Mộng trong thơ văn Tản Đà

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
KHOA NGỮ VĂN  
NGUYỄN ANH THƯ  
MỘNG TRONG THƠ VĂN TẢN ĐÀ  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
KHOA NGỮ VĂN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
ĐỀ TÀI:  
MỘNG TRONG THƠ VĂN TẢN ĐÀ  
GVHD: TH.S LÊ VĂN LỰC  
SVTH: NGUYỄN ANH THƯ  
MSSV: K40.606.043  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành khóa luận “Mộng trong thơ văn Tản Đà”, tôi xin được gửi  
lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Ngữ Văn đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt  
những năm tôi theo học tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.  
Và hơn hết, tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với thầy Lê  
Văn Lực, người đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực  
hiện khóa luận.  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn Anh Thư  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân tôi thực  
hiện và có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn, không sao chép các công trình  
nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa  
luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.  
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn Anh Thư  
MỤC LỤC  
1
MỞ ĐẦU  
1.  
Lý do chọn đề tài  
“Chiêm bao là khúc dạo đầu cho cuộc sống hoạt động” (Bachelard),  
“Người ta chỉ chiêm mộng trước tiên và hầu như chỉ về mình và thông qua  
mình” (C.G.Jung), “Mơ mộng là một sự chuẩn bị cho đời thực” (Moeder),  
“Tương lai được chiếm lĩnh bằng mộng mơ trước khi nó được chiếm lĩnh bằng  
những thí nghiệm” (Becker). Thật vậy, những giấc mộng luôn đóng vai trò thiết  
lập một kiểu cân bằng trong trong đời sống tinh thần của con người. Mộng được  
chia làm hai loại: mộng nhắm mắt (mộng mị) và mộng mở mắt (mộng tưởng),  
từ thưở hồng hoang cho đến thời đại văn minh, nhân loại có lẽ chưa bao giờ  
ngừng mơ mộng. Vậy, cõi mộng vẫn là một cõi mà chúng ta vẫn phải cần tìm  
hiểu, sâu hơn và rộng hơn.  
Những gì có ở đời sống, văn học có, những gì không có ở đời sống, văn  
học cũng có. Vậy còn đời sống nào phong phú và màu mỡ hơn đời sống văn  
học? Văn học Việt Nam qua các thời kỳ: trung đại (thế kỷ X đến thế kỷ XIX),  
Pháp thuộc, giao thời (đầu thế kỷ XX đến 1945), cách mạng (1945 – 1975), đổi  
mới (sau 1986), ấy là cách chia theo những biến chuyển của lịch sử - xã hội,  
đơn giản hơn, văn học Việt Nam có thể phân thành hai giai đoạn: trung đại và  
hiện đại. Chiếc cầu nối hai giai đoạn ấy là văn học giao thời (1900 – 1930) và  
người ngồi vắt vẻo trên cây cầu ấy, chúng tôi có thể khẳng định không ai nổi  
bật và xứng đáng hơn Tản Đà. Mười thế kỷ, ngót gần một ngàn năm văn học  
trung đại rồi cũng đi đến hồi kết, thời đại mới yêu cầu một nền văn học mới, và  
đó cũng là thời điểm văn học giao thời ra đời. Ba mươi năm đầu thế kỷ XX có  
thể nói là bước chuyển mình đầu tiên của văn học Việt Nam từ phạm trù trung  
đại sang hiện đại. Lúc này, nếu ví nền văn học nước nhà là một con sông, thì  
   
2
con sông ấy đang có sự giao hòa giữa hai dòng chảy: dòng chảy trung đại và  
dòng chảy hiện đại, hai dòng chảy ấy len lỏi vào nhau, lấn chiếm và quấn lấy  
nhau, tạo nên sự phức tạp cho nền văn học giai đoạn này. Tản Đà trót sinh ra  
vắt vẻo giữa hai thế kỷ, ấy vậy mà đó cũng chính là yếu tố khiến thơ văn ông  
trở thành một hiện tượng phức tạp vào hàng bậc nhất trong lịch sử văn học Việt  
Nam. Giáo sư Trần Đình Hượu trong bài nghiên cứu Tản Đà Nguyễn Khắc  
Hiếu cũng đã cho rằng: “Trên bước đường văn học Việt Nam đi từ truyền thống  
đến cận – hiện đại, Tản Đà là nhà văn có vị trí đặc biệt” [7; tr. 572]. Về hiện  
tượng Tản Đà và thơ văn của ông, tuy đã tốn không ít giấy mực của các nhà  
nghiên cứu, nhưng thiết nghĩ với một người có vị trí rất đặc biệt trong văn học  
Việt Nam, hẳn sẽ còn khoảng trống cho chúng tôi tìm hiểu.  
Tản Đà là một nhà thơ lớn và có thể nói sự góp mặt của ông như một hồi  
chuông báo hiệu cuộc chuyển mình của văn học dân tộc. Trong bài viết Công  
của thi sĩ Tản Đà, Xuân Diệu nhận định rằng: “Say, ngông và mộng. ba điểm  
ấy của Tản Đà làm cho thơ ông nhẹ nhàng phóng khoáng” [7; tr. 229]. Như  
vậy, trong thơ của Tản Đà ắt hẳn có mộng, mà mộng còn là một trong ba đặc  
điểm chính trong thơ ông. Bên cạnh đó, trong nền văn xuôi quốc ngữ thời kỳ  
phôi thai, Tản Đà là người đầu tiên cho ra đời những áng văn xuôi mang phong  
cách hiện đại, đáng lưu ý là bộ ba tập giấc mộng: Giấc mộng con (1917), Giấc  
mộng con II (1932) và Giấc mộng lớn (1929) đã cho thấy trong văn Tản Đà  
thì mộng cũng chiếm ưu thế không kém gì trong thơ. Hay nói cách khác, thế  
giới mộng bao trùm trong sáng tác Tản Đà, ông quả thật là “người mộng trong  
cõi thực” tồn tại giữa một xã hội nhiều biến động. Vậy, Tản Đà đã mộng những  
gì trong thơ và trong văn xuôi? Những giấc mộng của ông có tính chất như thế  
nào? Ông đã dùng những phương thức nào để thể hiện những giấc mộng ấy?  
Hàng loạt câu hỏi ấy ra đời đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu về “Mộng trong thơ  
văn Tản Đà”.  
3
2.  
Lịch sử nghiên cứu vấn đề  
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu vốn thu hút được sự quan tâm của giới nghiên  
cứu, phê bình văn học, thế nên đề tài “Mộng trong thơ văn Tản Đà” thực sự  
không phải là một đề tài có quá nhiều cái mới. Ở từng mức độ và góc độ khác  
nhau thì mộng trong thơ văn ông ít nhiều cũng đã được nhắc tới trong các bài  
viết, các công trình nghiên cứu.  
Năm 2003, trong Tản Đà – khối mâu thuẫn lớn, Văn Tâm viết: “về  
phương diện văn xuôi, Tản Đà cũng có những bước đi mới mẻ đầu tiên, cũng  
có một số đóng góp nhất định, đáng để chúng ta lưu tâm” [22; tr. 430]. Đây là  
một công trình khá chi tiết và chỉn chu về những mâu thuẫn trong tư tưởng của  
Tản Đà. Trong phần “Ước mơ về xã hội chủ nghĩa không tưởng”, Văn Tâm đã  
viết khá cụ thể về xã hội mơ ước của Tản Đà trong Giấc mộng con, đây là một  
công trình giá trị và hỗ trợ nhiều cho chúng tôi trong việc tìm hiểu đề tài.  
Một trong những công trình mang tính tập hợp đáng lưu ý là cuốn Tản  
Đà – về tác gia và tác phẩm, xuất bản năm 2007 của Trịnh Bá Đĩnh. Công trình  
là tập hợp 14 bài viết kỷ niệm về Tản Đà và 44 bài nghiên cứu, phê bình về Tản  
Đà và văn chương của ông. Tuy nhiên, hầu hết những bài viết đều được lấy từ  
cuốn Tản Đà trong lòng thời đại của Nguyễn Khắc Xương (1997), nhà xuất  
bản Hội nhà văn. Mở đầu công trình là Lời giới thiệu của Giáo sư Hà Minh  
Đức, có đoạn viết: “Khép lại thời cận đại, Tản Đà đã đến như sự báo hiệu cho  
những đổi thay trong thơ ở một chặng mới. Tản Đà chất chứa nhiều mâu thuẫn,  
mâu thuẫn của buổi giao thời mà ông là người quy tụ hơn là đổi thay. Thơ Tản  
Đà chứa đựng một tấm lòng, ông khao khát tìm một thế giới tốt đẹp ở trần giới  
hay nơi tiên cảnh, ông sống giữa mộng và đời nhưng cuộc đời thực vẫn day dứt  
tác giả khôn nguôi.” [7; tr.10]. Tài liệu trên chúng tôi tin là đắt giá, do độ chính  
xác cao (được biên soạn bởi con trai trưởng Tản Đà) và đã đóng góp khá sâu  
rộng trong việc tìm hiểu về Tản Đà cùng với sự nghiệp sáng tác của ông. Chúng  
 
4
tôi xin điểm qua các bài viết có liên quan đến mộng của Tản Đà có trong tài  
liệu trên:  
Trên báo Nam phong số 7, năm 1918, Phạm Quỳnh cho đăng bài viết  
Mộng hay mị với những lời đả kích về Giấc mộng con của Tản Đà: “đem cái  
ngông ấy phô diễn trong mấy chục tờ giấy thì thực là quá đáng vậy! Người ta  
phi cuồng thì không ai trần truồng đi ngoài phố.”, Phạm Quỳnh trách Tản Đà  
đã “khởi ra cái mộng kỳ quặc” và “tự phô mình một cách sỗ sàng”, ông nói  
thêm: “nhất là trong buổi quốc văn mới nhóm thành này, cần phải giữ cho văn  
chương khỏi biến ra mộng mị” [7; tr. 167].  
Năm 1939, trên báo Ngày nay số 167, Xuân Diệu viết Công của thi sĩ  
Tản Đà với nhận định: “Say, ngông và mộng. ba điểm ấy của Tản Đà làm cho  
thơ ông nhẹ nhàng phóng khoáng” [7; tr. 229].  
Cũng trong năm 1939, trên báo Tao Đàn, Lê Thanh đăng bài Mộng và  
mộng viết về mộng của Tản Đà, có viết: “Ông mộng rồi lại mộng. Ông chỉ sống  
vì mộng mà thôi”, Lê Thanh cũng nhận xét thêm rằng: “Những bài thơ làm  
trong khi ông mộng, hoặc khi ông đã tỉnh mộng đều là những áng thơ tuyệt tác”  
[7; tr. 238].  
Năm 1971, trên tạp chí Văn, số Tản Đà, Thi Vũ có bài Tản Đà, người  
thi sĩ của sự lên đường, trong đó có đoạn viết như sau: “Cõi đời mới trong  
Giấc mộng con của Tản Đà không chỉ là niềm mơ ước không tưởng của Thomas  
More trên đảo Utopia, hay của Tommazo Campanella trên Civitas Solis. Cõi  
đời mới mang ngôn ngữ tố cáo và phê phán một hiện trạng có thực, khuyên  
thỉnh từ khước, và lập tâm xây dựng.” [7; tr. 402].  
Cũng trong tạp chí Văn số 1971, trong bài viết Người ghét Tản Đà của  
mình, Vũ Bằng có trích lời Ngô Tất Tố về Tản Đà rằng: “Nguyễn Khắc Hiếu là  
một nhà thơ, một nhà văn, nhưng lại không chịu sống trong quỹ đạo ấy, mà lại  
5
nuôi một cái mộng làm nhà tư tưởng, cho nên tôi phải tranh luận nhiều lần về  
cái tính tự phụ vô độ của ông ta” [7; tr. 153].  
Trên Tạp chí Khoa học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 1, năm  
1990, Văn Tâm có bài viết khá chi tiết về Tản Đà – nhà văn hóa tiền đạo,  
trong đó có đoạn: “Khả năng tưởng tượng mãnh liệt để đắm mình vào thế giới  
mộng ảo (Giấc mộng con I, Giấc mộng con II, Nói chuyện với bóng, Nói chuyện  
với ảnh…) trong đó ẩn hiện những giấc mộng giang hồ về sau cũng đã quyến  
rũ biết bao thi sĩ trẻ: Thế Lữ: “Rũ áo phong sương trên gác trọ”, Lưu Trọng  
Lư “nửa đời phiêu lãng”, Nguyễn Tuân “xê dịch chủ nghĩa” đi gần đi xa không  
phải có nơi để mà đến mà là có nơi để mà bỏ” [7; tr. 469].  
Như vậy, qua sáu bài viết có nhắc đến mộng trong công trình này, ta có  
thể thấy các tác giả bên cạnh việc thể hiện thái độ của mình đối với mộng trong  
thơ văn Tản Đà thì còn có những nghiên cứu, song vẫn chỉ dừng ở những nhận  
định mang tính khái quát.  
Một công trình nữa có đoạn viết về mộng trong thơ văn Tản Đà là trong  
Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945, Nxb. Đại học quốc gia Hà  
Nội, xuất bản năm 2000 của Nguyễn Đăng Mạnh: “Tản Đà là nhà thơ của sầu  
và mộng, của những mối tình vẩn vơ. Trí tưởng tượng hết sức phóng túng giúp  
ông tạo nên những giấc mơ khá ngông cuồng. Ông làm văn tế khóc nàng Chiêu  
Quân đời Hán bên Tàu, ông mơ gánh thơ lên bán chợ Trời và thực hiện những  
cuộc du hành ở cõi trời từ Âu sang Á” [15; tr.35]. Công trình là những nghiên  
cứu về văn học Việt Nam giai đoạn 30 – 45, Nguyễn Đăng Mạnh đã dành hẳn  
một tiểu mục để nói về Tản Đà, với những nhận xét xác đáng.  
Năm 2004, nhà xuất bản Thế giới cho ra mắt cuốn Từ điển văn học (bộ  
mới), vô cùng đồ sộ. Trong mục từ “Giấc mộng con”, Nguyễn Huệ Chi đã trình  
bày như sau: “Viết Giấc mộng con, Tản Đà muốn thực hiện mộng ước về một  
6
xã hội lý tưởng, về một người mộng lý tưởng – những mộng ước mà suốt cuộc  
đời thực ông đã không tìm được. Về hình thức, đây là một giấc mộng mang  
khuynh hướng thoát ly lãng mạn hoàn toàn có tính chất cá nhân” [11; tr. 529].  
Về đề tài nghiên cứu, năm 2007, Lu Mai Tâm thực hiện khóa luận tốt  
nghiệp Mộng và thực trong thơ văn Tản Đà (một đề tài khá gần với đề tài mà  
chúng tôi đang tìm hiểu). Tuy nhiên, với cách khai triển thành hai chương “Từ  
mộng đến thực” và “Từ thực đến mộng”, xét thấy chưa thể đi sâu vào tìm hiểu  
mộng trong thơ văn Tản Đà đúng với tính chất của nó mà chỉ chứng minh việc  
mộng trong thơ văn Tản Đà có mối liên quan mật thiết với hiện thực.  
Nhìn chung, những nghiên cứu trên đã có ít nhiều đề cập đến mộng của  
Tản Đà trong các sáng tác của ông, khen có, chê có. Cũng qua đó, mộng trong  
thơ văn Tản Đà đã được các nhà nghiên cứu xem là một trong những đặc điểm  
nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của ông. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì đấy vẫn  
còn là những công trình riêng lẻ, hầu hết là những nhận định khái quát. Vì vậy,  
trên cở sở của những người đi trước và những nỗ lực của bản thân, chúng tôi  
hy vọng khóa luận này sẽ là một trong những chỉnh thể đầu tiên tìm hiểu về  
“Mộng trong thơ văn Tản Đà”.  
3.  
Phạm vi nghiên cứu  
Để phục vụ đề tài này, nhằm làm sáng rõ mộng trong thơ văn Tản Đà,  
chúng tôi khảo sát toàn bộ các văn bản thơ Tản Đà được in trong cuốn Tản Đà  
toàn tập (tập 1) xuất bản năm 2002 của Nguyễn Khắc Xương và tham khảo  
thêm cuốn Văn học hiện đại – Tuyển tập Tản Đà do Xuân Diệu giới thiệu  
cũng trong năm 2002. Với các tác phẩm văn xuôi, chúng tôi giới hạn trong  
phạm vi gần nhất với đề tài, bao gồm: Tản Đà văn tập, Giấc mộng con, Giấc  
mộng con II, Khối tình, Đài gương kinh, Thần tiền, Tản Đà tùng văn, Thề non  
nước, Tản Đà xuân sắc, Giấc mộng lớn được in trong Tản Đà toàn tập (tập 2)  
 
7
và một số bài báo được in trên An Nam tạp chí cũng do Nguyễn Khắc Xương  
biên soạn.  
4.  
Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp lịch sử:  
-
Chúng tôi tìm hiểu thời đại nhà thơ Tản Đà sinh sống, khảo sát về thân  
thế và sự nghiệp của ông. Đó là những phương diện cơ bản hình thành nên nhân  
cách, cá tính con người của Tản Đà, phong cách thơ văn của ông để từ đó dẫn  
đến việc hình thành mộng trong thơ văn ông.  
-
Phương pháp thống kê – phân loại:  
Sau khi khảo sát tất cả những tập thơ và văn tập của tác giả, chúng tôi  
tiến hành chọn lọc những câu thơ, đoạn văn có nói đến mộng và phân loại thành  
những kiểu dạng của mộng một cách hợp lý nhất.  
-
Phương pháp phân tích – tổng hợp:  
Chúng tôi tiến hành phân tích một số bài thơ, câu thơ, đoạn văn về mộng  
tiêu biểu của Tản Đà và trên cở sở những kết quả đã phân tích, chúng tôi tổng  
hợp lại những ý chính nhằm làm nổi rõ yêu cầu của đề tài.  
-
Phương pháp so sánh:  
Phương pháp này sử dụng ở một mức độ nào đó để đối sánh mộng trong  
thơ văn Tản Đà với các tác giả trước và sau ông, từ đó chúng tôi đưa đến nhận  
xét về sự nổi bật trong thơ văn viết về mộng của nhà thơ núi Tản sông Đà.  
5.  
Cấu trúc khóa luận  
Bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo thì phần nội  
dung của khóa luận sẽ được triển khai trong 3 chương:  
Chương 1: Giới thuyết về mộng và một số vấn đề liên quan  
   
8
Chương 2: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện nội dung  
Chương 3: Những phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà  
9
CHƯƠNG 1  
GIỚI THUYẾT VỀ MỘNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN  
1.1 Khái niệm mộng  
Mộng, có lúc còn được gọi là giấc mơ, mơ mộng, cơn mơ, cơn mê, chiêm  
bao, ước ao, mộng mị v.v... Trong Từ điển Tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê  
chủ biên, dưới góc độ là một danh từ thì mộng là “hiện tượng thấy người hay  
sự việc hiện ra như thật trong giấc ngủ” hoặc là “điều luôn luôn được hình  
dung, tưởng tượng tới và mong muốn trở thành sự thật, ví dụ: người yêu trong  
mộng”. Còn khi là một động từ thì mộng chỉ việc “thấy người hay sự việc hiện  
ra trong giấc ngủ, ví dụ: mộng thấy chuyện chẳng lành” [19; tr.830]. Như vậy,  
những gì xảy ra trong giấc ngủ mỗi ngày của con người thì gọi là mộng, những  
mong muốn của con người cũng được gọi là mộng. Do đó, ta có thể tạm chia  
khái niệm “mộng” thành hai loại: mở mắt và nhắm mắt; trong đó, mộng nhắm  
mắt có thể hiểu là mộng theo kiểu tín ngưỡng, còn mộng mở mắt là thuộc về  
mộng tưởng, những khao khát trong đời sống tinh thần của con người. Bỏ qua  
những giấc mộng trong khi nhắm mắt, “mộng” mà chúng tôi muốn tìm hiểu ở  
đây hay nói cách khác, mộng ở trong thơ văn Tản Đà là những mộng ước. Về  
mộng lúc tỉnh này, nhà văn người Tây Ban Nha Maria Zambrano đã viết trong  
Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới rằng: “Trong trạng thái tỉnh, chiêm mộng  
đột ngột chiếm ta mà không biết được và tạo ra một kiểu quên lãng hay hồi  
tưởng mà sự diễn biến của nó có thể xô đẩy ta tới những bờ cõi mà ý thức không  
thể dung nạp được. Khi ấy thì chiêm mộng trở thành mầm mống của sự ám ảnh,  
sự bóp méo hiện thực. Nhưng ngược hẳn lại, nếu nó dẫn dắt sang một bình diện  
ứng hợp với ý thức, đến nới mà ý thức và tâm hồn cộng sinh, thì nó lại trở thành  
một hình thức sáng tạo đời sống cá nhân hoặc trong một sự nghiệp” [2; tr 166].  
     
10  
Trong văn chương, mộng là một khái niệm được sử dụng khá rộng rãi, với nhiều  
tầng nghĩa đa dạng nhưng tương đối thống nhất.  
Nằm trong cùng trường ngữ nghĩa với mộng là mê: một động từ chỉ sự  
“ham thích tới mức như bị cuốn hút hoàn toàn vào, không còn biết đến những  
cái khác” [19; tr. 813]; mơ là việc con người ta: “nghĩ tới và mong có được  
(những điểu tốt đẹp ở ngay trước mắt hoặc chưa hề có.” [19; tr. 833]; ước là  
một động từ chỉ việc “mong có được điều biết là rất khó hoặc không hiện thực”  
[19; tr. 1410]; tưởng: “nghĩ đến nhiều một cách cụ thể và với tình cảm thiết  
tha.” [11; tr. 1398]. Như vậy, năm từ này sẽ là dấu hiệu đầu tiên giúp ta nhận  
biết mộng trong thơ văn Tản Đà.  
Bảng 1.1  
Thống kê tỷ lệ phần trăm số bài thơ có chứa những từ thuộc trường ngữ nghĩa  
“mộng” (gồm: mộng/mơ/mê/tưởng/ước) trong thơ Tản Đà.  
Tên tác phẩm  
Năm xuất Tổng số Tổng số bài thơ có Tỷ lệ  
bản hoặc bài thơ  
in lần  
chứa  
những  
từ  
(%)  
mộng/mơ/mê/tưởng/  
ước  
Tản Đà văn tập  
1912  
1915  
-
8
3
37.5  
Khối tình con I  
Khối tình con II  
1916  
1918  
35  
28  
32  
5
7
14.3  
25  
Còn chơi – Thơ 1920  
Tản Đà 1925  
–
11  
34.4  
11  
Thơ (đây không Chưa rõ  
phải là tên tập thơ) xuất xứ,  
24  
8
7
33.3  
14  
nơi  
in,  
năm sáng  
tác  
Thơ trên báo và 1926  
An Nam tạp chí 1939  
-
50  
(Văn bản thơ và sự phân chia tập thơ của Tản Đà chúng tôi dựa vào cuốn Văn  
học hiện đại – Tuyển tập Tản Đà, do Xuân Diệu biên soạn, xuất bản năm  
2002.)  
Từ bảng thống kê 1.1 ta thấy, số bài thơ có chứa những từ: mộng, mê,  
mơ, tưởng, ước là 41 bài, chiếm 23.2% trên tổng số bài thơ của Tản Đà. Như  
chúng tôi đã nói, những từ này là dấu hiệu đầu tiên để nhận dạng thơ viết về  
mộng của ông, bên cạnh đó có khá nhiều bài Tản Đà viết về mộng mà không  
có những từ này.  
1.2 Mộng trong thơ văn Việt Nam trước và sau Tản Đà  
Chuyện mộng mơ trong văn học từ Đông sang Tây không hề thiếu, chẳng  
hạn ở văn học Trung Quốc có Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, ở văn học  
phương Tây thì đơn cử truyện ngắn Giấc mơ của Franz Kafka. Vậy thì trong  
văn học viết Việt Nam trước và sau Tản Đà, chuyện mộng mị, mộng tưởng đã  
tồn tại như thế nào?  
1.2.1 Mộng trong thơ văn trung đại  
   
12  
1.2.1.1 Mộng nhắm mắt – mộng tín ngưỡng  
Trước Tản Đà ngót thế kỷ, văn học trung đại Việt Nam đã có những giấc  
mộng tồn tại như một nét đặc biệt của yếu tố kỳ ảo, và hơn thế “giấc mộng  
không chỉ mở ra cánh cửa dẫn đến thế giới tâm linh của người Việt mà còn tạo  
nên một vùng không gian hư ảo để con người tự do bộc lộ những khát khao,  
mộng tưởng mà lúc tỉnh thức họ không cách nào thực hiện được.” [35; tr.131].  
Nghiên cứu về mộng trong thơ văn Tản Đà mà không nhắc đến văn học trung  
đại thì quả là một thiếu sót, vì ông Nguyễn Khắc Hiếu có “cái dáng điệu ngang  
tàng chúng tôi thường thấy ở các nhà thơ xưa.” (Hoài Thanh). Từ cổ chí kim,  
từ Đông sang Tây, mỗi dân tộc, mỗi tín ngưỡng đều có những câu chuyện khác  
nhau về mộng mị và thường lý giải ý nghĩa mộng từ sự tồn tại của linh hồn,  
thần linh. Mộng trong văn học trung đại Việt Nam cũng mang màu sắc tương  
tự.  
Nói đến văn học trung đại nước ta thì dĩ nhiên không thể bỏ qua tuyệt tác  
Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Nhân vật chính là nàng Thúy Kiều  
qua hai lần tìm đến cái chết cũng chính là hai lần không thể chết mà đặc biệt là  
trong cơn mê, nàng đều gặp gỡ Đạm Tiên – một hồn ma. Trong tác phẩm, thì  
hồn Đạm Tiên đã xuất hiện năm lần, và những giấc mơ Đạm Tiên mang lại  
không chỉ là ám ảnh mà đó còn đánh thức những dự cảm về tương lai của  
Kiều:“Thấy người nằm đó biết sau thế nào” hay “Một dày một mỏng biết là có  
nên” và “Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”.  
Trong thế giới kỳ ảo của những giấc mộng, dường như kết giới giữa thế  
giới loài người và thế lực siêu nhiên đã được phá vỡ. Và trong chiêm bao, thần  
linh thường mang đến cho loài người lời hứa hẹn hay các điềm báo và sự báo  
mộng này cũng chính là một cách thể hiện sự hiển linh của các bậc thần thánh  
hay người đã khuất. Hay như trong Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào,  
sau khi được thầy cho lên thiên tào một chuyến, hiểu rõ sự tình, “Tử Hư từ biệt  
 
13  
thầy trở về, sang năm đi thi quả đỗ tiến sĩ. Phàm những việc cát hung họa phúc  
nhà Tử Hư, thường được thầy về báo cho biết.” [4; tr. 150]. Trong Chuyện Lý  
tướng quân nói về Lý Hữu Chi người huyện Đông Thành, vốn là một nông dân  
khỏe mạnh, bản tính hung tợn nhưng giỏi đánh trận nên được Quốc công Đặng  
Tất tiến cử cho làm tướng quân. Có quyền chức trong tay, Lý tướng quân ngày  
một độc ác, chém giết vô tội vạ, đến năm 40 tuổi thì chết. Hắn có một người  
con trai tên Thúc Khoản, Thúc Khoản lại có một người bạn thân tên Nguyễn  
Qùy, đã chết ba năm rồi. Theo chỉ dẫn của bạn, con trai của Lý tướng quân  
chứng kiến được cảnh Diêm phủ xét xử cha mình vô cùng ghê rợn. “Quỷ sứ  
liền vào lôi Hữu Chi điệu đi. Bấy giờ Thúc Khoản ở khe tường dòm thấy, khóc  
thất thanh. Mấy người quỷ sứ liền lấy tay bưng miệng rồi đưa về nhà, ném  
chàng từ trên không xuống đất. Thúc Khoản giật mình tỉnh dậy, thấy người nhà  
đương ngồi chung quanh mà khóc, nói mình chết đã hai ngày rồi, chỉ vì thấy  
ngực hãy còn thoi thóp và hơi nong nóng, cho nên chưa dám đem chôn. Thúc  
Khoản bèn ruồng bỏ vợ con, đem của cải tán cấp cho mọi người và đốt hết  
những văn tự nợ, vào rừng hái thuốc tu luyện.” [4; tr.237].  
Trong quan niệm của con người trung đại thì số mệnh con người căn bản  
đã được định sẵn từ trước khi đứa trẻ chào đời, thông qua hình ảnh mà người  
mẹ nhìn thấy trong chiêm bao trước khi thụ thai hoặc qua những tín hiệu từ đứa  
bé sau khi sinh ra. Có một điều dễ thấy trong truyện trung đại thì sự ra đời của  
những nhân vật chính thường được thần linh báo mộng như một sự dự báo xuất  
thân phi thường của họ. Trong truyện thơ Hoàng Trừu, sự thụ thai nàng công  
chúa nước Nam được tác giả dân gian giới thiệu như sau:  
“Đền Nghêu rủ áo thong dong,  
Một bà hoàng hậu mơ mòng giấc hoa.  
Chiêm bao thấy vị sao sa,  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 164 trang baolam 26620 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Mộng trong thơ văn Tản Đà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmong_trong_tho_van_tan_da.pdf