Cảm hứng hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
CẢM HỨNG HIỆN SINH TRONG SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ
Ngô Thị Diệm
Học viên cao học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Email: nhcdiemngo2020@gmail.com
Lịch sử bài báo
Ngày nhận: 26/4/2021; Ngày nhận chỉnh sửa: 28/5/2021; Ngày duyệt đăng: 28/8/2021
Tóm tắt
Văn chương, đặc biệt là những tác phẩm văn chương giá trị có cách tồn tại riêng bất chấp quy luật của
thời gian. Sau hơn 40 năm vắng bóng trên văn đàn do những biến động của lịch sử, năm 2016, 2017 toàn bộ
mười tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã một lần nữa đến với bạn đọc. Sự đón nhận hân hoan của độc giả
cũ và sự ngỡ ngàng, thích thú của lớp độc giả mới đã chứng minh sức hút vượt thời gian của chúng. Được
đánh giá là một trong năm nữ nhà văn nổi tiếng của văn chương đô thị miền Nam 1954-1975, Nguyễn Thị
Thụy Vũ đã có những đóng góp tích cực về mặt thể tài cùng phong cách nghệ thuật độc đáo. Khảo cứu tác
phẩm của nữ nhà văn cho thấy, hoạt động sáng tác của bà có sự ảnh hưởng của văn học hiện sinh dù không
đậm đặc. Cảm hứng hiện sinh mang đến trong tác phẩm hình ảnh con người cô đơn trong một thế giới đầy
biến động và nỗi ưu tư, khát vọng vươn lên, tìm kiếm và chứng minh nhân vị độc đáo của mình. Vì chất hiện
sinh không đậm nên văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ không mang tính triết lý nhưng là những trải nghiệm,
suy tư, trăn trở của con người trước cuộc đời.
Từ khóa: Cảm hứng hiện sinh trong văn học, Nguyễn Thị Thụy Vũ, văn học hiện sinh.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
EXISTENTIAL INSPIRATION IN NGUYEN THI THUY VU'S WORKS
Ngo Thi Diem
Post - graduate student, University of Social Sciences and Humanities
Viet Nam National University, Ho Chi Minh city
Email: nhcdiemngo2020@gmail.com
Article history
Received: 26/4/2021; Received in revised form: 28/5/2021; Accepted: 28/8/2021
Abstract
Literature, especially decent literary works, has its own way of timeless existence. After more than 40
years of absence due to historical changes, all ten works by Nguyen Thi Thuy Vu again were seen during 2016
and 2017. The cheerful welcome of the previous readers and the surprising excitement of the new ones have
demonstrated their timeless appeal. Nguyen Thi Thuy Vu was consisdered one of the top five female writers
of Southern urban literature from 1954 to 1975 for her positive contribution in terms of genres, themes and
outstanding artistic style. Researching her writings indicates that her works are influenced by existential
theory to some extent. Such inspiration brings the image of a lonely person in a world with full of fluctuation
as well as worries and aspirations to grow, demonstrating his uniqueness. Based on unassertive existentialism,
the works by Nguyen Thi Thuy Vu are of human reflections on life rather than a philosophical orientation.
Keywords: Existential inspiration in literature, existential literature, Nguyen Thi Thuy Vu.
Trích dẫn: Ngô Thị Diệm. (2022). Cảm hứng hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Tạp chí Khoa học Đại học
Đồng Tháp, 11(1), 64-72.
64
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 64-72
1. Đặt vấn đề
tác là tiểu thuyết, kịch bản văn học của A. Camus,
J.P. Sartre, S. de Beauvoir, F. Sagan… đều được giới
Nguyễn Thị Thụy Vũ được đánh giá là một trong
năm nữ nhà văn xuất sắc của văn học miền Nam giai
đoạn trước 1975. Sáng tác của bà nằm trong dòng
chảy của văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975.
Đó là giai đoạn văn học đặc biệt, phát triển khá tự
do, mang những đặc điểm riêng và tồn tại trong một
thể chế xã hội riêng, khác với văn học miền Bắc cùng
thời. Một trong những điều kiện đưa đến sự khác biệt
đó là do văn hóa tư tưởng. Miền Nam giai đoạn này
có sự tiếp thu văn hóa tư tưởng của cả phương Đông
lẫn phương Tây, nhưng rõ rệt nhất, đậm chất nhất là
văn hóa phương Tây. Có nhiều yếu tố thúc đẩy văn
hóa mới du nhập vào miền Nam: Môi trường văn hóa
tự do, vai trò của trí thức Tây học, nhu cầu trang bị
kiến thức toàn diện cho sinh viên của nhiều trường
Đại học (Đại học Văn khoa Sài Gòn, Đại học Văn
khoa Huế, Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Vạn
Hạnh). Võ Phiến trong Văn học miền Nam - tổng
quan, nhận định: “Có lẽ ít có thời kì nào trong lịch
sử nước ta người ta viết và đọc triết học nhiều như
thời kì này, người ta mê triết lý dữ dằn như thời kì
này” (Võ Phiến, 2015). Nhiều trường phái triết học,
mỹ học, lý luận - phê bình văn học du nhập vào miền
Nam như: Phân tâm học, Chủ nghĩa hiện sinh, Cấu
trúc luận, Hiện tượng luận, Phê bình mác-xít,… tạo
nên một diện mạo văn hóa đa dạng với sinh hoạt sôi
nổi, phong phú.
thiệu. Sự ngột ngạt, bế tắc đến cùng quẫn trong cuộc
sống, sự khốc liệt của chiến tranh là môi trường tâm
lý thuận lợi để triết học hiện sinh dễ dàng đi sâu vào
đời sống văn hóa tư tưởng của miền Nam bấy giờ.
Triết học hiện sinh gợi ra những suy tư của con người
về thân phận, về hoàn cảnh, về ý thức trách nhiệm
và hành động của bản thân trước thời cuộc. Trong
bài viết Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam
1954-1975 (trên bình diện lý thuyết), Huỳnh Như
Phương chỉ ra rằng: trên bình diện sáng tác văn học
“Chủ nghĩa hiện sinh đã đem lại cho văn học miền
Nam những thay đổi đáng kể, với quan niệm nghệ
thuật về con người cô đơn trong một thế giới phi lý,
với ngôn ngữ và kỹ thuật mô tả hiện tượng luận”
(Huỳnh Như Phương, 2008).
Sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong bối
cảnh ấy cũng mang màu sắc hiện sinh khá rõ trên
một vài vấn đề.
2. Nội dung
2.1. Con người cô đơn
Trong tác phẩm Thuyết hiện sinh là một thuyết
nhân bản, Sartre khẳng định rằng: hiện hữu đi trước
bản chất và “Như vậy, bước đi đầu tiên của thuyết hiện
sinh là đặt mọi người vào việc chiếm lĩnh những gì
mình đang tồn tại, và đặt lên con người toàn bộ trách
nhiệm về sự hiện hữu của mình” (J.P. Sartre, 2015,
Trong số đó, có lẽ triết học hiện sinh, văn học tr. 34). Trên hành trình khẳng định nhân vị độc đáo
hiện sinh có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, từ hoạt động của mỗi cá nhân, con người tự đặt mình vào những
sự lựa chọn, trải qua quá trình dấn thân, chinh phục
với những cảm thức lo âu, buồn đau, hạnh phúc hay
sung sướng. Với tinh thần tự đảm nhiệm lấy cuộc
đời mình, con người không thể không cảm thấy cô
đơn. Vì vậy, cô đơn là một vấn đề “bản thể” của
con người.
lý luận, sáng tác văn học đến cả tư tưởng, lối sống
của một bộ phận không nhỏ người miền Nam lúc bấy
giờ. Ban đầu, nó được giới thiệu chủ yếu trong trường
đại học và qua một số bài viết trên báo chí: “Ngay
từ năm 1953, chủ nghĩa hiện sinh đã được Triều Sơn
giới thiệu qua loạt bài đăng liên tiếp trên tuần báo
Mới, vào các số 20 (4/4/1953), 21 (11/4/1953) và 22
(18/4/1953), xuất bản ở Sài Gòn: Nửa giờ với triết
gia - thi sĩ tồn tại Jean Wahl, Triết lý tồn tại. Jean-
Paul Sartre - văn sĩ tồn tại, Các đề thuyết của triết
lý tồn tại. Simone de Beauvoir - nữ sĩ tồn tại” (Lã
Nguyên, 2017)… Phải sau cuộc đảo chính 1963, khi
Cảm thức cô đơn xuất hiện ở nhiều nhân vật
trong sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Ông Phủ
(Khung rêu) cảm nghiệm rằng “Con người ta vốn
dĩ cô đơn”. Một bà Mai Lý (Mãnh) âm thầm, khoắc
khoải trong nỗi cô đơn kéo dài “Cuộc sống ầm ĩ chung
quanh lúc đó vẫn chưa làm cho bà quên nỗi cô độc.
chủ nghĩa nhân vị do chính quyền Ngô Đình Diệm Tuy quen chịu đựng đã lâu, nhưng đôi lúc, bà vẫn
quảng bá bị sụp đổ, thì chủ nghĩa hiện sinh mới được hoảng hốt trước một viễn cảnh trống trải”. Nhân vật
“Tôi” (Một buổi chiều) thấy cuộc đời mình thật nhàm
chán trong “một cuộc phím du đơn độc”… Mỗi nhân
vật góp một bộ mặt khác nhau tùy theo cảnh trạng đời
giới thiệu mạnh mẽ và sâu rộng với những công trình
qui mô hơn. Các lý thuyết hiện sinh của F. Nietzsche,
K. Jaspers, M. Heidegger, J.P. Sartre,… và các sáng
65
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
sống. Cuộc đời vốn dĩ là một sự phi lí, bất khả giải. Xuyên. Tôi làm nghề giảng tập viên, lương thì ít, cực
Bắt đầu hay kết thúc, đời sống đều phi lí. Biểu hiện thì nhiều. Nỗi buồn lờ mờ tưởng như không sao dứt
của đời sống phi lí là con người bị đẩy vào những
nghịch cảnh mà từ đó, con người cảm nhận một cách
sâu sắc rằng cô đơn là một định mệnh không thể thay
đổi được. Cảm thức cô đơn của ông Phủ trong Khung
rêu xuất phát từ hoàn cảnh bi đát của ông ở tuổi 70.
Ông thất vọng vì con cái hư hỏng. Đứa con cả thuộc
hạng “phá gia chi tử”. Đứa con kế nhu nhược, lười
biếng và chỉ biết ăn bám vào gia tài đang ngày càng
hao mòn dần của ông. Đứa con út mặt mày sáng sủa,
thông minh đĩnh ngộ thì lại là ái nam ái nữ. Còn lại
Thụ là đứa con ông kì vọng nhất thì trốn nhà vào chiến
khu, đi theo lý tưởng riêng mà lý tưởng đó lại chống
lại lợi ích của tầng lớp ông. Ông bị vợ ruồng rẫy bởi
trong một phút ma xui quỷ khiến ông làm cho cô hầu
gái đáng tuổi con mình có thai. Ông cám cảnh vì sự sa
sút của gia đình do bao nhiêu đất đai tích cóp cả đời
đến bây giờ bỗng dưng mất trắng bởi nông dân không
chịu đóng thuế nữa. Bao nhiêu nỗi ưu phiền quay tít
đảo điên và ông cảm thấy “mình cô đơn, thiếu vắng
những người bạn đồng hành trong chuyến đi về với
cát bụi”. Cả một đời huy hoàng trong trong sự giàu
có, trong danh vọng, ông không ngờ đến tuổi gần đất
xa trời phải chịu những nghịch cảnh như vậy. Ông
cảm giác mọi thứ xung quanh đang quay lưng lại với
mình. Những người thân thuộc không thể hiểu được
nỗi khổ tâm của ông và ông gặm nhấm nỗi đau khổ,
cô đơn cho đến ngày trút hơi thở cuối cùng.
được”. Tuổi trẻ nhiều khát vọng không thể cứ mãi
quẩn quanh với sự đơn điệu, “Tôi phải ra đi. Ra khỏi
cái nhà nầy, cuộc đời tôi sẽ thay đổi”. Những tưởng
việc rời môi trường cũ để nhập cuộc vào một khung
cảnh mới có thể mang lại sinh khí mới, nhưng không,
“Ở đây nhộn nhịp, nhưng tôi có một thế giới riêng,
thế giới tẻ ngắt, như lúc tôi sống ở Long Xuyên”. Phải
chăng, tác giả ngầm ý rằng, xã hội ấy, bầu không khí
thời đại ấy bao trùm lên con người một màu u tối và
xám ngắt. Dù ở đâu, đô thị hay vùng tỉnh lẻ, cuộc đời
vẫn thế. Con người trở nên vô danh giữa đám đông,
tồn tại mà như đang vắng mặt, lờ đờ trôi giữa cõi nhân
gian vốn đã hư ảo, phù du.
Dù sống giữa những người xung quanh, ràng
buộc với nhau bởi những mối quan hệ thân - sơ nhưng
các nhân vật trong truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ đều
có xu hướng thu mình vào thế giới của riêng mình để
tự trải nghiệm với những bí mật của tâm hồn. Những
tâm tư, suy nghĩ, trăn trở, lo âu, những kí ức, bí mật
dường như không thể lật mở cho người khác. Họ bộc
lộ một đời sống tinh thần khép kín trong nỗi cô đơn.
Như vậy, nơi đâu có cô đơn, ở đó luôn có mối quan
hệ bị tách rời khỏi cộng đồng. Chính những khác biệt
trong tâm hồn thể hiện qua suy nghĩ, quan điểm, tư
tưởng khiến cho con người cô đơn tuyệt đối. Triết
hiện sinh nhắc nhở con người rằng mỗi cá nhân là
một độc đáo, rằng trong những hoàn cảnh như nhau,
mỗi người hoàn toàn có thể định đoạt khác nhau, phản
ứng khác nhau. Mỗi hiện sinh thể tồn tại qua những
cách riêng biệt của mình và thường những cách đặc
biệt đó sẽ đẩy họ tách ra khỏi đám đông hỗn tạp, tồn
tại cô đơn ở thế đối lập với tất cả mọi người.
Tính phi lí còn được phơi bày ở cái vô nghĩa, đơn
điệu đến “buồn nôn” của kiếp sống vô thường, thừa
thãi, dửng dưng. Trong thế giới đó, ý nghĩa của cuộc
nhân sinh chìm khuất giữa khung cảnh nhạt nhòa, vô
nghĩa vô hồn. Bà Mai Lý (Mãnh) người đàn bà không
chồng không con, làm nghề dạy nữ công gia chánh.
Cuộc đời góa bụa, một thân một bóng của bà, sau
mỗi buổi học chiều, càng trở nên hoang vắng. Còn gì
chua xót hơn, khi con người buộc phải đối diện với cô
đơn và bắt buộc làm quen với nó như một người bạn
đồng hành. Do đó, bà vui buồn thất thường, nhưng
bà còn bấu víu cái gì để nghĩ đến ngày mai? “Không
chồng, không con, lại ngại ngùng về chuyện tái giá, lại
nhút nhát không dám sống bừa bãi, bà gần như mòn
mỏi trong sự trong sạch khô khan”. Nhân vật “Tôi”,
một cô gái trẻ trong Một buổi chiều có một đời sống
ở tỉnh lẻ giống vài nhân vật khác của Thụy Vũ, với
một công việc nhàm chán, một nhịp sống mỏi mòn
“Chỉ còn mình tôi trong căn nhà cổ âm thầm ở Long
Trong tác phẩm Đợi chuyến đi xa, mỗi con người
là một thế giới đóng kín và cô độc. Căn nhà nhỏ của
năm mẹ con chị Tám có thêm 4 người đến ở trọ ăn
cơm tháng. Cô Ba gần bốn chục tuổi, chưa chồng,
làm thư ký, về ở trước nhất. Cô Hương ở Thủ Dầu
Một, đã đính hôn, xuống học nữ công. Mỹ, một vũ
nữ, ít nói, thường thích ngồi một mình trầm ngâm.
Và Linh (nhân vật xưng tôi), từ bỏ công việc giảng
tập viên ở tỉnh lên Sài Gòn học tiếng Anh. Chín con
người sống chung dưới một mái nhà nhưng “Mỗi
người sống với một thế giới riêng, một ảo tưởng riêng.
Ngoài mặt tất cả đều làm ra vẻ thản nhiên, nhưng ai
biết được những thầm kín bên trong.”. Họ có thể tán
66
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 64-72
nhảm với nhau về thời trang, những chuyện ngồi lê “Tỉnh tôi nhỏ bé quá, chuyện gì họ cũng thích bàn
đôi mách vô hại nhưng tuyệt nhiên những chuyện tán. Họ giàu tưởng tượng và khoái thêm thắt”. Như
việc Linh xin nghỉ dạy để đi Sài Gòn liền bị họ đồn
rằng Linh đi phá thai, Linh cặp bồ với hiệu trưởng.
Những nhân vật, đặc biệt là nhân vật trẻ tuổi, cảm
thấy không thể thở được trong vùng không khí đặc
sệt, cứng ngắc đó, cuộc đời họ bị đè nặng ở đây và
họ tìm kiếm một cuộc giải thoát, một sự tách ra khỏi
cộng đồng. Ở vùng đất khác - Sài Gòn - cũng tạo ra
một cảm giác tương tự. Ở khu lao động nghèo trong
Cho trận gió kinh thiên, thiên hạ nhảy xổm vào cuộc
sống của nhau, tọc mạch về nhau quá nhiều. Họ lấy
bí mật đời tư của người khác để làm quà, để đưa đẩy
trong những buổi ngồi lê đôi mách. Họ tùy tiện, bừa
bãi phơi bày đời tư của người khác một cách thích
thú. Ngược lại, xóm trọ trong Một buổi chiều thì
mạnh ai nấy sống, hai nhà kế bên nhưng chẳng biết
gì về nhau “Ở đây nhà cửa chen chúc, thiên hạ rần
rộ, nhưng chẳng ai giao thiệp với ai”. Như vậy, cả
hai thái độ của đám đông: hoặc thờ ơ lạnh lùng, hoặc
can thiệp quá mức làm con người sợ hãi, thu mình
lại trước tha nhân.
đời tư, những tâm tình sâu kín, họ không hề nói với
nhau. Họ thu mình trước những người xung quanh,
gói ghém nội tâm trong cái vẻ ngoài rất ổn. Họ như
những khối cô đơn đặt cạnh nhau một cách lạnh lùng,
dửng dưng. Đến mức mà, Linh cảm thấy, việc rình
bắt trộm dù không mang lại kết quả gì nhưng ít nhất
nó khuấy động sự yên ắng của ngôi nhà trong chốc
lát. Người cô đơn luôn cảm nhận có một bức tường
ngăn cách họ với những người xung quanh, không ai
để ý đến cảm xúc của họ và họ cũng vậy, chẳng đủ
tinh tế để nhận biết cảm xúc của người khác. Chẳng
hạn như Tưởng (Như thiên đường lạnh) có cuộc sống
khá lí tưởng: là thầy giáo; lấy vợ xong xây nhà lập
vườn giữa một cù lao xanh mát; ngoài việc dạy học
thì chăm sóc vườn cây, câu cá, chẳng phải lo lắng
chuyện kinh tế, gia đình. Cô vợ biết vén khéo, yêu
chiều chồng. Nhưng, trong ngôi nhà đó anh ta vẫn
thấy mình thiếu thốn một cái gì đó rất mơ hồ, không
thể hài lòng với hiện tại. Tưởng hay cáu gắt với sự
chăm sóc của vợ và muốn thực hiện một chuyến đi
xa để hưởng không khí tự do. Vợ chàng thì ngược
lại, để giữ hạnh phúc, lúc nào cũng muốn giữ chồng
bên mình. Cả hai không thể thấu hiểu tâm tư nhau,
thành ra cuộc sống hôn nhân có nhiều bất mãn. Tưởng
đổ lỗi cho vợ: “Tưởng nhìn vợ bằng con mắt dữ tợn.
Tuy nhiên, cô độc không có nghĩa là bỏ mặc bản
thân mình. Dù chỉ còn có một mình, con người vẫn
phải vươn lên, vẫn phải đấu tranh với nghịch cảnh
để tồn tại một cách có ý nghĩa. Họ luôn mang trong
mình khát vọng đổi đời và tìm cách thực hiện nó. Dù
Chàng có cảm tưởng Khương đã tàn hại cuộc đời, sinh sao, cũng phải làm cho cuộc đời có ý nghĩa và khẳng
thú chàng từ trăm vạn kiếp nào rồi. Nàng cứ đẩy xô định nhân vị của mình. Linh trong Đợi chuyến đi xa
chàng vào một hoàn cảnh tối tăm, vào tình trạng say cảm thấy “Cuộc đời cô đơn kéo dài quá”, nhưng “Tôi
không phải là kẻ chán đời đến nỗi sống ra sao cũng
được. Dù có cảm tưởng bị đời quên lãng, nhưng tôi
không muốn trở thành một nhân vật lố lăng bất cần
thiên hạ để phản ứng với cái hờ hững của đời”. Đó là
một thái độ sống rất tích cực. Không vì cảm giác lạc
lõng mà buông xuôi hay hờ hững lại với cuộc đời. Ít
nhất là Linh còn muốn bấu víu vào cuộc tình với Duy
để thấy cuộc đời còn có ý nghĩa “Em chỉ còn một mối
tình không còn say mê hào hứng nữa. Nhưng mất nó,
em không hiểu sẽ bám vào cái gì để tiêu nốt quãng đời
trống rỗng còn lại”. Linh nuôi hi vọng về một sự thay
đổi cho cuộc đời mình “Em nghĩ rằng một chuyến đi
xa có thể lấy lại sự an ổn trong tâm hồn. Và em lại
chờ đợi”. Đó là một sự cố gắng, không phải để trốn
chạy nỗi cô đơn mà là đang tìm cách để khẳng định
sự tồn tại có ý nghĩa của bản thân.
say, tỉnh tỉnh với bao nhiêu ước vọng ẩn hiện nhưng
không bao giờ thực hiện nổi”. Cả hai con người chỉ
biết trách móc nhau nhưng kì thực, ai cũng là người
cô độc và cũng là thủ phạm đẩy người con lại vào
tình cảnh cô đơn. Hoặc có khi, con người hoàn toàn
không chia sẻ được cả với chính bản thân mình, bưng
bít mọi sự thoát ra của nỗi cô độc và bị dồn nén đến
tận cùng. Vậy nên, có những nhân vật bí bách trong
bức tường tư tưởng của mình đến phát điên như Tịnh
trong Khung rêu hay Kim trong Thú hoang.
Các nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ không
cố tình tách mình ra khỏi cộng đồng. Nhưng chính
cộng đồng mang lại cho họ một cảm giác bất an, và
để thoát khỏi bầu không khí bất an đó, họ buộc phải
lựa chọn, phải rời đi. Chân trời vùng tỉnh lẻ không chỉ
đưa lại một nhịp sống đơn điệu, nhàm chán, mà những
con người nơi đây, đám đông nơi đây cũng gây nên
những nỗi sợ hãi. Linh (Một buổi chiều) cảm nhận
Con người hiện sinh không chỉ ý thức được sâu
sắc những ngẫu nhiên và nghịch cảnh của số mệnh,
67
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
họ còn ý thức rất rõ về những hữu hạn của đời sống, thêm bành trướng và danh vọng của hai chàng rể ngày
giới hạn của khả năng con người. Trên thực tế, cuộc càng cao”. Cụ ông không sợ chết nhưng cụ bà thì sợ
sống có rất nhiều giới hạn và không phải giới hạn nào hãi, lo âu “Bấy lâu nay cụ đi lễ chùa cũng là do cái
con người cũng đủ sức vượt qua. Giới hạn lớn nhất
trong cuộc đời mà con người buộc phải đối diện là
tuổi già và cái chết. Tuổi già và cái chết giống như hai
kẻ song hành mà con người luôn muốn chinh phục,
chế ngự nhưng bất thành. Và khi không thể chống lại
cái chết, khi phải một mình đối diện với định mệnh
nghiệt ngã, con người hầu hết đều thấm thía thân phận
cô đơn của mình. Về vấn đề này, các nhà hiện sinh
đều thống nhất khi cho rằng: nhân sinh ngay ban đầu
đã đối đầu với cái chết, cho dù người đó có cố tình
trốn vào trong đời sống hàng ngày để mong sự yên
ổn cũng không thể thoát khỏi bị chết... Cái chết vào
bất cứ lúc nào, ở đâu cũng đều có khả năng. Nỗi ám
ảnh về giới hạn của tuổi già và cái chết có thể thấy
trong tác phẩm Chiều xuống êm đềm. Trong khi gia
cảnh đang êm ấm, nhàn hạ, hai cô con gái đều lấy
chồng nơi giàu sang, ông bà Bá hộ thật mãn nguyện
không còn gì để phàn nàn, thì ông lại bàn đến chuyện
xây cỗ hậu sự: “Nè bà, bắt đầu từ ngày mai tôi phải
lo hai cỗ hậu sự cho vợ chồng mình chớ.”. Sự giàu
sang trong tuổi xế chiều chẳng làm cụ phấn khởi được
bao nhiêu. Trong khi “Tuổi già sao mà mênh mông
những chán ngán mơ hồ”. Nỗi chán đời mênh mông
đó làm cho cụ tê liệt cả mọi hoạt động hào hứng. Cụ
cảm thấy mình bắt hụt, với không kịp cái hoạt náo
của những người trẻ chứa chan nhựa sống. Có lẽ vì
“Té ra sự cô độc làm con người lười biếng, uể oải”.
Cứ như vậy, cụ trải qua tuổi xế chiều một cách âm
thầm trong ngôi nhà cũng âm thầm, lạnh lẽo. Tuy vậy,
ý nghĩ về cái chết không làm cụ ông sợ hãi, cụ bình
thản đón nhận nó “Cái gì sẽ đến cụ? Thật ra, cái gì
đó đâu có khoác lên một khuôn mặt ghê tởm, mà nó
là một đợt khói lướt qua cụ rồi cuốn đi mà cụ chẳng
hay biết gì… Lòng cụ tự dưng êm dịu khác thường”.
Thấu suốt lẽ vô thường của cuộc đời, cụ không có
ý nghĩ níu kéo cuộc sống trần thế nữa. Cụ không sợ
chết nhưng đối diện với tuổi già bằng thái độ rầu rĩ,
phiền muộn, băn khoăn mà vợ con không thể hiểu
được. Chính bản thân cụ cũng có đôi lúc không khỏi
thắc mắc: “Sao ta lại rầu rĩ không biết? Ta nào có sợ
chết”. Trái ngược với thái độ sống của cụ ông, cụ bà
vẫn không thôi lao vào những cơn sóng háo thắng,
chen đua; vẫn còn vui buồn theo thế sự, vẫn còn sân
si chuyện được - mất, sang - hèn: “Ước vọng nồng
nàn của cụ bà là làm sao cho cái gia sản mỗi ngày một
chết ám ảnh”. Ý nghĩ về tuổi già sao mà khắc nghiệt,
cụ tự hỏi “Có lẽ nào người già cả chỉ tìm hưởng thụ
món ngon rồi đợi cái chết hay sao?”. Mỗi phút giây
trôi qua như phảng phất hơi thở lạnh lẽo của cái chết.
Niềm vui sống đã bị ý nghĩ về cái chết làm cho giảm
đi cả sinh hứng “Nhưng ngay trong cái tuổi mệt mỏi
cần yên nghỉ này, cụ vụt thấy sự sống quá quý báu vô
ngần. Nó giống như lúc cụ xem một vở tuồng vui sắp
chấm dứt, cái vui thưởng thức lại còn xen cái viễn ảnh
lúc vãn hát nên không còn trong trẻo toàn vẹn nữa.”.
Ý thức sự chết là tất yếu nhưng vươn lên để chống
lại nó cũng là tinh thần của con người hiện sinh. Hai
vợ chồng cụ là hai thái độ trái ngược nhưng hợp lẽ
tự nhiên của con người trước cái chết.
Chỉ có con người mang nhiều suy tưởng, ưu tư
về cuộc sống mới nhìn nhận cái chết một cách đúng
đắn. Jaspers khẳng định: “chỉ những người quen suy
tư mới có thể hiểu ý nghĩa rất mực hiện sinh của
cái chết” (Phan Quang Định, 2008, tr. 230). Theo
Heidegger, cái chết là cái không thể nào khước từ,
nó như một nguy cơ, là cái giới hạn tối đa của tồn
tại người, là cái thủ tiêu hiện sinh. Sống và chết là
hai điểm quan trọng của cuộc nhân sinh. Tuy nhiên,
đã là con người hiện sinh thì không sợ chết. Tiếng
nói của lương tâm kêu gọi con người phải chấp nhận
tính hữu hạn và tính phủ định của bản thân như Sartre
từng nói khi bàn về cái chết: “Tôi chỉ hiện sinh khi
tôi không còn hiện sinh nữa”. Ngược lại, nỗi sợ hãi
trước cái chết, sự chạy trốn hèn nhát, sự phủ định tính
thực tại của nó chứng tỏ tính hiện sinh tầm thường,
không đầy đủ, hư ảo, bị trói buộc trong bóng tối của
con người vô nhân cách.
2.2. Con người ưu tư và khát vọng vươn lên
Thuyết hiện sinh xem mỗi con người là một
nhân vị độc đáo, nhưng vẫn có tình trạng con người
từ chối sự độc đáo của bản thân, hay không nhận thức
được sự cần thiết phải trở thành một cá thể độc lập.
Tình trạng đó các nhà hiện sinh gọi là “phóng thể”.
Phóng thể, nguyên nghĩa dịch từ tiếng Pháp là "hóa
thành cái khác", thành người khác. Phóng thể là tình
trạng những con người chưa tự ý thức mình là những
nhân vị độc đáo, họ sinh hoạt như mọi người và hành
động chỉ vì người khác bảo mình làm hoặc nghĩ mình
phải làm chứ không phải vì mình muốn hay cần làm
68
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 64-72
để khẳng định bản ngã của mình. Phóng thể làm ơi, sao tôi không nuôi một giấc mộng lớn, giấc mộng
mất bản ngã của con người, làm con người sống yên nhỏ gì ráo trọi như vậy?”. Điều gì đã khiến Tưởng
trong một trạng thái gần như sự vật, là căn nguyên thành như vậy? Cuộc sống gia đình êm đềm, công
của cuộc sống tầm thường, nhạt nhẽo và vô nghĩa. việc nhàn rỗi, người vợ lúc nào cũng chiều chuộng đã
Ngược lại, con người biết ưu tư, là khi con người đã làm cho Tưởng sống cầu an buông theo ngày tháng.
tự thức tỉnh, nhận thức được cái nhân vị độc đáo của Và chính trong sự bình an đó Tưởng lại thấy bất an
mình. Nói theo Trần Thái Đỉnh: “Ưu tư là bắt đầu khi cảm thấy cuộc đời mình vô nghĩa, trở nên trống
vươn lên” (Trần Thái Đỉnh, 2005, tr. 47). Con người rỗng, nhàm chán. Đôi lúc tự hỏi về giá trị của bản thân
ưu tư không phải là con người sợ hãi mà là đang băn mình, Tưởng thầm nghĩ “Với cuộc đời nầy, ta chỉ là
khoăn về sự huyền nhiệm của tương lai. Con người con ong đực, có bổn phận gây giống thôi, chớ không
hiện sinh là con người biết ưu tư, biết tự chọn con làm gì ích lợi hết”. Không chịu được cảnh sống đó,
đường đi của mình chứ không thoái vị sự lựa chọn Tưởng dự định một chuyến đi xa, bứt ra khỏi không
cho người khác, điều đó chẳng khác nào bỏ đi nhân khí gia đình, làm một cuộc phiêu lưu để tìm lại chính
vị làm người tự do của mình. Nhân vật của Nguyễn mình. Bức thư của người bạn rủ rê Tưởng lên Sài
Thị Thụy Vũ phát biểu: “Tìm một lối sống quả là khó Gòn lập nghiệp như viên sỏi rớt xuống mặt ao phẳng
khăn. Loại bỏ mặc cảm cô đơn và chống lại những ý lặng, khuấy động tâm hồn Tưởng, khuấy động giấc
tưởng sa ngã quả thật khó khăn gấp bội” (Nhang tàn mơ của chàng. Những trăn trở của nhân vật là sự tự
thắp khuya). Việc tìm cho mình một cách sống, một vấn về ý nghĩa tồn tại của mình, có thể xem là biểu
lối sống mang tính bản thể thật không dễ dàng. Có hiện của khát vọng vươn lên. Nếu không có nỗ lực
người chọn lối sống trọng vật chất, trau chuốt cho vẻ kiếm tìm, con người hẳn sẽ không còn đủ sức mạnh
ngoài. Có người xem đời sống tâm hồn mới thực sự để neo đậu lại nơi chốn trần gian tẻ nhạt này. Hành
đáng quý, có ý nghĩa. Nguyệt và Linh trong truyện trình đó dù ngắn hay dài, dù di chuyển xa hay gần,
ngắn Tiếng hát rất thân với nhau nhưng hai người là dù trong thoáng qua của ý nghĩ hay biến thành hành
hai lối sống đối nghịch. Đối với Nguyệt, văn chương động cụ thể thì cũng rất có ý nghĩa với cuộc sống
nghệ thuật như một thế giới xa lạ không thú vị, nó của con người. Bởi những người hiện sinh là người
chẳng mang đến một sự tươi mát nào cho đời sống nhìn rõ vẻ tầm thường chán ngắt của cuộc sống khi
tâm hồn và “nếu không có nghệ thuật thì cuộc sống người ta không hành động, sống như một cái máy mà
của mình cũng chẳng hề hấn chi” . Sự quan tâm của không biết mình muốn gì, thực sự cần gì. Những phút
Nguyệt là “Phải mặc màu áo gì cho thích hợp với làn giây truy vấn mình, khát vọng được sống là mình ấy
da nâu hồng, cho ăn khớp với thời tiết, phải đeo những làm con người cảm thấy sung sức và tràn đầy nhiệt
món nữ trang nào có giá trị và tân thời nhất trong đám huyết sống hơn.
con gái làm chung sở, phải làm cho chúng bạn ghen
hờn nhan sắc và cuộc sống xa hoa của mình.”. Trong
khi, Linh là họa sĩ, chỉ biết đến cọ màu, khung vẽ và
mê văn chương. Nguyệt nghĩ “Tôi chỉ là loại người
không sống bằng tinh thần. Tâm hồn, tài hoa đối với
tôi chỉ là những từ ngữ thừa trong quyển tự điển của
đời mình. Tôi có cuộc sống khác Linh, nó thờ cúng
kỷ niệm, quá khứ, ca tụng đời sống tinh thần, cơ hồ
như bỏ quên thực tại”. Tác giả hầu như không bình
phẩm, hay nhận xét về lối của hai nhân vật, rằng ai
đúng ai sai, rằng ai nên ai không nên. Nhưng bằng
cảm nhận của chính nhân vật về cuộc sống của mình,
độc giả có thể thấy được câu trả lời. Hay đôi khi, cuộc
sống êm đềm ngỡ như thiên đường mà ai cũng mơ
ước nhưng vẫn không làm hài lòng người trong cuộc.
Anh chàng Tưởng (Như thiên đường lạnh) thấy rõ sự
ù lì, trì trệ của mình trong cái thiên đường đó “Trời
Với phần lớn nhân vật chính trong các tác phẩm
của Nguyễn Thị Thụy Vũ là nữ, cái nhìn hiện sinh của
nhà văn về kiếp nhân sinh đương thời cũng mang màu
sắc nữ quyền. Simone De Beauvoir là người sáng lập
và cũng là đại biểu lớn nhất của thuyết nữ quyền hiện
sinh. Theo quan điểm của bà, phụ nữ muốn trở thành
“cái tôi” như nam giới thì phụ nữ phải biến mình thành
những gì mình muốn. Tức là thay vì trở thành những
gì mà nam giới gán cho thì họ phải làm chủ bản thân
mình, làm những gì mình muốn, trở thành những gì
mình muốn, tự quyết định cuộc đời mình và tự chịu
trách nhiệm với quyết định của mình. Cô Ba Ngoạn
(Nhang tàn thắp khuya) là một đại diện cho người
phụ nữ dám tự quyết với cuộc đời mình. Quyết định
thay đổi cuộc đời mình của cô Ba Ngoạn phải trải qua
quá trình đầy khó khăn. Bối cảnh xã hội miền Nam
thập niên 30 của thế kỉ XX, người phụ nữ vốn sống
69
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
trong vòng kiềm tỏa nặng nề của lễ giáo phong kiến. mãn. Không một sự ủng hộ, cổ vũ, thậm chí là bị lên
Con gái nhà quyền quý, mười cô như một, quen thói án, nhưng cô Ba Ngoạn mạnh mẽ quyết định và mạnh
ăn ở không, trau dồi nữ công nữ hạnh, đợi chồng hỏi mẽ bước đi trên con đường lựa chọn của mình. Đó
cưới. Riêng cô Ba Ngoạn có những suy nghĩ, hành mới chính là sự hiện sinh đích thực. Đích cao nhất
động khác những chị em còn lại. Cô muốn thi vào mà con người hướng đến là tự tạo lập một đời sống
trường sư phạm để có nghề nghiệp, độc lập về kinh cá nhân mà họ thấy có ý nghĩa. Để làm một hiện sinh
tế - ý tưởng của cô ngay lập tức bị gia đình dập tắt vì thể đúng nghĩa, con người phải dấn thân, nhập cuộc,
lí do đi ngược lẽ thường. Cô yêu một anh chàng tá tự mình làm nên bản chất của mình. Vì vậy, dù định
điền, thuộc tầng lớp dưới, không môn đăng hộ đối. mệnh khắc nghiệt, tha nhân thù địch thì nhiệm vụ
Tình yêu bị cấm cản, gia đình chàng trai bị đuổi đi nơi chính yếu của con người vẫn là phải luôn chủ động
khác, cô tự tử nhưng được cứu. Sau lần chết hụt đó để đảm nhiệm cuộc sống.
cô Ba Ngoạn quyết tâm thay đổi cuộc đời “Tôi phải
tự cứu vớt lấy mình… Tôi khát khao một đời sống tự
lập”. Khi không thể suy nghĩ và hành động theo thói
thường, không thể chấp nhận cuộc sống theo khuôn
nếp cũ, con người càng có quyết tâm thay đổi. Cô bắt
đầu viết đoản văn, tùy bút, làm thơ rồi gửi đăng báo,
đã là việc làm hiếm thấy lúc bấy giờ. Hành động táo
bạo cho cuộc vượt thoát khỏi vòng kiềm tỏa là việc
cô trốn lên Sài Gòn, bắt đầu nhập cuộc vào văn giới.
Cha cô phản ứng quyết liệt, đăng báo từ con. Anh rể
nghĩ: “Tôi không dè nó hư hỏng vậy”, chị ruột xấu hổ
vì có đứa em như cô. Song cô cương quyết “Tôi phải
định đoạt đời của tôi chớ… Tôi đã quyết thử thời vận,
dầu có vấp ngã, tôi thề không ân hận”. Dám thay đổi
là dám chịu trách nhiệm cho sự lựa chọn của mình.
Trong vòng ba tháng sau, tên Kiều Ngoạn xuất hiện
phổ biến trên các nhật báo Nam Kỳ. Nhìn một cách
khách quan, đó là sự thành công. Nhưng định kiến
cổ hủ thì cho rằng “Việc viết nhựt trình đâu phải là
việc của đàn bà?” và “Thời buổi này, một người con
gái mở rộng tầm giao thiệp là cả một chuyện táo bạo,
dù chuyện đó có văn nghệ phất lên trên”. Bỏ qua tất
cả những thành kiến đó, cô Ba Ngoạn vẫn kiên định
với con đường của mình. Hành động của cô đã trả lời
cho một sự bất công với nữ giới: “Tại sao một người
con gái muốn sống tự lập, muốn thoát ly khỏi cái
không khí nặng nề và cái lề thói cổ hủ của gia đình,
thì thiên hạ lại trút lên đầu bao nhiêu là tội lỗi? Nên
hư gì thì cũng do mình”. Tư tưởng trọng nam khinh
nữ đã trút tội lỗi lên những hành động táo bạo kia,
và làm người ta nghĩ rằng: đối với người đàn ông,
sự lầm lỡ cũng có nhiều cơ hội sửa chữa, còn đàn bà
thì... Định kiến đó khiến họ không thể nhìn hành động
của cô Ba Ngoạn bằng sự cảm thông. Cô còn tiến xa
hơn thế: giao thiệp rộng, mở salon littéraire (phòng
văn học, bàn luận văn chương), học nhảy đầm, uốn
tóc, lấy chồng người Pháp, cuộc sống hạnh phúc mĩ
Bên cạnh cô Ba Ngoạn, Thục Nghi (Nhang tàn
thắp khuya) cũng luôn trăn trở về hiện sinh của mình.
Thục Nghi có một đời sống gia đình không hạnh phúc
vì cô không tìm thấy sự hòa hợp với người chồng hơn
cô mười tuổi. Đúng lúc ấy, sự xuất hiện của Duy - anh
chàng đầy thơ mộng cùng tuổi với Thục Nghi, là bạn
của chồng cô - lại đáp ứng được những điều cô đang
khao khát ở đời sống lứa đôi. Sự đấu tranh giữa con
người chức phận và con người khát khao làm cô đau
khổ. Chưa có hành động nào vượt ra ngoài vòng lễ
giáo, mới chỉ là những phút xao lòng của một cuộc
ngoại tình tư tưởng. Dù vậy nhưng cô luôn cảm thấy
khinh ghét bản thân mình vì “Tựu trung nàng vẫn là
người đàn bà hèn nhát, không dám sống, không có
một thái độ chọn lựa thích hợp để tìm một lối đi, một
tia sáng nào”. Cô bị một nỗi sợ to lớn trùm lấy, đó
là vòng đai lễ giáo phong kiến bền chặt, khiến cho
“Nàng phải bế môn tỏa cảng những khao khát, những
dục vọng và phải cố gắng sống an phận trong nỗi
cô đơn dằng dặc có thể kéo dài cả một kiếp người”.
Cuộc đời trầm lặng kéo dài trong khô khan, thảm
kịch kéo dài trong nỗi băng hoại ngấm ngầm. Thục
Nghi thuộc kiểu nhân vật nhận thức được sự cần thiết
phải vươn lên nhưng không đủ can đảm để vượt qua
những rào cản. Không thể vượt thoát hoàn toàn khỏi
cuộc sống tẻ nhạt tầm thường với những khác biệt,
mâu thuẫn, nghịch cảnh, Thục Nghi chọn cách thích
nghi với cuộc sống đó bằng cách tự tạo những niềm
vui sống nho nhỏ. Cô tìm đến công việc nội trợ yêu
thích để xóa đi bóng tối nghi hoặc chi phối tâm hồn,
tìm được sự bình lặng. Việc chăm sóc đứa con mới
chào đời cũng mang lại hạnh phúc riêng. Cô cố gắng
tận hưởng “được bao nhiêu hay bấy nhiêu” những
phút giây ít ỏi nồng mặn bên chồng và nhâm nhi nỗi
tuyệt vọng thật đẹp, thật tươi thắm của ái tình đã sụp
đổ. Cô nỗ lực trong việc kiếm tìm và tạo dựng một
cuộc sống có ý nghĩa ngay từ những điều bình thường
70
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 64-72
nhất. Điều đó giúp cô quên đi giấc mộng không thành
Trường hợp của cô Ba Ngoạn, Liễu, Linh, Đức,
để có những ngày tháng thanh thản hơn. Trong khi Liên là số hiếm hoi không đầu hàng số phận. Thay vì
đó, đám đàn bà còn lại trong Nhang tàn thắp khuya:
cô Hai Diệm, cô Sáu Niệm, cô Quế Hương sống yên
ổn, trầm lặng trong vòng lễ giáo phong kiến. Giữa
một đời sống đầy rẫy phi lý con người bỗng trở thành
những nô lệ của các luật lệ, luân lí. Đời sống là tất cả
cuộc hiện sinh, thật có giá trị nhưng cũng vô giá trị
đối với những người sống thụ động và ảm đạm. Chính
nền luân lý khắc nghiệt của xã hội đã biến con người
thành tiêu cực và thụ động. Còn gì đáng chán hơn
khi con người đang sống mà không biết mình sống
vì cái gì, sống như thế nào, như Đức nói “Anh chán
đời sống như vầy trong khi anh chẳng có mơ tới đời
sống khác. Khổ tâm là ở chỗ đó”.
phó mặc đời sống như những tha nhân họ đấu tranh
để tìm lại nhân vị, truy tìm những giá trị đích thực,
khẳng định sự tồn tại có ý nghĩa của mình trong thế
giới, giải tỏa những lo âu, và sẵn sàng đón nhận cái
giá cho sự đấu tranh đó.
Sống mà không biết vươn lên nói theo Sartre
thì đó là những “vật tự thân” nhầy nhụa, đặc sệt và
buồn nôn. Nó cứ ù lì mãi thế, chẳng có chỗ chứa cho
những tri thức mới, những kinh nghiệm mới, nó đặc
ứ và không có tha tính, và sẽ muôn đời như thế cho
đến khi nó kiệt quệ đi. Trái lại, những con người biết
vươn lên là những hữu thể tự quy, có khả năng hư vô
hóa cái chất đặc sệt kia, với đặc tính là luôn biến đổi
và tiến lên không ngừng nghỉ. Những người nào có ý
muốn an hưởng đều là những kẻ đã “sa lầy”. Họ sống
mà như đã chết vì chỉ có người chết mới không biết
vươn lên: “Họ sống mà thực sự họ đã chết. Chết, vì
họ không còn vươn lên nữa. Họ cũng đầy ứ như một
vật tự thân” (Trần Thái Đỉnh, 2005, tr. 51).
Trong một tác phẩm khác, Thú hoang, Liễu
đang độ tuổi thanh xuân ngập tràn sinh khí, nhưng
bị đặt vào một nhịp sống ngày hai buổi sáng chiều
đến trường cao tiểu dạy học, đêm lại về với căn nhà
trống trải mênh mông, lạnh lẽo. Ngoài ra chẳng có
thú vui gì “Tôi nhìn cuộc đời hiện tại mênh mông
không một trụ cột, một ước vọng say mê nào để mà
bám víu… Tôi sẽ tàn tạ trong một xó xỉnh của tỉnh
lỵ đìu hiu nầy”. Ý nghĩ về cuộc đời làm Liễu cảm
thấy xót xa “Tôi sợ đầu óc mình trống vắng dễ nghĩ
ngợi bâng quơ rồi đau xót, thương hại mình trước
một viễn ảnh trống trơn, một hiện tại nhiều bất mãn
và một tương lai trắng xóa vô vọng trước mắt”. Cô
quyết định nghỉ dạy và quyết định làm cuộc lột xác
bằng một chuyến đi xa “Tôi sẽ rời bỏ ngôi nhà cổ âm
thầm với tiếng cắc kè trên đầu kèo, như lời nguyền
rủa tương lai từng đêm… Tôi muốn chạy trốn bối
cảnh nhàm chán đó, cùng những âm thanh rã rời buồn
nản, như cuộc sống tôi hiện tại. Tôi đi đây, ngày mai
ra sao cũng mặc. Cứ đi, bỏ lại sau lưng mình thành
phố nhỏ hẹp, với ánh đèn đường vàng vọt, với mọi
lời gièm pha cho mọi nỗi bất hạnh, với cuộc sống che
giấu, đạo đức giả vờ”. Cứ thế, Liễu và cả Linh, Đức,
Liên,… họ cứ đi vì nhu cầu bức thiết của bản thân là
không chịu được cảnh sống hiện tại. Còn tương lai
ra sao? Họ không biết, không dám kì vọng. Đôi khi
sự lo lắng hay mặc cảm bị phủ nhận, bị bỏ rơi làm họ
muốn quay trở về nhưng họ không thể quay lại. Dù
chỉ mang một chút hi vọng đổi đời còn hơn là quay
lại nơi mà cuộc sống đang dần làm tàn lụi, bóp nghẹt
sinh khí con người. Con người hiện sinh là con người
không bao giờ muốn nghỉ ngơi, luôn biết vươn lên để
hơn chính mình trong quá khứ.
3. Kết luận
Soi chiếu dưới góc nhìn hiện sinh, có thể thấy
những trăn trở, ray rứt của nhà văn về những tâm
hồn cô đơn trong hành trình đi về cõi hư không.
Trong một đời sống đầy những bất an, hoài nghi,
con người thu mình lại trước tha nhân, ôm nỗi cô
đơn để tự mình xoay sở lấy. Ở đó, còn cho thấy sự
ưu tư, vươn lên của con người để thoát khỏi nghịch
cảnh, tìm kiếm tự do, khẳng định nhân vị. Nguyễn
Thị Thụy Vũ đã xây dựng những cuộc vượt thoát
thành công và cả những sự quằn quại trong đau khổ,
hay chấp nhận đời sống chìm lỉm như sự vật. Những
không gian sống được tạo dựng trong tác phẩm của
bà dù ở tỉnh lẻ hay đô thị đều có tính bất ổn, xuất
phát từ chính cuộc đời thật ngoài kia đã trực tiếp
đi vào tác phẩm. Nguyễn Thị Thụy Vũ không chủ
trương đưa ra một lối thoát nào cho đời sống đó, có
thể do tầm nhìn giới hạn của nữ giới, nhưng cũng
có thể nó thuộc về ý đồ của nhà văn: chỉ ra những
bất cập để con người tự nhận thức và tự thay đổi đời
sống mình. Văn học hiện sinh không phải là bày ra
những gì tăm tối để rồi bị kết án là văn học u ám,
suy đồi, nhưng ở mặt này, nó là một sự minh họa
cho một đời sống mà nói theo các nhà hiện sinh là
thật buồn nôn, phi lý và con người hiện sinh cần
thoát khỏi những hiện trạng đó.
71
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tài liệu tham khảo
nghien-cuu/v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-
v i % E 1 % B B % 8 7 t - n a m / 6 3 4 8 -
nguy%E1%BB%85n-th%E1%BB%8B-
t h % E 1 % B B % A 5 y - v % C 5 % A 9 -
%C4%91%C3%A3-tr%E1%BB%9F-
l%E1%BA%A1i.html
Hà Thanh Vân. (16/11/2019). Văn học hiện sinh
tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-
1975. Vanhocsaigon. Truy cập từ https://
vanhocsaigon.com/van-hoc-hien-sinh-tai-mien-
nam-viet-nam-giai-doan-1954-1975/.
Phan Quang Định. (2008). Toàn cảnh triết học Âu
Mỹ. Hà Nội: NXB Văn học.
Huỳnh Như Phương. (2008). Những nguồn cảm hứng
trong văn học. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB
Văn nghệ.
Sartre, J.P. (Đinh Hồng Phúc dịch). (2015). Thuyết
hiện sinh là một thuyết nhân bản. Hà Nội: NXB
Trí Thức.
Lã Nguyên. (2017). Việt Nam thế kỷ XX và những xu
hướng lựa chọn tư tưởng văn nghệ nước ngoài.
husc.edu.vn/viet-nam-the-ki-xx-va-nhung-
xu-huong-lua-chon-tu-tuong-van-nghe-nuoc-
ngoai/.
phố Hồ Chí Minh: NXB Văn học.
Võ Văn Nhơn. (2016). Bối cảnh xã hội - văn hóa và
hoạt động nghiên cứu phê bình, sáng tác văn
học ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-
1975. Tạp chí Khoa học Đại học Văn Hiến,
số 11, 23-29.
Nguyễn Đình Tuyến. (1996). Những nhà văn hôm
com/2018/08/11/nhung-nha-van-hom-nay-
nguye-dinh-tuyen-1969/.
Võ Phiến. (30/10/2015). Văn học miền Nam - Tổng
story.php?story=van_hoc_mien_nam_tong_
quan__vo_phien.
Nguyễn Thị Thanh Xuân. (2017). Nguyễn Thị
Thụy Vũ đã trở lại. Khoavanhoc. Truy
72
Bạn đang xem tài liệu "Cảm hứng hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cam_hung_hien_sinh_trong_sang_tac_cua_nguyen_thi_thuy_vu.pdf

