Nguyễn Công Trứ trong Chương trình Ngữ văn phổ thông

Nguyễn Thị Quốc Minh  
Nguyễn Công Trứ trong Chương trình Ngữ văn phổ thông  
Nguyễn Thị Quốc Minh  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  
Số 10 -12 Đinh Tiên Hoàng, phường Đa Kao, quận 1,  
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
TÓM TẮT: Nguyễn Công Trứ có một vai trò và vị trí quan trọng trong văn chương  
đầu Triều Nguyễn nên hầu hết các bộ văn học sử Việt Nam đều có chương viết  
riêng về thơ văn của ông. Tác gia Nguyễn Công Trứ được đưa vào giảng dạy  
trong chương trình từ Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông, rồi đến khoa  
Ngữ văn bậc Đại học. Riêng ở chương trình phổ thông, Nguyễn Công Trứ được  
học như một trong những tác gia tiêu biểu nhất của văn học trung đại. Hiện  
nay, chương trình phổ thông đang dạy bài Bài ca ngất ngưởng, trong sách Ngữ  
văn 11 tập một, ở cả hai bộ sách cơ bản và nâng cao. Sách biên soạn đã lâu  
nhưng văn bản, chú giải, soạn giảng cho Bài ca ngất ngưỡng vẫn còn có một  
số vấn đề sai sót cần phải bổ sung, làm rõ. Bài viết trình bày về các vấn đề đó  
và đề xuất một số ý kiến với mong muốn biên soạn về thơ văn Nguyễn Công  
Trứ tốt hơn trong chương trình Ngữ văn sắp tới.  
Email: ntquocminh[email protected]  
TỪ KHÓA: Nguyễn Công Trứ; Bài ca ngất ngưởng; chương trình Ngữ văn; tác phẩm văn học.  
Nhận bài 19/11/2018 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 12/12/2018 Duyệt đăng 25/01/2019.  
đề cần phải giải quyết. Cho đến nay, văn bản này có bốn dị  
bản chính, gồm:  
1. Đặt vấn đề  
Nguyễn Công Trứ là một tác gia lớn trong lịch sử văn học  
Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX. Ông vừa là một nhà nho hành  
động, đồng thời là tác gia tiêu biểu cho loại hình nhà nho tài  
tử thời trung đại. Với Ca trù - Hát nói, ông là người đầu tiên  
đưa một thể loại thuộc nghệ thuật diễn xướng nơi ca lâu tửu  
quán vào văn học thành văn rồi nâng lên thành thể thơ riêng  
của Việt Nam mà các nước trong khu vực văn hóa chữ Hán  
không có. Hát nói của Nguyễn Công Trứ không chỉ nói đến  
cái tình tài tử giai nhân, mà còn đề cập đến những vấn đề  
trang nghiêm hơn như chí làm trai, chí anh hùng, nợ công  
danh... đã trở thành khuôn mẫu, thành phương châm để con  
người sống và hành động.  
Bản Nôm trong Gia phả tập biên, kí hiệu VHc 02867  
(Thư viện Hán Nôm) Đoàn Lê Giang đã giới thiệu trong bài  
Vấn đề văn bản “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công  
Trứ (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2 năm 2006), gọi tắt là  
bản Gia phả tập biên;  
Bản Lê Thước công bố trong Sự nghiệp văn thi văn của  
Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ. Lê Văn Tân, xuất  
bản năm 1928, gọi tắt là bản Lê Thước;  
Bản của Thái Kim Đỉnh trong Năm thế kỉ văn Nôm người  
Nghệ, Nhà Xuất bản Nghệ An, Vinh, năm 1994, gọi tắt là  
bản Thái Kim Đỉnh;  
Bản Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề công bố trong Việt  
Nam ca trù biên khảo xuất bản ở Sài Gòn năm 1962 (NXB.  
TP.Hồ Chí Minh tái bản năm 1994), gọi tắt là bản Đỗ Bằng  
Đoàn.  
Văn bản Bài ca ngất ngưởng trong SGK Ngữ văn hiện  
hành (Ngữ văn 11, tập 1, cơ bản và nâng cao) sử dụng bản  
Lê Thước, như sau:  
Nguyễn Công Trứ có một vai trò và vị trí quan trọng trong  
văn chương đầu triều Nguyễn như thế nên hầu hết các bộ  
văn học sử Việt Nam đều có chương viết riêng về thơ văn  
của ông. Tác gia Nguyễn Công Trứ được đưa vào giảng dạy  
trong chương trình từ Trung học cơ sở đến Trung học phổ  
thông và khoa Ngữ văn bậc Đại học. Ở chương trình phổ  
thông, Nguyễn Công Trứ được học như một trong những  
tác gia tiêu biểu nhất của văn học trung đại. Tác phẩm của  
ông trước kia có 2 bài được đưa vào sách Ngữ văn lớp 9  
và lớp 11 là Chí khí anh hùng và Bài ca ngất ngưởng. Sau  
khi “giảm tải”, hiện nay chỉ còn Bài ca ngất ngưởng, trong  
sách Ngữ văn 11 tập một, ở cả hai bộ sách cơ bản và nâng  
cao. Sách biên soạn đã lâu nhưng văn bản, chú giải, soạn  
giảng cho Bài ca ngất ngưỡng vẫn còn có một số vấn đề cần  
phải bổ sung, làm rõ. Bài viết này trình bày về các vấn đề  
đó và đề xuất một số ý kiến với mong muốn biên soạn về  
thơ văn Nguyễn Công Trứ tốt hơn trong chương trình Ngữ  
văn sắp tới.  
Vũ trụ nội mạc phi phận sự  
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng  
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông  
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng  
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,  
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.  
Đô môn giải tổ chi niên,  
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.  
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,  
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.  
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,  
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.  
Được mất dương dương người thái thượng,  
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.  
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Về văn bản Bài ca ngất ngưởng  
Văn bản Bài ca ngất ngưởng khá phức tạp, có nhiều vấn  
Số 13 tháng 01/2019  
71  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.  
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú  
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.  
bạn bè tặng ông khi ông về hưu: “Đó là bài thơ của Ngô  
Bỉnh Đức, Án sát sứ Hải Dương.  
Bài thơ nói rõ việc Nguyễn Công Trứ cưỡi bò ra khỏi  
Kinh đô là chuyện có thật và sự kiện đó đã gây một cú “sốc”  
đối với dân Kinh kì: họ đổ xô ra xem quan Phủ doãn cưỡi  
bò về quê” [3]. Thứ hai, việc cưỡi bò cũng diễn ra ngay tại  
kinh đô Huế trong ngày ông treo ấn từ quan, ông cưỡi bò để  
đi về quê chứ không phải khi về quê rồi mới cưỡi bò.  
Nguyễn Thanh Tùng cũng đồng quan điểm trên “Việc này  
cũng diễn ra ngay tại kinh đô Huế trong ngày ông treo ấn từ  
quan, theo lệ trí sĩ để về quê. Hai dòng: “Đô môn giải tổ chi  
niên/ Đạc ngựa, bò vàng đeo ngất ngưởng” chính là để diễn  
tả ý đó. Dòng trên chính là trạng ngữ chỉ thời gian cho dòng  
dưới với tư cách là nòng cốt” [2].  
Trong bài Bài ca ngất ngưỡng - Lời thơ tuyên ngôn tác giả  
Trần Thị Băng Thanh có viết “Ngày 03 tháng 8 năm Thiệu  
Trị thứ 7 (1847), khi xin về hưu ông đã làm đơn nộp trả lại  
hết các bằng sắc cho triều đình và ngày “đô môn giải tổ” chỉ  
còn đọng lại duy nhất trong ông một sự kiện ngất ngưởng:  
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng...” [2]. Về cơ bản, ba  
tác giả đều thống nhất với nhau ở điểm này. Vậy nên chăng  
tác giả SGK cần có sự chú thích lại cho rõ ràng và chính xác  
hơn, tránh gây hiểu lầm cho người học, người đọc.  
- Câu “Được mất dương dương người thái thượng” SGK  
chú thích: “Người thái thượng: ý nói những người thời  
thượng cổ, không quan tâm chuyện được mất” [1]. Về vấn  
đề này, Đoàn Lê Giang có ý kiến “Chúng tôi cho rằng người  
tái thượng - người trên ải, lấy từ tích Tái ông thất mã phù  
hợp hơn là thái thượng...” [3]. Nguyễn Thanh Tùng cũng  
có ý kiến tương tự và tác giả giải thích cụm từ “người tái  
thượng” là dịch từ cụm “tái thượng chi nhân” trong sách  
Hoài Nam Tử.  
- Bản trong SGK viết: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào  
phường Hàn, Phú”. Câu này trong Gia phả tập biên và  
bản của Đỗ Bằng Đoàn viết: “Chẳng Hàn, Nhạc cũng vào  
phường Mai Phúc”. Theo Đoàn Lê Giang thì văn bản Gia  
phả tập biên và Đỗ Bằng Đoàn hợp lí hơn vì “ý của nó là:  
Chẳng làm được danh thần, danh tướng như Hàn Kì, Nhạc  
Phi thì cũng làm được danh nho và ẩn sĩ như Mai Phúc, như  
vậy khá thông suốt” [3].  
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!  
2.2. Về phần giới thiệu tác giả Nguyễn Công Trứ trong sách  
giáo khoa  
Trong sách giáo khoa (SGK) giới thiệu Nguyễn Công Trứ  
còn khá sơ lược, chưa khái quát hết những nét tiêu biểu về  
sự nghiệp và tính cách, tư tưởng của ông như: coi trọng  
công danh (công danh ở đây là công trạng và danh tiếng,  
danh dự, chứ không phải danh lợi). Những mâu thuẫn trong  
tính cách, suy nghĩ do điều kiện xã hội chi phối: ông rất  
coi trọng việc “lập thân dương danh” nhưng có lúc ông lại  
đề cao sự hưởng nhàn, hưởng lạc; ông thiết tha yêu nước,  
thương dân, ông đề xuất nhiều chính sách vì lợi ích của dân  
nhưng chính ông cũng là người cầm quân đi dẹp “loạn”  
nông dân... Theo chúng tôi, SGK nên có đôi dòng giới thiệu  
thêm như vậy để người học bước đầu hình dung ra con  
người, sự nghiệp, tính cách, tư tưởng của Nguyễn Công Trứ  
được rõ ràng hơn, giúp người học dễ dàng hiểu đúng, hiểu  
rõ tác phẩm hơn.  
2.3. Về phần chú thích và dịch nghĩa  
- Câu “Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông”,  
SGK chú thích từ “Tổng đốc Đông” như sau: “Năm 1835,  
ông giữ chức Tổng đốc Hải An (Hải Dương và Quảng Yên).  
Đây là hai tỉnh phía đông Hà Nội” [1]. Chú thích cho cụm  
từ này, chúng tôi thấy Nguyễn Thanh Tùng viết rõ ràng hơn.  
Nguyễn Thanh Tùng cũng có đề xuất: “Ở đây cần chú thích  
thêm về Tổng đốc Đông: chỉ việc Nguyễn Công Trứ giữ  
chức Tổng đốc Hải Yên: Tổng đốc kiêm coi hai tỉnh Hải  
Dương và Quảng Yên (tức Quảng Ninh ngày nay). Chế độ  
coi kiêm này khá thịnh hành thời Nguyễn, chẳng hạn như:  
Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên, Tổng đốc Hà - Ninh - Thái...  
Đông chính là chỉ Hải Dương, vì tên thường gọi của tỉnh  
Hải Dương thời Nguyễn là tỉnh Đông. Hơn nữa, trước đó,  
trấn Hải Dương còn bao gồm cả Hải Dương, Hải Phòng và  
Quảng Ninh ngày nay.  
Từ thời Trần, lộ Hải Dương còn gọi là lộ Hải Đông, tên  
này vẫn thường được dùng sau đó... Như vậy, Tổng đốc  
Đông là một chức vụ khá quan trọng, quản lĩnh một vùng  
rộng lớn, trọng yếu của đất nước” [2]  
- Câu “Đô môn giải tổ chi niên/ Đạc ngựa bò vàng đeo  
ngất ngưởng”, SGK ghi “Giải tổ: cởi dây đeo ấn. Nghĩa cả  
câu: năm ở kinh đô cởi trả ấn (của quan lại) để về hưu” [1].  
Ở đây, theo chúng tôi, tác giả SGK nên giải thích thêm cho  
học sinh rõ: “Giải tổ là một thành ngữ, chỉ người bỏ quan  
về nghỉ. Vi Ứng Vật có câu thơ: Giải tổ ngạo lâm viên (Bỏ  
quan về sống ngạo ở chốn vườn, rừng)”.  
Chú thích cho câu “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”  
SGK viết như sau: “Tương truyền ông về hưu, thường cưỡi  
bò vàng có đeo nhạc ngựa; lại treo cái mo cau ở phần trên  
đuôi bò, nói là để che miệng thế gian”. Đoàn Lê Giang phân  
tích: thứ nhất đây là việc có thực chứ không phải chỉ là  
Nguyễn Thanh Tùng thì phân tích “Mai Phúc đúng hơn  
vì thế mới hiệp vần tục/phúc... Hơn nữa, ở đây ông muốn  
nói là không phải bậc danh thần nhập thế (Hàn, Nhạc) thì  
cũng là danh nho xuất thế (Mai Phúc), như thế mới có ý  
nhấn mạnh, tăng tiến, và cũng hợp với hoàn cảnh về trí sĩ  
lúc bấy giờ của Nguyễn Công Trứ” [2]. Tuy nhiên, về mặt  
hình thức thì câu “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Mai  
Phúc” không cân đối bằng câu “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào  
phường Hàn, Phú” bởi Trái, Nhạc là hai người, Hàn, Phú  
cũng hai người, nhưng Mai Phúc thì chỉ có một.  
Đến câu kết bài: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”  
thì Lê Thước đã dùng bản thừa một chữ so với số chữ quy  
định ở câu kết. Hát nói vốn là bài hát phổ theo nhịp phách  
cho các cô đầu hát, là một thể thơ tương đối tự do nên số  
tương truyền, điều này được thể hiện rõ trong mấy bài thơ chữ trong câu không bị quy định gò bó. Tuy nhiên, câu cuối  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
72  
Nguyễn Thị Quốc Minh  
thì luôn luôn phải là lục ngôn: “Thông thường, một câu có sống của giới trẻ hiện nay.  
bảy, tám chữ, có trường hợp một câu chỉ có ba, bốn chữ, Hay: Nếu “ngất ngưởng” là một phong cách sống thì đó  
có trường hợp một câu kéo dài đến mười ba mười bốn chữ. có phải là cách sống lập dị, thích thể hiện bản thân hoặc  
Riêng câu cuối thì bao giờ cũng phải sáu chữ cho hợp với bất chấp như một số bạn trẻ hiện nay không?  
nhịp phách” [3]. Đoàn Lê Giang và Nguyễn Thanh Tùng  
Với câu hỏi sẵn có trong SGK kết hợp với những câu hỏi  
đều có chung quan điểm, cả hai nhà nghiên cứu đều cho chúng tôi đề xuất hi vọng sẽ tạo ra một hệ thống câu hỏi hợp  
rằng câu trong bản của Đỗ Bằng Đoàn “Đời ai ngất ngưởng lí, tìm hiểu văn bản được toàn diện, đầy đủ hơn. Và quan  
như ông” là đúng hơn và hay hơn. Nguyễn Thanh Tùng trọng nhất là hệ thống câu hỏi đã hướng đến việc phát triển  
nhận xét “Một là, đáp ứng đúng cấu trúc thường thấy của năng lực, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học,  
bài hát nói: câu cuối cùng (tức câu keo) bắt buộc đúng 6 phù hợp với tinh thần đổi mới giáo dục hiện nay.  
chữ. Hai là, “đời ai” rộng hơn “trong triều”. Hơn nữa, lúc  
2.5. Cần đưa thêm tác phẩm Nguyễn Công Trứ vào chương  
này Nguyễn Công Trứ đã “giải tổ”, cưỡi bò vàng mà về quê  
hương, nơi “phau phau mây trắng” ông còn lưu luyến gì  
triều đình mà còn phải nói “trong triều”.  
Câu cuối: “Đời ai...” mới ứng hợp với câu đầu tiên “Vũ  
trụ nội mạc phi phận sự”. Nguyễn Công Trứ nói đến cả cuộc  
đời ngất ngưởng của ông chứ đâu chỉ nói chuyện “trong  
triều” và ở đây, ông đâu chỉ ngông, chỉ ngạo với “trong  
triều” mà rộng hơn là với đời. Đó mới là bản lĩnh Nguyễn  
Công Trứ...” [2].  
trình mới  
Trong chương trình Quốc văn ở Trung học phổ thông từ  
trước 1975, tác phẩm của Nguyễn Công Trứ được tuyển rất  
nhiều. Cụ thể, theo thống kê của Nguyễn Công Lý [4], SGK  
Giảng văn lớp 9 có 28 bài (vừa giảng bình vừa đọc thêm):  
Đi thi tự vịnh, Vịnh cảnh nghèo, Quân tử cố cùng, Hội gió  
mây, Thú điền viên, Thú ẩn dật, Tự thuật, Vịnh cây cau,  
Vịnh cây thông, Vịnh cây vông, Vịnh trống đại cổ, Luận kẻ  
sĩ, Chí nam nhi, Nợ tang bồng, Nợ công danh, Thế tình đen  
bạc, Khuyên người đời, Trò chơi, Vinh nhục, Cảm tưởng  
ngày tháng thanh nhàn,Thoát vòng danh lợi, Hành tàng,  
Thú thanh nhàn, Vịnh cảnh già, Vô cầu, Vịnh mùa đông,  
Chí làm trai, Cầm kì thi tửu (khảo sát bộ sách của Thẩm  
Thệ Hà, Xuân Tước, Bằng Giang. Sống Mới xuất bản, Sài  
Gòn, 1974).  
Trong SGK Giảng văn lớp 11 có 30 bài: Thế tình đối với  
cảnh nghèo, Vịnh cảnh nghèo, Quân tử cố cùng, Hội gió  
mây, Thú điền viên, Thú ẩn dật, Muộn thành đạt, Hàn nho  
phong vị thú, Chí làm trai, Nợ nam nhi, Luận kẻ sĩ, Nợ tang  
bồng, Nợ công danh... Trong đó, có nhiều bài trùng nhau,  
đã có trong chương trình lớp 9 rồi lại đưa vào chương trình  
11 (khảo sát bộ sách của Thẩm Thệ Hà, Xuân Tước, Bằng  
Giang. Sống Mới xuất bản, 1974).  
2.4. Về câu hỏi hướng dẫn học bài  
Câu hỏi hướng dẫn học bài cho văn bản Bài ca ngất  
ngưởng của Nguyễn Công Trứ trong SGK hiện hành có bốn  
câu, cụ thể như sau:  
Câu 1: Trong Bài ca ngất ngưởng, từ “ngất ngưởng”  
được sử dụng mấy lần? Anh (chị) hãy xác định nghĩa của từ  
“ngất ngưởng” qua các văn cảnh sử dụng đó.  
Câu 2: Dựa vào văn bản Bài ca ngất ngưởng, anh (chị)  
hãy giải thích vì sao Nguyễn Công Trứ biết rằng việc làm  
quan là gò bó, mất tự do (vào lồng) nhưng vẫn ra làm quan.  
Câu 3: Ở bài hát nói này, Nguyễn Công Trứ tự kể về mình.  
Vì sao ông cho mình là ngất ngưởng? Ông đánh giá sự ngất  
ngưởng của mình như thế nào?  
Câu 4: Đọc diễn cảm bài hát nói này. Hãy chỉ ra những  
nét tự do của thể tài hát nói so với thơ Đường luật và cho  
biết ý nghĩa của tính chất tự do đó.  
- Ở câu 1, theo chúng tôi, để tránh áp đặt, tác giả SGK  
có thể nêu câu hỏi gợi mở định hướng cho việc phân tích,  
chẳng hạn như: Theo anh (chị) từ “ngất ngưởng” diễn tả  
một tư thế nào của con người? Trong Bài ca ngất ngưởng,  
Việc chương trình Quốc văn ở Miền Nam trước năm 1975  
chọn nhiều bài của Nguyễn Công Trứ, để sau năm 1975  
đã từng có ý kiến rất thiếu khách quan như thế này: “Ở  
con người Nguyễn Công Trứ có nhiều yếu tố tiêu cực để  
cho chủ nghĩa thực dân mới lợi dụng, khai thác triệt để”,  
chọn nhiều bài thơ của Nguyễn Công Trứ là “nhằm phục  
từ “ngất ngưởng” được sử dụng mấy lần? Mỗi từ “ngất vụ những ý đồ đen tối của văn hóa thực dân mới” (Nguyễn  
ngưởng” gắn với giai đoạn nào trong cuộc đời nhà thơ, thể Phan Quang, Nguyễn Danh Phiệt, Vài ý kiến về nhân vật  
hiện ở đoạn thơ nào trong bài?  
Nguyễn Công Trứ) [5].  
- Trong các câu hỏi hướng dẫn học bài không có câu hỏi  
Trong Chương trình Ngữ văn hiện hành, trước kia ở  
hỏi về nghệ thuật của tác phẩm. Chúng tôi đề xuất thêm câu Trung học cơ sở có 1 bài của Nguyễn Công Trứ (Chí khí  
hỏi về nghệ thuật tác phẩm, chẳng hạn như:  
anh hùng), ở Trung học phổ thông có 1 bài (Bài ca ngất  
Anh (chị) có nhận xét gì về nghệ thuật ngôn từ và các thủ ngưởng), đến nay “giảm tải” đi chỉ còn có 1 bài ở lớp 11.  
pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ?  
Như vậy, là quá ít so với giá trị, vị trí của Nguyễn Công Trứ  
Hay: Theo anh (chị), giọng điệu của bài thơ có gì đặc trong lịch sử văn học? Chúng tôi đề xuất đưa 3 bài thơ và 1  
sắc? Hãy cho biết cảm nhận của anh (chị) về giọng điệu bài phú vào phần đọc thêm của sách Ngữ văn:  
của bài thơ.  
- Đi thi tự vịnh  
- Về “cái tôi”, cái “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ,  
chúng ta có thể có câu hỏi liên hệ thực tế như sau:  
Anh (chị) hãy cho biết suy nghĩ của mình về triết lí sống,  
phong cách sống của Nguyễn Công Trứ? Liên hệ quan niệm  
- Chí nam nhi  
- Chí khí anh hùng  
- Hàn nho phong vị phú  
Đây là những tác phẩm từng được đưa vào nhiều tuyển  
Số 13 tháng 01/2019  
73  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
tập, hợp tuyển, sách giáo khoa nhiều thời kì khác nhau. bôn xu quá, đến nỗi quên mất liêm sỉ, kẻ thời nhu nhược  
Những tác phẩm ấy cần đưa lại vào chương trình tới đây vì  
chính những giá trị, ý nghĩa đối với hiện tại, phù hợp với  
định hướng của bộ môn Ngữ văn.  
quá đến nỗi sinh ra chán đời, quốc dân ta nếu muốn chấn  
khởi cái tinh thần, bồi thực cái khí tiết, cho ngày một mạnh  
mẽ thêm lên, thời cái lối văn chương hùng tráng này há lại  
không nên sùng bái lắm ru” [5].  
- Bài Hàn nho phong vị phú là bài phú Nôm tiêu biểu nhất  
của Nguyễn Công Trứ. Thể phú đã bắt đầu xuất hiện từ đầu  
đời Trần. Phú có hai lối chủ yếu.  
Thứ nhất là lối nghiêm trang, lối này mang đậm tính giáo  
huấn, dùng nhiều chữ nghĩa trong sách thánh hiền để chỉ  
dạy.  
Thứ hai là lối chơi, lối này có tính hài hước, trào phúng,  
dùng nhiều thành ngữ tục ngữ.  
Bài Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ thuộc  
lối thứ hai. Bài phú miêu tả cái nghèo, cái khổ bằng ngòi  
bút vừa hiện thực vừa trào lộng. Ông quá chán ghét cái  
nghèo, bởi muôn sự khổ không gì khổ bằng nghèo. Giọng  
điệu bài phú bi phẫn, chua xót lẫn hài hước. Đồng thời, ông  
còn tỏ rõ thái độ coi khinh, thậm chí thù địch với bọn hào  
phú đương thời. Ở cuối bài phú, ông đã ngợi ca sự thành  
đạt của Mãi Thần, Mông Chính và cười nhạo sự tiêu vong  
của phú hào Thạch Sùng, Vương Khải. Chính thái độ này  
đã góp phần đưa ông đến với quan niệm “hành lạc” và “tang  
bồng hồ thỉ”.  
Tóm lại, phú là thể loại khó đối với học sinh. Trong  
chương trình Ngữ văn hiện hành có đưa một số bài phú  
(Bạch Đằng giang phú, Tịch cư ninh thể phú...), nếu so với  
các bài phú ấy, thì Hàn Nho phong vị phú của Nguyễn Công  
Trứ thú vị hơn, tiêu biểu hơn cho phú Nôm.  
Bài Đi thi tự vịnh thể hiện quyết tâm, hăm hở phải học  
hành và thi đỗ, đem kiến thức học được mà làm những việc  
có ý nghĩa giúp nước giúp dân, để lưu danh muôn đời. Đó  
là thái độ sống đúng đắn, tích cực, có hoài bão, có lí tưởng.  
Ngày nay, đọc những câu thơ ấy của Nguyễn Công Trứ,  
chúng ta vẫn cảm thấy như được truyền ngọn lửa nhiệt  
huyết, thấy phấn chấn trong lòng, cũng muốn noi gương  
ông mà học tập và cống hiến thật nhiều cho đất nước. Xứng  
đáng với sự mong đợi của thế hệ cha ông vào lớp con cháu  
sau này, xứng đáng với niềm tin, niềm hi vọng “tuổi trẻ là  
mùa xuân của xã hội”.  
Ở bài Chí làm trai, Chí khí anh hùng cũng là sự thể hiện  
quyết tâm lập công danh, đem tài trí giúp nước, giúp đời.  
Nguyễn Công Trứ nêu cao tư tưởng “trung hiếu”.  
Đối với ông, trung hiếu không chỉ là nghĩa vụ mà còn là  
triết lí sống. Đó là một quan niệm sống mãnh liệt, hăng say  
đến cuồng nhiệt. Cái chí ấy có cội rễ từ truyền thống hào  
hùng của dân tộc, nó đã trở thành lí tưởng, là điều tâm niệm,  
nó là động lực là mục đích sống của biết bao thế hệ. Quan  
niệm ấy, cái chí anh hùng ấy cũng phù hợp với quan niệm  
anh hùng của nhân dân lao động “Làm trai cho đáng nên  
trai/ Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài yên”.  
Ngày nay, do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, tâm lí con  
người thích hưởng thụ cho bản thân hơn là cống hiến, nhiều  
người đã quên đi, đã đánh mất những tình cảm, những tư  
tưởng tốt đẹp ấy. Văn học, nhất là văn học trong nhà trường  
có trách nhiệm định hướng con người tìm lại những chân  
giá trị, những mĩ đức ấy. Tác phẩm của Nguyễn Công Trứ có  
tác dụng nâng đỡ, thanh lọc tâm hồn người đọc, giúp chúng  
ta vượt qua được những toan tính vụn vặt, nhỏ nhặt, ích kỉ,  
tư lợi... giúp chúng ta biết hòa cái riêng vào cái chung, cá  
nhân vào tập thể, gắn mình với những trách nhiệm lớn lao  
cao cả đối với Tổ quốc.  
3. Kết luận  
Nguyễn Công Trứ là một tác giả nổi bật trong văn học  
trung đại. Càng trải qua thời gian, tác phẩm của ông càng  
trở nên hấp dẫn với người đọc, đối với học sinh, sinh viên  
hiện nay, thơ văn của ông có ý nghĩa giáo dục rất lớn.  
Nguyễn Công Trứ là một con người khao khát cống hiến,  
khao khát hoàn thiện tài năng và phẩm chất của mình, một  
nhà thơ yêu tiếng Việt, rất tự tin khi chỉ sáng tác bằng tiếng  
Việt, ông đã góp phần đưa tiếng Việt trở thành tiếng Việt  
văn học - một thứ ngôn ngữ tinh tế, phong phú, đa sắc. Một  
tác giả như thế rất cần có vị trí xứng đáng hơn trong chương  
Bài thơ còn có tác dụng giáo dục mạnh mẽ, nhắc nhở  
chúng ta về bổn phận, về trách nhiệm với đất nước. Nói  
như nhà nghiên cứu Lê Thước: “Ta đọc đến lời văn cụ, tự  
nhiên lòng sinh hăng hái, muốn đi, muốn chạy, muốn đem  
thân gánh vác việc đời, để giúp đời cho khỏi những nỗi bi  
ai khốn khổ (...) đương cái thời đại cạnh tranh này, kẻ thời trình Ngữ văn hiện nay.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
74  
Nguyễn Thị Quốc Minh  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2014), Ngữ văn 11 (tập 1),  
NXB Giáo dục Việt Nam.  
[2] Nguyễn Thanh Tùng, “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn  
Công Trứ: từ văn bản đến hướng tiếp cận, Văn hóa Nghệ  
An (online), ngày 23 tháng 6 năm 2012.  
[3] Đoàn Lê Giang, Vấn đề văn bản “Bài ca ngất ngưởng”  
của Nguyễn Công Trứ, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 02  
năm 2006.  
[5] Trần Nho Thìn (giới thiệu và tuyển chọn), (2003), Nguyễn  
Công Trứ về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
[6] Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, (1994), Việt Nam ca trù  
biên khảo, NXB Thành phố Hồ Chí Minh tái bản.  
[7] Nguyễn Lộc, (2012), Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ  
XVIII - đến hết thế kỉ XIX), NXB Giáo dục Việt Nam.  
[8] Lê Thước, (1928), Sự nghiệp văn thi văn của Uy Viễn  
tướng công Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Tân xuất bản.  
[4] Nguyễn Công Lý, (2013),“Chương trình và sách giáo  
khoa môn Văn bậc trung học ở miền Nam trước 1975”  
in trong Kỉ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia “Dạy học  
Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam”. NXB Đại học  
Sư phạm Hà Nội.  
NGUYEN CONG TRU IN THE VIETNAMESE LINGUISTICS AND  
LITERATURE PROGRAM AT GENERAL EDUCATION LEVEL  
Nguyen Thi Quoc Minh  
University of Social Sciences and Humanities  
ABSTRACT: Nguyen Cong Tru played an important position in literature of the  
Vietnam National University HoChiMinh City  
early Nguyen Dynasty period, therefore in most of the volumes of Vietnamese  
10-12 Dinh Tien Hoang, Da Kao ward,  
historical iterary works, there is always a chapter on his poetry. Nguyen Cong  
District 1, Ho Chi Minh City, Vietnam  
Tru’s literary works have been included in the teaching curricula for junior high  
schools, senior high schools, and then for universities’ faculties of Vietnamese  
linguistics and literature. In the high school curriuculum alone, Nguyen Cong  
Tru is introduced to students as one of the most typical writers of medieval  
period literature. Currently, “Bai ca ngat nguong”, a work by Nguyen Cong Tru  
is included in Grade 11 Literature textbooks, both in the basic and advanced  
volumes. These books have been edited and introduced to the teaching  
program for a long time, however there are still some limitations to be clarified  
and adapted in the texts, commentaries, and suggested lesson plans for this  
work. This article examines carefully these concerned issues, and proposes  
some suggestions with the desire that Nguyen Cong Tru’s poetry will be  
compiled better in the Vietnamese linguistics and literature program in the  
near future.  
Email: ntquocminh[email protected]  
KEYWORDS: Nguyen Cong Tru; Bai ca ngat nguong; Vietnamese linguistics and literature  
curriculum; literary works.  
Số 13 tháng 01/2019  
75  
pdf 5 trang baolam 24680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nguyễn Công Trứ trong Chương trình Ngữ văn phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnguyen_cong_tru_trong_chuong_trinh_ngu_van_pho_thong.pdf