sáng cho các vật như nến, đèn dầu… không  
dùng cho các sự vật không có khả năng thắp sáng như “hàng râm bụt” trong 2  
câu trên. Từ “thắp” ở đây chỉ “sự nở hoa” của hàng râm bụt.  
+ Ẩn dụ phẩm chất: dựa vào sự giống nhau về tính chất, đặc điểm, trạng  
thái giữa sự vật, hiện tượng.  
VD1 :  
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng  
Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ”  
“mặt trời” câu thứ 1 là mặt trời thực, câu thơ thứ 2 tác giả mượn hình  
ảnh “mặt trời” để nói vẻ đẹp, phẩm chất cao đẹp của Bác Hồ.  
VD2:  
“Anh đội viên nhìn Bác  
Càng nhìn lại càng thương  
Người Cha mái tóc bạc  
Đốt lửa cho anh năm” (Minh Huệ)  
Dựa vào ngữ cảnh bài thơ của khổ thơ, cụm từ “Người Cha” tác giả chỉ  
Bác Hồ. Vì Bác và Người Cha có những phẩm chất giống nhau như: sự yêu  
thương, chăm sóc chu đáo cho các con…  
7
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
VD3:  
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng  
Eo sèo mặt nước buổi đò đông” (Tú Xương)  
“thân cò”: chỉ người phụ nữ, tần tảo sớm hôm  
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác:  
VD1: Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa  
dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. (Nguyễn Tuân)  
Trong cuộc sống từ “giòn tan” để chỉ đặc điểm của những vật cứng khi  
bị gãy, vỡ như gỗ, kính…, không dùng để chỉ hiện tượng thiên nhiên như  
“nắng”. Trong câu trên tác giả dùng “nắng giòn tan” để chuyển đổi cảm giác  
của mình từ vị giác, thính giác của mình sang thị giác.  
VD2:  
“Ngoài thềm rơi chiếc lá đa  
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”  
2. Hoán dụ  
Định nghĩa: Hoán dụ là biện pháp dùng tên gọi của đối tượng này thay thế  
cho tên gọi của đối tượng khác trên cơ sở liên tưởng mối liên hệ lôgic khách  
quan giữa hai đối tượng.  
- Các loại hoán dụ thường gặp:  
+ Lấy bộ phận thay cho toàn thể  
VD1: Nhà tôi có năm miệng ăn. (= có năm người)  
VD2:  
“Bàn tay làm ra tất cả  
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” [5]  
“Bàn tay” chỉ người lao động  
VD3: “Mắt thương nhớ ai  
Mắt ngủ không yên” (Ca dao)  
“Mắt” chỉ cô gái  
8
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
+ Lấy vật chứa đựng thay cho vật bị chứa đựng  
VD1: Hôm nay, cả lớp rất chăm chỉ. (= tất cả học sinh)  
VD2:  
“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà  
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu)  
“miền Nam”: chỉ những người dân miền Nam [6]  
VD3: “Vì sao? Trái đất nặng ân tình  
Nhắc mãi tên người: Hồ Chí Minh” (Tố Hữu)  
“Trái đất”: chỉ nhân loại  
+ Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi tên sự vật.  
VD1:  
“Áo Chàm đưa buổi phân ly  
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”  
“Áo Chàm”: chỉ con người Việt Bắc  
VD2: “Áo nâu liền với áo xanh  
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên” (Tố Hữu)  
Áo nâu: chỉ người nông dân. Áo xanh: chỉ người công nhân  
+ Lấy nguyên liệu để chỉ thành phần  
VD1: Cho hai gà, một bò. ( = hai phở gà, một phở bò)  
VD2: Vàng bạc đeo đầy người.  
“vàng bạc” ở đây chỉ các vật như nhẫn, dây chuyền, vòng tay  
+ Lấy bộ phận con người thay cho bộ phận sự vật  
VD1: Vụng vá vai, tài vá nách. [7]  
Vai: vai áo; nách: nách áo  
+ Lấy cái cụ thể thay cho cái trừu tượng  
9
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
VD1:  
“Một cây làm chẳng nên non  
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” [8]  
“một”: số lượng ít, chỉ cái đơn lẻ; “ba”: số lượng nhiều, chỉ sự đoàn kết  
VD2: “Vì lợi ích mười năm trồng cây  
Vì lợi ích trăm năm trồng người”  
Mười năm: chỉ thời gian trước mắt; Trăm năm: chỉ thời gian lâu dài  
III. SO SÁNH BIỆN PHÁP CHUYỂN NGHĨA TRONG TIẾNG NGA  
VÀ TIẾNG VIỆT  
Tiếng Nga là loại hình ngôn ngữ biến hình, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập,  
nhưng khi so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ này thì ngoài những điểm khác nhau  
còn có những điểm giống nhau. Sau đây chúng em xin so sánh các biện pháp  
chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ trong tiếng Nga và tiếng Việt.  
Nhìn chung các biện pháp chuyển nghĩa trong tiếng Nga và tiếng Việt gần  
như giống nhau. Ẩn dụ là biện pháp dùng tên gọi của đối tượng này làm tên gọi  
của đối tượng khác dựa trên sự liên tưởng về mối tương đồng giữa hai đối tượng;  
hoán dụ là biện pháp dùng tên gọi của đối tượng này thay thế cho tên gọi của  
đối tượng khác trên cơ sở liên tưởng mối liên hệ lôgic khách quan giữa hai đối  
tượng. Các loại ẩn dụ và hoán dụ trong hai ngôn ngữ cũng gần như giống nhau:  
ẩn dụ dựa vào màu sắc, hình thức, chức năng, vị trí…; hoán dụ lấy bộ phận thay  
cho toàn thể, vật chứa đựng thay cho vật bị chứa đựng, cái cụ thể thay cho cái  
trừu tương…  
Ngoài những điểm giống nhau cơ bản của biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán  
dụ, biện pháp tu từ trong tiếng Nga và tiếng Việt có điểm khác nhau cơ bản về  
biện pháp tu từ đề dụ hay trong tiếng Nga được gọi là cинедокхa. Nói chính xác  
hơn, đề dụ trong tiếng Nga chính là một biến thể của hoán dụ, đề dụ chính là  
10  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
hoán dụ về số lượng. Trong hai ngôn ngữ này việc sử dụng biện pháp đề dụ  
(hoán dụ số lượng) có một số đặc điểm khác nhau sau đây:  
Синедокхa (đề dụ trong tiếng Nga)  
Hoán dụ (trong tiếng Việt)  
+ Lấy từ cái toàn bộ thay cho bộ phận + Lấy bộ phận thay cho toàn thể VD  
hay chuyển tên gọi từ bộ phận thay cho [5]  
toàn thể. VD [1] Mở rộng nghĩa hơn  
+ Lấy bộ phận con người thay cho bộ  
phận sự việc VD [7]  
+ Chuyển tên gọi bộ phận cơ thể với ý  
nghĩa chỉ người. VD [2]  
+ Chuyển tên gọi bộ phận cơ thể vật sử  
dụng thay cho con vật. VD[3]  
Ngoài ra, trong tiếng Nga việc sử dụng hoán dụ như một phương tiện mở  
rộng nghĩa được dùng nhiều hơn trong tiếng Việt. Nhưng hiện tượng đa nghĩa  
trong tiếng Việt lại nhiều hơn trong tiếng Nga. Một điểm nữa là trong quá trình  
sử dụng hình ảnh hoán dụ thì tiếng Việt có sử dụng động từ để làm bổ nghĩa sau  
cho danh từ trung tâm như: chân sút, tay đàn, tay chèo… còn trong tiếng Nga thì  
không.  
C. KẾT LUẬN  
Tiếng Việt và tiếng Nga là những ngôn ngữ phong phú và đa dạng cả về ý  
nghĩa từ vựng lẫn ý nghĩa ngữ pháp. Đối với người nước ngoài học hai ngôn ngữ  
này, muốn sử dụng thông thạo chúng, không chỉ cần nắm chắc ý nghĩa ngữ pháp  
mà cần hiểu rõ bản chất và cách sử dụng ý ngĩa từ vựng các từ loại thuộc hai  
ngôn ngữ.  
Tóm lại, mỗi sự vật, hiện tượng đều có quan hệ với các sự vật, hiện tượng  
khác xung quanh. Chúng em mong rằng với bài viết này sẽ giúp cho người đọc  
hiểu hơn về các biện pháp tu từ trong tiếng Việt và tiếng Nga.  
11  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
2. Nguyễn Thị Tuyết Minh (2007), лексика русского языка, ĐH Hà Nội.  
3.http://vn.answers.yahoo.com/question/index;_ylt=AkMlmWu3X86CmNpuWNtvvosYVgx.;  
_ylv=3?qid=20080727030230AA8ZA85  
12  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
pdf 10 trang baolam 27620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ trong tiếng Nga và tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_phap_chuyen_nghia_an_du_va_hoan_du_trong_tieng_nga_va_t.pdf