Cơ sở lí luận của giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ

Nguyễn Thị Thu Huyền  
Cơ sở lí luận cꢀa giáo dục giá trị văn hóa truyền thꢁng  
cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ  
Nguyễn Thị Thu Huyền  
Đại học Quꢀc gia Hà Nội  
TÓM TẮT: Giáo dục cho sinh viên các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam  
144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Email: ntthuyen@isvnu.vn  
trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một việc làm vô cùng cần  
thiết để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Giáo dục giá trị  
văn hóa truyền thống lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sinh viên  
Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ - những giáo viên ngoại ngữ trong tương  
lai vốn có lợi thế về ngoại ngữ để giao lưu, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác  
nhau trên thế giới. Bài viết cung cấp cơ sở lí luận cho việc giáo dục giá trị văn  
hóa truyền thống cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, trong đó  
có đề cập đến quá trình hình thành giá trị văn hóa truyền thống, các đặc điểm  
tâm sinh lí của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, khái niệm giáo  
dục giá trị văn hóa truyền thống và các thành tố của quá trình giáo dục giá trị  
văn hóa truyền thống.  
TỪ KHÓA: Cơ sở lí luận, giá trị văn hóa truyền thꢁng, giáo dục giá trị văn hóa truyền thꢁng.  
Nhận bài 03/10/2021 Nhận bài đã chỉnh sửa 12/10/2021 Duyệt đăng 15/12/2021.  
1. Đặt vấn đề  
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, theo Phạm Ngọc  
Bước 1: Xác định và làm sáng tỏ GT  
Trung (2018): “Trước hết là hội nhập của ngoại ngữ  
tiếng Anh và hội nhập của khoa học công nghệ” [1,  
tr.343], đối với sinh viên (SV) nói chung, việc giáo dục  
(GD) giá trị văn hóa truyền thống (GTVHTT) đã cần  
nhưng với SV Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ  
(ĐHSPNN) thì nhiệm vụ trên còn cần thiết hơn bao giờ  
hết. Bởi lẽ, SV ngành Sư phạm nói chung vốn là điển  
hình cho các GTVHTT tốt đẹp của dân tộc với việc  
lựa chọn ngành nghề hết sức mô phạm. Trong khi đó,  
SV ngoại ngữ lại được hi vọng là điển hình cho các  
giá trị (GT) mới của thời kì hội nhập quốc tế bởi họ  
có ngôn ngữ là công cụ để kết nối trong quá trình hội  
nhập, và SV ngoại ngữ cũng được cho là đối tượng chịu  
ảnh hưởng không nhỏ của xu hướng biến đổi các GT  
văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa trong đó có toàn  
cầu hóa về văn hóa. Chính vì lẽ đó, SV ĐHSPNN, hơn  
ai hết, cần được GD các GTVHTT trong bối cảnh hội  
nhập quốc tế, để giữ gìn và phát huy được bản sắc văn  
hóa dân tộc khi tiếp xúc với các nền văn hóa nước ngoài  
khi học ngoại ngữ để hòa nhập mà không hòa tan. Bài  
viết này cung cấp cơ sở lí luận phục vụ cho công tác GD  
GTVHTT cho SV ĐHSPNN.  
Bước 2: So sánh và làm nổi bật sự khác biꢂt thông qua  
viꢂc trao đổi quan niꢂm về GT với người khác  
Bước 3: Khai thác và tìm hiểu về cảm nhận  
cꢀa người khác  
Bước 4: Khai thác các GT khác biꢂt  
Bước 5: Xem xét các phương án và ý nghĩa cꢀa các  
phương án đề xuꢃt các tiêu chí theo GT đã lựa chọn  
Bước 6: Xây dựng kꢄ hoạch hành động  
Hình 1: Quá trình hình thành GT  
Như vậy, qua chu trình 6 bước này có thể thấy quá  
trình hình thành GT gồm ba cấp độ: cấp độ nhận thức  
(tìm hiểu về GT), cấp độ thể hiện thái độ (qua đánh  
giá dựa vào trải nghiệm bản thân), cấp độ định hướng  
hành động thực tiễn (qua việc xác định cần phải làm gì  
và làm như thế nào). Vận dụng cơ chế hình thành GT  
được trình bày bởi Lemin, M., H. Potts, and P. Welsford  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Quá trình hình thành giá trị nói chung và giá trị văn hóa  
truyền thống nói riêng  
Theo Lemin, M., H. Potts, and P. Welsford (1994)  
trong cuốn Values strategies for classroom teachers [2]  
quá trình hình thành GT bao gồm 6 bước như sau (xem  
Hình 1):  
Số 48 tháng 12/2021  
13  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
(1994), trong GD GT nói chung và GD GTVHTT cho  
SV ĐHSPNN nói riêng, chủ thể GD có thể tác động đến  
ba phần chính là: Nhận thức, Thái độ và Hành động  
của SV.  
2.2. Đặc điểm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Ngoại  
ngữ và yêu cầu đặt ra với giáo dục giá trị văn hóa truyền  
thống  
SV chuyên ngành Sư phạm Ngoại ngữ (SPNN) có  
những điểm chung với SV thuộc các chuyên ngành  
khác. Các đặc điểm này bao gồm:  
- SV đến từ nhiều vùng, miền khác nhau, có học thức,  
nhạy cảm với cái mới, năng động, ham học hỏi, thích  
tìm tòi và sáng tạo, là nguồn bổ sung trực tiếp cho đội  
ngũ trí thức trong tương lai, góp phần quan trọng trong  
sự phát triển kinh tế - xã hội của dân tộc.  
- Đa phần SV đều từ lứa tuổi 18 đến 23 tuổi, có thể  
kéo dài đến 25 tuổi là độ tuổi đã trưởng thành với sự  
hoàn chỉnh về sự phát triển thể chất, tuy nhiên cũng là  
“Độ tuổi dễ thay đổi và chưa định hình rõ về nhân cách”  
[3, tr.51].  
- Về nhận thức: SV nói chung và SV ĐHSPNN cần  
được nâng cao nhận thức về các GTVHTT của dân tộc.  
Nâng cao nhận thức của SV về GTVHTT đóng một vai  
trò quan trọng trong công tác GD GTVHTT bởi nhận  
thức có đúng thì thái độ và hành động tương ứng mới  
đúng. Nhận thức về GTVHTT lại bao gồm hai cấp độ:  
biết và hiểu. Biết về GTVHTT có nghĩa SV có thể gọi  
tên, nêu khái niệm hoặc sự kiện. Hiểu về các GTVHTT  
có nghĩa SV có thể hiểu được bản chất, nội hàm, thành  
tố, biểu hiện của GTVHTT đó, biết so sánh các quan  
niệm GT khác nhau.  
- Về thái độ: SV cần được bồi dưỡng tình cảm, thái  
độ đúng đắn với các GTVHTT. Sau khi hiểu, biết về  
các GTVHTT, SV sẽ suy ngẫm, đánh giá, lựa chọn các  
GT trên cở sở tích hợp với các kinh nghiệm tích lũy  
từ trước của bản thân. Qua quá trình nội tâm hóa các  
GTVHTT kết hợp với kinh nghiệm sẵn có của SV, các  
GTVHTT được chiêm nghiệm và khẳng định, trở thành  
động cơ của hành vi và nếu được nuôi dưỡng thường  
xuyên thì các giáo viên GTTVHTT này sẽ trở thành  
mục tiêu, lí tưởng trong cuộc sống của SV.  
- Về hành động: SV ĐHSPNN cần được rèn luyện  
các hành vi biểu hiện các GTVHTT thường xuyên. Các  
GTVHTT sẽ được ứng dụng vào thực tế cuộc sống sau  
khi các GT này được nội tâm hóa ở từng SV và có vai  
trò định hướng cho hành động của họ. Ở phần này, SV  
sẽ chuyển hóa các GTVHTT mà mình lĩnh hội thành  
các hành động thực tế trong học tập, cuộc sống, trong  
mối quan hệ với bản thân và cộng đồng. Biểu hiện hành  
vi cụ thể này của SV chính là mục tiêu cao nhất mà GD  
GTVHTT cho SV hướng tới.  
GD GTVHTT theo 3 phần như trên cho SV sẽ giúp  
chuyển hóa nhận thức của SV về GTVHTT đến tình  
cảm, thái độ của SV và cuối cùng là hình thành hành  
động tương ứng theo định hướng GT đã chọn. Đây cũng  
chính là quá trình chuyển hóa các GTVHTT của dân tộc  
thành các GT cá nhân, các GT bên ngoài thành các GT  
bên trong của SV. Quá trình chuyển hóa này khác với  
quá trình nhận thức đơn thuần ở chỗ: Nếu quá trình  
nhận thức là hiểu, biết và vận dụng thì quá trình chuyển  
hóa GTVHTT thành GT bên trong của mỗi SV cần sự  
trải nghiệm, đánh giá, lựa chọn của chính SV nhằm  
hình thành tình cảm thái độ đúng đắn, từ đó mà định  
hướng hành vi phù hợp. Có mối liên hệ chặt chẽ giữa  
ba phần: Nhận thức, Thái độ, Hành vi nêu trong quá  
- Các nền tảng đạo đức của lứa tuổi SV đã được hình  
thành, nếu ở độ tuổi 15-18, các GT của nhóm bạn chi  
phối mạnh mẽ nhất thì ở giai đoạn này, các GT xã hội  
bắt đầu chi phối mạnh mẽ đến thanh niên.  
- Mâu thuẫn chủ yếu của lứa tuổi SV chủ yếu là ở chỗ:  
Một bên là sự trưởng thành về mặt thể chất, sự phong  
phú về kiến thức văn hóa nói chung, sự hăng hái muốn  
thể hiện mình như một người thực sự trưởng thành; một  
bên là sự chưa trưởng thành về mặt xã hội - biểu hiện  
chủ yếu ở vị trí xã hội còn phụ thuộc và phần lớn SV  
chưa có kinh tế độc lập. Một mâu thuẫn nữa ở lứa tuổi  
SV theo Vũ Thị Nho (2000) là mâu thuẫn giữa mơ ước,  
kì vọng của SV và khả năng, điều kiện để thực hiện ước  
mơ đó [4]. Những mâu thuẫn này có thể là động lực cơ  
bản thúc đẩy SV học tập và chuẩn bị một cách tích cực  
cho hoạt động học tập sau này.  
- Một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi SV là sự tích  
cực tham gia hoạt động tập thể. SV thích hoạt động  
“công ích” như một phương diện để tự khẳng định bản  
thân. Họ muốn kiểm nghiệm những khả năng của bản  
thân thông qua hoạt động thực tiễn.  
- Các quan điểm của SV đã bắt đầu định hình và mang  
màu sắc phê phán - họ không tiếp nhận mọi chân lí  
một cách đơn giản, dễ dàng mà tỏ ra hoài nghi, cần  
thử nghiệm. So với lứa tuổi học sinh phổ thông, họ  
chín chắn và thực tế hơn. SV mong muốn được khẳng  
định vị trí xã hội của mình trong cuộc sống với những  
người xung quanh. Chính vì vậy, những GT được lĩnh  
hội trong thời gian này sẽ có thể kết tinh thành những  
định hướng GT cá nhân, có ảnh hưởng rất lớn đến toàn  
bộ hoạt động và nhân sinh quan của họ trong cả cuộc  
đời. Ngoài những đặc điểm chung của SV như trên, do  
tác động của quá trình đào tạo đặc thù (ngoại ngữ và  
trình GD GTVHTT cho SV, các chủ thể cần vận dụng sư phạm), SV chuyên ngành SPNN còn có một số đặc  
linh hoạt ba phần trên tùy theo mục tiêu, đối tượng và điểm cụ thể như sau:  
hoàn cảnh cụ thể.  
- Về chuyên ngành: Theo chuẩn đầu ra của chương  
trình SPNN, ngoài những phẩm chất và năng lực chung  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
14  
Nguyễn Thị Thu Huyền  
SV tốt nghiệp cần đạt được, SV chuyên ngành SPNN nay. Do đó, GD GTVHTT là quá trình chuyển tải những  
còn có chuẩn đầu ra về “năng lực sư phạm” và “năng GTVHTT mà các thế hệ trước đã tích lũy, trên cơ sở đó  
lực ngoại ngữ”. Năng lực sử dụng ngoại ngữ của SV giúp người học nhận thức đúng, có thái độ đúng cũng  
chuyên ngành SPNN được thể hiện ở nghe và đọc hiểu như điều chỉnh hành vi phù hợp nhằm giữ gìn và phát  
được “hàm ý”, nói trôi chảy và viết rõ ràng được các huy các GTVHTT của dân tộc. Trong đề tài “GT, định  
vấn đề phức tạp. SV chuyên ngành SPNN với khả năng hướng GT nhân cách và GD GT” của Nguyễn Quang  
ngôn ngữ thành thạo như vậy được đánh giá là có cơ Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang (1995), các tác giả  
hội lớn để giao tiếp một cách trôi chảy, thuận lợi, không đã chỉ ra rằng, bản chất của việc GD GT có thể hiểu là  
gặp rào cản về ngôn ngữ với SV quốc tế nói riêng và một quá trình tổ chức, hướng dẫn, kích thích hoạt động  
người nước ngoài nói chung.  
tích cực của người được GD để lĩnh hội các GT xã hội,  
- Về nhân cách: So với thời kì phổ thông, trong quá hình thành nên hệ thống GT cá nhân phù hợp với mong  
đợi của xã hội. [1]. Như vậy, có thể xem GD GTVHTT  
là một nội dung nằm trong quy trình GD GT nói chung,  
gồm những nét bản chất sau đây:  
trình học đại học, nhân cách của SV đã được xác định  
rõ hơn, nhưng vẫn tiếp tục phát triển theo định hướng  
chuyên ngành đã lựa chọn. Các hoạt động mà SV tham  
gia ở trường đại học đều tác động để giúp họ tiếp thu  
kiến thức, rèn luyện kĩ năng và trau dồi các phẩm chất  
của nghề nghiệp đã lựa chọn (cụ thể ở đây là giáo viên  
ngoại ngữ). Do mô hình nhân cách mà họ hướng tới  
trong tương lai là nhân cách của một người giáo viên,  
nên thường SV sẽ lựa chọn các GT phù hợp với chuyên  
ngành, ngành nghề đã chọn. Đặc điểm này rất cần phải  
được lưu ý trong quá trình tổ chức các hoạt động GD  
GTVHTT cho SV ĐHSPNN.  
- Về định hướng GT của SV ĐHSPNN: SV ĐHSPNN  
ngoài đặc thù “sư phạm” còn có đặc thù “ngoại ngữ”  
với đặc thù nghề nghiệp là thạo ngoại ngữ, nên họ có  
công cụ cần thiết để mở rộng giao lưu, tiếp xúc với các  
nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Chính vì vậy nhìn  
chung SV khá cởi mở, dám nghĩ dám làm, năng động,  
tự tin. Định hướng GT là sự lựa chọn, chấp thuận các  
GT điển hình, từ đó con người nói chung và SV nói  
riêng điều chỉnh cách nghĩ mà hành vi của mình sao cho  
phù hợp các các GT đã chọn lựa. Định hướng GT của  
SV ĐHSPNN chịu tác động của chuyên ngành đã lựa  
chọn, cùng với sự tác động của bối cảnh hội nhập quốc  
tế nên các GTVHTT phần nào thay đổi. SV ĐHSPNN  
vẫn lựa chọn một số GTVHTT trong định hướng GT  
của họ nhưng bên cạnh đó họ cũng lựa chọn các GT  
hướng đến cá nhân, liên quan đến bản thân, SV chấp  
nhận cạnh tranh trong hợp tác.  
- GD GTVHTT là quá trình được tổ chức một cách  
có kế hoạch, nhằm giúp người được GD: 1/ Phát triển  
lí trí về GTVHTT: tức là có sự hiểu biết sâu sắc về  
các GTVHTT, về cách đánh giá các đối tượng trong  
hiện thực, biết phân tích, tổng hợp, khái quát từ những  
sự kiện, tìm ra các mối quan hệ logic, tự đi đến kết  
luận về một GTVHTT hay một cách đánh giá nào đó;  
2/ Phát triển tình cảm phù hợp với các GTVHTT: tức là  
có sự rung động về các GTVHTT, yêu thích chúng và  
mong được chiếm lĩnh chúng, có thái độ phản đối với  
những hành động đi ngược lại các GTVHTT; 3/ Phát  
triển hành vi và hành động phù hợp với các GTVHTT:  
tức là biết hành động theo các GTVHTT, biết vận dụng  
các GTVHTT vào việc đưa ra quyết định hành động và  
giải quyết các vấn đề của cuộc sống.  
- GD GT nói chung và GD GTVHTT nói riêng là  
quá trình hướng dẫn, kích thích hoạt động tích cực của  
người học, giúp họ chuyển hóa được các GTVHTT của  
dân tộc từ bên ngoài vào trong ý thức, biến chúng thành  
các định hướng GT của bản thân. Quá trình chuyển  
hóa này diễn ra theo một cơ chế rất phức tạp, đòi hỏi  
người học phải tiến hành nhận thức về các GTVHTT,  
phải lựa chọn các GTVHTT phù hợp với bản thân và  
phải thực hiện hành động theo sự chi phối của các GT  
đó. Một điều có thể khẳng định là quá trình chuyển đổi  
các GTVHTT từ bên ngoài vào bên trong diễn ra chủ  
yếu ở bản thân người học và phụ thuộc phần lớn vào  
hoạt động tích cực của họ trong tác động qua lại với  
môi trường. Vì thế, để giúp người học chiếm lĩnh được  
các GTVHTT thì cần phải tổ chức, hướng dẫn các hoạt  
động phong phú cùng các mối quan hệ đa dạng của họ,  
phải thúc đẩy và dẫn đến quá trình tự GD của họ.  
- GD GTVHTT với tư cách là quá trình hoạt động,  
giao lưu giữa người GD và người được GD, bao giờ  
cũng có tính hai mặt của nó: mặt thứ nhất, là sự tác  
động mang hướng kích thích, hướng dẫn của nhà GD,  
đến nhận thức, tình cảm, ý chí của người học và mặt  
- Về sự tự ý thức: Do đặc thù của chuyên ngành và  
đặc điểm của quá trình đào tạo (gắn liền với các nhiệm  
vụ học tập rèn luyện của nghề sư phạm), khả năng tự ý  
thức của SV ĐHSPNN khá phát triển; SV biết tự đánh  
giá, tự nhận thức, tự chịu trách nhiệm với hành vi của  
mình. SV tự ý thức được họ cần hoàn thiện nhân cách  
để còn làm gương cho học sinh sau này.  
2.3. Giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên đại  
học ngoại ngữ  
2.3.1. Khái niꢂm giáo dục giá trị văn hóa truyền thꢁng  
GTVHTT của dân tộc chính là những GTVH tốt đẹp thứ hai là hưởng ứng tích cực của người học đến các  
đã được hình thành và lưu truyền từ khi dựng nước đến tác động đó cũng như sự chủ động, tự giác của họ trong  
Số 48 tháng 12/2021  
15  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
việc tham gia vào các hoạt động đa dạng để tiếp thu, trang bị cho thế hệ trẻ giúp họ hình thành được định  
chiếm lĩnh các GTVHTT của dân tộc.  
hướng GT bản thân phù hơp với mong đợi của xã hội  
Qua những phân tích trên, tác giả quan niệm về GD trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Hệ thống các  
GTVHTT như sau: GD GTVHTT là một quá trình tổ GTVHTT này được chọn lọc từ nền văn hóa của dân  
chức, hướng dẫn, kích thích hoạt động tự giác, tích cực tộc, được lồng ghép vào các môn học, các hoạt động  
của người được GD giúp họ lĩnh hội được các GTVHTT, GD trong nhà trường hoặc được thiết kế thành những  
làm cho các GTVHTT cần được hình thành trở thành chuyên đề độc lập. Việc lựa chọn các GT VHTT để GD  
các GT bên trong mỗi cá nhân, phù hợp với mong đợi cho SV phải dựa trên các nguyên tắc cụ thể trong từng  
thời kì lịch sử nhất định. Nội dung GD GTVHTT cho  
SV ĐHSPNN dựa trên các căn cứ cơ bản như sau: Trước  
hết, các GTVHTT được chọn phải là những GTVHTT  
mang tính đại diện, điển hình cho cốt cách, bản sắc dân  
tộc Việt Nam nhưng cũng phù hợp với các GT phổ quát  
của nhân loại. SV chuyên ngành SPNN với chuẩn đầu  
ra là khả năng sử dụng ngôn ngữ thứ hai để giao tiếp  
thành thạo với người nước ngoài nên nếu SV được GD  
các GTVHTT sẽ là cầu nối để quảng bá, giới thiệu các  
GTVHTT của Việt Nam với bạn bè quốc tế.  
GD GT yêu nước cho SV ĐHSPNN: GD GTVHTT  
yêu nước tức là giúp SV biết kế thừa và phát huy GT  
này trong bảo vệ đất nước. Nếu trong quá khứ, GT này  
được thể hiện trong chống giặc ngoại xâm bảo vệ chủ  
quyền Tổ quốc, giành độc lập tự do cho nhân dân thì  
ngày nay GTVHTT này còn được thể hiện trong việc  
tin tưởng chế độ xã hội chủ nghĩa, tin tưởng vào sự lãnh  
đạo của Đảng và Nhà nước, phấn đấu không ngừng để  
học tập rèn luyện, đóng góp cho sự phát triển phồn vinh  
và bền vững của đất nước. GD GTVHTT yêu nước cho  
SV là để họ nhận thức được vai trò to lớn của GT này  
trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước  
đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong bối  
cảnh này, yêu nước còn là lòng tự hào dân tộc, đối với  
SV ĐHSPNN cần GD họ thể hiện GTVHTT yêu nước  
qua việc giới thiệu, quảng bá bản sắc văn hóa Việt Nam  
đến bạn bè quốc tế cũng như giữ vững bản lĩnh văn hóa  
trong quá trình lĩnh hội, học tập các nền văn hóa khác  
trên thế giới cũng như được tiếp xúc các nền văn hóa  
khác nhau từ bạn bè ngoại quốc.  
và yêu cầu của xã hội.  
2.3.2. Các thành tꢁ cꢀa quá trình giáo dục giá trị văn hóa truyền  
thꢁng  
Theo cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc, quá trình GD  
“tồn tại như là một hệ thống toàn vẹn” và bao gồm  
các thành tố cơ bản: mục đích và nhiệm vụ GD, nội  
dung GD, phương pháp và phương tiện GD, nhà GD,  
người được GD và kết quả GD. [5, tr.4]. Quá trình GD  
GTVHTT cũng là một quá trình GD và có một cấu trúc  
xác định với các nét đặc thù được thể hiện ở các thành  
tố như: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp  
GD và phương pháp đánh giá.  
- Mục đích của GD GTVHTT: GD GTVHTT là một  
bộ phận hữu cơ của quá trình GD toàn vẹn, thực hiện  
việc hình thành ở thanh niên, SV một hệ thống định  
hướng GT phù hợp với định hướng GT của xã hội. Hệ  
thống định hướng chung của xã hội được phản ảnh  
trong mục đích chung của GD với tư cách là thành phần  
cấu trúc cơ bản của quá trình GD toàn vẹn cần phải đạt  
đến của SV. Do đó, mục đích của GD GTVHTT là hình  
thành nên định hướng các GT VHTTT phù hợp với các  
GT đã được quy định trong mục đích chung của GD.  
- Nhiệm vụ của quá trình GD GTVHTT: Theo Phạm  
Minh Hạc, GD GT cần thực hiện sáu nhiệm vụ: 1/ Hiểu  
được GT của mỗi người; 2/ Ý thức được GT của cá thể  
gắn chặt chẽ với GT của cộng đồng; 3/ Hình thành và  
phát triển hệ GT; 4/ Thể hiện được GT bản thân vào  
cuộc sống; 5/ Giúp người học nhận ra thế nào là hưởng  
đúng GT mình tạo ra, đồng thời yêu cầu xã hội đánh giá  
đúng GT, tiềm năng của mỗi người, khuyến khích, động  
viên sử dụng tối ưu những GT và tiềm năng đó; 6/ biết  
đánh giá GT của người khác của cộng đồng xã hội và  
của bản thân. [6, tr. 210-211].  
GD GT nhân ái cho SV ĐHSPNN: GD GTVHTT  
nhân ái cho SV tức là giúp SV nhận thức được nhân ái  
chính là lòng yêu thương, là sự quan tâm, sẻ chia với  
người khác. GT nhân ái có thể tạo nên sức mạnh tinh  
thần vô cùng to lớn, giúp con người ta có thể vượt qua  
những hoàn cảnh khó khăn hay những thời điểm suy  
sụp về tinh thần, nhân ái giúp cho con người có thêm  
Quá trình GD GTVHTT có nhiệm vụ làm cho người  
được GD: Nhận thức đầy đủ và sâu sắc các GTVHTT  
nêu trong mục đích GD GTVHTT; Có thái độ trân  
trọng, yêu quý và bảo vệ các GTVHTT đó, cũng như niềm tin yêu vào cộng đồng, vào xã hội và cuộc sống.  
có thái độ phê phán lại các biểu hiện đi ngược lại các GD GTVHTT nhân ái cho SV để họ có thể biểu hiện  
GTVHTT; Có hành vi và hành động thực tiễn phù hợp GT này qua sự quan tâm đến bản thân, quan tâm đến  
với các GTVHTT đó. Các nhiệm vụ trên có mối quan mọi người xung quanh. Đặc biệt, đối với SV chuyên  
hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, nên cần phải ngành Sư phạm, còn cần quan tâm đến SV - mà cụ thể  
thực hiện một cách đồng bộ.  
là quan tâm đến suy nghĩ, tình cảm, đến các đặc điểm  
- Nội dung GD GTVHTT cho SV: Nội dung GD thể chất, tinh thần và tâm sinh lí của các em, để hiểu  
GTVHTT chính là hệ thống các GTVHTT cần phải đúng về SV và có những hành vi phù hợp với từng đối  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
16  
Nguyễn Thị Thu Huyền  
tượng SV. Nhân ái còn được thể hiện qua sự chia sẻ, tr.766]. Cụ thể hơn, theo Trần Thị Tuyết Oanh (2005),  
động viên, giúp đỡ, hỗ trợ mọi người qua những hành phương pháp GD phản ánh cách thức tổ chức quá trình  
động thiết thực.  
GD, các loại hình hoạt động phong phú, đa dạng của  
GD GTVHTT đoàn kết cho SV ĐHSPNN: GD giáo viên và học sinh nhằm chuyển hóa những yêu cầu,  
GTVHTT cho SV ĐHSPNN là giúp SV nhận thức được chuẩn mực về đạo đức, lối sống, văn hóa, thẩm mĩ do xã  
vai trò của GT này trong quá trình đấu tranh giành độc hội quy định thành phảm chất, nhân cách của học sinh”  
lập, tự do cho dân tộc cũng như trong quá trình xây [8, tr.91]. GD GTVHTT có thể được thực hiện bằng  
dựng đất nước. GT đoàn kết là cội nguồn sức mạnh các phương pháp dạy học và GD ở nhà trường như:  
để giúp dân tộc Việt Nam chiến thắng giặc ngoại xâm thuyết trình, đàm thoại, thuyết phục, giải thích - khuyên  
trong quá khứ cũng như chiến thắng dịch bệnh, thiên răn, tổ chức hoạt động hình thành kinh nghiệm ứng xử,  
tai, đói nghèo, “giặc dốt” trong thời bình. GD GTVHTT khuyến khích hành vi,… trong đó một số phương pháp  
đoàn kết cho SV là giúp họ hình thành được ý thức tập đặc thù của GD GTVHTT có thể kể đến là phương pháp  
thể, tham gia vào các hoạt động đoàn thể của lớp, của nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp trò  
Khoa, của trường và rộng hơn là của toàn xã hội.  
chơi, phương pháp đóng vai, phương pháp giải quyết  
GD GTVHTT cần cù, chăm chỉ cho SV ĐHSPNN: GD vấn đề… Các phương pháp này đều dựa trên quan điểm  
GTVHTT cho SV ĐHSPNN là giúp SV hiểu được nhờ lấy người học làm trung tâm, hướng đến hoạt động tích  
GT này mà dân tộc Việt Nam đã vượt qua rất khó khăn, cực của SV.  
nhiều thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên để vươn  
- Đánh giá GD GTVHTT cho SV ĐHSPNN: Đánh giá  
lên xây dựng đất nước. GD GTVHTT cần cù chăm chỉ cóvai tròquantrọngtrongquá trình GD. Đánh giá không  
cho SV để họ có thể thể hiện GT này qua những việc chỉ nhận định thực trạng và định hướng hoạt động điều  
làm hàng ngày như: học tập, rèn luyện đều đặn, thường chỉnh của SV mà còn đồng thời nhận định thực trạng và  
xuyên hoàn thành các nhiệm vụ học tập của SV, tham định hướng điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên [5,  
gia lao động giúp đỡ cha mẹ trong gia đình, tham gia tr.7]. GD GTVHTT cho SV ĐHSPNN trong bối cảnh  
lao động tập thể trong nhà trường và ngoài xã hội. GD hội nhập quốc tế, để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD, đánh  
GTVHTT cần cù cho SV cũng là giúp họ thấy được vai giá cần tập trung chuyển từ đánh giá kiến thức sang  
trò của cần cù lao động trong xây dựng và phát triển đất đánh giá năng lực SV bao gồm nhận thức, thái độ, hành  
nước, giúp SV hình thành được thái độ đúng đắn với lao vi của SV trong các mối quan hệ thực tiễn với bản thân  
động, biết yêu lao động và trân trọng các thành quả của và với cộng đồng xã hội, được thể hiện trong các tình  
cần cù lao động.  
huống cụ thể. Bên cạnh đó, đánh giá năng lực của SV  
GD GTVHTT hiếu học cho SV ĐHSPNN: GD trong GD GTVHTT cũng được thực hiện ở nhiều hình  
GTVHTT hiếu học cho SV là giúp SV kế thừa và phát thức đa dạng: Đánh giá của giáo viên, đánh giá đồng  
huy truyền thống hiếu học đã có từ ngàn đời nay của đẳng giữa SV với SV và SV tự đánh giá. Trong đánh  
dân tộc. Dân tộc Việt Nam vốn lấy sự học làm gốc để giá GD GTVHTT cho SV có thể sử dụng các phương  
thực hiện đạo lí làm người. Qua mọi thăng trầm của pháp chủ yếu sau đây: tự luận, vấn đáp, quan sát, đưa  
lịch sử, truyền thống này vẫn luôn được nhân dân ta người học tình huống cụ thể để họ thể hiện quan điểm  
coi trọng và giữ gìn, trở thành cội nguồn sức mạnh tinh bản thân về GTVHTT. Đánh giá GD GTVHTT cho SV  
thần của dân tộc Việt Nam. GD GTVHTT hiếu học cho ĐHSPNN không chỉ dừng ở việc đánh giá nhận thức,  
SV để hình thành ở họ những biểu hiện của GT này thái độ của SV về các GTVHTT mà còn cần đánh giá  
như: ham thích việc học hành, luôn tìm tòi, tự tìm hiểu những hành vi biểu hiện các GTVHTT ở họ.  
kiến thức bài học và những phần kiến thức liên quan  
Công cụ đánh giá giúp giảng viên có thể thu thập  
một cách tự nguyện, có thái độ coi trọng tri thức và thông tin về quá trình GD GTVHTT. Một số công cụ  
kính trọng những người có học thức. Đối với SV, hiếu đánh giá có thể sử dụng trong GD GTVHTT cho SV  
học còn thể hiện qua niềm ham thích, say mê tham gia bao gồm: 1/ Bài kiểm tra viết: Dùng để đo mức độ nhận  
nghiên cứu khoa học, tự khai phá kiến thức mới cho bản thức hoặc thái độ của người học, bài kiểm tra viết có  
thân cũng như có khát vọng vươn tới sự sáng tạo. GD hai hình thức là tự luận và trắc nghiệm. 2/ Phiếu đánh  
GTVHTT hiếu học cho SV để góp phần giúp họ xây giá theo tiêu chí: Giảng viên sẽ xây dựng các tiêu chí  
dựng nhu cầu học tập cả đời, cũng như thể hiện thái độ đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi và các mức độ biểu  
trân trọng việc học hành và đề cao GT của trí tuệ.  
hiện trên phiếu đánh giá, và sử dụng phiếu làm căn cứ  
- Phương pháp GD GTVHTT: Trong các thành tố của đánh giá người học. 3/ Bảng kiểm: các hành vi biểu  
quá trình GD nói chung và GD GTVHTT nói riêng, hiện GTVHTT của SV sẽ được liệt kê trong bảng kiểm,  
phương pháp GD là một thành tố quan trọng. Theo qua đó giảng viên có thể đánh giá được mức độ thực  
Hoàng Phê (1995), phương pháp GD là hệ thống cách hiện cũng như kết quả đạt được của SV và SV cũng có  
thức sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó. [7, thể tự đánh giá được mức độ và kết quả của quá trình  
Số 48 tháng 12/2021  
17  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
GD GTVHTT. 4/ Các câu hỏi vấn đáp: Giảng viên có cho thanh niên, SV nhằm tạo cơ sở pháp lí cho công tác  
GD GTVHTTT cho thế hệ trẻ; Xây dựng môi trường  
sư phạm lành mạnh, tích cực trong nhà trường; Chú  
trọng tổ chức các hoạt động đoàn thể trong công tác GD  
GTVHTT cho thanh niên, SV.  
thể thấy những suy nghĩ đa chiều của người học thông  
qua các trả lời của SV. 5/ Bài tập thực hành: Giảng viên  
có thể đánh giá GD GTVHTT thông qua việc SV tham  
gia đóng vai, phân tích tình huống, hoặc thông qua các  
biên bản hoạt động nhóm. 6/ Trả lời miệng: SV trình  
bày quan điểm cá nhân về các GTVHTT, giảng viên  
đánh giá bài trình bày của SV dựa trên các tiêu chí có  
sẵn. 7/ Sản phẩm báo cáo dự án: Sản phẩm báo cáo  
dự án có thể là các bài báo cáo, các sản phẩm sáng tạo  
như tranh, ảnh, poster, video clips, … hoặc cũng có thể  
là sản phẩm nghiên cứu khoa học hay các buổi biểu  
diễn (viết/ diễn sản phẩm âm nhạc mới, đóng kịch, kể  
chuyện)… 8/ Phiếu quan sát: Công cụ này giúp giảng  
viên mô tả và tổng hợp một các đầy đủ và chính xác  
các thông tin liên quan đến thái độ, hành vi của người  
học về các GTVHTT. 9/ Các điều kiện đảm bảo cho  
công tác GD GTVHTT: Thể chế hóa các quan điểm chủ  
3. Kết luận  
Tiếp cận theo quan điểm hệ thống, GD GTVHTT  
cho SV ĐHSPNN cũng được coi là một quá trình GD.  
Trong quá trình GD này, nhà GD cần xác định được  
mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp GD cũng  
như xác định được phương pháp đánh giá phù hợp với  
đặc điểm đối tượng trong điều kiện cụ thể, đặc thù. GD  
GTVHTT cần lưu ý cơ chế hình thành GT để tác động  
đến cả ba phần nhận thức, thái độ, hành vi nhằm chuyển  
hóa các GTVHTT của xã hội thành những GT bên trong  
của mỗi cá nhân. Trong GD GTVHTT, cần thực hiện  
mục tiêu không chỉ nâng cao nhận thức, điều chỉnh thái  
độ của SV ĐHSPNN đối với các GTVHTT mà còn giúp  
trương của Đảng, Nhà nước về công tác GD GTVHTT SV thể hiện được những hành vi biểu hiện các GT này.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Phạm Ngọc Trung, (2018), Bản sắc văn hóa Việt Nam -  
Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Lí luận Chính  
trị.  
[2] Lemin, M., Potts, H. & Welsford, P, (1994), Values  
Strategies for Classroom Teachers, The Australian  
Council for Educational Research, Hawthorn.  
[3] Phan Thanh Long, (2018), Giáo dục đa văn hóa cho các  
trường đại học phục vụ quá trình hội nhập và toàn cầu  
hóa, NXB Giáo dục Việt Nam.  
cương, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
[6] Phạm Minh Hạc, (2015), Định hướng GT con người  
Việt Nam thời kì đổi mới và hội nhập, NXB Chính trị  
Quốc gia, Hà Nội.  
[7] Hoàng Phê (chủ biên), (1995), Từ điển Tiếng Việt, NXB  
Đà Nẵng.  
[8] Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên), (2005), Giáo trình  
Giáo dục học, Tập 1,2, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[9] Nguyễn Quang Uẩn - Nguyễn Thạc - Mạc Vân Trang,  
(1995), Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo  
dục giá trị, Đề tài KX-07, NXB Hà Nội.  
[4] Vũ Thị Nho, (2000), Tâm lí học phát triển, NXB Đại  
học Quốc gia Hà Nội.  
[5] Nguyễn Văn Hộ - Hà Thị Đức, (2002), Giáo dục học đại  
THE THEORETICAL BASIS OF EDUCATION ON TRADITIONAL  
CULTURAL VALUES FOR UNIVERSITY STUDENTS MAJORED  
IN FOREIGN LANGUAGE TEACHER EDUCATION  
Nguyen Thi Thu Huyen  
Vietnam National University, Hanoi  
ABSTRACT: Educating students about the traditional cultural values is of great  
144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
importance in the context of globalization and integration for Vietnam’s  
Email: ntthuyen@isvnu.vn  
stable development. The education of traditional cultural values is especially  
significant to students, the future foreign language teachers, who major in  
foreign language teaching education because they have advantages in using  
languages to communicate with people of different cultures in the world.  
This article provides the theoretical basis of education on traditional cultural  
values for students whose major is foreign language teacher education. The  
theoretical basis includes the process of forming traditional cultural values,  
students’ psycho-physiological characteristics, concepts of traditional cultural  
value educations and its components.  
KEYWORDS: Theoretical basis, traditional cultural values, traditional cultural value education.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
18  
pdf 6 trang baolam 18560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cơ sở lí luận của giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfco_so_li_luan_cua_giao_duc_gia_tri_van_hoa_truyen_thong_cho.pdf