Đề tài gia đình trong các truyện ngắn trước năm 1945 mới được sưu tầm của Nguyễn Văn Xuân

164  
Vũ Đình Anh / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 164-171  
5(48) (2021) 164-171  
Đề tài gia đình trong các truyện ngắn trước năm 1945 mới  
được sưu tầm của Nguyễn Văn Xuân  
Family theme in short stories newly collected before 1945 by Nguyen Van Xuan  
Vũ Đình Anh1  
Vu Dinh Anh *  
Khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị khu vực III, 232 Nguyễn Công Trứ, Đà Nẵng, Việt Nam  
Faculty of Culture and Development, Academy of Politics Region III, 232 Nguyen Cong Tru, Da Nang, Vietnam  
(Ngày nhận bài: 01/10/2021, ngày phản biện xong: 16/10/2021, ngày chấp nhận đăng: 26/10/2021)  
Tóm tắt  
Trong các truyện ngắn trước năm 1945 mới được sưu tầm của Nguyễn Văn Xuân, nhà văn đặc biệt quan tâm đến đề tài  
gia đình. Các nhân vật được nhắc đến trong nhiều mối quan hệ như giữa mẹ và con, vợ và chồng, bà và cháu, chú và  
cháu, anh và em, v.v. Cảm hứng chủ đạo của tác giả là ca ngợi những người phụ nữ cần cù, yêu thương hết lòng, hy  
sinh vì gia đình, họ là những người mẹ, người bà, người chị đáng kính. Bên cạnh đó, nhà văn phê phán nhiều nhân vật  
là chồng, cha, chú, anh, con trai. Bởi họ thường có những tính xấu như vô cảm, vô trách nhiệm, thiếu đạo đức trong gia  
đình,… Qua đó, chúng ta thấy rằng tác giả rất mong muốn giữ gìn, chăm lo và bồi đắp đạo đức truyền thống trong gia  
đình Việt Nam. Đây là một trong những dấu ấn và đóng góp của Nguyễn Văn Xuân cho nền văn học Việt Nam giai  
đoạn 1930-1945.  
Từ khóa: Nguyễn Văn Xuân; truyện ngắn; gia đình; đạo đức; văn học trước năm 1945.  
Abstract  
In newly collected short stories before 1945 by Nguyen Van Xuan, the writer was particularly interested in the subject  
of family. The characters were mentioned in many relationships such as between mother and child, wife and husband,  
grandmother and grandchild, uncle and grandchild, brother and brother, and so on. The main inspiration of the author  
was praising the women who were industrious, loved wholeheartedly, and sacrificed themselves for their families, who  
were respectable mothers, grandmothers, and sisters. Besides, the writer criticized many characters who are husband,  
father, uncle, brother, son. Because they often have bad characters such as indifference, irresponsibility, unethical in the  
family, etc. Thereby, we see that the author is very eager to preserve, take care and foster traditional ethics in  
Vietnamese families. This is one of the imprints and contributions of Nguyen Van Xuan to the bountiful harvest of  
Vietnamese literature in the period from 1930 to 1945.  
Keywords: Nguyen Van Xuan; short stories; family; morality; literature before 1945.  
*Corresponding Author: Vu Dinh Anh; Faculty of Culture and Development, Academy of Politics Region III, 232  
Nguyen Cong Tru, Da Nang, Vietnam  
Vũ Đình Anh / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 164-171  
165  
1. Đặt vấn đề  
30/10/1943), Dư ở phường Xoan (Nguyệt san  
số 2, tháng 7/1944), Kinh nghiệm (bị mất bìa  
nên không còn số, ngày, tháng; bản chụp tại  
Thư viện Viện Văn học Việt Nam). Trên Báo  
Mới năm 1939 có Truyện Ả rập ở xứ ta (số 3,  
ngày 01/6/1939). Với 22 truyện ngắn này,  
chúng ta sẽ có một cái nhìn đầy đủ, trọn vẹn  
hơn những cống hiến của cố nhà văn xứ Quảng  
giai đoạn tiền chiến. Bởi lâu nay, khi tìm hiểu,  
đánh giá về nhà văn Nguyễn Văn Xuân trong  
giai đoạn này, các nhà nghiên cứu thường chỉ  
đề cập 02 truyện ngắn là Ngày giỗ cha và Ngày  
cuối năm trên đảo được chọn in trong Tổng tập  
Văn học Việt Nam, tập 30B; khi bộ Nguyễn Văn  
Xuân toàn tập ra đời thì có thêm 01 tác phẩm  
Nhà có trẻ ốm (Tiểu thuyết thứ Bảy, số 488,  
ngày 20/11/1943).  
Năm 2021 kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố  
nhà văn, học giả, nhà giáo Nguyễn Văn Xuân  
(1921 - 2007). Lúc sinh thời, học giả xứ Quảng  
chưa được quan tâm, đánh giá đầy đủ những  
đóng góp về văn học, văn hóa của mình. Song  
cùng với thời gian, nhất là sự ra đời bộ sách  
Nguyễn Văn Xuân toàn tập (7 tập) năm 2020,  
độc giả xứ Quảng nói riêng, cả nước nói chung  
đã có một cái nhìn tương đối toàn diện về  
“những di sản quý” mà nhà Quảng Nam học để  
lại. Qua đó, nhiều người đã nhận ra vị trí “một  
trong những tượng đài văn hóa của xứ Quảng,  
trân trọng góp cùng văn học và văn hóa dân  
tộc” (Nguyên Ngọc).  
Dù vậy, khi đọc tiểu sử của Nguyễn Văn  
Xuân, tôi cảm nhận có sự mất mát khá nhiều  
tác phẩm giai đoạn trước năm 1945. Vì vậy, tôi  
đã dành nhiều tâm sức để tìm kiếm nhằm khám  
phá đầy đủ hơn. Đến nay, tôi đã sưu tầm thêm  
được 22 truyện ngắn khác của cố nhà văn giai  
đoạn trước Cách mạng tháng Tám. Trên Tiểu  
thuyết thứ Bảy từ năm 1941 đến 1945 có 21  
truyện ngắn: Người đàn bà Tàu (số 380, ngày  
27/9/1941), Lão thầy bói (năm 1942, được chọn  
in trong Tuyển tập Truyện ngắn tiền chiến), Bên  
kia (số 433, ngày 03/10/1942), Tết (số 446,  
ngày 02/01/1943), Rina (số 449, ngày  
20/02/1943), Động con đất (số 450, ngày  
27/02/1943), Trả thù (số 452, ngày 13/3/1943),  
Tuổi già hạt lệ như sương (số 453, ngày  
20/3/1943), Cái quần (số 457, ngày 17/4/1943),  
Lão Tân (số 462, ngày 22/5/1943), Lá bạc thau  
(số 463, ngày 29/5/1943), Một cuộc du lịch hơi  
kỳ (số 468, ngày 03/7/1943), Trời trồng (số  
471, ngày 24/7/1943), Bức thư nặc danh (số  
472, ngày 31/7/1943), Không yên ổn (số 473,  
ngày 7/8/1943), Đứa con hoang (số 478, ngày  
11/9/1943), Người con ở xa (số 480 và số 481,  
ngày 02/10/1943), Nửa giờ tức giận (số 484,  
ngày 23/10/1943), Nhớ con (số 485, ngày  
Đọc các truyện ngắn mới sưu tầm được, cảm  
nhận chung về văn chương của Nguyễn Văn  
Xuân trước năm 1945 giàu chất hiện thực,  
nhưng đó là hiện thực của tâm hồn, của tình  
người. Các tác phẩm của ông đề cập nhiều vấn  
đề xã hội, về cái chết vì bệnh tật và đói kém, về  
sự khó khăn của đời sống vật chất, song điều  
ông quan tâm khai thác chính là diễn biến tâm  
lý, là sự suy tư về tình cảm, đạo đức. Một số  
chủ đề được nhà văn quan tâm như: kiểu con  
người đa diện, tự vấn lương tâm nhằm hoàn  
thiện nhân cách; đề tài gia đình với cảm hứng  
ngợi ca người phụ nữ giàu tình thương, đức hy  
sinh, phê phán những người đàn ông, con trai  
vô tâm, phụ bạc, độc ác; phê phán hủ tục lạc  
hậu… Bài viết này nhằm tìm hiểu nội dung một  
số truyện ngắn mới sưu tầm được về đề tài gia  
đình như: Tuổi già hạt lệ như sương, Nhớ con,  
Người con ở xa, Người đàn bà Tàu, Truyện Ả  
rập ở xứ ta, Trả thù, Bức thư nặc danh… Qua  
đó, nhằm khẳng định những đóng góp, những  
dấu ấn độc đáo của Nguyễn Văn Xuân trong  
tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai  
đoạn 1930 - 1945.  
166  
Vũ Đình Anh / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 164-171  
2. Cảm hứng ngợi ca những con người siêng  
năng, giàu tình thương, đức hy sinh cho gia  
đình  
ôm con chờ chết nên đã gửi con cho bà gia để  
đi ở đợ lấy tiền gửi về nuôi con. Mụ ở chăm  
con nhỏ và dọn việc cho nhà chủ tại Huế. Dù bị  
chủ đối xử tệ bạc, bị chửi mắng oan thường  
xuyên nhưng mụ đều cắn răng chịu đựng với  
niềm tin có tiền gửi về nuôi con. Con mụ cũng  
nhỏ như con chủ, nên hình ảnh đứa con thơ dại,  
thiếu thốn đủ bề ở quê luôn hiện lên trong tâm  
tưởng mụ. Xa con vài tháng, mụ nhớ con không  
thể chịu được, nên đã tìm mọi cách xin chủ cho  
về thăm con. Nỗi nhớ con da diết, bùng lên  
“như có ai đốt lửa trong lòng và ruột gan mụ  
đôi lúc tưởng đã biến ra thành tro mà quằn quại  
lại với nhau”. Người mụ thờ thẫn, chẳng quan  
tâm làm việc, khiến bà chủ bực tức, chửi mắng,  
la rầy nhiều hơn, nhưng đành phải cho mụ về  
thăm con (Nhớ con).  
Cảm hứng ngợi ca những con người siêng  
năng, giàu tình thương, đức hy sinh cho gia  
đình được Nguyễn Văn Xuân dành cho những  
người phụ nữ trong gia đình. Đây cũng là đề tài  
khá phổ biến trong văn học từ cổ chí kim, từ  
văn học dân gian đến văn học thành văn của  
nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước Việt  
Nam. Những phẩm chất tốt đẹp của người phụ  
nữ Việt Nam đã trở thành nguồn mạch cảm  
hứng cho người nghệ sĩ qua nhiều thời kỳ trong  
lịch sử. Trước Cách mạng tháng Tám năm  
1945, trong xã hội thực dân nửa phong kiến,  
hẳn người phụ nữ phải chịu nhiều áp bức, bất  
công hơn. Bởi họ không chỉ phải chịu các luật  
lệ hà khắc của lễ giáo phong kiến mà còn sống  
với thân phận của người dân nô lệ.  
Nỗi nhớ và lo lắng cho con không chỉ khi  
con thơ dại, mà cả khi con đã lớn khôn, trưởng  
thành thì tình cảm người mẹ vẫn không thay  
đổi. Trong truyện ngắn Người con ở xa [2],  
người mẹ ở nhà cồn cào nhớ và lo cho Tự  
(người con trai út) đi lập nghiệp trong Sài Gòn.  
Qua câu chuyện giúp ta hiểu rõ hơn về câu nói  
“Trong mắt cha mẹ, con cái mãi là trẻ thơ”. Mẹ  
Tự chuẩn bị đồ đạc, tiền nong, làm lễ cúng gia  
tiên rất chu đáo, căn dặn con đủ điều trước khi  
con đi xa nhưng bà không yên tâm về con mình  
nơi đất khách quê người. Ngay khi Tự lên xe,  
“Cả tâm hồn bà run run, tưởng như chiếc đũa  
gõ vào cũng có thể làm tê tái và ngân lên một  
điệu đau thương, để rồi khi cái xe khuất đi thì  
một nỗi trống rỗng mênh mông ngập vào. Bà  
Hương thấy rất cần bấu víu vào một cái gì để  
mà đứng vững, mà sống”. Rồi bà sống trong hy  
vọng chờ đợi thư con, mới ba ngày bà đã bắt  
đầu hỏi thư. Từ đó, cứ từng ngày, từng ngày,  
hình ảnh người mẹ đợi ở cổng khi đến giờ  
hương thơ đi đưa thư qua trở nên quen thuộc.  
Nhà văn khai thác tâm lý chờ thư của người mẹ  
già rất sâu sắc, từ việc mong ngóng thư con,  
người mẹ chuyển sang mong ngóng gặp người  
đưa thư để nuôi hy vọng nhưng rồi lại thất  
Hình tượng người mẹ là tiêu biểu nhất, được  
nhà văn thể hiện đậm nét tình thương yêu vô bờ  
bến của họ dành cho những người thân yêu.  
Thế giới truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân  
trước năm 1945, cùng với cái tôi cá nhân, hình  
tượng người mẹ xuất hiện rất thường xuyên.  
Trong phạm vi khảo sát 25 truyện ngắn, có tới  
21 tác phẩm có đề cập người mẹ (chiếm tỉ lệ  
84%). Nếu chỉ tính các truyện mà nhân vật  
người mẹ được miêu tả dụng ý và có tác động  
đến nội dung, diễn biến truyện thì có 15 tác  
phẩm (60%). Qua con số thống kê cho thấy,  
nhà văn xứ Quảng có cảm hứng lớn, bộc lộ mối  
quan tâm, có dụng tâm khai thác nhiều chiều  
cạnh phong phú, sâu sắc về người mẹ.  
Tình cảm tiêu biểu được nhà văn chú ý khai  
thác là khi người mẹ phải xa con, nỗi nhớ con,  
lo lắng cho con bùng lên mãnh liệt. Đó là tâm  
trạng của người mẹ khốn khổ trong truyện ngắn  
Nhớ con [1]. Nhân vật chính không được gọi  
tên riêng mà chỉ gọi là “mụ”, sau khi sinh con,  
nhan sắc tàn tạ, khiến chồng mụ chán mà bỏ đi  
Đông Hà. Gia cảnh nghèo đói, mụ không thể  
Vũ Đình Anh / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 164-171  
167  
vọng. Vì hỏi mãi mà không có thư nên bà ngại,  
bà chuyển sang chỉ chào để hy vọng nếu có thư  
sẽ đưa. Chờ mãi không thấy, khiến “bà phân  
vân, ngờ là anh ta quên mất cái thư của bà”  
v.v... Cuối cùng, hơn hai tháng sau, nỗi trông  
chờ, hy vọng thư con mới được toại nguyện.  
trong nhà, tiền dành dụm của mình và đi vay  
mượn cho đủ số tiền theo yêu cầu của con trai  
khi vào Sài Gòn (Người con ở xa). Người mẹ  
khốn khổ khác sẵn sàng chịu đựng tất cả sự ê  
chề, nhục nhã của kiếp đi ở đợ, tiền công làm  
được không dám tiêu, quần áo đã cũ rách chẳng  
dám may, hết lòng chắt bóp gửi về nuôi con.  
Thậm chí, trên đường về nhà thăm con, bụng  
đói nhưng không dám mua đồ ăn. Xót xa hơn,  
mụ lỡ đùm cơm nguội đem theo ăn dọc đường  
vào tờ giấy có dính phân trẻ con nhưng mụ  
cũng ráng nhai cho đỡ đói lòng vì không muốn  
tiêu vào số tiền đem về mua gạo nuôi con (Nhớ  
con). Đó là những phẩm chất đáng ngợi ca, rất  
cần sự cảm thông, trân trọng và sẻ chia của  
những người thân trong gia đình.  
Sự lo lắng, tình yêu thương dành cho người  
thân yêu cũng thể hiện ở hình ảnh người bà.  
Điều đó thể hiện qua những dòng nước mắt  
không vơi cạn của bà như suối nguồn yêu  
thương không khi nào ngừng chảy trong truyện  
ngắn Tuổi già hạt lệ như sương [3]. Trong tâm  
trí của đứa trẻ thơ, nhân vật “tôi” thấy bà khóc  
nhiều đến mức: “Những kẻ đáng thương, những  
người vợ góa và những trẻ con côi cũng không  
khóc được bằng bà. Gần chín mươi năm trời,  
bao nhiêu đổi thay, bao nhiêu cái chết. Bà tôi  
đã khóc cha, khóc mẹ, khóc chồng, khóc con,  
khóc cháu…”. Nay bà khóc vì cái chết của  
“thầy tôi” - người mà bà coi như con (bởi “thầy  
tôi hồi còn sống vẫn tới lui săn sóc bà như  
mẹ”). Bà khóc còn vì lo cho cái gia cảnh: “Một  
người mẹ góa chưa đến bốn mươi tuổi kèm  
theo một đàn con thơ dại”. Nước mắt người bà  
được nhà văn dụng tâm miêu tả như biểu tượng  
của tình thương yêu vô bờ bến. Tình cảm đó  
còn thể hiện bằng việc “bà” lấy tiền dành dụm  
mà mua quà cho “chúng tôi”, lấy trái cau hay  
những gì nho nhỏ đến cho “mẹ tôi”. Vì tình  
cảm thân thiết như vậy, nên “mẹ” và “chị” rất  
yêu thương “bà”, để dành phần ăn ngon cho  
“bà” nhưng “bà” không ăn, “bà” lấy đồ ăn đó  
đem chia lại cho “chúng tôi”. Mãi sau này, khi  
người bà ấy mất đi, nhân vật “tôi” lớn lên mới  
thấm thía và trân trọng tình thương bao la của  
“bà”.  
Đức hi sinh cho gia đình và người thân yêu  
đó không chỉ có ở người mẹ, mà còn cả ở người  
bà, người chị. Đó là hình ảnh một người bà hết  
mực yêu thương con cháu, nhưng phải sống  
cam chịu. Bà phải nể, phải sợ hết thảy những  
người đàn ông trong gia đình. Nguyễn Văn  
Xuân đã khái quát về số phận khốn khổ của bà,  
rằng suốt cả cuộc đời, lúc nào bà cũng sợ, đến  
khi gần đất xa trời cũng chưa hết sợ: “Lòng sợ  
cha, sợ chồng, sợ con bây giờ thêm vào lòng sợ  
cháu” (Tuổi già hạt lệ như sương). Đó còn là  
người chị dâu của Tự, sẵn sàng hy sinh hạnh  
phúc cá nhân, lựa chọn không đi bước nữa để ở  
lại chăm sóc cho mẹ chồng và bán đôi hoa tai là  
tài sản giá trị duy nhất để lấy tiền gửi cho Tự.  
Dù rằng chị đã gặp được người ưng ý cùng  
xóm, được mẹ chồng đồng ý tác hợp (Người  
con ở xa) v.v...  
Tục ngữ có câu “Đàn ông xây nhà, đàn bà  
xây tổ ấm”, vậy nhưng trong truyện của  
Nguyễn Văn Xuân, phần lớn những người phụ  
nữ phải cáng đáng cả hai vai, vừa giữ vai trò  
làm kinh tế nuôi gia đình, vừa trao truyền  
“ngọn lửa” yêu thương, gìn giữ nếp nhà. Những  
suy tư của nhân vật tôi trong truyện ngắn Người  
đàn bà Tàu [4] cho ta cảm nhận, nhà văn hết  
Một phẩm chất thiêng liêng và cao quý cũng  
được nhà văn thể hiện trong nhiều truyện ngắn,  
đó là sự hy sinh của người mẹ dành cho gia  
đình. Họ xem đó là lựa chọn đúng đắn, là trách  
nhiệm và bổn phận cần làm như thế. Đó là  
người mẹ sẵn sàng bán hết các đồ đạc giá trị  
168  
Vũ Đình Anh / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 164-171  
sức trân quý, xót xa về sự hy sinh của người  
phụ nữ. Đó là hình ảnh người mẹ với “hai bàn  
tay khô héo như những lá vàng mà bà đang nhặt  
và tôi thấy có một sự xót thương lẫn kính trọng  
dâng lên trong lòng”. Từ đó, nhân vật tôi nghĩ  
về sự lệ thuộc của người phụ nữ trong xã hội  
phong kiến, họ hết lòng chăm lo, phục vụ cha,  
chồng, con mà ít khi được ghi nhận: “bao nhiêu  
người đàn bà thầm lặng sống trong cuộc đời mà  
tưởng như sống theo bên cạnh, hết theo cha,  
theo chồng lại đến theo con, cuộc đời tưởng  
như sinh ra để mà hy sinh, cho đến ngày tàn  
cuộc”. Khi đọc ý này khiến tôi liên tưởng đến  
một quan niệm phổ biến của Nho giáo thời  
phong kiến phương Đông về nghĩa vụ và thân  
phận của người phụ nữ xưa: “Tại gia tòng phụ,  
xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Vì vậy, nhà  
văn rất xót thương cho thân phận người phụ nữ  
nói chung, không chỉ riêng phụ nữ Việt Nam.  
Ông đã liên tưởng và thể hiện sự đồng cảm của  
mình với nội dung tiểu thuyết “Người Mẹ” của  
nữ văn sĩ Pearl Buck (người đạt giải Nobel Văn  
học năm 1938). Qua đó, nhà văn thể hiện sự  
thương cảm cho số phận của những phụ nữ  
phương Đông nói chung và Trung Quốc nói  
riêng, rằng “những người đàn bà Tàu ở bên kia  
biên giới đang đau đớn mà sống, quằn quại mà  
sống” (Người đàn bà Tàu).  
người con dâu góa bụa như ùa vào từng câu  
văn: “Con không lấy chồng đâu mẹ ạ. Con sẽ ở  
cho tới bao giờ Tự có vợ để mẹ có người hầu hạ  
hãy hay. Tiếng nàng run run ở đoạn cuối. Hạnh  
không còn can đảm để nhìn cái mặt đầy lệ của  
mẹ. Lòng tràn ngập nghẹn ngào, Hạnh quay đi  
lấy tay áo chùi nước mắt” (Người con ở xa)…  
3. Cảm hứng phê phán những con người vô  
tâm, thiếu trách nhiệm, phi đạo đức trong  
gia đình  
Khi viết về đề tài gia đình, bên cạnh việc  
ngợi ca tình yêu thương, đức hi sinh của người  
phụ nữ, Nguyễn Văn Xuân đã quyết liệt phê  
phán lối sống thờ ơ, thiếu tình thương, thiếu  
trách nhiệm, phi đạo đức, tàn nhẫn, nhất là của  
các thành viên trong gia đình, giữa những  
người có quan hệ huyết thống. Qua khảo sát,  
các nhân vật nằm trong mạch cảm hứng phê  
phán phần lớn là những người đàn ông (chồng,  
cha, chú, anh trai, con trai…) trong gia đình.  
Tần số xuất hiện trong truyện của họ ít hơn so  
với các nhân vật nữ, khi hiện diện, họ thường  
đem lại ấn tượng không mấy tốt đẹp.  
Nhà văn thường đề cập đến những người  
chồng, người cha thiếu trách nhiệm với gia  
đình, ham mê cờ bạc, gia trưởng v.v. Đó là  
người cha của Thuyên có mà như không, bởi  
“mê bạc đã bỏ mẹ con chàng đi ở nơi khác, lâu  
lâu mới trở về. Thuyên xem cha như một người  
bà con không thân thích lắm. Chàng gọi cha  
bằng chú và đôi lúc quên hẳn là mình có cha”.  
Cũng vì thế, mẹ Thuyên có chồng mà như  
không, bà phải tự làm ăn buôn bán để kiếm tiền  
nuôi con (Bức thư nặc danh) [5]. Hay như cha  
Kiên, chỉ vì một bức thư nặc danh với lời lẽ xúc  
phạm ông không biết dạy con gái mà đùng  
đùng nổi giận, chưa tìm hiểu nguyên do đã lôi  
con gái ra đánh đập tàn nhẫn đến mức “tiếng  
Kiên la thét lên làm người trong xóm đổ đến  
đầy cổng. Nhưng không ai dám vào can vì sợ  
ông có thể đổ cái tức lên đầu họ” (Bức thư nặc  
danh). Đó là người chồng ưa thích phụ nữ trẻ  
Khi đề cập đến những người phụ nữ thân  
yêu, chịu thương chịu khó, giàu tình thương,  
đức hi sinh để lo toan cho gia đình, nhà văn  
thường viết với giọng điệu trữ tình, thiết tha,  
thương cảm. Những câu văn giàu cảm xúc như  
tuôn chảy từ tâm hồn nhạy cảm, đầy ắp suy tư  
và tình yêu thương vô bờ bến của tác giả dành  
cho họ. Như lời độc thoại sau những trang hồi  
tưởng xúc động về người bà: “bà đã thương  
chúng tôi, đau đớn vì hạnh phúc của chúng tôi  
đến thế! Cái tâm hồn cao quý ấy, tôi nguyện sẽ  
giữ nó mãi mãi trong lòng, tôi dành nó vào một  
phần trong cuộc đời tình cảm của tôi” (Tuổi già  
hạt lệ như sương). Sự nghẹn ngào tuôn trào  
cùng những giọt nước mắt xúc động, xót xa của  
Vũ Đình Anh / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 164-171  
169  
mà chê bai, bỏ người vợ “tra quá rồi, tã quá rồi”  
vì sinh con, vì ốm đau, vì cuộc sống nghèo túng  
(Nhớ con)…  
Nguyễn Văn Xuân cũng phê phán sự tàn  
nhẫn, đối xử độc ác với chính những người thân  
yêu, máu mủ ruột rà. Đó là lối sống cạn tình  
cạn nghĩa của người anh trai (Bang) đối với em  
(Bụng) trong truyện ngắn Truyện Ả rập ở xứ ta  
[8]. Theo lẽ thường, anh em phải có tình nghĩa,  
trách nhiệm với nhau, như ông cha từng dạy dỗ:  
“Anh cả giả cha”, “Anh em như thể chân tay,/  
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”. Vậy  
nhưng vợ chồng người anh lại quá độc ác, đã  
giành hết tài sản, ruộng vườn cha mẹ để lại, vì  
quá bất công với em mà “làng bắt nhường cho  
em vài sào”. Thậm chí, một lần Bụng bị bệnh  
thương hàn “thập tử nhất sinh”, vợ chồng Bang  
có ý để mặc cho em chết, nhưng vì “sợ mang  
tiếng với hàng xóm” nên vờ mời thầy cúng.  
May sao Bụng lành bệnh trong sự thất vọng của  
người anh. Người em không hẳn xấu xa, nhưng  
do bị vợ chồng người anh chèn ép, ứng xử tệ  
bạc quá nhiều lần mà nảy sinh tâm lý muốn trả  
thù. Một đêm, Bụng đi lấy trộm lúa của anh để  
trả thù, ngờ đâu vợ chồng người anh cũng đi  
lấy trộm lúa của em. Trong đêm, hai anh em  
gặp nhau, đã dùng gậy đánh nhau thương tích  
đầy mình. Dường như tác giả muốn viết tiếp  
môtíp thường xảy ra trong truyện cổ tích về  
nhân vật người anh với tính cách điển hình  
tham lam và độc ác. Cuối cùng, cả hai đều phải  
trả giá cho những toan tính xấu xa, bị thương  
tích nặng nề, chịu sự cười chê bà con làng xóm.  
Trong nhóm các truyện ngắn mới sưu tầm,  
những người con trai cũng thường vô tâm, lạnh  
lùng, ít quan tâm đến sự hy sinh của người mẹ,  
người chị. Đó là nhân vật Tự, xem việc mẹ và  
chị dâu phải dồn hết tiền dành dụm bấy lâu,  
chạy vạy, vay mượn thêm để chàng đem vào  
Sài Gòn là bổn phận. Còn chàng chỉ nghĩ bằng  
mọi giá phải đủ tiền theo thư bạn yêu cầu, bởi  
nếu thiếu sẽ mất mặt với bạn bè. Khi vào Sài  
Gòn, chàng không quan tâm người mẹ đang lo  
lắng, mong ngóng, trông đợi thư con từng ngày,  
từng giờ. Chàng chẳng viết thư về vì tính quá  
cứng cỏi, lạnh lùng, rằng “nếu không có một sự  
gì thực sự quan trọng không mấy khi chàng viết  
thư”. Chỉ đến khi hết tiền tiêu, chàng mới viết  
thư về xin thêm, khiến mẹ và chị lại lao đao,  
chạy vạy bằng mọi giá để có tiền gửi cho Tự  
(Người con ở xa). Như đứa con trai của lão thầy  
bói mù, y chẳng quan tâm lo lắng cho bản thân,  
cho gia đình, cho tương lai, rằng “Cho nó đi  
học chữ, nó đút sách vào bếp... Cho nó đi học  
thợ, nó đánh lại chủ”. Vì vậy mà lão đã ở độ  
tuổi gần thất thập và bị mù nhưng vẫn phải đi  
bói dạo quanh các làng để kiếm tiền nuôi gia  
đình (Lão thầy bói) [6]. Nhân vật Thuyên có  
người cha ham bài bạc mà bỏ nhà đi, chính  
Thuyên khi độ tuổi thanh niên cũng lại có  
những suy nghĩ và hành động tương tự cha,  
cũng đánh bạc, bán đồ lấy tiền, vay tiền, và  
thậm chí “ăn cắp tiền của mẹ” để mua đồ tặng  
người yêu. Bà mẹ hết lòng yêu thương, tin  
tưởng con trai, không hề nghi ngờ gì Thuyên  
nhưng “bị mất tiền nhiều lần phát khóc” (Bức  
thư nặc danh). Đó là người con trai làm văn sĩ,  
chỉ vì trang bản thảo viết dở bị mất (do người  
bạn để sau bức tranh) mà đã nghi ngờ hết người  
này đến người khác trong nhà, quát mắng ầm ĩ,  
thậm chí đã to tiếng, đập bàn quát lại mẹ mình  
(Nửa giờ tức giận) [7].  
Chú và dì là chỗ dựa cho con cháu khi chẳng  
may cha mẹ mất sớm, như dân gian vẫn thường  
nói: “Xảy cha còn chú, xảy mẹ bú dì”. Vậy  
nhưng trong truyện ngắn Trả thù [9], khi cha  
mẹ mất đi, người cháu tên Tư đến ở với chú thì  
lại bị chính người chú ruột hành hạ, bóc lột tàn  
nhẫn. Đến mức Tư phải liều chết bỏ trốn vào  
Sài Gòn, vậy nhưng nỗi ám ảnh về những trận  
đòn, về cảnh hành hạ của chú mãi còn lưu lại  
trong tâm hồn. Tư ở Sài Gòn làm ăn liên tục  
trúng lớn và trở nên giàu có. Tư muốn về quê  
hương để hãnh diện với xóm làng, tộc họ, và  
còn để trả thù người chú độc ác kia. Nhưng  
170  
Vũ Đình Anh / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 164-171  
người chú ấy vì tội đánh chết người mà bị tù  
đày, đã chết. Gia sản của chú bại hoại, “chỉ còn  
có bà thím mù ở một mình ngoài bãi, trong một  
căn nhà nhỏ với đứa con trai út mới lên mười  
ba”. Dù vậy, Tư vẫn tìm cách trả thù, Tư đến  
gặp thím xin mua cái hình vẽ truyền thần đẹp  
nhất của chú đem về. Tư treo ngược tấm hình  
chú lên xà nhà (giống như trước kia chú treo  
mình để đánh), rồi lấy gậy đánh tới tấp vào tấm  
hình của chú đến khi nát bươm, rồi lấy giấy vụn  
tấm hình ấy đốt thành tro, bỏ vào cái hộp, đặt  
lên bàn thờ để thờ cúng. Câu chuyện phê phán  
lối sống phi đạo đức của chú và cháu, khiến  
người đọc cảm thấy khinh bỉ cả hai.  
ngắn trước 1945 của ông. Các nhân vật được đề  
cập trong nhiều mối quan hệ gia đình như mẹ  
và con, vợ và chồng, bà và cháu, chú và cháu,  
anh và em…, trong đó, nhà văn dành tình cảm  
đặc biệt cho các nhân vật nữ. Do hoàn cảnh  
xuất thân, cha bị bệnh lao, mất sớm từ khi nhà  
văn mới 6 tuổi, người mẹ không đi bước nữa  
mà ở vậy hết lòng chăm lo cho con cái. Vậy  
nên hình ảnh người mẹ, người bà, người chị  
siêng năng, chứa chan tình yêu thương đã đi  
vào nhiều truyện ngắn tiền chiến của ông. Số  
phận những người phụ nữ được nhà văn đưa  
vào truyện ngắn thường có gia cảnh góa bụa, có  
địa vị nhỏ bé, chịu nhiều bất hạnh nhưng họ lại  
chính là những người nuôi sống gia đình, gìn  
giữ và trao truyền những phẩm chất đạo đức  
cao quý cho các thế hệ sau. Ở một góc nhìn  
khác, ông thường có cái nhìn với cảm hứng phê  
phán nhiều nhân vật nam giới như chồng, cha,  
chú, anh, con trai… Bởi phần đông họ hiện lên  
trong tác phẩm với những tính cách gia trưởng,  
vũ phu, lạnh lùng, ham bài bạc, thiếu trách  
nhiệm với gia đình…  
Khi viết về những con người sống vô tâm,  
thiếu trách nhiệm, phi đạo đức trong gia đình,  
nhà văn chủ yếu dùng giọng điệu lạnh lùng,  
mỉa mai, châm biếm. Đọc những đoạn văn,  
những truyện ngắn này, ta nhận thấy nhà văn ít  
trực diện thể hiện thái độ, mà thường miêu tả  
khách quan, để các nhân vật tự bộc lộ mình.  
Trong khi miêu tả, tác giả có sử dụng những  
câu văn với giọng mỉa mai, châm biếm…  
Chẳng hạn khi vợ chồng người anh để mặc em  
đau ốm, nhà văn miêu tả: “Vợ chồng Bang  
muốn để Bụng “theo hầu ông bà cho phải đạo  
con cháu”, nhưng sợ mang tiếng với hàng xóm  
nên cũng mời thầy về cúng cấp” (Truyện Ả rập  
ở xứ ta). Nhân vật Tư giàu có trở về, thể hiện  
quyết tâm trả thù người chú độc ác rằng: “Tư  
phải trả thù. Cái ấy chắc như đanh đóng vào  
cột. Nếu Tư làm bạo chúa, quật cái mồ kẻ kia  
lên. Nhưng chưa được làm vua, anh hãy làm  
một người tầm thường” (Trả thù)…  
Nguyễn Văn Xuân là nhà văn, học giả có  
tình yêu quê hương tha thiết, đề cao những giá  
trị đạo đức truyền thống, nhất là lối sống trọng  
nghĩa tình của người Việt Nam. Trong các  
truyện ngắn trên đã phần nào thể hiện điều đó,  
ông lo lắng cho rằng những tình cảm đẹp đẽ,  
những tâm hồn chan chứa yêu thương, sự hi  
sinh quên mình cho người thân yêu trong gia  
đình ngày càng mai một: “tôi rất buồn mà nhận  
thấy từ lâu nay, những tâm hồn cao quý ấy mất  
đi lần lần” (Tuổi già hạt lệ như sương). Vì vậy,  
ông cố gắng lưu giữ lại trong trang văn của  
mình những hình ảnh tốt đẹp, để người đọc  
hiểu và cảm mà gìn giữ, nâng niu, trân trọng.  
Dù với cảm hứng khen hay chê, ngợi ca hay  
phê phán, qua các tác phẩm, chúng ta cảm nhận  
rằng nhà văn xứ Quảng mong muốn gìn giữ,  
chăm lo, bồi đắp đạo đức của gia đình; để gia  
đình mãi là cội nguồn yêu thương, là điểm tựa  
tinh thần vững chắc của mọi người Việt Nam.  
4. Kết luận  
Với người Việt Nam, gia đình là nơi thể hiện  
sâu sắc lối sống nặng tình nghĩa, gắn kết yêu  
thương, sự sẻ chia trách nhiệm, bổn phận của  
các thành viên. Vì vậy, chủ đề gia đình thu hút  
sự quan tâm của nhiều nhà văn Việt Nam hiện  
đại, trong đó có Nguyễn Văn Xuân. Điều này  
được thể hiện khá tập trung trong nhiều truyện  
Vũ Đình Anh / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 164-171  
171  
[5] Nguyễn Văn Xuân (1943), “Bức thư nặc danh” (Tiểu  
thuyết thứ Bảy, số 472).  
Đó là những dấu ấn độc đáo, những đóng góp  
của Nguyễn Văn Xuân vào văn học Việt Nam  
giai đoạn 1930 - 1945.  
[6] Nguyễn Văn Xuân (1968), “Lão thầy bói” (Tuyển tập  
truyện ngắn tiền chiến - Hương Đất Mẹ phát hành),  
Sài Gòn.  
Tài liệu trích dẫn  
[7] Nguyễn Văn Xuân (1943), “Nửa giờ tức giận”, (Tiểu  
thuyết thứ Bảy), số 484.  
[1] Nguyễn Văn Xuân (1943), “Nhớ con” (Tiểu thuyết  
thứ Bảy, số 485).  
[8] Nguyễn Văn Xuân (2002), “Truyện Ả rập ở xứ ta”  
(Tác giả và tác phẩm Quảng Nam - Đà Nẵng từ  
1858 đến 1945, tập II), Nxb Thanh niên, TP. Hồ Chí  
Minh.  
[2] Nguyễn Văn Xuân (1943), “Người con ở xa” (Tiểu  
thuyết thứ Bảy, số 480).  
[3] Nguyễn Văn Xuân (1943), “Tuổi già hạt lệ như  
sương” (Tiểu thuyết thứ Bảy, số 453).  
[9] Nguyễn Văn Xuân (1943) “Trả thù” (Tiểu thuyết thứ  
Bảy, số 452).  
[4] Nguyễn Văn Xuân (1943), “Người đàn bà Tàu” (Tiểu  
thuyết thứ Bảy, số 380).  
pdf 8 trang baolam 22440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đề tài gia đình trong các truyện ngắn trước năm 1945 mới được sưu tầm của Nguyễn Văn Xuân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_tai_gia_dinh_trong_cac_truyen_ngan_truoc_nam_1945_moi_duo.pdf