Cảm hứng hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
CẢM HỨNG HIỆN SINH TRONG SÁNG TÁC  
CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ  
Ngô Thị Diệm  
Học viên cao học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  
Email: nhcdiemngo2020@gmail.com  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 26/4/2021; Ngày nhận chỉnh sửa: 28/5/2021; Ngày duyệt đăng: 28/8/2021  
Tóm tắt  
Văn chương, đặc biệt là những tác phẩm văn chương giá trị có cách tồn tại riêng bất chấp quy luật của  
thời gian. Sau hơn 40 năm vắng bóng trên văn đàn do những biến động của lịch sử, năm 2016, 2017 toàn bộ  
mười tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã một lần nữa đến với bạn đọc. Sự đón nhận hân hoan của độc giả  
cũ và sự ngỡ ngàng, thích thú của lớp độc giả mới đã chứng minh sức hút vượt thời gian của chúng. Được  
đánh giá là một trong năm nữ nhà văn nổi tiếng của văn chương đô thị miền Nam 1954-1975, Nguyễn Thị  
Thụy Vũ đã có những đóng góp tích cực về mặt thể tài cùng phong cách nghệ thuật độc đáo. Khảo cứu tác  
phẩm của nữ nhà văn cho thấy, hoạt động sáng tác của bà có sự ảnh hưởng của văn học hiện sinh dù không  
đậm đặc. Cảm hứng hiện sinh mang đến trong tác phẩm hình ảnh con người cô đơn trong một thế giới đầy  
biến động và nỗi ưu tư, khát vọng vươn lên, tìm kiếm và chứng minh nhân vị độc đáo của mình. Vì chất hiện  
sinh không đậm nên văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ không mang tính triết lý nhưng là những trải nghiệm,  
suy tư, trăn trở của con người trước cuộc đời.  
Từ khóa: Cảm hứng hiện sinh trong văn học, Nguyễn Thị Thụy Vũ, văn học hiện sinh.  
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
EXISTENTIAL INSPIRATION IN NGUYEN THI THUY VU'S WORKS  
Ngo Thi Diem  
Post - graduate student, University of Social Sciences and Humanities  
Viet Nam National University, Ho Chi Minh city  
Email: nhcdiemngo2020@gmail.com  
Article history  
Received: 26/4/2021; Received in revised form: 28/5/2021; Accepted: 28/8/2021  
Abstract  
Literature, especially decent literary works, has its own way of timeless existence. After more than 40  
years of absence due to historical changes, all ten works by Nguyen Thi Thuy Vu again were seen during 2016  
and 2017. The cheerful welcome of the previous readers and the surprising excitement of the new ones have  
demonstrated their timeless appeal. Nguyen Thi Thuy Vu was consisdered one of the top five female writers  
of Southern urban literature from 1954 to 1975 for her positive contribution in terms of genres, themes and  
outstanding artistic style. Researching her writings indicates that her works are influenced by existential  
theory to some extent. Such inspiration brings the image of a lonely person in a world with full of fluctuation  
as well as worries and aspirations to grow, demonstrating his uniqueness. Based on unassertive existentialism,  
the works by Nguyen Thi Thuy Vu are of human reflections on life rather than a philosophical orientation.  
Keywords: Existential inspiration in literature, existential literature, Nguyen Thi Thuy Vu.  
Trích dẫn: Ngô Thị Diệm. (2022). Cảm hứng hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Tạp chí Khoa học Đại học  
Đồng Tháp, 11(1), 64-72.  
64  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 64-72  
1. Đặt vấn đề  
tác là tiểu thuyết, kịch bản văn học của A. Camus,  
J.P. Sartre, S. de Beauvoir, F. Sagan… đều được giới  
Nguyễn Thị Thụy Vũ được đánh giá là một trong  
năm nữ nhà văn xuất sắc của văn học miền Nam giai  
đoạn trước 1975. Sáng tác của bà nằm trong dòng  
chảy của văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975.  
Đó là giai đoạn văn học đặc biệt, phát triển khá tự  
do, mang những đặc điểm riêng và tồn tại trong một  
thể chế xã hội riêng, khác với văn học miền Bắc cùng  
thời. Một trong những điều kiện đưa đến sự khác biệt  
đó là do văn hóa tư tưởng. Miền Nam giai đoạn này  
có sự tiếp thu văn hóa tư tưởng của cả phương Đông  
lẫn phương Tây, nhưng rõ rệt nhất, đậm chất nhất là  
văn hóa phương Tây. Có nhiều yếu tố thúc đẩy văn  
hóa mới du nhập vào miền Nam: Môi trường văn hóa  
tự do, vai trò của trí thức Tây học, nhu cầu trang bị  
kiến thức toàn diện cho sinh viên của nhiều trường  
Đại học (Đại học Văn khoa Sài Gòn, Đại học Văn  
khoa Huế, Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Vạn  
Hạnh). Võ Phiến trong Văn học miền Nam - tổng  
quan, nhận định: “Có lẽ ít có thời kì nào trong lịch  
sử nước ta người ta viết và đọc triết học nhiều như  
thời kì này, người ta mê triết lý dữ dằn như thời kì  
này” (Võ Phiến, 2015). Nhiều trường phái triết học,  
mỹ học, lý luận - phê bình văn học du nhập vào miền  
Nam như: Phân tâm học, Chủ nghĩa hiện sinh, Cấu  
trúc luận, Hiện tượng luận, Phê bình mác-xít,… tạo  
nên một diện mạo văn hóa đa dạng với sinh hoạt sôi  
nổi, phong phú.  
thiệu. Sự ngột ngạt, bế tắc đến cùng quẫn trong cuộc  
sống, sự khốc liệt của chiến tranh là môi trường tâm  
lý thuận lợi để triết học hiện sinh dễ dàng đi sâu vào  
đời sống văn hóa tư tưởng của miền Nam bấy giờ.  
Triết học hiện sinh gợi ra những suy tư của con người  
về thân phận, về hoàn cảnh, về ý thức trách nhiệm  
và hành động của bản thân trước thời cuộc. Trong  
bài viết Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam  
1954-1975 (trên bình diện lý thuyết), Huỳnh Như  
Phương chỉ ra rằng: trên bình diện sáng tác văn học  
“Chủ nghĩa hiện sinh đã đem lại cho văn học miền  
Nam những thay đổi đáng kể, với quan niệm nghệ  
thuật về con người cô đơn trong một thế giới phi lý,  
với ngôn ngữ và kỹ thuật mô tả hiện tượng luận”  
(Huỳnh Như Phương, 2008).  
Sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong bối  
cảnh ấy cũng mang màu sắc hiện sinh khá rõ trên  
một vài vấn đề.  
2. Nội dung  
2.1. Con người cô đơn  
Trong tác phẩm Thuyết hiện sinh là một thuyết  
nhân bản, Sartre khẳng định rằng: hiện hữu đi trước  
bản chất và “Như vậy, bước đi đầu tiên của thuyết hiện  
sinh là đặt mọi người vào việc chiếm lĩnh những gì  
mình đang tồn tại, và đặt lên con người toàn bộ trách  
nhiệm về sự hiện hữu của mình” (J.P. Sartre, 2015,  
Trong số đó, có lẽ triết học hiện sinh, văn học tr. 34). Trên hành trình khẳng định nhân vị độc đáo  
hiện sinh có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, từ hoạt động của mỗi cá nhân, con người tự đặt mình vào những  
sự lựa chọn, trải qua quá trình dấn thân, chinh phục  
với những cảm thức lo âu, buồn đau, hạnh phúc hay  
sung sướng. Với tinh thần tự đảm nhiệm lấy cuộc  
đời mình, con người không thể không cảm thấy cô  
đơn. Vì vậy, cô đơn là một vấn đề “bản thể” của  
con người.  
lý luận, sáng tác văn học đến cả tư tưởng, lối sống  
của một bộ phận không nhỏ người miền Nam lúc bấy  
giờ. Ban đầu, nó được giới thiệu chủ yếu trong trường  
đại học và qua một số bài viết trên báo chí: “Ngay  
từ năm 1953, chủ nghĩa hiện sinh đã được Triều Sơn  
giới thiệu qua loạt bài đăng liên tiếp trên tuần báo  
Mới, vào các số 20 (4/4/1953), 21 (11/4/1953) và 22  
(18/4/1953), xuất bản ở Sài Gòn: Nửa giờ với triết  
gia - thi sĩ tồn tại Jean Wahl, Triết lý tồn tại. Jean-  
Paul Sartre - văn sĩ tồn tại, Các đề thuyết của triết  
lý tồn tại. Simone de Beauvoir - nữ sĩ tồn tại” (Lã  
Nguyên, 2017)… Phải sau cuộc đảo chính 1963, khi  
Cảm thức cô đơn xuất hiện ở nhiều nhân vật  
trong sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Ông Phủ  
(Khung rêu) cảm nghiệm rằng “Con người ta vốn  
dĩ cô đơn”. Một bà Mai Lý (Mãnh) âm thầm, khoắc  
khoải trong nỗi cô đơn kéo dài “Cuộc sống ầm ĩ chung  
quanh lúc đó vẫn chưa làm cho bà quên nỗi cô độc.  
chủ nghĩa nhân vị do chính quyền Ngô Đình Diệm Tuy quen chịu đựng đã lâu, nhưng đôi lúc, bà vẫn  
quảng bá bị sụp đổ, thì chủ nghĩa hiện sinh mới được hoảng hốt trước một viễn cảnh trống trải”. Nhân vật  
“Tôi” (Một buổi chiều) thấy cuộc đời mình thật nhàm  
chán trong “một cuộc phím du đơn độc”… Mỗi nhân  
vật góp một bộ mặt khác nhau tùy theo cảnh trạng đời  
giới thiệu mạnh mẽ và sâu rộng với những công trình  
qui mô hơn. Các lý thuyết hiện sinh của F. Nietzsche,  
K. Jaspers, M. Heidegger, J.P. Sartre,… và các sáng  
65  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
sống. Cuộc đời vốn dĩ là một sự phi lí, bất khả giải. Xuyên. Tôi làm nghề giảng tập viên, lương thì ít, cực  
Bắt đầu hay kết thúc, đời sống đều phi lí. Biểu hiện thì nhiều. Nỗi buồn lờ mờ tưởng như không sao dứt  
của đời sống phi lí là con người bị đẩy vào những  
nghịch cảnh mà từ đó, con người cảm nhận một cách  
sâu sắc rằng cô đơn là một định mệnh không thể thay  
đổi được. Cảm thức cô đơn của ông Phủ trong Khung  
rêu xuất phát từ hoàn cảnh bi đát của ông ở tuổi 70.  
Ông thất vọng vì con cái hư hỏng. Đứa con cả thuộc  
hạng “phá gia chi tử”. Đứa con kế nhu nhược, lười  
biếng và chỉ biết ăn bám vào gia tài đang ngày càng  
hao mòn dần của ông. Đứa con út mặt mày sáng sủa,  
thông minh đĩnh ngộ thì lại là ái nam ái nữ. Còn lại  
Thụ là đứa con ông kì vọng nhất thì trốn nhà vào chiến  
khu, đi theo lý tưởng riêng mà lý tưởng đó lại chống  
lại lợi ích của tầng lớp ông. Ông bị vợ ruồng rẫy bởi  
trong một phút ma xui quỷ khiến ông làm cho cô hầu  
gái đáng tuổi con mình có thai. Ông cám cảnh vì sự sa  
sút của gia đình do bao nhiêu đất đai tích cóp cả đời  
đến bây giờ bỗng dưng mất trắng bởi nông dân không  
chịu đóng thuế nữa. Bao nhiêu nỗi ưu phiền quay tít  
đảo điên và ông cảm thấy “mình cô đơn, thiếu vắng  
những người bạn đồng hành trong chuyến đi về với  
cát bụi”. Cả một đời huy hoàng trong trong sự giàu  
có, trong danh vọng, ông không ngờ đến tuổi gần đất  
xa trời phải chịu những nghịch cảnh như vậy. Ông  
cảm giác mọi thứ xung quanh đang quay lưng lại với  
mình. Những người thân thuộc không thể hiểu được  
nỗi khổ tâm của ông và ông gặm nhấm nỗi đau khổ,  
cô đơn cho đến ngày trút hơi thở cuối cùng.  
được”. Tuổi trẻ nhiều khát vọng không thể cứ mãi  
quẩn quanh với sự đơn điệu, “Tôi phải ra đi. Ra khỏi  
cái nhà nầy, cuộc đời tôi sẽ thay đổi”. Những tưởng  
việc rời môi trường cũ để nhập cuộc vào một khung  
cảnh mới có thể mang lại sinh khí mới, nhưng không,  
“Ở đây nhộn nhịp, nhưng tôi có một thế giới riêng,  
thế giới tẻ ngắt, như lúc tôi sống ở Long Xuyên”. Phải  
chăng, tác giả ngầm ý rằng, xã hội ấy, bầu không khí  
thời đại ấy bao trùm lên con người một màu u tối và  
xám ngắt. Dù ở đâu, đô thị hay vùng tỉnh lẻ, cuộc đời  
vẫn thế. Con người trở nên vô danh giữa đám đông,  
tồn tại mà như đang vắng mặt, lờ đờ trôi giữa cõi nhân  
gian vốn đã hư ảo, phù du.  
Dù sống giữa những người xung quanh, ràng  
buộc với nhau bởi những mối quan hệ thân - sơ nhưng  
các nhân vật trong truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ đều  
có xu hướng thu mình vào thế giới của riêng mình để  
tự trải nghiệm với những bí mật của tâm hồn. Những  
tâm tư, suy nghĩ, trăn trở, lo âu, những kí ức, bí mật  
dường như không thể lật mở cho người khác. Họ bộc  
lộ một đời sống tinh thần khép kín trong nỗi cô đơn.  
Như vậy, nơi đâu có cô đơn, ở đó luôn có mối quan  
hệ bị tách rời khỏi cộng đồng. Chính những khác biệt  
trong tâm hồn thể hiện qua suy nghĩ, quan điểm, tư  
tưởng khiến cho con người cô đơn tuyệt đối. Triết  
hiện sinh nhắc nhở con người rằng mỗi cá nhân là  
một độc đáo, rằng trong những hoàn cảnh như nhau,  
mỗi người hoàn toàn có thể định đoạt khác nhau, phản  
ứng khác nhau. Mỗi hiện sinh thể tồn tại qua những  
cách riêng biệt của mình và thường những cách đặc  
biệt đó sẽ đẩy họ tách ra khỏi đám đông hỗn tạp, tồn  
tại cô đơn ở thế đối lập với tất cả mọi người.  
Tính phi lí còn được phơi bày ở cái vô nghĩa, đơn  
điệu đến “buồn nôn” của kiếp sống vô thường, thừa  
thãi, dửng dưng. Trong thế giới đó, ý nghĩa của cuộc  
nhân sinh chìm khuất giữa khung cảnh nhạt nhòa, vô  
nghĩa vô hồn. Bà Mai Lý (Mãnh) người đàn bà không  
chồng không con, làm nghề dạy nữ công gia chánh.  
Cuộc đời góa bụa, một thân một bóng của bà, sau  
mỗi buổi học chiều, càng trở nên hoang vắng. Còn gì  
chua xót hơn, khi con người buộc phải đối diện với cô  
đơn và bắt buộc làm quen với nó như một người bạn  
đồng hành. Do đó, bà vui buồn thất thường, nhưng  
bà còn bấu víu cái gì để nghĩ đến ngày mai? “Không  
chồng, không con, lại ngại ngùng về chuyện tái giá, lại  
nhút nhát không dám sống bừa bãi, bà gần như mòn  
mỏi trong sự trong sạch khô khan”. Nhân vật “Tôi”,  
một cô gái trẻ trong Một buổi chiều có một đời sống  
ở tỉnh lẻ giống vài nhân vật khác của Thụy Vũ, với  
một công việc nhàm chán, một nhịp sống mỏi mòn  
“Chỉ còn mình tôi trong căn nhà cổ âm thầm ở Long  
Trong tác phẩm Đợi chuyến đi xa, mỗi con người  
là một thế giới đóng kín và cô độc. Căn nhà nhỏ của  
năm mẹ con chị Tám có thêm 4 người đến ở trọ ăn  
cơm tháng. Cô Ba gần bốn chục tuổi, chưa chồng,  
làm thư ký, về ở trước nhất. Cô Hương ở Thủ Dầu  
Một, đã đính hôn, xuống học nữ công. Mỹ, một vũ  
nữ, ít nói, thường thích ngồi một mình trầm ngâm.  
Và Linh (nhân vật xưng tôi), từ bỏ công việc giảng  
tập viên ở tỉnh lên Sài Gòn học tiếng Anh. Chín con  
người sống chung dưới một mái nhà nhưng “Mỗi  
người sống với một thế giới riêng, một ảo tưởng riêng.  
Ngoài mặt tất cả đều làm ra vẻ thản nhiên, nhưng ai  
biết được những thầm kín bên trong.”. Họ có thể tán  
66  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 64-72  
nhảm với nhau về thời trang, những chuyện ngồi lê “Tỉnh tôi nhỏ bé quá, chuyện gì họ cũng thích bàn  
đôi mách vô hại nhưng tuyệt nhiên những chuyện tán. Họ giàu tưởng tượng và khoái thêm thắt”. Như  
việc Linh xin nghỉ dạy để đi Sài Gòn liền bị họ đồn  
rằng Linh đi phá thai, Linh cặp bồ với hiệu trưởng.  
Những nhân vật, đặc biệt là nhân vật trẻ tuổi, cảm  
thấy không thể thở được trong vùng không khí đặc  
sệt, cứng ngắc đó, cuộc đời họ bị đè nặng ở đây và  
họ tìm kiếm một cuộc giải thoát, một sự tách ra khỏi  
cộng đồng. Ở vùng đất khác - Sài Gòn - cũng tạo ra  
một cảm giác tương tự. Ở khu lao động nghèo trong  
Cho trận gió kinh thiên, thiên hạ nhảy xổm vào cuộc  
sống của nhau, tọc mạch về nhau quá nhiều. Họ lấy  
bí mật đời tư của người khác để làm quà, để đưa đẩy  
trong những buổi ngồi lê đôi mách. Họ tùy tiện, bừa  
bãi phơi bày đời tư của người khác một cách thích  
thú. Ngược lại, xóm trọ trong Một buổi chiều thì  
mạnh ai nấy sống, hai nhà kế bên nhưng chẳng biết  
gì về nhau “Ở đây nhà cửa chen chúc, thiên hạ rần  
rộ, nhưng chẳng ai giao thiệp với ai”. Như vậy, cả  
hai thái độ của đám đông: hoặc thờ ơ lạnh lùng, hoặc  
can thiệp quá mức làm con người sợ hãi, thu mình  
lại trước tha nhân.  
đời tư, những tâm tình sâu kín, họ không hề nói với  
nhau. Họ thu mình trước những người xung quanh,  
gói ghém nội tâm trong cái vẻ ngoài rất ổn. Họ như  
những khối cô đơn đặt cạnh nhau một cách lạnh lùng,  
dửng dưng. Đến mức mà, Linh cảm thấy, việc rình  
bắt trộm dù không mang lại kết quả gì nhưng ít nhất  
nó khuấy động sự yên ắng của ngôi nhà trong chốc  
lát. Người cô đơn luôn cảm nhận có một bức tường  
ngăn cách họ với những người xung quanh, không ai  
để ý đến cảm xúc của họ và họ cũng vậy, chẳng đủ  
tinh tế để nhận biết cảm xúc của người khác. Chẳng  
hạn như Tưởng (Như thiên đường lạnh) có cuộc sống  
khá lí tưởng: là thầy giáo; lấy vợ xong xây nhà lập  
vườn giữa một cù lao xanh mát; ngoài việc dạy học  
thì chăm sóc vườn cây, câu cá, chẳng phải lo lắng  
chuyện kinh tế, gia đình. Cô vợ biết vén khéo, yêu  
chiều chồng. Nhưng, trong ngôi nhà đó anh ta vẫn  
thấy mình thiếu thốn một cái gì đó rất mơ hồ, không  
thể hài lòng với hiện tại. Tưởng hay cáu gắt với sự  
chăm sóc của vợ và muốn thực hiện một chuyến đi  
xa để hưởng không khí tự do. Vợ chàng thì ngược  
lại, để giữ hạnh phúc, lúc nào cũng muốn giữ chồng  
bên mình. Cả hai không thể thấu hiểu tâm tư nhau,  
thành ra cuộc sống hôn nhân có nhiều bất mãn. Tưởng  
đổ lỗi cho vợ: “Tưởng nhìn vợ bằng con mắt dữ tợn.  
Tuy nhiên, cô độc không có nghĩa là bỏ mặc bản  
thân mình. Dù chỉ còn có một mình, con người vẫn  
phải vươn lên, vẫn phải đấu tranh với nghịch cảnh  
để tồn tại một cách có ý nghĩa. Họ luôn mang trong  
mình khát vọng đổi đời và tìm cách thực hiện nó. Dù  
Chàng có cảm tưởng Khương đã tàn hại cuộc đời, sinh sao, cũng phải làm cho cuộc đời có ý nghĩa và khẳng  
thú chàng từ trăm vạn kiếp nào rồi. Nàng cứ đẩy xô định nhân vị của mình. Linh trong Đợi chuyến đi xa  
chàng vào một hoàn cảnh tối tăm, vào tình trạng say cảm thấy “Cuộc đời cô đơn kéo dài quá”, nhưng “Tôi  
không phải là kẻ chán đời đến nỗi sống ra sao cũng  
được. Dù có cảm tưởng bị đời quên lãng, nhưng tôi  
không muốn trở thành một nhân vật lố lăng bất cần  
thiên hạ để phản ứng với cái hờ hững của đời”. Đó là  
một thái độ sống rất tích cực. Không vì cảm giác lạc  
lõng mà buông xuôi hay hờ hững lại với cuộc đời. Ít  
nhất là Linh còn muốn bấu víu vào cuộc tình với Duy  
để thấy cuộc đời còn có ý nghĩa “Em chỉ còn một mối  
tình không còn say mê hào hứng nữa. Nhưng mất nó,  
em không hiểu sẽ bám vào cái gì để tiêu nốt quãng đời  
trống rỗng còn lại”. Linh nuôi hi vọng về một sự thay  
đổi cho cuộc đời mình “Em nghĩ rằng một chuyến đi  
xa có thể lấy lại sự an ổn trong tâm hồn. Và em lại  
chờ đợi”. Đó là một sự cố gắng, không phải để trốn  
chạy nỗi cô đơn mà là đang tìm cách để khẳng định  
sự tồn tại có ý nghĩa của bản thân.  
say, tỉnh tỉnh với bao nhiêu ước vọng ẩn hiện nhưng  
không bao giờ thực hiện nổi”. Cả hai con người chỉ  
biết trách móc nhau nhưng kì thực, ai cũng là người  
cô độc và cũng là thủ phạm đẩy người con lại vào  
tình cảnh cô đơn. Hoặc có khi, con người hoàn toàn  
không chia sẻ được cả với chính bản thân mình, bưng  
bít mọi sự thoát ra của nỗi cô độc và bị dồn nén đến  
tận cùng. Vậy nên, có những nhân vật bí bách trong  
bức tường tư tưởng của mình đến phát điên như Tịnh  
trong Khung rêu hay Kim trong Thú hoang.  
Các nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ không  
cố tình tách mình ra khỏi cộng đồng. Nhưng chính  
cộng đồng mang lại cho họ một cảm giác bất an, và  
để thoát khỏi bầu không khí bất an đó, họ buộc phải  
lựa chọn, phải rời đi. Chân trời vùng tỉnh lẻ không chỉ  
đưa lại một nhịp sống đơn điệu, nhàm chán, mà những  
con người nơi đây, đám đông nơi đây cũng gây nên  
những nỗi sợ hãi. Linh (Một buổi chiều) cảm nhận  
Con người hiện sinh không chỉ ý thức được sâu  
sắc những ngẫu nhiên và nghịch cảnh của số mệnh,  
67  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
họ còn ý thức rất rõ về những hữu hạn của đời sống, thêm bành trướng và danh vọng của hai chàng rể ngày  
giới hạn của khả năng con người. Trên thực tế, cuộc càng cao”. Cụ ông không sợ chết nhưng cụ bà thì sợ  
sống có rất nhiều giới hạn và không phải giới hạn nào hãi, lo âu “Bấy lâu nay cụ đi lễ chùa cũng là do cái  
con người cũng đủ sức vượt qua. Giới hạn lớn nhất  
trong cuộc đời mà con người buộc phải đối diện là  
tuổi già và cái chết. Tuổi già và cái chết giống như hai  
kẻ song hành mà con người luôn muốn chinh phục,  
chế ngự nhưng bất thành. Và khi không thể chống lại  
cái chết, khi phải một mình đối diện với định mệnh  
nghiệt ngã, con người hầu hết đều thấm thía thân phận  
cô đơn của mình. Về vấn đề này, các nhà hiện sinh  
đều thống nhất khi cho rằng: nhân sinh ngay ban đầu  
đã đối đầu với cái chết, cho dù người đó có cố tình  
trốn vào trong đời sống hàng ngày để mong sự yên  
ổn cũng không thể thoát khỏi bị chết... Cái chết vào  
bất cứ lúc nào, ở đâu cũng đều có khả năng. Nỗi ám  
ảnh về giới hạn của tuổi già và cái chết có thể thấy  
trong tác phẩm Chiều xuống êm đềm. Trong khi gia  
cảnh đang êm ấm, nhàn hạ, hai cô con gái đều lấy  
chồng nơi giàu sang, ông bà Bá hộ thật mãn nguyện  
không còn gì để phàn nàn, thì ông lại bàn đến chuyện  
xây cỗ hậu sự: “Nè bà, bắt đầu từ ngày mai tôi phải  
lo hai cỗ hậu sự cho vợ chồng mình chớ.”. Sự giàu  
sang trong tuổi xế chiều chẳng làm cụ phấn khởi được  
bao nhiêu. Trong khi “Tuổi già sao mà mênh mông  
những chán ngán mơ hồ”. Nỗi chán đời mênh mông  
đó làm cho cụ tê liệt cả mọi hoạt động hào hứng. Cụ  
cảm thấy mình bắt hụt, với không kịp cái hoạt náo  
của những người trẻ chứa chan nhựa sống. Có lẽ vì  
“Té ra sự cô độc làm con người lười biếng, uể oải”.  
Cứ như vậy, cụ trải qua tuổi xế chiều một cách âm  
thầm trong ngôi nhà cũng âm thầm, lạnh lẽo. Tuy vậy,  
ý nghĩ về cái chết không làm cụ ông sợ hãi, cụ bình  
thản đón nhận nó “Cái gì sẽ đến cụ? Thật ra, cái gì  
đó đâu có khoác lên một khuôn mặt ghê tởm, mà nó  
là một đợt khói lướt qua cụ rồi cuốn đi mà cụ chẳng  
hay biết gì… Lòng cụ tự dưng êm dịu khác thường”.  
Thấu suốt lẽ vô thường của cuộc đời, cụ không có  
ý nghĩ níu kéo cuộc sống trần thế nữa. Cụ không sợ  
chết nhưng đối diện với tuổi già bằng thái độ rầu rĩ,  
phiền muộn, băn khoăn mà vợ con không thể hiểu  
được. Chính bản thân cụ cũng có đôi lúc không khỏi  
thắc mắc: “Sao ta lại rầu rĩ không biết? Ta nào có sợ  
chết”. Trái ngược với thái độ sống của cụ ông, cụ bà  
vẫn không thôi lao vào những cơn sóng háo thắng,  
chen đua; vẫn còn vui buồn theo thế sự, vẫn còn sân  
si chuyện được - mất, sang - hèn: “Ước vọng nồng  
nàn của cụ bà là làm sao cho cái gia sản mỗi ngày một  
chết ám ảnh”. Ý nghĩ về tuổi già sao mà khắc nghiệt,  
cụ tự hỏi “Có lẽ nào người già cả chỉ tìm hưởng thụ  
món ngon rồi đợi cái chết hay sao?”. Mỗi phút giây  
trôi qua như phảng phất hơi thở lạnh lẽo của cái chết.  
Niềm vui sống đã bị ý nghĩ về cái chết làm cho giảm  
đi cả sinh hứng “Nhưng ngay trong cái tuổi mệt mỏi  
cần yên nghỉ này, cụ vụt thấy sự sống quá quý báu vô  
ngần. Nó giống như lúc cụ xem một vở tuồng vui sắp  
chấm dứt, cái vui thưởng thức lại còn xen cái viễn ảnh  
lúc vãn hát nên không còn trong trẻo toàn vẹn nữa.”.  
Ý thức sự chết là tất yếu nhưng vươn lên để chống  
lại nó cũng là tinh thần của con người hiện sinh. Hai  
vợ chồng cụ là hai thái độ trái ngược nhưng hợp lẽ  
tự nhiên của con người trước cái chết.  
Chỉ có con người mang nhiều suy tưởng, ưu tư  
về cuộc sống mới nhìn nhận cái chết một cách đúng  
đắn. Jaspers khẳng định: “chỉ những người quen suy  
tư mới có thể hiểu ý nghĩa rất mực hiện sinh của  
cái chết” (Phan Quang Định, 2008, tr. 230). Theo  
Heidegger, cái chết là cái không thể nào khước từ,  
nó như một nguy cơ, là cái giới hạn tối đa của tồn  
tại người, là cái thủ tiêu hiện sinh. Sống và chết là  
hai điểm quan trọng của cuộc nhân sinh. Tuy nhiên,  
đã là con người hiện sinh thì không sợ chết. Tiếng  
nói của lương tâm kêu gọi con người phải chấp nhận  
tính hữu hạn và tính phủ định của bản thân như Sartre  
từng nói khi bàn về cái chết: “Tôi chỉ hiện sinh khi  
tôi không còn hiện sinh nữa”. Ngược lại, nỗi sợ hãi  
trước cái chết, sự chạy trốn hèn nhát, sự phủ định tính  
thực tại của nó chứng tỏ tính hiện sinh tầm thường,  
không đầy đủ, hư ảo, bị trói buộc trong bóng tối của  
con người vô nhân cách.  
2.2. Con người ưu tư và khát vọng vươn lên  
Thuyết hiện sinh xem mỗi con người là một  
nhân vị độc đáo, nhưng vẫn có tình trạng con người  
từ chối sự độc đáo của bản thân, hay không nhận thức  
được sự cần thiết phải trở thành một cá thể độc lập.  
Tình trạng đó các nhà hiện sinh gọi là “phóng thể”.  
Phóng thể, nguyên nghĩa dịch từ tiếng Pháp là "hóa  
thành cái khác", thành người khác. Phóng thể là tình  
trạng những con người chưa tự ý thức mình là những  
nhân vị độc đáo, họ sinh hoạt như mọi người và hành  
động chỉ vì người khác bảo mình làm hoặc nghĩ mình  
phải làm chứ không phải vì mình muốn hay cần làm  
68  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 64-72  
để khẳng định bản ngã của mình. Phóng thể làm ơi, sao tôi không nuôi một giấc mộng lớn, giấc mộng  
mất bản ngã của con người, làm con người sống yên nhỏ gì ráo trọi như vậy?”. Điều gì đã khiến Tưởng  
trong một trạng thái gần như sự vật, là căn nguyên thành như vậy? Cuộc sống gia đình êm đềm, công  
của cuộc sống tầm thường, nhạt nhẽo và vô nghĩa. việc nhàn rỗi, người vợ lúc nào cũng chiều chuộng đã  
Ngược lại, con người biết ưu tư, là khi con người đã làm cho Tưởng sống cầu an buông theo ngày tháng.  
tự thức tỉnh, nhận thức được cái nhân vị độc đáo của Và chính trong sự bình an đó Tưởng lại thấy bất an  
mình. Nói theo Trần Thái Đỉnh: “Ưu tư là bắt đầu khi cảm thấy cuộc đời mình vô nghĩa, trở nên trống  
vươn lên” (Trần Thái Đỉnh, 2005, tr. 47). Con người rỗng, nhàm chán. Đôi lúc tự hỏi về giá trị của bản thân  
ưu tư không phải là con người sợ hãi mà là đang băn mình, Tưởng thầm nghĩ “Với cuộc đời nầy, ta chỉ là  
khoăn về sự huyền nhiệm của tương lai. Con người con ong đực, có bổn phận gây giống thôi, chớ không  
hiện sinh là con người biết ưu tư, biết tự chọn con làm gì ích lợi hết”. Không chịu được cảnh sống đó,  
đường đi của mình chứ không thoái vị sự lựa chọn Tưởng dự định một chuyến đi xa, bứt ra khỏi không  
cho người khác, điều đó chẳng khác nào bỏ đi nhân khí gia đình, làm một cuộc phiêu lưu để tìm lại chính  
vị làm người tự do của mình. Nhân vật của Nguyễn mình. Bức thư của người bạn rủ rê Tưởng lên Sài  
Thị Thụy Vũ phát biểu: “Tìm một lối sống quả là khó Gòn lập nghiệp như viên sỏi rớt xuống mặt ao phẳng  
khăn. Loại bỏ mặc cảm cô đơn và chống lại những ý lặng, khuấy động tâm hồn Tưởng, khuấy động giấc  
tưởng sa ngã quả thật khó khăn gấp bội” (Nhang tàn mơ của chàng. Những trăn trở của nhân vật là sự tự  
thắp khuya). Việc tìm cho mình một cách sống, một vấn về ý nghĩa tồn tại của mình, có thể xem là biểu  
lối sống mang tính bản thể thật không dễ dàng. Có hiện của khát vọng vươn lên. Nếu không có nỗ lực  
người chọn lối sống trọng vật chất, trau chuốt cho vẻ kiếm tìm, con người hẳn sẽ không còn đủ sức mạnh  
ngoài. Có người xem đời sống tâm hồn mới thực sự để neo đậu lại nơi chốn trần gian tẻ nhạt này. Hành  
đáng quý, có ý nghĩa. Nguyệt và Linh trong truyện trình đó dù ngắn hay dài, dù di chuyển xa hay gần,  
ngắn Tiếng hát rất thân với nhau nhưng hai người là dù trong thoáng qua của ý nghĩ hay biến thành hành  
hai lối sống đối nghịch. Đối với Nguyệt, văn chương động cụ thể thì cũng rất có ý nghĩa với cuộc sống  
nghệ thuật như một thế giới xa lạ không thú vị, nó của con người. Bởi những người hiện sinh là người  
chẳng mang đến một sự tươi mát nào cho đời sống nhìn rõ vẻ tầm thường chán ngắt của cuộc sống khi  
tâm hồn và “nếu không có nghệ thuật thì cuộc sống người ta không hành động, sống như một cái máy mà  
của mình cũng chẳng hề hấn chi” . Sự quan tâm của không biết mình muốn gì, thực sự cần gì. Những phút  
Nguyệt là “Phải mặc màu áo gì cho thích hợp với làn giây truy vấn mình, khát vọng được sống là mình ấy  
da nâu hồng, cho ăn khớp với thời tiết, phải đeo những làm con người cảm thấy sung sức và tràn đầy nhiệt  
món nữ trang nào có giá trị và tân thời nhất trong đám huyết sống hơn.  
con gái làm chung sở, phải làm cho chúng bạn ghen  
hờn nhan sắc và cuộc sống xa hoa của mình.”. Trong  
khi, Linh là họa sĩ, chỉ biết đến cọ màu, khung vẽ và  
mê văn chương. Nguyệt nghĩ “Tôi chỉ là loại người  
không sống bằng tinh thần. Tâm hồn, tài hoa đối với  
tôi chỉ là những từ ngữ thừa trong quyển tự điển của  
đời mình. Tôi có cuộc sống khác Linh, nó thờ cúng  
kỷ niệm, quá khứ, ca tụng đời sống tinh thần, cơ hồ  
như bỏ quên thực tại”. Tác giả hầu như không bình  
phẩm, hay nhận xét về lối của hai nhân vật, rằng ai  
đúng ai sai, rằng ai nên ai không nên. Nhưng bằng  
cảm nhận của chính nhân vật về cuộc sống của mình,  
độc giả có thể thấy được câu trả lời. Hay đôi khi, cuộc  
sống êm đềm ngỡ như thiên đường mà ai cũng mơ  
ước nhưng vẫn không làm hài lòng người trong cuộc.  
Anh chàng Tưởng (Như thiên đường lạnh) thấy rõ sự  
ù lì, trì trệ của mình trong cái thiên đường đó “Trời  
Với phần lớn nhân vật chính trong các tác phẩm  
của Nguyễn Thị Thụy Vũ là nữ, cái nhìn hiện sinh của  
nhà văn về kiếp nhân sinh đương thời cũng mang màu  
sắc nữ quyền. Simone De Beauvoir là người sáng lập  
và cũng là đại biểu lớn nhất của thuyết nữ quyền hiện  
sinh. Theo quan điểm của bà, phụ nữ muốn trở thành  
“cái tôi” như nam giới thì phụ nữ phải biến mình thành  
những gì mình muốn. Tức là thay vì trở thành những  
gì mà nam giới gán cho thì họ phải làm chủ bản thân  
mình, làm những gì mình muốn, trở thành những gì  
mình muốn, tự quyết định cuộc đời mình và tự chịu  
trách nhiệm với quyết định của mình. Cô Ba Ngoạn  
(Nhang tàn thắp khuya) là một đại diện cho người  
phụ nữ dám tự quyết với cuộc đời mình. Quyết định  
thay đổi cuộc đời mình của cô Ba Ngoạn phải trải qua  
quá trình đầy khó khăn. Bối cảnh xã hội miền Nam  
thập niên 30 của thế kỉ XX, người phụ nữ vốn sống  
69  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
trong vòng kiềm tỏa nặng nề của lễ giáo phong kiến. mãn. Không một sự ủng hộ, cổ vũ, thậm chí là bị lên  
Con gái nhà quyền quý, mười cô như một, quen thói án, nhưng cô Ba Ngoạn mạnh mẽ quyết định và mạnh  
ăn ở không, trau dồi nữ công nữ hạnh, đợi chồng hỏi mẽ bước đi trên con đường lựa chọn của mình. Đó  
cưới. Riêng cô Ba Ngoạn có những suy nghĩ, hành mới chính là sự hiện sinh đích thực. Đích cao nhất  
động khác những chị em còn lại. Cô muốn thi vào mà con người hướng đến là tự tạo lập một đời sống  
trường sư phạm để có nghề nghiệp, độc lập về kinh cá nhân mà họ thấy có ý nghĩa. Để làm một hiện sinh  
tế - ý tưởng của cô ngay lập tức bị gia đình dập tắt vì thể đúng nghĩa, con người phải dấn thân, nhập cuộc,  
lí do đi ngược lẽ thường. Cô yêu một anh chàng tá tự mình làm nên bản chất của mình. Vì vậy, dù định  
điền, thuộc tầng lớp dưới, không môn đăng hộ đối. mệnh khắc nghiệt, tha nhân thù địch thì nhiệm vụ  
Tình yêu bị cấm cản, gia đình chàng trai bị đuổi đi nơi chính yếu của con người vẫn là phải luôn chủ động  
khác, cô tự tử nhưng được cứu. Sau lần chết hụt đó để đảm nhiệm cuộc sống.  
cô Ba Ngoạn quyết tâm thay đổi cuộc đời “Tôi phải  
tự cứu vớt lấy mình… Tôi khát khao một đời sống tự  
lập”. Khi không thể suy nghĩ và hành động theo thói  
thường, không thể chấp nhận cuộc sống theo khuôn  
nếp cũ, con người càng có quyết tâm thay đổi. Cô bắt  
đầu viết đoản văn, tùy bút, làm thơ rồi gửi đăng báo,  
đã là việc làm hiếm thấy lúc bấy giờ. Hành động táo  
bạo cho cuộc vượt thoát khỏi vòng kiềm tỏa là việc  
cô trốn lên Sài Gòn, bắt đầu nhập cuộc vào văn giới.  
Cha cô phản ứng quyết liệt, đăng báo từ con. Anh rể  
nghĩ: “Tôi không dè nó hư hỏng vậy”, chị ruột xấu hổ  
vì có đứa em như cô. Song cô cương quyết “Tôi phải  
định đoạt đời của tôi chớ… Tôi đã quyết thử thời vận,  
dầu có vấp ngã, tôi thề không ân hận”. Dám thay đổi  
là dám chịu trách nhiệm cho sự lựa chọn của mình.  
Trong vòng ba tháng sau, tên Kiều Ngoạn xuất hiện  
phổ biến trên các nhật báo Nam Kỳ. Nhìn một cách  
khách quan, đó là sự thành công. Nhưng định kiến  
cổ hủ thì cho rằng “Việc viết nhựt trình đâu phải là  
việc của đàn bà?” và “Thời buổi này, một người con  
gái mở rộng tầm giao thiệp là cả một chuyện táo bạo,  
dù chuyện đó có văn nghệ phất lên trên”. Bỏ qua tất  
cả những thành kiến đó, cô Ba Ngoạn vẫn kiên định  
với con đường của mình. Hành động của cô đã trả lời  
cho một sự bất công với nữ giới: “Tại sao một người  
con gái muốn sống tự lập, muốn thoát ly khỏi cái  
không khí nặng nề và cái lề thói cổ hủ của gia đình,  
thì thiên hạ lại trút lên đầu bao nhiêu là tội lỗi? Nên  
hư gì thì cũng do mình”. Tư tưởng trọng nam khinh  
nữ đã trút tội lỗi lên những hành động táo bạo kia,  
và làm người ta nghĩ rằng: đối với người đàn ông,  
sự lầm lỡ cũng có nhiều cơ hội sửa chữa, còn đàn bà  
thì... Định kiến đó khiến họ không thể nhìn hành động  
của cô Ba Ngoạn bằng sự cảm thông. Cô còn tiến xa  
hơn thế: giao thiệp rộng, mở salon littéraire (phòng  
văn học, bàn luận văn chương), học nhảy đầm, uốn  
tóc, lấy chồng người Pháp, cuộc sống hạnh phúc mĩ  
Bên cạnh cô Ba Ngoạn, Thục Nghi (Nhang tàn  
thắp khuya) cũng luôn trăn trở về hiện sinh của mình.  
Thục Nghi có một đời sống gia đình không hạnh phúc  
vì cô không tìm thấy sự hòa hợp với người chồng hơn  
cô mười tuổi. Đúng lúc ấy, sự xuất hiện của Duy - anh  
chàng đầy thơ mộng cùng tuổi với Thục Nghi, là bạn  
của chồng cô - lại đáp ứng được những điều cô đang  
khao khát ở đời sống lứa đôi. Sự đấu tranh giữa con  
người chức phận và con người khát khao làm cô đau  
khổ. Chưa có hành động nào vượt ra ngoài vòng lễ  
giáo, mới chỉ là những phút xao lòng của một cuộc  
ngoại tình tư tưởng. Dù vậy nhưng cô luôn cảm thấy  
khinh ghét bản thân mình vì “Tựu trung nàng vẫn là  
người đàn bà hèn nhát, không dám sống, không có  
một thái độ chọn lựa thích hợp để tìm một lối đi, một  
tia sáng nào”. Cô bị một nỗi sợ to lớn trùm lấy, đó  
là vòng đai lễ giáo phong kiến bền chặt, khiến cho  
“Nàng phải bế môn tỏa cảng những khao khát, những  
dục vọng và phải cố gắng sống an phận trong nỗi  
cô đơn dằng dặc có thể kéo dài cả một kiếp người”.  
Cuộc đời trầm lặng kéo dài trong khô khan, thảm  
kịch kéo dài trong nỗi băng hoại ngấm ngầm. Thục  
Nghi thuộc kiểu nhân vật nhận thức được sự cần thiết  
phải vươn lên nhưng không đủ can đảm để vượt qua  
những rào cản. Không thể vượt thoát hoàn toàn khỏi  
cuộc sống tẻ nhạt tầm thường với những khác biệt,  
mâu thuẫn, nghịch cảnh, Thục Nghi chọn cách thích  
nghi với cuộc sống đó bằng cách tự tạo những niềm  
vui sống nho nhỏ. Cô tìm đến công việc nội trợ yêu  
thích để xóa đi bóng tối nghi hoặc chi phối tâm hồn,  
tìm được sự bình lặng. Việc chăm sóc đứa con mới  
chào đời cũng mang lại hạnh phúc riêng. Cô cố gắng  
tận hưởng “được bao nhiêu hay bấy nhiêu” những  
phút giây ít ỏi nồng mặn bên chồng và nhâm nhi nỗi  
tuyệt vọng thật đẹp, thật tươi thắm của ái tình đã sụp  
đổ. Cô nỗ lực trong việc kiếm tìm và tạo dựng một  
cuộc sống có ý nghĩa ngay từ những điều bình thường  
70  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 64-72  
nhất. Điều đó giúp cô quên đi giấc mộng không thành  
Trường hợp của cô Ba Ngoạn, Liễu, Linh, Đức,  
để có những ngày tháng thanh thản hơn. Trong khi Liên là số hiếm hoi không đầu hàng số phận. Thay vì  
đó, đám đàn bà còn lại trong Nhang tàn thắp khuya:  
cô Hai Diệm, cô Sáu Niệm, cô Quế Hương sống yên  
ổn, trầm lặng trong vòng lễ giáo phong kiến. Giữa  
một đời sống đầy rẫy phi lý con người bỗng trở thành  
những nô lệ của các luật lệ, luân lí. Đời sống là tất cả  
cuộc hiện sinh, thật có giá trị nhưng cũng vô giá trị  
đối với những người sống thụ động và ảm đạm. Chính  
nền luân lý khắc nghiệt của xã hội đã biến con người  
thành tiêu cực và thụ động. Còn gì đáng chán hơn  
khi con người đang sống mà không biết mình sống  
vì cái gì, sống như thế nào, như Đức nói “Anh chán  
đời sống như vầy trong khi anh chẳng có mơ tới đời  
sống khác. Khổ tâm là ở chỗ đó”.  
phó mặc đời sống như những tha nhân họ đấu tranh  
để tìm lại nhân vị, truy tìm những giá trị đích thực,  
khẳng định sự tồn tại có ý nghĩa của mình trong thế  
giới, giải tỏa những lo âu, và sẵn sàng đón nhận cái  
giá cho sự đấu tranh đó.  
Sống mà không biết vươn lên nói theo Sartre  
thì đó là những “vật tự thân” nhầy nhụa, đặc sệt và  
buồn nôn. Nó cứ ù lì mãi thế, chẳng có chỗ chứa cho  
những tri thức mới, những kinh nghiệm mới, nó đặc  
ứ và không có tha tính, và sẽ muôn đời như thế cho  
đến khi nó kiệt quệ đi. Trái lại, những con người biết  
vươn lên là những hữu thể tự quy, có khả năng hư vô  
hóa cái chất đặc sệt kia, với đặc tính là luôn biến đổi  
và tiến lên không ngừng nghỉ. Những người nào có ý  
muốn an hưởng đều là những kẻ đã “sa lầy”. Họ sống  
mà như đã chết vì chỉ có người chết mới không biết  
vươn lên: “Họ sống mà thực sự họ đã chết. Chết, vì  
họ không còn vươn lên nữa. Họ cũng đầy ứ như một  
vật tự thân” (Trần Thái Đỉnh, 2005, tr. 51).  
Trong một tác phẩm khác, Thú hoang, Liễu  
đang độ tuổi thanh xuân ngập tràn sinh khí, nhưng  
bị đặt vào một nhịp sống ngày hai buổi sáng chiều  
đến trường cao tiểu dạy học, đêm lại về với căn nhà  
trống trải mênh mông, lạnh lẽo. Ngoài ra chẳng có  
thú vui gì “Tôi nhìn cuộc đời hiện tại mênh mông  
không một trụ cột, một ước vọng say mê nào để mà  
bám víu… Tôi sẽ tàn tạ trong một xó xỉnh của tỉnh  
lỵ đìu hiu nầy”. Ý nghĩ về cuộc đời làm Liễu cảm  
thấy xót xa “Tôi sợ đầu óc mình trống vắng dễ nghĩ  
ngợi bâng quơ rồi đau xót, thương hại mình trước  
một viễn ảnh trống trơn, một hiện tại nhiều bất mãn  
và một tương lai trắng xóa vô vọng trước mắt”. Cô  
quyết định nghỉ dạy và quyết định làm cuộc lột xác  
bằng một chuyến đi xa “Tôi sẽ rời bỏ ngôi nhà cổ âm  
thầm với tiếng cắc kè trên đầu kèo, như lời nguyền  
rủa tương lai từng đêm… Tôi muốn chạy trốn bối  
cảnh nhàm chán đó, cùng những âm thanh rã rời buồn  
nản, như cuộc sống tôi hiện tại. Tôi đi đây, ngày mai  
ra sao cũng mặc. Cứ đi, bỏ lại sau lưng mình thành  
phố nhỏ hẹp, với ánh đèn đường vàng vọt, với mọi  
lời gièm pha cho mọi nỗi bất hạnh, với cuộc sống che  
giấu, đạo đức giả vờ”. Cứ thế, Liễu và cả Linh, Đức,  
Liên,… họ cứ đi vì nhu cầu bức thiết của bản thân là  
không chịu được cảnh sống hiện tại. Còn tương lai  
ra sao? Họ không biết, không dám kì vọng. Đôi khi  
sự lo lắng hay mặc cảm bị phủ nhận, bị bỏ rơi làm họ  
muốn quay trở về nhưng họ không thể quay lại. Dù  
chỉ mang một chút hi vọng đổi đời còn hơn là quay  
lại nơi mà cuộc sống đang dần làm tàn lụi, bóp nghẹt  
sinh khí con người. Con người hiện sinh là con người  
không bao giờ muốn nghỉ ngơi, luôn biết vươn lên để  
hơn chính mình trong quá khứ.  
3. Kết luận  
Soi chiếu dưới góc nhìn hiện sinh, có thể thấy  
những trăn trở, ray rứt của nhà văn về những tâm  
hồn cô đơn trong hành trình đi về cõi hư không.  
Trong một đời sống đầy những bất an, hoài nghi,  
con người thu mình lại trước tha nhân, ôm nỗi cô  
đơn để tự mình xoay sở lấy. Ở đó, còn cho thấy sự  
ưu tư, vươn lên của con người để thoát khỏi nghịch  
cảnh, tìm kiếm tự do, khẳng định nhân vị. Nguyễn  
Thị Thụy Vũ đã xây dựng những cuộc vượt thoát  
thành công và cả những sự quằn quại trong đau khổ,  
hay chấp nhận đời sống chìm lỉm như sự vật. Những  
không gian sống được tạo dựng trong tác phẩm của  
bà dù ở tỉnh lẻ hay đô thị đều có tính bất ổn, xuất  
phát từ chính cuộc đời thật ngoài kia đã trực tiếp  
đi vào tác phẩm. Nguyễn Thị Thụy Vũ không chủ  
trương đưa ra một lối thoát nào cho đời sống đó, có  
thể do tầm nhìn giới hạn của nữ giới, nhưng cũng  
có thể nó thuộc về ý đồ của nhà văn: chỉ ra những  
bất cập để con người tự nhận thức và tự thay đổi đời  
sống mình. Văn học hiện sinh không phải là bày ra  
những gì tăm tối để rồi bị kết án là văn học u ám,  
suy đồi, nhưng ở mặt này, nó là một sự minh họa  
cho một đời sống mà nói theo các nhà hiện sinh là  
thật buồn nôn, phi lý và con người hiện sinh cần  
thoát khỏi những hiện trạng đó.  
71  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Tài liệu tham khảo  
nghien-cuu/v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-  
v i % E 1 % B B % 8 7 t - n a m / 6 3 4 8 -  
nguy%E1%BB%85n-th%E1%BB%8B-  
t h % E 1 % B B % A 5 y - v % C 5 % A 9 -  
%C4%91%C3%A3-tr%E1%BB%9F-  
l%E1%BA%A1i.html  
Hà Thanh Vân. (16/11/2019). Văn học hiện sinh  
tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-  
1975. Vanhocsaigon. Truy cập từ https://  
vanhocsaigon.com/van-hoc-hien-sinh-tai-mien-  
nam-viet-nam-giai-doan-1954-1975/.  
Phan Quang Định. (2008). Toàn cảnh triết học Âu  
Mỹ. Hà Nội: NXB Văn học.  
Huỳnh Như Phương. (2008). Những nguồn cảm hứng  
trong văn học. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB  
Văn nghệ.  
Sartre, J.P. (Đinh Hồng Phúc dịch). (2015). Thuyết  
hiện sinh là một thuyết nhân bản. Hà Nội: NXB  
Trí Thức.  
Lã Nguyên. (2017). Việt Nam thế kỷ XX và những xu  
hướng lựa chọn tư tưởng văn nghệ nước ngoài.  
Khoavanhue. Truy cập từ http://khoavanhue. Trần Thái Đỉnh. (2005). Triết học hiện sinh. Thành  
husc.edu.vn/viet-nam-the-ki-xx-va-nhung-  
xu-huong-lua-chon-tu-tuong-van-nghe-nuoc-  
ngoai/.  
phố Hồ Chí Minh: NXB Văn học.  
Võ Văn Nhơn. (2016). Bối cảnh xã hội - văn hóa và  
hoạt động nghiên cứu phê bình, sáng tác văn  
học ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-  
1975. Tạp chí Khoa học Đại học Văn Hiến,  
số 11, 23-29.  
Nguyễn Đình Tuyến. (1996). Những nhà văn hôm  
com/2018/08/11/nhung-nha-van-hom-nay-  
nguye-dinh-tuyen-1969/.  
Võ Phiến. (30/10/2015). Văn học miền Nam - Tổng  
story.php?story=van_hoc_mien_nam_tong_  
quan__vo_phien.  
Nguyễn Thị Thanh Xuân. (2017). Nguyễn Thị  
Thụy Vũ đã trở lại. Khoavanhoc. Truy  
72  
pdf 9 trang baolam 32020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cảm hứng hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcam_hung_hien_sinh_trong_sang_tac_cua_nguyen_thi_thuy_vu.pdf