Giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh tiểu học qua môn Tiếng Việt ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
Giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh tiểu học  
qua môn Tiếng Việt ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam  
Đặng Thị Lệ Tâm  
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên  
TÓM TẮT: Ngôn ngữ là sự thể hiện sâu sắc nhất một nền văn hóa và yếu tố  
20 Lương Ngọc Quyến, thành phố Thái Nguyên,  
văn hóa hiện diện trong mọi bình diện của ngôn ngữ. Dạy học theo quan điểm  
tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam  
giao tiếp nói chung và dạy văn hóa giao tiếp nói riêng là một trong những tư  
Email: letamsptn[email protected]  
tưởng chủ đạo của chiến lược dạy học tiếng mẹ đẻ ở trường phổ thông. Việt  
Nam là một quốc gia đa dân tộc. Phát triển giáo dục vùng đồng bào các dân  
tộc thiểu số là nhiệm vụ chiến lược. Vì vậy, việc tích hợp giáo dục văn hóa giao  
tiếp cho học sinh tiểu học qua môn Tiếng Việt ở các tỉnh miền núi phía Bắc là  
cần thiết, nhằm trang bị cho các em một số kĩ năng giao tiếp, nâng cao năng  
lực cá nhân và chất lượng cuộc sống, tiến tới thực hiện mục tiêu giáo dục toàn  
diện nhân cách học sinh.  
TỪ KHÓA: Tích hợp; tiếng Việt; văn hóa giao tiếp; học sinh tiểu học; dân tộc thiểu số.  
Nhận bài 09/12/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 20/12/2019 Duyệt đăng 25/01/2020.  
1. Đặt vấn đề  
miền núi phía Bắc là cần thiết, giúp trang bị cho các em một  
Ngôn ngữ là một mặt của văn hoá, là nơi tàng trữ văn hoá số kĩ năng giao tiếp cơ bản và thể hiện VHGT trong cuộc  
và biểu hiện văn hoá của cá nhân, gia đình và của toàn xã sống, góp phần nâng cao năng lực cá nhân và chất lượng  
hội. Ngôn ngữ và văn hoá, cụ thể là văn hoá giao tiếp - văn cuộc sống, tiến tới thực hiện mục tiêu GD toàn diện nhân  
hoá ứng xử không thể tách rời nhau. Trong giai đoạn hiện cách HS.  
nay, chúng ta đang sống trong một thế giới hội nhập quốc tế  
và khu vực ngày càng sâu rộng. Công cuộc hội nhập và phát  
triển ấy đã tạo ra một “thế giới phẳng” khiến cho khoảng  
cách giữa các dân tộc, quốc gia và con người được rút ngắn  
lại rất nhiều, cử chỉ, cách xưng hô cũng ảnh hưởng, pha trộn  
nhau...khiến cho tính văn hóa, đạo đức trong ngôn ngữ giao  
tiếp ít nhiều bị ảnh hưởng.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Văn hóa giao tiếp, vai trò của giáo dục văn hóa giao tiếp  
cho học sinh tiểu học  
2.1.1. Văn hóa giao tiếp  
Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội, luôn luôn  
diễn ra sự giao tiếp giữa người với người. VHGT là một  
phạm trù mang tính xã hội mà trong đó yếu tố văn hóa chỉ  
được đề cập đến trong phạm vi giao tiếp. VHGT là những  
hiểu biết về phong tục, tập quán, của đời sống xã hội. Một  
người có hành vi ứng xử đúng đắn khi giao tiếp phải tuân  
theo những chuẩn mực xã hội nhất định, hành động theo  
một số quy ước và yêu cầu mà mọi người cho là thích hợp  
nhất. VHGT là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm  
chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội  
(Giao tiếp một cách lịch sự, thái độ thân thiện, cởi mở, chân  
thành, thể hiện sự tôn trọng), là tổ hợp các thành tố: lời nói,  
cử chỉ, hành vi, thái độ, cách ứng xử…  
Các nước phát triển trên thế giới đều quan tâm nghiên  
cứu vấn đề văn hóa giao tiếp (VHGT) và đưa nội dung này  
vào dạy học trong nhà trường từ tiểu học (TH) đến đại học.  
Xu hướng phát triển chung của giáo dục (GD) các nước  
tiên tiến trên thế giới là hướng đến việc hình thành các loại  
năng lực cho học sinh (HS), trong đó giao tiếp có văn hóa  
là một năng lực quan trọng. Việt Nam là một quốc gia đa  
dân tộc. Phát triển GD vùng đồng bào các dân tộc thiểu số  
là nhiệm vụ chiến lược được xác định bởi Đảng và Nhà  
nước ta nhằm đưa các dân tộc sớm thoát khỏi tình trạng đói  
nghèo, lạc hậu, tiến tới công bằng trong xã hội... Việc kế  
thừa và bảo tồn văn hóa ngôn ngữ của dân tộc phải đặt trên  
phạm vi toàn xã hội, nhưng quan trọng và nòng cốt nhất là  
nhà trường phổ thông, đặc biệt là nhà trường TH - nơi đặt  
những “viên gạch” nền móng cho hệ thống GD phổ thông,  
quan trọng hơn là sự hình thành và phát triển nhân cách con  
người sau này.  
GD VHGT nghĩa là giúp HS làm chủ các công cụ và hình  
thức giao tiếp cũng như biết ứng xử một cách có văn hóa  
trong những tình huống khác nhau là nhiệm vụ quan trọng  
của nhà trường. Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả, cái chính là  
giúp HS có khả năng giao tiếp với nhau. Để có điều đó, ngoài  
VHGT, HS phải được GD về tâm lí giao tiếp, lối sống, quan  
niệm và những phẩm chất như sự chân thành, cởi mở, không  
ích kỉ, không khép kín, biết chấp nhận cái khác mình, chấp  
nhận đối thoại. Đây mới là “gốc” của sự giao tiếp.  
GD kĩ năng sống nói chung và kĩ năng giao tiếp có văn  
hóa nói riêng trong nhà trường TH không được tiến hành  
như một môn học hay một hoạt động GD cụ thể mà được  
triển khai bằng phương pháp tích hợp vào một số môn học  
có tiềm năng, trong đó có môn Tiếng Việt. Vì vậy, việc tích  
hợp GD VHGT cho HS TH qua môn Tiếng Việt ở các tỉnh  
2.1.2. Vai trò của giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh  
- GD VHGT góp phần hình thành nhân cách cho HS:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
54  
Đặng Thị Lệ Tâm  
Trong cuộc sống, giao tiếp có văn hóa có vai trò vô cùng vậy, việc GD cho HS kĩ năng sống nói chung, kĩ năng giao  
quan trọng vì việc vận dụng VHGT vào trong cuộc sống tiếp nói riêng có ý nghĩa to lớn. Bên cạnh đó, dưới tác động  
của mỗi con người chính là năng lực vận dụng có hiệu quả của nền kinh tế thị trường, việc mở rộng, tăng cường giao  
những tri thức về giao tiếp, từ đó hình thành và hoàn thiện lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc, các khu vực cũng  
nhân cách con người, giúp con người có một vị thế nhất tác động không nhỏ đến HS TH miền núi phía Bắc. Do  
định trong xã hội. HS ở cấp TH đang trong giai đoạn hình có những hạn chế về môi trường giao tiếp nên khi HS tiếp  
thành và phát triển nhân cách, vì vậy từ giao tiếp đến giao xúc với cuộc sống bên ngoài thường thiếu tự tin, dễ bị ảnh  
tiếp có văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi vì nhờ hưởng bởi các tác động tiêu cực.  
có giao tiếp, HS tự tin tham gia vào các hoạt động của nhà  
trường, gia đình và xã hội. Trong quá trình tham gia các  
hoạt động và giao tiếp, các em biết nói lời yêu cầu, đề nghị,  
nói lời cảm ơn, xin lỗi, biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cùng  
người khác, biết bày tỏ thái độ, quan điểm của mình trước  
những tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó, giúp  
các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong cuộc sống.  
- GD VHGT tạo nên giá trị sống tích cực của HS: GD  
VHGT cho HS TH giữ vai trò rất to lớn trong việc bắt đầu  
tạo nên hệ giá trị sống cho các em, giúp các em thể hiện  
được giá trị của bản thân vào cuộc sống và từ đó các em  
trưởng thành với một hệ giá trị tích cực bởi thành quả của  
quá trình GD. Bên cạnh đó, việc GD VHGT còn xây dựng  
và tạo lên nét văn hóa trong nhà trường. Đó là văn hóa ứng  
xử và VHGT.  
- GD VHGT giúp HS tạo lập các mối quan hệ trong  
cuộc sống: Đối với lứa tuổi học trò, giao tiếp là phương tiện  
cho phép HS xây dựng cầu nối với bạn bè, với các nền văn  
hóa của nhân loại, với thầy cô giáo, với người khác và với  
chính bản thân mình; Thuyết phục người khác chấp nhận ý  
kiến của mình để giải quyết các vấn đề học tập, rèn luyện  
và bày tỏ được nhu cầu của bản thân. Giao tiếp là một nội  
dung quan trọng của GD và GD đang thực hiện nội dung  
giao tiếp để giúp HS hình thành nhân cách, giúp các em có  
thể vận dụng vào các mối quan hệ xã hội và phục vụ xã hội.  
Do vậy, GD VHGT cho HS TH có vai trò vô cùng quan  
trọng và cần phải được áp dụng, phổ biến rộng rãi trong nhà  
trường hiện nay.  
2.2.2. Đặc điểm kĩ năng giao tiếp của học sinh tiểu học miền núi  
phía Bắc  
Do tính chất đặc thù, trong quá trình học tập, giao tiếp  
ở gia đình và ở trường, HS TH người dân tộc thiểu số sử  
dụng cả hai ngôn ngữ: tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt. Trong đó,  
ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ vẫn là ngôn ngữ được sử dụng phổ  
biến hơn. Khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt còn hạn  
chế và có nhiều khó khăn. Trong trường học, ngôn ngữ phổ  
thông vẫn được coi là phương tiện, công cụ cơ bản để tổ  
chức quá trình dạy học, gợi mở tư duy cho HS nên nhiều  
em ngại phát biểu, thảo luận, nêu ý kiến vì sợ sai, xấu hổ.  
Bên cạnh đó, đối tượng giao tiếp của HS TH miền núi phía  
Bắc chủ yếu là những bạn bè, thầy cô trong trường, người  
thân, người cùng bản, cùng thôn, rất ít khi được mở rộng  
các mối quan hệ giao tiếp. Do vậy, quá trình giao tiếp của  
HS TH miền núi phía Bắc trong môi trường trường học nói  
riêng, môi trường xã hội nói chung còn nhiều khó khăn và  
hạn chế.  
2.3. Khả năng giáo dục văn hóa giao tiếp qua môn Tiếng Việt  
ở tiểu học  
Môn Tiếng Việt ở trường TH có nhiệm vụ hình thành và  
phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết,  
nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt  
động của lứa tuổi. Thông qua hoạt động dạy và học, môn  
Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy, góp phần  
mở rộng hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người. Do vậy,  
chương trình và nội dung dạy học môn Tiếng Việt ở TH  
chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ năng giao tiếp  
và có khả năng tích hợp GD VHGT rất cao.  
2.2. Đặc điểm về môi trường sống, kĩ năng giao tiếp của học  
sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc  
2.2.1. Đặc điểm về môi trường sống của học sinh tiểu học miền  
núi phía Bắc  
Ở TH, HS đã được học những nội dung khá cụ thể để rèn  
luyện năng lực giao tiếp, được tiếp cận với phương pháp  
Các dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc Việt dạy học theo quan điểm giao tiếp để thực hiện nhiệm vụ  
Nam chủ yếu sinh sống ở những vùng núi cao, nơi có khí này. Các kĩ năng này đều được rèn luyện cho HS từ lớp  
hậu khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó 1 đến lớp 5, theo những mức độ yêu cầu phù hợp với lứa  
khăn nên chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí còn rất tuổi. Ví dụ: Lớp 1 được học nói lời chào hỏi, chia tay trong  
thấp. Các dân tộc thiểu số ở đây có thể sống xen kẽ trong các gia đình, trường học, trả lời câu hỏi… Lớp 2, các em được  
cộng đồng người Kinh hoặc cư trú riêng biệt theo một cộng học học để biết kể một mẩu chuyện hoặc một đoạn của câu  
đồng văn hoá theo vùng như: H’mông, Mường, Thái, Giấy, chuyện được nghe hay nói lời giới thiệu đơn giản về bản  
Hà Nhì... Do sinh sống ở khu vực có điều kiện tự nhiên thân, gia đình, bạn bè, trường lớp theo gợi ý… Lớp 3, các  
không thuận lợi, cuộc sống lại gắn liền với nông nghiệp nên em được rèn luyện về đặt câu hỏi về vấn đề chưa biết, trả lời  
đời sống của các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía câu hỏi của người đối thoại… Lớp 4, các em được rèn luyện  
Bắc còn gặp rất nhiều khó khăn. HS TH ở vùng núi, ngoài để bày tỏ ý kiến riêng khi trao đổi, thảo luận về vấn đề gần  
việc đến trường, các em còn phải phụ giúp gia đình để kiếm gũi; đặt câu hỏi, trả lời câu hỏi làm rõ vấn đề trong trao  
sống. Chính những yếu tố như: môi trường sinh sống, điều đổi, thảo luận; giới thiệu về con người, lịch sử, văn hoá địa  
kiện kinh tế, phong tục tập quán… đã và đang tạo ra những phương… Lớp 5, lớp cuối cùng của cấp TH, các em được  
nguy cơ, thách thức đối với sự phát triển của các em. Vì rèn luyện VHGT bằng cách học thuật lại sự việc đã chứng  
Số 25 tháng 01/2020  
55  
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
kiến hoặc tham gia; bày tỏ ý kiến, thái độ về vấn đề đang thân, kĩ năng xác định giá trị của bản thân.  
trao đổi, thảo luận hay giới thiệu về lịch sử, văn hoá, các  
Trên cơ sở nội dung GD VHGT thông qua rèn luyện các  
nhân vật tiêu biểu,... của địa phương. Theo đánh giá của các kĩ năng được xác định ở trên, xem xét toàn bộ các nội dung  
dạy học của môn Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 để xác định  
các bài học phù hợp với việc thực hiện GD VHGT cho HS  
TH miền núi, chúng tôi thấy trong sách giáo khoa Tiếng  
Việt TH hiện hành có nhiều bài học mà tên gọi của nó đã  
nói rõ mục tiêu GD kĩ năng giao tiếp xã hội, giao tiếp có  
văn hóa như: Chào hỏi, tự giới thiệu; Cảm ơn, xin lỗi; Chia  
chuyên gia GD, nội dung rèn luyện năng lực giao tiếp trong  
chương trình Tiếng Việt ở cấp TH rất phong phú, bước đầu  
tiếp cận được với xu thế chung của thế giới.  
2.4. Các biện pháp tích hợp giáo dục văn hóa giao tiếp cho học  
sinh tiểu học miền núi phía Bắc qua môn Tiếng Việt  
2.4.1. Khai thác nội dung và lựa chọn các bài học phù hợp để buồn, an ủi; Chia vui; Mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị; Đáp lời  
giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh tiểu học miền núi phía  
Bắc  
chào, lời tự giới thiệu; Đáp lời cảm ơn, xin lỗi; Gọi điện,  
Tập tổ chức cuộc họp, Phát biểu và điều khiển cuộc họp;  
Thuyết trình và tranh luận; Giới thiệu hoạt động; Giới thiệu  
địa phương; Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị;  
Dùng câu hỏi vào mục đích khác; Kể chuyện được chứng  
kiến hoặc tham gia…  
Đó là những bài học có nội dung gần gũi với cuộc sống  
của HS TH miền núi phía Bắc, chứa đựng những vấn đề  
cần thiết làm nảy sinh động cơ, hứng thú học tập cho HS,  
phù hợp với tư duy, nhận thức của HS. Ngoài ra, nội dung  
bài học có thể xây dựng được các tình huống hoặc gắn với  
các vấn đề, sự việc gần gũi xung quanh cuộc sống thực.  
Qua đó, GV khai thác và sử dụng các phương pháp, hình  
thức tổ chức dạy học để HS được hoạt động, tương tác, trải  
nghiệm, từ đó hình thành, phát triển các kĩ năng giao tiếp  
cho các em.  
Vì những đặc trưng mang tính khác biệt về lối sống, sinh  
hoạt, quá trình giao tiếp của HS TH miền núi phía Bắc cũng  
mang những nét khác biệt với HS người Kinh. Nhiều dân  
tộc thiểu số sống xen kẽ với nhau và với cộng đồng người  
Kinh làm cho môi trường giao tiếp mang tính đa ngôn ngữ.  
Ngay trong cùng một lớp ở TH cũng có nhiều dân tộc khác  
nhau. Do đó, xuất hiện nhiều trình độ khác nhau, nhiều  
phong cách sử dụng tiếng Việt khác nhau. Đối tượng, môi  
trường giao tiếp cũng hạn hẹp, chỉ tập trung quanh bạn bè,  
người thân. Chính những hạn chế về các mối quan hệ giao  
tiếp, sự khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ phổ thông, thiếu  
tự tin trong giao tiếp đã làm cho HS TH miền núi có những  
hạn chế về kĩ năng giao tiếp như: rụt rè trong giao tiếp với  
người lạ, thiếu mềm mỏng và bộc lộ cảm xúc rõ rệt khi  
giao tiếp, chưa chủ động trong các hoạt động nhóm, chưa  
biết kết hợp ngôn ngữ cơ thể khi giao tiếp, chưa nhận thức,  
đánh giá được vai trò của bản thân trong các mối quan hệ  
xã hội... Do đó, trong GD VHGT cần phải chú ý tập trung  
và rèn luyện cho các em mạnh dạn trong giao tiếp, biết sử  
dụng tiếng phổ thông để bày tỏ ý kiến cá nhân một cách tự  
tin, cụ thể là các kĩ năng sau: kĩ năng tự tin, chủ động trình  
2.4.2. Xây dựng quy trình, sử dụng các phương pháp và hình thức  
tổ chức dạy học tích cực để giáo dục văn hóa giao tiếp  
a. Xây dựng quy trình dạy học  
Xây dựng phương pháp dạy học để tổ chức thực hành các  
bài tập giao tiếp cho HS tức là xây dựng các bước nhằm  
cụ thể hoá những hành động và các thao tác của GV và HS  
bày, nêu vấn đề, kĩ năng thương lượng và xử lí mâu thuẫn, trong hoạt động giao tiếp đó. Có như vậy sẽ giúp đỡ GV  
kĩ năng hợp tác và làm việc tập thể, kĩ năng giao tiếp với hình dung trước việc làm cụ thể của mình và dự kiến việc  
người lạ, kĩ năng bày tỏ ý kiến để nêu quan điểm của bản làm của HS trong quá trình tổ chức thực hành các bài tập  
Bảng 1: Các bước rèn cho HS kĩ năng giao tiếp  
Các bước  
Mục đích  
Vai trò của GV và HS  
Các phương pháp dạy học  
1. Tạo hoàn cảnh - Kích thích HS tự tìm hiểu những kiến thức, kĩ - GV lập kế hoạch, khởi động, đặt - Rèn luyện theo mẫu  
giao tiếp năng sắp học. câu hỏi, nêu vấn đề, ghi chép. - Thực hành đóng vai  
- Giúp GV đánh giá, xác định thực trạng kiến thức, - HS cần chia sẻ, trao đổi, phản hồi, - Phân tích tình huống giao tiếp  
kĩ năng của HS trước khi giới thiệu vấn đề mới. xử lí thông tin...  
2. Nhận biết kiến - Giới thiệu thông tin, kiến thức và kĩ năng mới - GV nên đóng vai trò của người - Phân tích tình huống giao tiếp  
thức, kĩ năng bài thông qua việc tạo cầu nối liên kết giữa cái “đã hướng dẫn. - Rèn luyện theo mẫu  
học biết” và “chưa biết”. Cầu nối này sẽ kết nối kinh - HS là người phản hồi, trình bày - Thảo luận nhóm  
nghiệm hiện có của HS với bài học mới. quan điểm, ý kiến. - Thực hành đóng vai  
3. Thực hành tình - Tạo cơ hội cho người học thực hành vận dụng - GV đóng vai trò là người hướng - Thảo luận nhóm  
huống mới  
kiến thức và kĩ năng mới vào những tình huống dẫn, hỗ trợ.  
- Thực hành đóng vai  
mới  
- HS đóng vai trò là người thực hiện,  
khám phá.  
- Điều chỉnh những hiểu biết và kĩ năng  
4. Vận dụng kiến Tạo cơ hội cho HS tích hợp , mở rộng và vận - GV hướng dẫn và đánh giá.  
thức, kĩ năng  
- Thảo luận nhóm  
dụng kiến thức và kĩ năng có được vào các tình - HS lập kế hoạch, giải quyết vấn đề - Thực hành đóng vai  
huống mới. và tự đánh giá.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
56  
Đặng Thị Lệ Tâm  
giao tiếp. Theo chúng tôi, dựa vào đặc thù của giờ học tiếng và rèn luyện những hành vi đúng, tích cực trong giao tiếp.  
mẹ đẻ, việc rèn cho HS kĩ năng giao tiếp nên tiến hành theo  
các bước sau (xem Bảng 1):  
Phương pháp rèn luyện theo mẫu: Vốn sống, vốn kiến  
thức, vốn ngôn ngữ... của HS TH chưa phong phú nên cần  
b. Sử dụng một số phương pháp và hình thức dạy học dạy học thông qua mẫu để các em dễ quan sát, nhận diện  
tích cực  
và làm theo. Trong rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho HS TH,  
Phương pháp phân tích tình huống giao tiếp (thông qua người dạy cố gắng trực quan hoá nội dung dạy học để HS  
múa rối): Một trong những đặc điểm nổi bật về tâm lí của có thể dễ dàng nắm bắt kiến thức. Việc giảng giải, hướng  
HS TH người dân tộc thiểu số là tư duy dựa trên những hình dẫn của GV đối với các em cũng đòi hỏi sự giản dị, dễ hiểu,  
ảnh trực quan sinh động. Nếu việc dạy học được tổ chức với sao cho có thể đơn giản hoá những điều phức tạp. Để giúp  
những hình ảnh trực quan cụ thể để HS nhìn nhận, quan sát, HS phát triển được ngôn ngữ nói và luyện tập các kĩ năng  
đánh giá thì khả năng thu nhận, xử lí, phân tích thông tin giao tiếp, GV có thể vận dụng phương pháp rèn luyện theo  
sẽ dễ dàng hơn, HS sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận tìm mẫu với các bước sau đây:  
hiểu và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày.  
Do đó, việc tổ chức nghiên cứu, phân tích tình huống bằng  
múa rối có vai trò quan trọng và phù hợp với GD kĩ năng  
giao tiếp cho HS TH miền núi. Đối với các dân tộc thiểu số  
phía Bắc, rối cạn xuất hiện khá nhiều. Múa rối cạn, nhất là  
- GV cung cấp mẫu lời nói hoặc hành động lời nói.  
- GV hướng dẫn HS phân tích mẫu.  
- HS mô phỏng mẫu để tạo ra lời nói của mình.  
- GV kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm.  
GV có thể tổ chức cho HS luyện nói theo trình tự dựa trên  
rối dây và rối que là loại hình nghệ thuật đặc trưng trong các tình huống sau: Khi gia đình có khách đến thăm và cho em  
lễ hội đầu năm, Tết Nguyên Đán, hội Lồng Tồng, các dịp quà, em cần phải làm gì?  
cúng bái... của người Tày, Nùng, Thái…Do đó, nếu đưa các  
nhân vật rối vào trong các tiết dạy, cùng với các câu chuyện  
được xây dựng vừa mang những nét bản sắc văn hóa riêng  
GV giới thiệu câu - nói mẫu lần 1  
Ví dụ: Cháu chào bác ạ!; Cháu xin; Cháu cảm ơn Bác!  
GV nói mẫu lần 2 - HS nói theo. HS luyện nói (cá nhân,  
của dân tộc, vừa gắn với những vấn đề nhân loại, hiện đại trong nhóm). Lưu ý: GV nói mẫu cần chuẩn, chậm, nói rõ  
thì sẽ là môi trường thuận lợi để GD VHGT cho HS đạt từ ở một mức độ nào đó cần nói chậm, nói rõ từ (chấp nhận  
hiệu quả cao.  
lời nói có thể không được tự nhiên). Khi HS đã nắm được  
Trong quá trình thực hiện phân tích tình huống, GV cần cách sử dụng đúng từ, nói đúng câu, các em sẽ dễ dàng hơn  
nêu và giải thích tình huống giao tiếp sau khi HS đọc đề trong việc nói và viết đúng câu trong diễn đạt bằng lời nói  
bài. Cần làm rõ, giải thích cho các em hiểu phải nói với ai, cũng như vận dụng trong quá trình thực hành làm các bài  
nói trong trường hợp nào, nói nhằm mục đích gì (cám ơn, tập giao tiếp.  
xin lỗi, an ủi...), nói ở đâu (ở trường, ở nhà, ở những nơi  
Phương pháp quan sát kết hợp thảo luận nhóm:  
công cộng...). Ví dụ: Bạn em ra vào bàn, làm rơi cái lọ. Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học có  
Em nhanh tay đỡ được. Bạn khâm phục: “ Cậu nhanh thật tính tương tác cao giữa các cá nhân HS, giúp HS được tham  
đấy!”. (Tiếng Việt 2, tập 2, trang 142). Có thể dạy bài tập gia vào một môi trường học tập có sự cọ xát với tập thể, HS  
trên theo hướng phân tích hội thoại. GV chuẩn bị hai con được khuyến khích, được góp ý, hướng dẫn... hay nói một  
rối bằng bìa hoặc bằng vải đóng vai hai bạn HS, diễn lại cách khác có sự phát triển vai trò của cá nhân trong tập thể.  
tình huống. Sau đó, GV nêu ra lần lượt câu hỏi để phân tích Phương pháp này góp phần giúp các em làm chủ bản thân,  
các yếu tố tạo thành tình huống giao tiếp giả định có trong biết mình, biết người để hòa nhập và cải thiện các hành vi  
đầu bài: Có mấy nhân vật giao tiếp? (hai nhân vật); Đó là xã hội. Như vậy, có thể nói phương pháp thảo luận nhóm  
những ai? (em và bạn em); Cuộc nói chuyện xảy ra ở đâu? có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển kĩ  
(trong lớp học); Trong hoàn cảnh nào? (bạn em ra vào bàn, năng giao tiếp cho HS. Khi tổ chức cho HS thảo luận nhóm,  
làm rơi cái lọ, em đỡ được); Sự kiện nào đã làm nảy sinh đề sẽ tạo điều kiện và cơ hội cho các em được trình bày, biểu  
tài cuộc giao tiếp? (bạn khâm phục “Cậu nhanh thật đấy!”). đạt ý hiểu của mình, tiếp cận thông tin của các bạn khác, từ  
Việc đưa rối vải xuất hiện ngay vào hoạt động đầu tiên của đó góp phần rèn luyện kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết  
giờ học sẽ kích thích sự chú ý của HS vào bài học hơn, kích định để giải quyết vấn đề cho HS. Việc sử dụng phương  
thích nhận thức, hứng thú học tập, gắn kết những kiến thức pháp quan sát sẽ phát huy lợi thế của HS TH người dân tộc  
các em đã có bên ngoài cuộc sống với kiến thức của bài học thiểu số (thích quan sát, thích nhìn nhận vấn đề một cách cụ  
mới. Thông qua việc tìm hiểu, giải quyết tình huống, HS thể), còn việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm sẽ giúp  
được kiến tạo tri thức mới từ những kiến thức gần gũi, quen các em khắc phục những hạn chế của mình (giúp hiểu vấn  
thuộc trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, thông qua hành đề sâu sắc hơn, đi sâu vào việc tìm ra bản chất của các hành  
động, cách suy nghĩ, cách ứng xử của nhân vật rối vải, cùng động, sự việc, hiện tượng).  
với sự dẫn dắt, điều khiển của GV sẽ giúp người học bước  
Như vậy, sự kết hợp giữa phương pháp thảo luận nhóm và  
đầu tiếp cận đến cái đúng, cái sai, nhận biết được tri thức phương pháp quan sát với nhau là sự kết hợp phù hợp trong  
và các giá trị cơ bản trong bài học. Do đó, có thể coi con dạy học môn Tiếng Việt. Qua quan sát và thảo luận nhóm,  
rối chính là một nhân vật mẫu điển hình để định hướng cho năng lực ngôn ngữ và tư duy của HS được phát triển. Khi  
HS hình thành động cơ học tập, hướng tới việc hình thành tổ chức cho HS thực hành, GV cần chú ý khai thác, phát  
Số 25 tháng 01/2020  
57  
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
hiện và phát triển năng lực tiếng mẹ đẻ của các em, phát dựa trên các hình ảnh trực quan cụ thể nên các tình huống  
huy kinh nghiệm bản ngữ, tạo cơ hội để HS tạo lập được khi đóng vai phải được GV thể hiện rõ ràng. Tình huống  
nhiều lời nói tự nhiên trong quá trình thảo luận giúp cho đó phải giúp HS nhận thấy được số lượng các nhân vật  
việc luyện nói các nghi thức giao tiếp đối với các em trở nên trong tình huống, hoàn cảnh diễn ra tình huống, mâu thuẫn  
nhẹ nhàng, thiết thực và hiệu quả hơn.  
Ví dụ: Hãy nói 3, 4 câu về nội dung bức tranh, trong đó  
có dùng lời cảm ơn hay xin lỗi thích hợp.  
cần giải quyết, lời thoại giữa các nhân vật. Ví dụ, trong bài  
“Chào hỏi, tự giới thiệu” (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 20) có  
bài tập: Nhắc lại lời các bạn trong tranh.  
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 38)  
Đây là bài tập nhằm giúp HS quan sát các nghi thức giao  
tiếp, tập nói lại các nghi thức này, từ đó làm cơ sở để HS tập  
nói các lời nói ấy trong giao tiếp. Song xét về khả năng phát  
triển lời nói thì dạng bài tập này có phần hạn chế khả năng  
vận dụng tính linh hoạt của HS. Chính vì vậy, các dạng bài  
tập này chỉ nên sử dụng trong thời gian đầu khi dạy nghi  
thức lời nói. Để khắc phục nhược điểm trên, ta có thể sử  
dụng trò chơi đóng vai với việc đổi yêu cầu của bài tập  
thành: “Em cùng các bạn đóng vai Mít, Bóng Nhựa và Bút  
Thép để nói lời chào hỏi và tự giới thiệu”. Như vậy, bài tập  
này không mang tính “bắt chước” như trước nữa, HS được  
thực sự nhập vai vào các nhân vật và tự giới thiệu về mình.  
Các em bước đầu học được cách thể hiện khi nói lời chào  
hỏi, tự giới thiệu qua ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt...  
Thông qua dựng lại các tình huống, HS được tiếp cận với  
những vấn đề thực của cuộc sống hàng ngày. Việc các em  
được trải nghiệm, xử lí các tình huống cụ thể sẽ tạo cơ hội  
cho người học được thực hành và trải nghiệm những kiến  
thức, hiểu biết, kĩ năng của mình trong một môi trường an  
toàn trước khi tham gia vào các tình huống thực trong cuộc  
sống. Từ đó, các em biết phân tích vấn đề để tìm giải pháp  
và có thể lựa chọn ra cho mình một giải pháp tối ưu nhất.  
Do đó, có thể nói, việc thực hành giao tiếp thông qua trò  
chơi đóng vai rất quan trọng trong việc hình thành và rèn  
luyện các kĩ năng giao tiếp, hợp tác làm việc tập thể, rèn tư  
duy phê phán, thương lượng, ra quyết định và giải quyết  
vấn đề.  
Sau khi GV tổ chức cho HS nghiên cứu tình huống bằng  
múa rối, có thể tổ chức cho các em quan sát kết hợp thảo  
luận nhóm các bức tranh 1, 2 trong SGK. GV có thể tổ chức  
cho HS quan sát theo nhóm 2 người/1 bức tranh. Tranh 1:  
Tranh có những ai? Người nào đã cho bé gấu bông? Em  
đoán xem em bé sẽ nói gì khi nhận gấu bông? Tranh 2:  
Tranh có những ai? Cái gì rơi vỡ dưới nền nhà? Ai làm rơi  
vỡ? Bạn nhỏ nói gì với mẹ?  
GV nên khai thác tranh ảnh trong sách giáo khoa làm  
đối tượng quan sát, đặc biệt là các tranh ảnh liên quan đến  
việc nhận xét, đánh giá hành động đúng/sai của các nhân  
vật trong các tranh. Điều đó sẽ giúp HS tìm hiểu, phát hiện  
ra các tri thức cơ bản của bài học, từ đó rút ra nhận xét về  
những việc nên làm và không nên làm phù hợp với các tri  
thức, kĩ năng trong bài học.  
Khi HS thực hành luyện nói, GV cần nhắc nhở các em nói  
rõ ràng, thành câu và bước đầu nói đúng ngữ điệu các loại  
câu cơ bản (câu trần thuật, câu cầu khiến và câu hỏi). Khi  
các em nói, GV cần chú ý quan sát và lắng nghe để nhận  
xét, tư thế, tác phong khi nói và sửa lỗi phát âm, lỗi dùng  
từ, đặt câu...của các em.  
- Phương pháp tổ chức trò chơi (đóng vai): Phương  
pháp đóng vai là một phương pháp trong nhóm các phương  
pháp dạy học thực hành. Trong việc học tiếng Việt, phương  
pháp đóng vai có vai trò rất quan trọng để rèn các kĩ năng  
thông qua việc tổ chức cho HS tiến hành các hoạt động giao  
tiếp nghe - nói, hỏi - đáp. Nếu như hướng phân tích tình  
huống giao tiếp dùng phương pháp hỏi đáp (giữa thầy và trò  
hoặc giữa trò và trò) là chính để phân tích cuộc hội thoại thì  
3. Kết luận  
Tăng cường tiếng Việt, GD VHGT cho HS TH miền núi  
hướng thực hành giao tiếp hội thoại, công việc chủ yếu là phía Bắc là việc làm thiết thực để nâng cao chất lượng GD  
tập trung tạo ra cuộc hội thoại phù hợp yêu cầu đề bài bằng nói chung và chất lượng HS dân tộc thiểu số nói riêng.  
cách đóng vai.  
Việc GD VHGT cho HS TH miền núi phía Bắc được thực  
Đối với HS TH người dân tộc thiểu số, do tư duy chủ yếu hiện với định hướng thông qua dạy học môn Tiếng Việt  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
58  
Đặng Thị Lệ Tâm  
và tổ chức hoạt động ngoại khóa nhưng không phải là kĩ năng giao tiếp, VHGT trong quá trình học tập. Với cách  
lồng ghép, tích hợp thêm kĩ năng giao tiếp, VHGT vào nội tiếp cận này sẽ không làm nặng nề, quá tải thêm nội dung  
dung môn Tiếng Việt mà theo một cách tiếp cận mới, đó là môn học và hoạt động GD mà ngược lại còn làm cho các  
sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để giờ học trở nên nhẹ nhàng hơn, thiết thực và bổ ích hơn  
tạo điều kiện, cơ hội cho HS được thực hành, trải nghiệm đối với HS TH.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2011), Giáo dục kĩ năng sống  
trong các môn học ở tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam.  
[2] Đỗ Hữu Châu, (2004), Dụng học, NXB Đại học Sư phạm  
Hà Nội.  
[3] Khổng Diễn, (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt  
Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[5] Đỗ Việt Hùng, (2011), Định hướng giáo dục ngôn ngữ (từ  
góc độ văn hóa ngôn từ), Tạp chí Dạy và Học ngày nay,  
số 01.  
[6] Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), (2003 - 2006), Sách  
Tiếng Việt 2, 3, 4, 5, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
[7] Nguyễn Trí, (2008), Một số vấn đề về dạy hội thoại cho  
học sinh tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
[4] Hữu Đạt, (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao  
tiếp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
COMMUNICATIVE CULTURE EDUCATION FOR PRIMARY STUDENTS  
THROUGH TEACHING VIETNAMESE LANGUAGE IN MOUNTAINOUS  
PROVINCES OF NORTHERN VIETNAM  
Dang Thi Le Tam  
Thai Nguyen University of Education  
ABSTRACT: Language is the most profound expression of a culture and  
20 Luong Ngoc Quyen, Thai Nguyen city,  
cultural elements are present in every aspect of a language. Communication-  
Thai Nguyen province, Vietnam  
based teaching in general and communication culture teaching in particular  
Email: letamsptn[email protected]  
is one of the main ideas of the mother tongue language teaching strategy  
in high schools. Vietnam is a multi-ethnic country. Developing education  
in ethnic minority areas is a strategic task. Therefore, it is necessary to  
integrate communicative culture education for elementary school students  
into Vietnamese subject in the Northern mountainous provinces, which  
contributes to improving personal competence and life quality for students in  
order to achieve the goal of comprehensive education of students’ personality.  
KEYWORDS: Integration; Vietnamese; communication culture; primary students; ethnic  
minorities.  
Số 25 tháng 01/2020  
59  
pdf 6 trang baolam 26320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh tiểu học qua môn Tiếng Việt ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_duc_van_hoa_giao_tiep_cho_hoc_sinh_tieu_hoc_qua_mon_tie.pdf