Cách thức định vị không gian trong tiếng Nhật
CÁCH THỨC ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN TRONG TIẾNG NHẬT
Hồ Tố Liên
Khoa Nhật Bản học, Đại học Công Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam
TÓM TẮT
Cách thức định vị không gian là mối quan hệ giữa 3 yếu tố gồm vật định vị, điểm chiếu vật và cách nhìn
của chủ thể phát ngôn, trong đó, cách nhìn của chủ thể phát ngôn là yếu tố quan trọng trong việc quyết
định lựa chọn các phƣơng tiện ngôn ngữ để biểu đạt cách thức định vị. Do đó, cách thức định vị không
gian không chỉ bị chi phối bởi ngữ cảnh giao tiếp mà cỏn bị chi phối bởi các yếu tố khách quan khác nhƣ
tính văn hóa dân tộc học, tính cá nhân. Bài viết thực hiện phƣơng pháp tiếp cận so sánh đối chiếu dựa trên
khái niệm Cách nhìn của chủ thể phát ngôn để tìm hiểu rõ hơn về định vị không gian trong tiếng Nhật, có
mở rộng so sánh với tiếng Việt.
Từ khóa: Cách nhìn, điểm chiếu vật, định vị không gian,không gian ngôn ngữ, sự tình chuyển động tiếng
Nhật.
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM HỮU QUAN
Không gian đƣợc thể hiện ở ba cấp độ: không gian khách quan, không gian chủ quan đƣợc phản ánh qua
nhận thức của con ngƣời, và không gian ngôn ngữ đƣợc biểu đạt qua ngôn từ. Không gian ngôn ngữ có thể
mang nhiều nội dung khác nhau do cách sử dụng ngôn ngữ đa dạng và linh hoạt trong các tình huống ngữ
cảnh.
Định vị không gian: cách sắp xếp các điểm không gian của ngữ cảnh giao tiếp để xác định vị trí của một
đối tƣợng/ vật thể trong tƣơng quan so với điểm không gian chiếu vật nào đó.
Cách thức định vị không gian: là mối quan hệ giữa 3 yếu tố gồm vật định vị, điểm chiếu vật và cách nhìn
của chủ thể phát ngôn, trong đó, cách nhìn của chủ thể phát ngôn là yếu tố quan trọng trong việc quyết
định lựa chọn các phƣơng tiện ngôn ngữ để biểu đạt cách thức định vị. Do đó, cách thức định vị không
gian không chỉ bị chi phối bởi ngữ cảnh giao tiếp mà còn bị chi phối bởi các yếu tố khách quan khác nhƣ
tính văn hóa dân tộc học, tính cá nhân. Do ngƣời sử dụng ngôn ngữ bị chi phối sâu sắc bởi các yếu tố trên
trong cách sắp xếp không gian nên cách thức định vị không gian trong mỗi ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt.
2. CÁCH NHÌN CỦA CHỦ THỂ PHÁT NGÔN TRONG ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN TIẾNG
NHẬT
Cách nhìn của chủ thể phát ngôn đƣợc biểu hiện qua cách sử dụng ngôn ngữ bao gồm các yếu tố nhƣ
hƣớng nhìn, điểm nhìn và sự lựa chọn các yếu tố để nhận thức. Đối với định vị không gian thì hƣớng
nhìn là sự định hƣớng theo chiều không gian. Điểm nhìn là mốc để so sánh các vị trí, và sự lựa chọn các
yếu tố nhận thức chính là lựa chọn các chiếu vật không gian. Cả 3 yếu tố trên đều tham gia trong việc hình
thành nên cách thức định vị không gian của một ngôn ngữ.
1161
2.1. Hƣớng nhìn trong định vị không gian
Cần nhấn mạnh rằng nguyên lý “dĩ nhân vi trung” (con ngƣời là trung tâm) luôn đƣợc chủ thể phát ngôn
sử dụng, nghĩa là lấy chính bản thân mình làm tiêu chí cho việc định hƣớng theo chiều không gian.
Nguyên nhân là do ngƣời nói thực hiện hành vi giao tiếp đều thông qua các giác quan giao tiếp, sử dụng
các cơ quan giao tiếp nhƣ tƣ thế giao tiếp, hƣớng chuyển động, sử dụng các bộ phân cơ thể tham gia vào
giao tiếp (gesture) nhƣ mắt, miệng, khuôn mặt, tay, chân. Có thể nói chủ thể phát ngôn luôn dựa trên
hƣớng chuyển động và các bộ phận cơ thể chính mình để tự định vị hƣớng nhìn không gian. Về hƣớng
nhìn trong định vị không gian, có thể liệt kê một số một số hình thức nhƣ sau :
a/ Hướng nhìn về sự chuyển động của sự vật trong không gian:
– Chuyển động rời xa (ngƣời nói) : 出るra khỏi phòng, 出張に行くđi công tác, 遊びに行くđi chơi,輸出
xuất khẩu ra nƣớc ngoài, 消えて行くbiến mất…
– Chuyển động lại gần (ngƣời nói): đến chơi遊びに来る, nhập khẩu từ nƣớc
ngoài海外からの輸入,出て来る xuất hiện…
– Chuyển động ngang (qua ngƣời nói) : 通り過ぎđi ngang qua, 渡るbăng qua,超える vƣợt qua rào …
b/ Hướng nhìn theo chiều không gian :
– Hƣớng thẳng đứng ( 縦trục đứng): 上下trên/ dƣới
– Hƣớng ngang (横trục ngang) : 左右bên phải/ bên trái, 前・後・間にtrƣớc/ sau/ giữa
c/ Hướng nhìn về không gian kiểu mở hay khép kín : 空の中にtrên bầu trời, 町の中にtrong thành phố,
海の中にgiữa biển..
d/Hướng nhìn theo kiểu đánh giá khoảng cách trong không gian : 遠く・近くgần/ xa
2.2 Điểm nhìn
Điểm nhìn là yếu tố thứ hai tham gia vào cách thức định vị không gian. Điểm nhìn chính là vị trí hiện tại
của ngƣời nói, căn cứ theo vị trí này mà ngƣời nói sẽ chọn điểm không gian làm mốc cho sự định vị của
bản thân. Với điểm nhìn khác nhau thì định vị không gian đƣợc biểu đạt bằng những phƣơng tiện khác
nhau.
Ví dụ 1: 庭 に 桜の木があります。(Ở vƣờn có cây hoa anh đào)
○
Tuy nhiên, theo cách diễn đạt trong tiếng Việt thì câu trên sẽ trở thành:
Cách diễn đạt 1 : “ Ngoài vƣờn có cây hoa anh đào” (nếu so với vị trí hiện tại của ngƣời nói là
trong nhà).
Cách diễn đạt 2 : “Trong vƣờn có cây hoa anh đào” (nếu so với vị trí hiện tại của ngƣời nói là cùng
trong khu vƣờn đó hoặc đứng ngoài đƣờng chỉ vào trong sân).
Theo đó, sự định vị không gian đƣợc cho là tƣơng đối khi điểm không gian làm mốc là một điểm không
gian nào đó ngoài vị trí hiện tại của ngƣời nói, trong trƣờng hợp này điểm không gian làm mốc đó trở
thành điểm không gian chiếu vật, ví dụ trong trƣờng hợp ngƣời nói phát ngôn :”ở trên bàn- 机の上に”.
1162
Sự định vị không gian đƣợc cho là tuyệt đối khi điểm không gian làm mốc đó trùng với vị trí hiện tại của
ngƣời nói, đó là trƣờng hợp ngƣời nói phát ngôn :”ở khu vƣờn này-この庭に..”, hoặc “trong ngăn kéo –
引き出しの中に”.
2.3 Sự lựa chọn các yếu tố không gian chiếu vật
Đây là yếu tố cuối cùng trong cách thức định vị không gian. Sự lựa chọn những điểm không gian sẽ đƣợc
đƣa vào phát ngôn vì có rất nhiều điểm không gian khác nhau cùng tham gia vào cách thức định vị không
gian của một vật. Xét trong ví dụ 1, cây hoa anh đào là vật đƣợc đặt ngoài vƣờn nếu so với vị trí của ngƣời
ngồi trong nhà, hoặc so với vị trí cánh cửa nhà v..v..Một định vị có thể sử dụng một điểm quy chiếu hoặc
nhiều hoặc nhiều điểm quy chiếu của vật đó. Trong cách thức định vị ta thấy có 2 loại điểm quy chiếu:
một là chiếu vật chủ quan (chính bản thân ngƣời nói) và chiếu vật khách quan (một vật khách quan tồn tại
độc lập với ngƣời nói đƣợc chọn làm điểm quy chiếu). Nếu sự chọn lọc chỉ thể hiện một không gian có
duy nhất một điểm quy chiếu nhƣ “trong ngăn kéo” thì không gian này đƣợc gọi là không gian đơn. Ngoài
ra, nếu sự chọn lọc thể hiện không gian có cả hai loại điểm quy chiếu chủ quan và khách quan nhƣ trên thì
đó là sự chọn lọc thể hiện không gian kép, ví dụ nhƣ “ngoài vƣờn” và “trong vƣờn”.
3. SO SÁNH CÁCH THỨC ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN GIỮA TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG
VIỆT
Khi so sánh cách thức định vị không gian giữa tiếng Nhật và tiếng Việt, có thể thấy rõ cách thức định vị
không gian không chỉ bị chi phối bởi ngữ cảnh giao tiếp mà còn bị chi phối bởi các yếu tố khách quan
khác nhƣ tính văn hóa dân tộc học, tính cá nhân nên việc định vị không gian trong mỗi ngôn ngữ mang
đậm bản sắc của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó.Các phƣơng tiện ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong cách thức
định vị không gian hàm chứa cách nhìn về không gian của dân tộc đó.
a/ Khác nhau về hướng định vị:
Ví dụ 3: “ 壁に絵がかけてあります。(Bức tranh đƣợc treo ở tƣờng)” thì trong tiếng Việt chúng ta
thƣờng nói “bức tranh treo trên tƣờng” . Nếu diễn đạt theo hƣớng định vị của ngƣời Việt là “trên tƣờng”
nghĩa là bức tranh có vị trí tại cái tƣờng là điểm chiếu vật, nhƣng theo hƣớng định vị của ngƣời Nhật thì
“trên tƣờng” lại trở thành “壁の上に”- lơ lửng phía trên cái tƣờng.
b/ Khác nhau về điểm nhìn : một phƣơng tiện định vị trong tiếng Nhật chỉ có một điểm nhìn, hoặc là định
vị tuyệt đối, hoặc là định vị tƣơng đối, đƣợc xác định bằng hậu giới từ (post position) (theo cách gọi trong
một số giáo trình giảng dạy là trợ từ).
庭 に 桜の木があります。(ở vƣờn có cây hoa anh đào)
○
壁 に 絵がかけてあります。(Bức tranh đƣợc treo ở tƣờng)
○
公園 を 散歩してます。(Tôi đi dạo ở công viên)
○
Ngƣợc lại, trong tiếng Việt, một phƣơng tiện có điểm nhìn khác nhau tùy ngữ cảnh. “ Ngoài vƣờn có cây
hoa anh đào” (nếu so với vị trí hiện tại của ngƣời nói là trong nhà); “Trong vƣờn có cây hoa anh đào”
(nếu so với vị trí hiện tại của ngƣời nói là cùng trong khu vƣờn đó hoặc đứng ngoài đƣờng chỉ vào trong
sân) nên có thể nói điểm nhìn trong tiếng Việt có cả giá trị định vị tƣơng đối và cả định vị tuyệt đối.
c/ Khác nhau về sự lựa chọn các yếu tố không gian chiếu vật
1163
Trong tiếng Nhật, mỗi phƣơng tiện ngôn ngữ chỉ gắn với một không gian chiếu vật, hoặc là chiếu vật chủ
quan (chính bản thân ngƣời nói) hoặc là chiếu vật khách quan (một vật khách quan tồn tại độc lập với
ngƣời nói đƣợc chọn làm điểm quy chiếu), và thƣờng tiếng Nhật có khuynh hƣớng chọn không gian đơn
là cách thức thông dụng để biểu đạt định vị không gian.
Ví dụ 4 :
資料は引き出しの中です。(Tài liệu ở trong ngăn kéo bàn)
“trong ngăn kéo” là không gian đơn, có giá trị định tuyệt đối.
Ví dụ 5 :
空を自由に飛んでいる鳥のように (Nhƣ chim bay tự do trên trời)
”trên trời” là không gian đơn, có giá trị tuyệt đối.
Ngƣợc lại, trong tiếng Việt, cách định vị thông dụng thƣờng sử dụng không gian kép. Ngƣời Việt thƣờng
áp dụng nguyên lý “dĩ nhân vi trung” lấy chính bản thân mình làm mốc cho định vị không gian nhƣng
đồng thời vẫn so vị trí của vật với không gian khách quan khác.
Ví dụ 6 : Lan tình cờ gặp anh ta ngoài phố. ( ở ngoài nơi Lan đang đứng và đồng thời ở tại phố)
Ví dụ 7 : Bức tranh treo trên tƣờng. (định vị”trên” do quy chiếu từ bản thân chủ thể phát ngôn, cao hơn
ngƣời nói là đƣợc định vị bằng “trên”)
4. KẾT LUẬN
Cách thức định vị không gian không chỉ bị chi phối bởi ngữ cảnh giao tiếp mà còn bị chi phối bởi các yếu
tố khách quan khác nhƣ tính văn hóa dân tộc học, tính cá nhân nên việc định vị không gian trong mỗi
ngôn ngữ mang đậm bản sắc của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó.Các phƣơng tiện ngôn ngữ đƣợc sử dụng
trong cách thức định vị không gian hàm chứa cách nhìn về không gian của dân tộc đó. Muốn hiểu đƣợc
cách định vị trong một ngôn ngữ, cần có khung so sánh đối chiếu với một ngôn ngữ khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hoàng Dũng & Bùi Mạnh Hùng (2008), Giáo trình dẫn luận Ngôn ngữ học. NXB Giáo dục, Hà Nội.
[2] Nguyễn Đức Dân (2005). Những giới từ không gian: sự chuyển nghĩa và ẩn dụ.Tạp Chí Ngôn Ngữ,
Số 9.
[3] Nguyễn Văn Hiệp (2012). Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp.NXB Giáo dục Việt Nam, 2012.
[4] Nguyễn Kim Thản (1984,1999). Động từ trong tiếng Việt. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
[5] Nguyễn Lai (1977). Một vài đặc điểm của nhóm từ chỉ hƣớng đƣợc dùng ở dạng động từ trong tiếng
Việt hiện đại. Ngôn ngữ, số 3.
[6] Akita, K., Y. Matsumoto & K. Ohara (2009), Idoo jishoo wa nichi – eigo washa ni doo kikoe doo
mieru no ka. “How do motion events hear and seem to speakers of Japanese and English?” Koobe
gengogaku ronso, 6,(1-19p)
[7] Miyajima .T, Nihongo to yooroppago no idoo dooshi „Motion verbs in Japanese and European
languages‟. In Tatsuo Miyajima (ed.). Kindaichi Haruhiko hakushi koki kinen ronbun shuu, Vol.2,
456-486. Tokyo Sanseido. (1984)
1164
[8] Miyoshi Reiko, Kotoba wo Tsunagu Joshi, NXB Senmon Kyoiku Publishing. 2014.
[9] Natsumei Soseki, Obotchan, NXB Bonjinsha. 2013.
[10] Sue A.Kawashima. A Dictionary of Japanese Particles, NXB Kodansha.1999.
[11] Yo Matsumoto. 空間と移動の表現田中茂範,松本曜,研究社,1997年( Tính liên quan giữa
chuyển động và không gian) , NXB Taishukan, 1997
1165
Bạn đang xem tài liệu "Cách thức định vị không gian trong tiếng Nhật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cach_thuc_dinh_vi_khong_gian_trong_tieng_nhat.pdf

