Chương trình, sách giáo khoa tiếng Việt 1 năm 2018 và định hướng đào tạo giáo viên tiểu học của khoa sư phạm, trường Đại học Thủ đô Hà Nội
78
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT 1 NĂM
2018 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
CỦA KHOA SƯ PHẠM, TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Vũ Thị Thương
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Trước bối cảnh thế giới và trong nước, đổi mới giáo dục là một nhu cầu cấp thiết
và xu thế mang tính toàn cầu. Vì thế, việc đổi mới sách giáo khoa là điều tất yếu, hợp với
xu thế. Theo lộ trình áp dụng sách giáo khoa mới được Quốc hội phê duyệt tại Nghị quyết
số 88/2014/QH13, điều chỉnh tại Nghị quyết số 51/2017/QH14 và theo lộ trình của Thông
tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã tổ chức biên soạn sách
giáo khoa trên cơ sở Chương trình giáo dục phổ thông đã ban hành. Từ năm học 2020-
2021, các bộ sách giáo khoa Tiếng Việt 1 mới được triển khai ở tất cả các trường tiểu học
trên toàn quốc. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin phép đề cập đến bộ Sách giáo khoa
Tiếng Việt lớp 1 thuộc bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” do tác giả Bùi Mạnh Hùng
(chủ biên) từ đó đưa ra những định hướng, điều chỉnh của giảng viên, bộ môn sư phạm
Ngữ Văn, khoa Sư phạm trong đào tạo sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học nhằm đáp ứng
chương trình, sách giáo khoa lớp 1 năm 2018.
Từ khóa: Chương trình, định hướng đào tạo, giáo viên tiểu học, khoa Sư phạm, sách giáo
khoa Tiếng Việt lớp 1, trường Đại học Thủ đô Hà Nội.
Nhận bài ngày 15.2.2021; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 20.3.2021
Liên hệ tác giả: Vũ Thị Thương; Email: vtthuong@daihocthudo.edu.vn
1. MỞ ĐẦU
Trước bối cảnh thế giới và trong nước, đổi mới giáo dục là một nhu cầu cấp thiết và xu
thế mang tính toàn cầu. Vì thế, việc đổi mới sách giáo khoa (SGK) là điều tất yếu, hợp với
xu thế. Theo lộ trình áp dụng SGK mới được Quốc hội phê duyệt tại Nghị quyết số
88/2014/QH13, điều chỉnh tại Nghị quyết số 51/2017/QH14 và theo lộ trình của Thông tư
số 32/2018/TT-BGDĐT, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã tổ chức biên soạn SGK trên
cơ sở Chương trình giáo dục phổ thông đã ban hành. Bộ GD&ĐT đã công bố danh mục 32
SGK lớp 1 được lựa chọn cho Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Trong số danh mục
SGK được Bộ GD&ĐT công bố, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam (NXBGDVN) có 24/32
tên sách thuộc 4 bộ SGK, gồm: Kết nối tri thức với cuộc sống; Chân trời sáng tạo; Cùng
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 48/2021
79
học để phát triển năng lực; Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục. Theo Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam, mỗi bộ sách mang một thông điệp, bản sắc riêng và cụ thể hoá mục tiêu
giáo dục toàn diện, chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành, phát triển phẩm chất và
năng lực của người học; kết nối kiến thức với cuộc sống, dẫn dắt học sinh khám phá cái mới,
tổ chức dạy học theo cách sáng tạo để gợi hứng thú cho người học; phù hợp với học sinh
trên mọi vùng miền trong cả nước. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin phép đề cập đến bộ
SGK Tiếng Việt lớp 1 thuộc bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” của tác giả Bùi Mạnh
Hùng (Tổng chủ biên kiêm Chủ biên), từ đó đưa ra những định hướng, điều chỉnh của giảng
viên, bộ môn sư phạm Ngữ văn, khoa Sư phạm, trường Đại học Thủ đô Hà Nội trong đào
tạo sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học nhằm đáp ứng chương trình, sách giáo khoa lớp 1
năm 2018.
2. NỘI DUNG
2.1. Chương trình, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”
Với thông điệp “Kết nối tri thức với cuộc sống”, bộ SGK này được biên soạn theo mô
hình hiện đại, chú trọng vai trò của kiến thức, nhưng kiến thức cần được “kết nối với cuộc
sống”, bảo đảm: 1) phù hợp với người học; 2) cập nhật những thành tựu khoa học hiện đại,
phù hợp nền tảng văn hóa và thực tiễn Việt Nam; 3) giúp người học vận dụng để giải quyết
những vấn đề của đời sống: đời sống cá nhân và xã hội, đời sống tinh thần (đạo đức, giá trị
nhân văn) và vật chất (kĩ năng, nghề nghiệp). Bộ sách Tiếng Việt 1 này thực hiện tư tưởng
đổi mới chủ đạo, xuyên suốt trong biên soạn SGK của NXB Giáo dục Việt Nam: Kết nối tri
thức với cuộc sống. Kiến thức trong SGK không chỉ cần hiểu và ghi nhớ, mà phải là “chất
liệu” quan trọng giúp HS hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực mà các em cần
có trong cuộc sống. Bộ sách tiếp thu những thành quả mới nhất trong biên soạn SGK dạy
học ngôn ngữ từ các nước phát triển và kế thừa kinh nghiệm dạy học tiếng Việt tại Việt Nam;
giúp GV và HS triển khai hiệu quả việc dạy học ngôn ngữ thông qua các hoạt động giao tiếp
trong ngữ cảnh tự nhiên và gần gũi với đời sống.
2.1.1. Quan điểm biên soạn của bộ sách
Tuân thủ định hướng đổi mới giáo dục phổ thông với trọng tâm là chuyển mục tiêu giáo
dục từ chú trọng truyền thụ kiến thức sang giúp HS hình thành, phát triển toàn diện phẩm
chất và năng lực; Bám sát các tiêu chuẩn SGK mới theo Thông tư số 33/2017 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành ngày 22 tháng 12 năm 2017; Tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt trong
SGK các môn học và hoạt động giáo dục của bộ sách này thể hiện qua thông điệp “Kết nối
tri thức với cuộc sống”. Với thông điệp này, các tác giả thể hiện quan điểm đổi mới SGK
theo mô hình phát triển phẩm chất và năng lực của người học nhưng không xem nhẹ vai trò
của kiến thức.
2.1.2. Quan điểm của bộ sách giáo khoa Tiếng Việt 1
- SGK Tiếng Việt cần:
a. Dạy học ngôn ngữ thông qua các hoạt động đọc, viết, nói và nghe trong ngữ cảnh tự
80
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
nhiên và gần gũi với đời sống
b. Hấp dẫn đối với HS, khơi gợi được hứng thú của các em qua ngữ liệu và cách khai
thác ngữ liệu phù hợp.
- Lớp 1 đánh dấu một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trong quá trình phát triển năng
lực giao tiếp của HS, từ giao tiếp bằng ngôn ngữ nói vốn được hình thành và phát triển trong
môi trường giao tiếp tự nhiên sang giao tiếp bằng cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong
môi trường nhà trường. Vì vậy, ngoài những yêu cầu chung đối với SGK Tiếng Việt, SGK
Tiếng Việt lớp 1 cần quan tâm thoả đáng đến đặc điểm phát triển ngôn ngữ của HS ở giai
đoạn chuyển tiếp này để khai thác hiệu quả vốn tiếng Việt có sẵn có trước khi đến trường
của các em.
2.1.3. Sự khác biệt giữa bộ SGK năm 2000 và bộ SGK năm 2020
Tiến hành so sánh sách giáo khoa Tiếng Việt năm 2000 do các tác giả Đặng Thị Lanh
(chủ biên), Hoàng Cao Cương, Trần Thị Minh Phương biên soạn và bộ sách giáo khoa năm
2020 do tác giả Bùi Mạnh Hùng (Tổng chủ biên kiêm Chủ biên), Lê Thị Lan Anh, Nguyễn
Thị Ngân Hoa, Vũ Thị Thanh Hương, Vũ Thị Lan, Vũ Kim Bảng, Trịnh Cẩm Lan, Chu Thị
Phương, Trần Kim Phượng, Đặng Thị Hảo Tâm biên soạn. Bộ sách giáo khoa này thuộc bộ
sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” của NXB Giáo dục Việt Nam. Bộ sách đã tiếp thu
thành quả biên soạn SGK dạy học ngôn ngữ của nhiều nước tiên tiến, kế thừa kinh nghiệm
biên soạn SGK dạy tiếng Việt ở Việt Nam qua nhiều giai đoạn với mong muốn đáp ứng được
yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học tiếng Việt trong thời gian tới.
Chúng tôi tiến hành so sánh trên một số tiêu chí sau:
Tiêu chí
Nội dung
Bộ Sách giáo khoa năm 2000 Bộ sách giáo khoa mới năm 2020
Ở giai đoạn đầu, dạy âm chữ Ngay từ những bài đầu tiên, sách đã
chỉ gắn với từ ngữ (đơn vị định đặt những âm chữ được học vào
danh)
câu, gắn với một sự việc, trạng thái
cụ thể.
Dạy âm, vần, văn bản đan xen Việc dạy học các vần riêng biệt kết
với nhau
thúc ở học kì 1. Sang học kì 2, HS
được học các văn bản trọn vẹn.
Các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe
được kết nối và dạy học tích hợp
trong một bài học. Đến tập hai,
Các kĩ năng đọc, viết, nói và
nghe được kết nối và dạy học
tích hợp trong một bài học.
Tuy nhiên đến tập hai, văn bản trung tâm để tạo nên sự kết nối và
thuộc kiểu loại khác nhau còn
ít.
tích hợp đó là văn bản thuộc các
kiểu loại khác nhau.
Ngữ liệu chủ yếu là văn bản
văn học
Ngữ liệu bảo đảm tỉ lệ cân đối, hài
hoà giữa văn bản văn học và văn
bản thông tin. Tăng thêm tỉ lệ văn
bản thông tin và giảm tỉ lệ văn bản
văn học
Chỉ là đơn vị các kiến thức bài Nội dung bài học được thiết kế dưới
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 48/2021
81
học, không có các câu lệnh
hướng dẫn người học
dạng các hoạt động, bắt đầu bằng
các câu lệnh thể hiện yêu cầu mà
người học cần phải thực hiện.
Bộ sách tích hợp các kiến thức Với cách thiết kế nội dung dạy học
văn học, văn hóa, tự nhiên, xã
hội…tuy nhiên học sinh chưa
có cơ hội kết nối với trải
có tính tích hợp liên môn cao và
phương pháp dạy học hiện đại,
Tiếng Việt 1 không chỉ giúp HS học
nghiệm cá nhân trong tiếp cận tiếng Việt mà còn được tìm tòi,
cái mới, phát triển cá tính lành khám phá thế giới xung quanh; trao
mạnh và tư duy độc lập.
đổi các ý tưởng, tham gia các hoạt
động tương tác; có cơ hội kết nối
với trải nghiệm cá nhân trong tiếp
cận cái mới, phát triển cá tính lành
mạnh và tư duy độc lập.
Học sinh chủ yếu tập trung đọc Theo yêu cầu của CT mới, Tiếng
các văn bản có trong SGK
Việt 1 chú ý dành thời gian cho hoạt
động đọc mở rộng. Đây là hoạt động
tạo cho HS có được cơ hội tự tìm
thêm sách để đọc theo sở thích của
bản thân với sự hướng dẫn, hỗ trợ và
kiểm tra của GV.
Có nhiều bài là tranh vẽ, không Sách có hình thức trình bày và tranh
phù hợp
ảnh minh họa sinh động, hấp dẫn.
HS sẽ cảm thấy thích thú với việc
học tiếng Việt và từng bước khám
phá những bài học viết cho các em
trong sách.
Cấu trúc sách
Tập 1
Tập 1
Gồm 83 bài, cấu trúc như
Ngoài các bài học ở Tuần mở đầu –
nhau: dạy đọc, viết, nói, nghe. “Chào em vào lớp 1” (giúp HS làm
Hàng tuần có bài Ôn tập.
Tập 2
Gồm 20 bài học vần, cấu trúc
như nhau: dạy đọc, viết, nói,
quen với môi trường và hoạt động
học tập ở lớp 1) và Tuần ôn tập, 16
tuần còn lại có 80 bài, mỗi tuần có 5
bài, gồm cả bài Ôn tập và kể
nghe. Hàng tuần có bài Ôn tập chuyện ở cuối tuần. Mỗi bài được
- Bắt đầu từ phần Luyện tập dạy học trong 2 tiết, trình bày trong
tổng hợp có các chủ điểm. Các 2 trang sách, 1 trang chẵn và 1 trang
phân môn: Tập đọc, Tập viết,
Chính tả, Kể chuyện xoay
quanh chủ điểm đó
lẻ. Ngoài ra, mỗi tuần còn có 2 tiết
tập viết tăng thêm ngoài thời gian
tập viết.
Tập 2
Ở tập hai, có 8 bài lớn, mỗi bài được
dạy học trong 2 tuần (24 tiết).
Trong 24 tiết cho mỗi bài lớn có 18
82
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
tiết dành cho đọc, viết, nói và
nghe xoay quanh các văn bản; 2 tiết
ôn tập ở cuối tuần 2 của mỗi
bài; 4 tiết (mỗi tuần 2 tiết) luyện tập
củng cố. Mỗi bài lớn tương
đương với một “chương” (chapter)
trong một số SGK nước ngoài hoặc
với đơn vị dạy học xoay quanh một
chủ điểm như một số SGK Việt
Nam trước đây.
Cấu trúc bài
học
* 103 bài Học vần ở tập 1, tập
2: Các bài học hầu hết đều có
cấu trúc giống nhau
* Ở tập một, mỗi bài học trong 4 bài
học hằng tuần đều được bắt
đầu bằng hoạt động nhận biết âm –
chữ hoặc vần chuẩn bị học. Hoạt
động này được thiết kế dưới dạng
yêu cầu HS quan sát tranh, nhận biết
nội dung tranh và đọc theo GV câu
- Bài làm quen:
+ Trang 1: Tên bài, tranh ảnh
minh họa cho dấu thanh hoặc
chữ ghi âm mới, ở giữa là dấu
ghi thanh mới. Tiếp là mô hình thuyết minh tranh.
kết hợp âm hoặc chữ để tạo
Câu này có chứa các âm – chữ hoặc
tiếng mới. Cuối cùng là sự thể vần được học trong bài và
hiện chữ viết tay trên dòng li
+ Trang 2: Chủ đề luyện nói,
thường thể hiện các sự việc, trạng
thái có thể minh hoạ bằng hình ảnh
tranh ảnh minh họa cho chủ đề trực quan. Hoạt động nhận biết này
luyện nói
- Bài âm/vần mới
+ Trang 1: Tên bài, âm/vần
tạo cho HS có hứng thú khám phá
bài học. Những âm – chữ, vần cần
học được đặt trong câu (đánh dấu
mới thứ nhất, tiếng khóa/tranh màu đỏ), câu gắn với một sự việc,
ảnh minh họa cho tiếng khóa,
từ khóa; âm/vần mới thứ hai
trạng thái cụ thể, tạo ngay cho HS
cảm giác bài học gần gũi và thiết
tương tự, các từ ngữ ứng dụng, thực với đời sống.
sự thể hiện chữ viết tay trên
* Tập 2
dòng ô li
Mỗi văn bản đọc là trung tâm của
+ Trang 2: tranh minh họa cho một bài nhỏ. Khởi đầu bài học là
câu/đoạn/bài ứng dụng; hoạt động khởi động nhằm huy
câu/đoạn/bài ứng dụng, chủ đề động trải nghiệm, hiểu biết và tạo
luyện nói, tranh ảnh minh họa
chủ đề luyện nói
- Bài ôn tập
tâm thế để HS đọc hiểu văn bản tốt
hơn. Sau hoạt động khởi động là đọc
thành tiếng, đọc hiểu (thể hiện qua
+ Trang 1: tên bài, bảng ôn tập trả lời câu hỏi). Riêng đối với văn
các kết hợp cùng loại, các từ bản thơ, HS được luyện tập nhận
ngữ ứng dụng, sự thể hiện chữ biết vần nhằm củng cố kiến thức, kĩ
viết tay trên dòng ô li năng về vần và học thuộc lòng (một
+ Trang 2: tranh minh họa cho hai khổ thơ hoặc cả bài). Riêng đối
câu/đoạn/bài ứng dụng;
câu/đoạn/bài ứng dụng, nhan
với văn bản văn xuôi, HS được thực
hành viết, nói, nghe, đôi khi có hoạt
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 48/2021
83
đề câu chuyện, tranh minh họa động kể chuyện hay đóng vai diễn
cho truyện kể
lại câu chuyện đã đọc. Cuối mỗi bài
* Các phân môn: Chính tả, Tập học (cả thơ và văn xuôi) thường có
viết, Tập đọc, Kể chuyện có
cấu trúc riêng.
hoạt động tích hợp, mở rộng, vận
dụng đa dạng, thường dưới hình
thức trò chơi, giải ô chữ, vẽ, hát,
giải quyết tình huống,…
Ngoài ra, 2 tiết luyện tập củng cố
trong mỗi tuần, nằm ngoài các bài
học, dành để HS thực hành thêm,
chủ yếu là củng cố kĩ năng đọc các
vần khó và kĩ năng đặt câu trên cơ
sở những từ ngữ cho
2.2. Những định hướng của giảng viên, bộ môn sư phạm Ngữ văn, khoa Sư phạm -
trường Đại học Thủ đô Hà Nội trong đào tạo sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học nhằm
đáp ứng chương trình năm 2018, sách giáo khoa lớp 1
2.2.1. Đối với nhà trường và khoa đào tạo
Nhà trường cần tiến hành đổi mới chương trình đào tạo và chương trình bồi dưỡng giáo
viên, cán bộ quản lí giáo dục đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực giáo viên trong bối cảnh mới.
Nhà trường và khoa Sư phạm cần chuyển mình ngay trong những khóa đào tạo, nên bắt đầu
từ năm thứ 1, 2 và 3 để sinh viên đi thực tập và ra trường có thể thích ứng ngay với sách giáo
khoa mới. Nhà trường cần thúc đẩy nghiên cứu khoa học giáo dục ứng dụng phục vụ đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông như nghiên cứu phát triển chương trình giáo dục STEM,
phát triển chương trình giáo dục địa phương, nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học, kiểm
tra - đánh giá năng lực học sinh,… Nhà trường nên tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo cho
giảng viên về đổi mới phương pháp, nội dung, hình thức kiểm tra đánh giá để giảng viên
nắm vững, bổ sung cập nhật vào chương trình đào tạo và biên soạn tài liệu bồi dưỡng giáo
viên phổ thông. Nhà trường và khoa nên xây dựng hệ thống các trường thực hành để đưa
sinh viên đi thực tế môn học, trải nghiệm ở trường phổ thông.
2.2.2. Đối với tổ, bộ môn và giảng viên
Bộ môn cần điều chỉnh chương trình chi tiết học phần như Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng
Việt, Văn học, Tiếng Việt, Phương pháp dạy học Tiếng Việt,… nhằm đào tạo hiệu quả và
ứng dụng với thực tiễn mới. Cụ thể: Đối với học phần Tiếng Việt, ngoài các nội dung kiến
thức Ngữ âm, Chữ viết, Từ vựng, Ngữ pháp được đưa vào giảng dạy khá nhiều thì các kiến
thức về Hoạt động giao tiếp, Sự phát triển của ngôn ngữ và các biến thể của ngôn ngữ cũng
nên được chú trọng hơn. Đối với học phần Văn học, nên bổ sung các kiến thức về các thể
loại văn học trong đó tập trung kiến thức về thể loại Thơ, truyện và kiến thức về Các yếu tố
của tác phẩm văn học. Trong các học phần liên quan đến rèn kĩ năng, dạy phương pháp cho
sinh viên, các giảng viên nên tăng cường kĩ năng đọc (đọc mở rộng, so sánh, liên hệ, đối
chiếu) và đọc các loại văn bản văn học trong các giờ học; tăng cường kĩ năng thực hành nghề
84
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
nghiệp, vận dụng cho sinh viên. Đồng thời, bộ môn cần xây dựng tính tích hợp (nội môn,
xuyên môn, liên môn) trong đào tạo nhóm khoa nhằm chuẩn bị cho việc đào tạo thực hành
theo chương trình sách giáo khoa mới. Trong các giờ học phương pháp, giảng viên phải luôn
có ý thức cập nhật kiến thức, nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, hình thức kiểm
tra đánh giá của bộ sách giáo khoa Tiếng Việt 1 mới để sinh viên có thể tiếp cận một cách
nhanh nhất .
3. KẾT LUẬN
Trường ĐH Thủ đô Hà Nội nói chung và Khoa Sư phạm nói riêng đang sẵn sàng đào
tạo các khóa sinh viên hiện tại với sự lạc quan và tiếp tục điều chỉnh có định hướng nội dung
để có thể thích nghi và thực hiện chương trình sách giáo khoa mới. Quan điểm của chúng tôi
là sẽ làm hết sức mình để chuẩn bị cho sinh viên kỹ năng quản lý sự thay đổi và làm chủ để
thích ứng với sự thay đổi. Chúng tôi hi vọng, Khoa Sư phạm nói riêng và trường Đại học
Thủ đô nói chung sẽ là những đơn vị tiên phong đi đầu trong việc tiếp cận, triển khai chương
trình sách giáo khoa mới, mãi là điểm sáng của Thủ đô và cả nước.
TꢀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và đào tạo, Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn năm 2018 (Ban hành
kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo).
2. Bùi Mạnh Hùng (Tổng chủ biên) (2020), Sách giáo khoa Tiếng Việt tập 1, 2, Nxb. Giáo dục Việt
Nam.
3. Bộ Giáo dục và đào tạo (2017), Sách giáo khoa Tiếng Việt tập 1, 2, Nxb. Giáo dục Việt Nam.
THE 2018 TEXTBOOK AND CURRICULUM FOR GRADE 1
AND APPROACHES TO PRIMARY TEACHERS TRAINING
PROGRAMME AT HANOI METROPOLITAN UNIVERSITY
Abstract: In the context of the world and the country, educational innovation is an urgent
need and a global trend. Therefore, the renovation of textbook is indispensable and in line
with the trend. According to the new textbook application roadmap approved by the
National Assembly in Resolution No. 88/2014/QH13, amended in Resolution No.
51/2017/QH14 and according to the schedule of Circular No. 32/2018/TT-BGDĐT,
Vietnam Education Publishing House organiazed the compilation of textbook on the basis
of the issued general education program. From the school year 2020-2021, new
Vietnamese textbook 1 are deployed in all schools across the country. In this article, I
would like to mention Vietnamese textbook 1 of the series "Connecting knowledge with life"
by author Bui Manh Hung (editor) from which direction, adjustment of lecturers, subjects
and faculties in training students to response program, Vietnamese textbook 1.
Keywords: Program, oriented training, primary teacher, pedagogy, Vietnamese textbook 1
Hanoi Metropolitian University.
Bạn đang xem tài liệu "Chương trình, sách giáo khoa tiếng Việt 1 năm 2018 và định hướng đào tạo giáo viên tiểu học của khoa sư phạm, trường Đại học Thủ đô Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chuong_trinh_sach_giao_khoa_tieng_viet_1_nam_2018_va_dinh_hu.pdf

