Đặc trưng văn hóa người Việt ở Nam Bộ qua phong cách ngôn ngữ

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Đặng Ngọc Lệ và tgk  
ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT  
Ở NAM BỘ QUA PHONG CÁCH NGÔN NGỮ  
CULTURAL CHARACTERISTICS OF PEOPLE IN THE SOUTHERN  
OF VIETNAM VIA THEIR LINGUISTIC STYLES  
ĐẶNG NGỌC LỆ và HUỲNH CÔNG TÍN  
TÓM TẮT: Một số nét đặc trưng văn hóa của người Nam Bộ được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa  
thừa nhận, như: “biểu hiện sông nước” trong ngôn ngữ giao tiếp; mối quan hệ cộng đồng và lối  
ứng xử “điệu, đạo” của họ nhằm nêu bật “tính trọng nghĩa”, lẽ công bằng; “tính bộc trực”, thẳng  
thắn, bình đẳng trong quan hệ ứng xử giữa người với người; “tính bao dung”, sự tha thứ trong  
quan hệ xã hội cộng đồng, làng xóm; cùng “tính thực tiễn” với đầu óc thực tế, chuộng lợi ích vật  
chất thiết thực hơn những suy nghĩ ảo vọng… đã tạo nên một hệ thống đặc trưng tính cách có mặt  
tích cực, lẫn mặt hạn chế trong đời sống. Xét từ bình diện “phong cách ngôn ngữ”, những nét đặc  
trưng văn hóa Nam Bộ này được thể hiện như những phẩm chất đẹp truyền thống không chỉ trong  
suy nghĩ, hành động cá nhân; mà còn được biểu hiện sâu rộng trong ứng xử văn hóa cộng đồng  
trên bình diện “giao tiếp” và trên bình diện “sáng tác nghệ thuật” của họ.  
Từ khóa: đặc trưng; văn hóa; phong cách; ngôn ngữ; Nam Bộ.  
ABSTRACT: Some cultural characteristics of people in the Southern of Vietnam are recognized by  
many cultural researchers, such as: “the river, water expression” in their communication  
language; their community relationships and their “tone, virtue” highlight “the gratitude” and  
fairness; “the straight-forwardness”, straight, equality in behaving in interpersonal relationships;  
“the tolerance”, forgiveness in social community and village, neighbour relations; and “the  
practicality” with a realistic mind, preferring practical material benefits over delusional  
thoughts... has created a system of particular characteristics that have positive and negative  
aspects in their lives. From the aspect of “linguistic style”, these cultural characteristics in the  
Southern of Vietnam are expressed as traditional beautiful qualities not only in their personal  
thoughts and actions, but also expressed deeply in their behavioral culture on the aspect of  
“communication” and on the aspect of their “artistic creation” as well.  
Key words: characteristics; culture; style; language; the Southern of Vietnam.  
của thế giới khách quan mà hình thành nên tính  
cách ứng xử của mình trước thực tại. Mối quan  
hệ hai chiều này làm nên tính cách văn hóa con  
người. Với người Nam Bộ, tuy họ là người  
Việt, nhưng trong mối quan hệ tiếp xúc với tự  
nhiên và xã hội của vùng đất phương Nam theo  
chiều dài lịch sử dần hình thành trong họ một  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Con người trong mối quan hệ tổng hòa với  
tự nhiên và xã hội vừa là chủ thể vừa là khách  
thể trong thế giới khách quan. Là chủ thể, trong  
chừng mực con người tác động và làm thay đổi  
thế giới khách quan theo nhận thức của mình.  
Là khách thể, con người cũng chịu sự tác động  
 PGS.TS. Trường Đại học Văn Lang, [email protected]  
 TS. Trường Đại học Văn Lang, tin.hc@vlu.edu.vn, Mã số: TCKH25-11-2021  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 25, Tháng 01 - 2021  
số đặc trưng văn hóa. Những đặc trưng văn hóa  
của người Việt ở Nam Bộ qua phong cách ngôn  
ngữ, được xét như một hệ thống tính cách văn  
hóa, theo nhận định khái quát của Giáo sư Trần  
Ngọc Thêm: “Tính cách văn hóa và tính cách  
tập thể, tính cách con người giống nhau ở chỗ  
cùng chứa những phẩm chất tinh thần tương  
đối bền vững thuộc con người, nhưng khác  
nhau ở chỗ, bên cạnh đó, tính cách tập thể, tính  
cách con người chứa đựng cả cái phi giá trꢀ (ví  
dụ như tính hiếu chiến, thói lười nhác...); còn  
tính cách văn hóa thì không chứa cái phi giá trꢀ  
nhưng chứa đựng cả cái chỉ có liên quan đến  
con người” [7].  
đâu vắng chỗ nằm còn đây”; “Nước ròng chảy  
thấu Nam Vang./ Mù u chín rụng, bóng chàng  
biệt tăm”; “Kinh Xáng mới đào, tàu Tây mới  
chạy./ Thương thì thương đại, đừng ngại bớ điệu  
chung tình”; “Bước xuống bắc Mỹ Tho thấy sóng  
xô, nước đẩy./ Bước lên bờ Rạch Miễu thấy nước  
chảy, cây xanh”; “Ai về Ông Chưởng, Vàm Nao./  
Cho em hỏi cá bông lau có còn?”; “Ví dầu cầu  
ván đóng đinh./ Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó  
đi”… “Bìm bꢀp kêu nước lớn anh ơi./ Buôn bán  
không lời chèo chống mỏi mê.” [1].  
Không chỉ là hình ảnh sông nước gắn liền  
với sinh hoạt đời sống thường nhật, đôi khi còn  
là vấn đề hệ trọng liên quan đến sự thích nghi  
môi trường. Đến ông nhạc gia mừng con rể Sài  
Gòn lâu ngày về quê vợ, ông không bảo điều gì,  
mà chỉ nói rằng: “Thằng Hai nghe tía dặn mày./  
Có dìa dưới này, nhớ tập lội nghen con!” [8].  
Với người vùng quê, một con vật vùng  
sông nước cũng có thể thành bạn tri âm, tri kỷ.  
Trường hợp ông Sáu Đèo bán vé số, tâm sự của  
ông về cuộc đời và con bìm bịp, trong truyện  
ngắn “Biển người mênh mông” của Nguyễn  
Ngọc Tư, không chỉ là tình cảm riêng tư mà  
khắc họa được hình ảnh người Nam Bộ với  
nghề sông nước, lâu ngày trở thành “bệnh  
giang hồ”; dù phải lên bờ, vẫn cố ráng giữ một  
kỷ niệm sông nước là “con bìm bịp” để đỡ nhớ  
sông: “Như qua, nhiều lúc phò con bìm bꢀp nầy  
như phò bà già vợ vậy mà vui. Đi bán ở đâu,  
lâu lâu ông cũng tạt về nhà, quăng mấy con cá  
ươn cho “con quỷ sứ”, xong rồi từ giã: “Tía đi  
nghen”. Trời mưa dầm, ông già đội áo đi kiếm  
cóc, rắn mối cho nó ăn. Vui buồn gì cũng tía tía  
con con. Có đêm con bìm bꢀp kêu suốt, những  
tiếng bꢀp bꢀp ngắn ngủn buồn thiu thỉu, ông bảo  
với Phi, nó nhớ sông đó. “Lúc nào qua thấy  
nhớ sông nó đều kêu như vậy”. Ông kể, hồi trẻ,  
ông toàn sống trên sông, ông có chiếc ghe, hai  
vợ chồng lang thang xứ này xứ nọ. Gặp mùa lúa  
thì gặt mướn, gặp vꢀt bầy đổi đồng thì chở thuê,  
gặp rẫy bí, rẫy khóm thì mua về bán lại chợ nổi  
Cà Mau. Nước ngược cắm sào đậu lại thổi cơm.  
2. NỘI DUNG  
Trên đại thể, tính cách văn hóa người Việt  
ở Nam Bộ có rất nhiều biểu hiện được ghi nhận  
từ nhiều nhà văn, giới biên khảo, người nghiên  
cứu, như: Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc,  
Sơn Nam, Phan Quang, Trần Ngọc Thêm,  
Huỳnh Công Tín, Nguyễn Ngọc Tư… Qua  
phong cách chức năng, một bình diện của  
phong cách học ngôn ngữ, chúng tôi chỉ đề cập  
một số đặc trưng nổi bật, như những thuộc tính  
“đậm nét” của người Việt ở Nam Bộ được  
nhiều người nhìn nhận, điều này, hoàn toàn  
không có ý khẳng định đây là những thuộc tính  
chỉ riêng có ở người Nam Bộ. Những thuộc  
tính này bao gồm: tính thực tiễn, tính trọng  
nghĩa, tính bộc trực, tính bao dung, tính thiết  
thực, tính mở thoáng…  
Đất Nam Bộ vốn được nhìn nhận là vùng  
sông, kênh, rạch chằng chịt. Vì vậy, trong thực  
tiễn sử dụng ngôn ngữ, rất nhiều cách diễn đạt  
của người Nam Bộ, đều có yếu tố ngôn từ dính  
tới địa hình vùng sông nước; đây là cách diễn  
đạt gắn với tính thực tiễn [7], có tác giả gọi là  
tính sông nước. Khảo sát nhiều câu ca dao Nam  
Bộ có yếu tố đưa đẩy, khơi mào câu chuyện ở  
câu 6, đều được dẫn dắt bởi lớp từ ngữ gắn với  
địa hình thực tiễn ở đây, như: “Nước ròng trong  
ngọn chảy ra./ Tin chồng em chết anh bôn ba qua  
liền”; “Ghe lui khỏi bến còn dầm./ Người thương  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Đặng Ngọc Lệ và tgk  
Bìm bꢀp kêu, nước bò lên bãi ông cho ghe ra  
bến. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm.” [9].  
Một lão nông nuôi vịt chạy đồng từng trải  
với vùng đất, có con vịt xiêm tên Cộc, thường  
ngày vẫn là bầu bạn của ông trong cuộc mưu  
sinh. Trong truyện “Cái nhìn khắc khoải”,  
người đọc nhận thấy đặc trưng sông nước của  
vùng đất đồng bằng đã ăn sâu trong tâm lý, tình  
cảm của mỗi người Nam Bộ: “Tháng chín. Gió  
chướng non xập xòe trên ngọn dừa. Ông trở về  
kinh Mười Hai, quê ruột của ông. Chèo gần tới  
nhà ông thấy một người phụ nữ ngồi dưới bực  
cỏ đợi tàu. Chiều rồi, tàu cuối chạy lúc ba giờ  
rưỡi đi qua đã lâu lắm. Dưới ghe ngó lên, mặt  
người phụ nữ buồn so, buồn như sắp đâm đầu  
xuống sông mà chết. Ông khập khựng cho ghe  
đi tới. Qua khỏi đám lá, ông quạt chèo trở lại.  
Ông hỏi chꢀ nọ đi đâu, chꢀ khóc như mưa bấc,  
“Tôi cũng không biết mình đi đâu”. Lãng xẹt  
vậy đó. Ông ngại ngần ngó những tia nắng đỏ  
cuối cùng đậu phía đám dừa nước: “- Cô có sao  
không?”. Người phụ nữ lắc đầu. Ông biểu chꢀ  
xuống ghe cho quá giang. Chꢀ vẫn khóc. “- Tôi  
biết đi đâu mà quá giang bây giờ. Hay... làm ơn  
cho tôi theo anh đêm nay nghen”. Ông suy nghĩ  
rất lâu và trả lời một câu nhỏ xíu, trong khi tụi  
vꢀt đạp đầu chen nhau dưới sạp bằng tre đóng  
thưa thớt rộ lên lạc cạc inh ỏi. Đôi chân đàn bà  
dè dặt bỏ xuống đầu ghe, con Cộc cúi đầu  
không nói không rằng, lùi lũi lại tính mổ một  
cái vô chân chꢀ mừng chơi; nhưng ông la:  
“Cộc! Bꢀ đòn nghen mậy”. Nó dừng lại, đủng  
đỉnh quay đi. Chꢀ khꢀt mũi cái sột, lau nước mắt  
kêu: “Trời, vꢀt gì mà khôn quá vậy?”. Con vꢀt  
ngoắc ngoắc cái đầu lại, ý nói, vꢀt xiêm chớ vꢀt  
gì, thiệt tình” [9].  
“Thế là sáng hôm sau lục cụ đích thân đọc kinh  
làm phép cho ghe ngo. Ghe đẩy xuống nước,  
bao nhiêu trai tráng trong làng reo vang dậy  
như lân thấy pháo. Sáu mươi bốn cây dầm nhỏ  
phân phát ra, mỗi người mỗi cây. Trước mũi  
ghe, cây lộng đỏ giương lên che một cái khay  
đầy rượu, hương, trầu, hoa quả và một ông Phật  
bằng vàng lớn cỡ ngón tay cái. Chú phó hương  
quản được hân hạnh lãnh trách nhiệm chỉ huy  
cuộc chiến đấu sắp tới. Chú lạy lục cụ rồi đến  
ngồi ngay mũi ghe, dưới bóng cây lộng. Ba  
mươi hai cặp thanh niên lực lưỡng từ từ bước  
xuống, ngồi sắp hàng hai. Be ghe khẳm, ngang  
mí nước, tưởng chừng xê xích một phân nữa là  
chìm. Nhưng không đâu, chú phó hương quản  
đã vấn chiếc khăn nhiễu đỏ lên đầu rồi đánh vào  
cái cồn nhỏ: “- Môn! Môn! Môn!”. Đoàn lực sĩ  
hạ dầm xuống khoát nước, nhꢀp nhàng. Chiếc  
ghe ngo phóng từng bực rồi nổi lên cao khỏi mặt  
nước. Nước văng trắng xóa hai bên. Tiếng cồn  
càng thêm nhặt. Rồi im bặt. Lúc ấy người ta thấy  
chú phó hương quản nâng cây dầm lên cao khỏi  
đầu, bơi trong không khí...” [9].  
Trong cuộc phiêu lưu đi mở đất, khai  
hoang; người dân Nam tiến không còn dựa vào  
tình thân gia tộc, kiểu “một giọt máu đào hơn  
ao nước lã”, mà cần xác định một nguyên tắc  
sống mới thích hợp với vùng đất “tứ chiếng”, là  
“bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Khái  
niệm “mua bán” này được hiểu, phải xây dựng  
mối quan hệ xã hội, tình người, dựa trên  
nguyên tắc của lẽ công bằng, tính trọng nghĩa.  
Hai khái niệm “đạo” (đạo lý) và “điệu” (điệu  
nghệ), được vận dụng thường xuyên trong cuộc  
sống của những người Nam Bộ đi khai hoang  
mở đất. Đoạn đối thoại giữa cô Huôi (bà chúa  
Hòn) với Tư Thiện trong tiểu thuyết “Bà Chúa  
Hòn” của Sơn Nam, cho thấy tính cách người  
phụ nữ Nam Bộ; tuy là một “bà Chúa” nhưng  
vẫn có những suy xét thấu lý đạt tình, phản ánh  
được nếp sống đạo và điệu bằng tinh thần trọng  
nhân nghĩa, khinh tiền tài. Trong sâu thẳm tâm  
hồn, bà chúa vẫn thấu hiểu định mệnh; bà  
Ở truyện “Chiếc ghe ngo”, Sơn Nam lại  
đưa người đọc về với không khí lễ hội của đồng  
bào Khmer trên vùng đồng bằng sông nước  
Cửu Long. Cuộc đua ghe ngo được ông miêu tả  
hết sức sinh động, hào hứng, đầy tính thực tiễn;  
không chỉ đơn thuần như một cuộc chơi, mà  
còn đậm màu sắc phong tục, văn hóa tâm linh:  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 25, Tháng 01 - 2021  
muốn có một cuộc sống hiền lành, nhân hậu  
như cha mình: “Thưa cô, cô tránh về đâu?/ Đôi  
mắt cô Huôi trở nên mơ màng: Về quê, ở với  
cha. Cha tôi hiền lành và khôn ngoan lắm. Ông  
không bao giờ đòi hỏi đꢀa vꢀ, danh vọng. Năm  
ngoái, tôi giúp ông một số tiền. Tuổi già, đâu  
cần ăn uống, rượu thꢀt. Ông đem tiền ấy trao  
cho một ông đạo, nhờ xây cất một ngôi chùa  
nhỏ. Tôi về ngôi chùa đó, xem thử còn thiếu sót  
điều gì không? Hoặc là cần dùng ít tiền nhưng  
mấy tháng qua, sư sãi không cho tôi biết” [3].  
Thêm lời tâm sự của ông hương giáo với  
khắp nơi, từ Nhà Bè qua Cần Giuộc, Cần  
Đước, Gò Công... Đến đâu, học võ tới đó. Bao  
nhiêu ngón nghề hay của các thầy võ nổi tiếng  
ở các nơi, Ba Dương đều quyết tâm học lấy. Và  
học tới đâu anh truyền lại cho đám em út. Nhờ  
vậy mà khi trụ lại ở cầu Rạch Đỉa, Ba Dương  
đã nổi tiếng là tay giang hồ hảo hớn, dưới tay  
có cả trăm em út” [2].  
Tính bộc trực, thẳng thắn của người Nam  
Bộ được ghi như một đặc tính truyền thống lâu  
đời của quê hương “ông già Ba Tri” thời mở  
đất. Thuộc tính bộc trực, thẳng thắn khiến cho  
giao tiếp của người Nam Bộ nhiều khi được  
nhìn nhận là kiểu nói năng thiếu tế nhị, không  
nể nang, làm mất tính bặt thiệp trong xã giao.  
Nhiều ca dao Nam Bộ thể hiện rõ đặc tính này,  
bởi những người Nam Bộ bình dân thường ăn  
nói “thật lòng’; không quen cung cách ứng xử  
đãi bôi, niềm nở bề ngoài, chẳng hạn: “Đàn kêu tích  
tꢀch tình tang./ Trôi sông lạc chợ lên quan mấy  
hồi”; “Nước ròng bỏ bãi xa cừ./ Mặt em có thẹo  
anh trừ đôi bông”; “Con cua kình càng bò ngang  
đám đế./ Nhắn chꢀ Hai mày chiều xế tao qua”; “Ăn  
tương không phải là hiền./ Ăn tương là để dành tiền  
cho vay”; “Ăn tương không phải là tu./ Ăn tương  
cho hết cái ngu để chừa”; “Còn duyên tôi cưới con  
heo./ Hết duyên tôi cưới con mèo cụt đuôi”.  
thằng Kìm (“đệ tử” Tư Lập) về Tư Lập trong  
truyện ngắn “Hương rừng” của Sơn Nam đã  
phác họa được đôi nét về tính cách những con  
người Nam Bộ, có chí tang bồng mà Sơn Nam  
gọi “bịnh giang hồ” như Tư Lập. Họ luôn suy  
luận trên lập trường của người chọn lẽ phải,  
không nghĩ tới quyền lợi cho mình, mà luôn  
trọng nghĩa khinh tài: “Ta hiểu lắm. Dù sao,  
trở về lần này, Tư Lập cũng đã tỏ ra có nghĩa!  
Ai nỡ câu thúc chí trai của mình trong một xó  
để đổi lấy chữ nhàn? Ai nỡ bỏ cái danh dự để  
mua chuộc một chức tước quý phái huyền ảo.  
Từ xưa, tằng tổ của ta cũng vì khí khái ấy mà  
phò Chúa, xiêu lạc đến đây! Bây giờ ta yếu lắm  
rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập, ta cũng  
không còn sức lực để bắt chước. Gia thế của ta,  
thiên hạ đã rõ. Câu thúc Tư Lập ở mãi tại đây  
chăng? Ta chỉ là người hương giáo, quyền hạn  
gì? Ừ! Tội là tội cho Hoàng Mai. Năm nay, nó  
ngồi một chỗ, không còn đủ sức mà ra thăm cội  
hoàng mai trước ngõ như hồi Tư Lập biết” [5].  
Nhiều người Nam Bộ yêu cuộc sống tự do,  
Người Nam Bộ vốn mang trong mình tập  
tính tự do, phóng khoáng. Vì vậy, những khuôn  
mẫu lễ nghi, phong tục nhiều lúc tạo nên sự  
phiền phức cho họ; khiến họ phản ứng mạnh  
mẽ, thẳng thừng. Vùng quê sông nước, tuy ít lễ  
nghi, phong tục; nhưng không phải không có  
những tập tục ràng buộc nhiều lúc khắt khe,  
làm cho nhiều người phải bực mình. Như ông  
Hương Ba nào đó đại diện cho nhà trai, đi rước  
dâu, bị đàng gái đặt ra nhiều nghi lễ, tập tục;  
khiến ông không còn đủ kiên nhẫn: “Bỗng ông  
tộc trưởng trên nhà chống gậy xồng xộc chạy  
xuống níu tay ông Chánh Khá thở hào hển,  
vểnh râu, sừng sộ: “Còn lễ trao thân gởi mình, sao  
không làm hử?””. Tuy rằng, Hương Ba cũng đã  
khéo “nhẫn”, nhưng cuối cùng ông cũng không  
thích xuôi ngược đây đó; biết thương anh em  
cùng khổ, ghét áp bức bất công; biết trọng nhân  
nghĩa, khinh tiền tài. Thời kỳ trước 1945, ngay  
cả giới “anh chị” Nam Bộ, như hai anh em  
cùng cha khác mẹ Ba Dương - Năm Hà; tuy là  
tay anh chị có máu mặt vùng Sài Gòn - Chợ  
Lớn, thủ lĩnh bộ đội Bình Xuyên, trọng võ hơn  
văn, nhưng vẫn biết tụ nghĩa anh em làm nên  
cơ nghiệp: “Ba Dương nhờ nghề chăn vꢀt mà đi  
10  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Đặng Ngọc Lệ và tgk  
chịu được những đòi hỏi quá quắt của nhà gái,  
nên ông đã có phản ứng: “… Hương Ba bước vội  
xuống tàu, mặt đang nở như hoa, tự nhiên xanh  
xám lại, kéo đại ông Chánh Khá theo, đành phải  
cộc lốc trả lời: “Trao thân... con khỉ mốc!””.  
Nói xong, ông ra lệnh cho anh tài công tàu “giựt  
chuông mở máy” [10], khi đã đưa được cô dâu  
xuống tàu về bên nhà trai.  
Chưa kꢀp phủi mấy giọt mưa đọng trên mặt, trên  
vai áo, Năm Pho đã vội lên tiếng: “Ông già nãy  
giờ nói chuyện với ai vậy? Bộ có giấu bà nào  
trong mùng hả? Hèn chi tui nghe ông hát, thiệt  
hết sức muồi!”. Ông cười: “Có thuốc rê cho tao  
một điếu. Buồn, hát một mình. Mấy bữa rày túng  
quá. Sao? Có chuyện gì lạ không?...” [5].  
Tính cách văn hóa của người Việt ở Nam  
Đoạn đối thoại giữa những người trong gia  
đình chú Tư trong “Mùa len trâu”, có thể làm  
ngạc nhiên vì cách ăn nói có vẻ quá “bình đẳng,  
dân chủ” trong một gia đình. Người nghe hơi khó  
chịu vì thiếu tính “lễ nghi, thứ bậc, tình cảm” cần  
có. Nhưng trong cách nói năng người Nam Bộ,  
điều ấy cũng bình thường. Vì sự bộc trực, thẳng  
thắn vốn là nét tính cách của họ. Điểm chính là sự  
chân thật trong tình cảm các thành viên: “Chú Tư  
Đinh lại vấn điếu thuốc thứ nhì, mỉm cười khi thấy  
từ chân trời một cơn mưa to hơn sắp kéo đến: “Ừ!  
Mưa hoài đi. Ông trời năm nay biết điệu, thuận  
mùa, thuận tiết...”. Thím Tư như phản đối chồng:  
“Mưa vài đám nữa thì có môn leo lên nóc nhà mà  
ở. Ba cái lu, cái hũ trôi lểnh nghểnh trong nhà rồi,  
ba nó chưa hay sao? Gạo hết, tiền hết...”. [...] Chú  
Tư chờ thằng Nhì vào nhà. Nó cổi cái áo ướt mem  
quăng trên sàn: “Xung quanh đây hết cỏ rồi. Làm  
sao bây giờ hả ba? Trâu đói nữa, con mắt nó đổ  
ghèn hoài”. Chú nói: “Bên giòng cát Sóc Xoài...  
Mày có qua tới đó không?/ - Có. Mà hết cỏ rồi.  
Mấy lõm cỏ sau chùa không đủ cho trâu bò ở đó  
ăn, đâu có dư tới mình. Trâu mình ốm nhiều. Từ  
đây tới nước giựt còn trên ba tháng nữa, làm sao  
chꢀu nổi?/ - Hồi đầu mùa, tao biểu giao trâu cho  
họ len đi miệt khác kiếm cỏ. Má mày ngăn cản.  
Bây giờ tới nước này rồi...” [5].  
Bộ còn là sự bao dung tha thứ, chấp nhận sự đa  
dạng trong khái niệm văn hóa tâm linh hội  
đồng; trong ứng xử không trói buộc mà luôn  
trong tâm thế cởi mở, như Ca dao Nam Bộ có  
câu: “Đấng trượng phu đừng thù mới đáng./  
Đấng anh hùng đừng oán mới hay.”. Một “lão  
Khăn Đen” trong truyện dài “Xóm Bàu Láng”.  
Tuy là chúa đảng cướp, nhưng cách xử sự của  
lão với mọi người xung quanh vẫn theo quy  
luật hào hiệp, tính bao dung, tha thứ; sẵn sàng  
bỏ qua những lầm lỗi; bản chất vốn tiềm ẩn ở  
mỗi con người Nam Bộ, dù là giới giang hồ. Có  
thể nói, cai tổng Biện là “kẻ thù” lão Khăn Đen,  
sau những năm tháng cai tổng ngồi tù ra gặp lại  
lão Khăn Đen, lão vẫn niềm nở mời vào nhà, có  
những lời tâm sự rất chí tình với ông cai Tổng,  
thể hiện được tính bao dung ở con người lão, biết  
nhìn nhận phải trái và lẽ công bằng: “… Nói thiệt với  
ông anh, xưa kia tôi lỡ tay giết cha thằng Mến. Tôi  
hứa chuộc tội, cho thằng Mến với con Lài thành vợ  
chồng. Con Lài là tình nhân của thằng Mến hồi còn  
ở Hà Tiên. Ông Cai đừng hờn giận tụi nó. Cai tổng  
Biện trợn mắt: “Gia tài của tôi bꢀ người ngoài sang  
đoạt. Biểu tôi đừng giận sao được./ - Có cái gì mà  
sang đoạt! Tụi nó bây giờ đang trả quả, nói theo lời  
nhà Phật. Ông anh đừng nóng. Có lẽ khi về già, tụi  
nó khổ bằng mười lần anh em mình. Mà anh em  
mình sống thui thủi như vầy cũng là trả quả, tôi là  
đứa sát nhân. Còn ông anh thì xin miễn nói”. [4].  
Trong rất nhiều vở tuồng cải lương Nam  
Hay đoạn đối thoại của hai người cùng  
xóm giữa ông Chòi Mui và Năm Pho, dù có  
chênh lệch tuổi tác, nhưng họ hoàn toàn không  
cần tuân thủ phép xã giao, giữ thế lịch sự tối  
thiểu trong giao tiếp thường nhật: “Có người  
ghé xuồng ngay bến. Không cần dòm ra, ông dư  
biết là Năm Pho, người láng giềng gần nhứt,  
cách một con kinh nhỏ chừng năm trăm thước.  
Bộ, khởi đầu đều là những xung đột dữ dội,  
nhưng rồi cũng theo tâm lý bao dung của khán  
giả Nam Bộ, mà các vở tuồng đều xây dựng  
trên kết cục tha thứ; người có lỗi cũng biết  
khách quan nhìn nhận lỗi lầm của chính mình.  
11  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 25, Tháng 01 - 2021  
Như vở “Mười lăm năm ly hận”. Đây là vở cải  
lương tuồng tâm lý xã hội miền Nam của hai  
soạn giả nổi tiếng Hà Triều và Hoa Phượng.  
Tuồng cải lương từng được thể hiện qua vai diễn  
của những nghệ sĩ tên tuổi trong làng sân khấu  
cải lương Việt Nam, như: Thành Được vai Cai  
tổng Thân; Út Bạch Lan vai vợ Minh; Út Trà Ôn  
vai Trần Văn Minh, người tù Côn Đảo; Út Hậu  
vai Hoàng, con Minh; Ngọc Giàu vai Huỳnh  
Hoa, con Thân; Hề Minh vai bác Năm…  
câu ca dao Nam Bộ thể hiện rõ nhu cầu vật chất  
trong nhận thức của những lưu dân đến vùng  
đất này xuất phát từ nhu cầu vật chất cơm áo,  
gạo tiền. Với họ thực tiễn bao giờ cũng là cơ sở  
của ước mơ: “Mẹ mong gả thiếp về vườn./ Ăn  
bông bí luộc, dưa hường nấu canh”; “Nhà anh  
cột táng, ván suông./ Liễn treo bốn bộ, em buồn  
chuyện chi”; “Em đi miệt đó khó về./ Gặp  
người sang trọng chắc chê anh nghèo”.  
Cuộc sống mang lại cho con người quan  
niệm và kinh nghiệm ứng xử, ở đời. Con người  
sinh ra và lớn lên trong môi trường xã hội nào  
thì chính môi trường ấy sẽ định hình một sự  
cảm nhận riêng cho họ. Người nông dân vốn  
quen với chuyện ruộng đồng, sông nước nên  
nhân sinh quan của họ đôi khi có khác với  
người thành thị. Cùng một sự việc nhưng vẫn là  
hai quan niệm: Người vùng miền khác thì cho rằng:  
“Trên đời bốn thứ nhàn du: Làm mai, lãnh nợ, gác  
cu, cầm chầu”; với người Nam Bộ thì: “Ở đời có  
bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”.  
Người đời phê phán họ vì sự an phận thủ  
thường, chuộng cuộc sống nghèo mà nhàn tản;  
hơn sự phấn đấu vươn lên trong mỏi mệt, mà  
họ cho vô nghĩa: “Mần cho lắm cũng mắm kho  
cà./ Mần thấy bà cũng cà kho mắm./ Mà mần  
cho lắm tắm cũng không có quần thay./ Mần lai  
rai một ngày thay hai ba bộ”.  
Nội dung tuồng đề cập tình cảnh gia đình  
Trần Văn Minh. Minh bị bắt kết tội là nghĩa  
binh Trương Định do sự vu khống của cai tổng  
Thân, nhằm cướp người vợ trẻ đẹp của Minh.  
Minh bị kết án tù chung thân đày đi Côn Đảo.  
Vợ Minh dù thương chồng, nhưng nghĩ tới giọt  
máu của Minh nên không thể quyên sinh. Khi  
chồng xuống tàu đi đày, cai tổng Thân tiếp tục  
chèn ép và ve vãn; vợ Minh không còn phương  
cách sống nên đành đi tiếp bước nữa. Bà lấy  
Thân và sinh thêm một gái là Huỳnh Hoa. 15  
năm sau, cai tổng Thân giờ đã lên chùa đi tu.  
Minh được tha về đất liền gặp lại bác Năm. Bác  
Năm vì căm tức chuyện đời, nên nói cho  
Hoàng, con Minh biết nguồn cội. Hoàng biết  
được sự việc nên rất giận dữ quyết tìm cha nuôi  
trả thù, dù trước khi biết sự việc cậu là đứa con  
hiếu nghĩa biết thương ông. Kết thúc vở tuồng,  
tất cả họ gặp lại nhau tại chùa, Hoàng nhất định  
trả thù Thân, nhưng Minh khuyên con dừng lại.  
Còn Thân nhận tội, sẵn sàng chịu tội trước sự  
căm thù của cha con Hoàng. Ông định tự tử để  
đền tội lỗi đã gây ra, thì con gái Thân van xin  
ông đừng chết; cô cũng xin ông Minh mở vòng  
đại lượng tha thứ cho cha mình và xin anh Hoàng  
nên nghĩ tình nuôi dưỡng, tình anh em mà tha tội  
chết cho cha. Minh cũng khuyên con cởi bỏ oán  
thù và theo ông về quê nội nương náu.  
Chịu ảnh hưởng của vùng đất mình sống  
nên sinh hoạt người dân quê cũng như bao  
người Nam Bộ khác chuộng sự nhàn hạ, phóng  
túng, bằng lòng với cuộc sống, nếp sinh hoạt  
nông thôn bình dị mình có. Không hề có sự so  
sánh, trông xa để ganh đua với đời. Lối sống  
này có cái hay là tạo cho con người nếp sinh  
hoạt phong lưu, vô ưu; nhưng không có tác  
dụng nhiều trong sự phấn đấu, thúc đẩy sự  
vươn lên của chính mình trên con đường công  
danh, sự nghiệp: “Công danh hai chữ mê mê.  
/Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông”.  
Người Nam Bộ vốn là hậu duệ của những  
cư dân Nam tiến không mơ mộng viễn vông,  
không lãng mạn, ảo tưởng; luôn nhìn đời bằng  
đầu óc thực tế, chuộng những giá trị thiết thực  
hơn những giá trị huyễn hoặc, xa vời. Nhiều  
Đôi khi, họ cũng có chút hoài bảo, mơ  
mộng; nhưng những suy nghĩ này cũng được  
đặt trên nền tảng của thực tiễn lao động bằng  
12  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Đặng Ngọc Lệ và tgk  
nghị lực phấn đấu bền bỉ của chính họ. Vẫn biết  
rằng, canh tác ở vùng đất mới buổi đầu không  
dễ; không phải ước mơ làm họ không chùn  
chân; mà chính nhu cầu vật chất khích lệ họ  
dấn thân, hy sinh dù phải mất khoảng thời gian  
dài. Bởi canh tác trên vùng đất Nam Bộ buổi  
đầu không dễ; có dễ đi chăng nữa cũng phải  
dăm ba thế hệ sau, thừa hưởng được sự hy sinh  
nhiều thế hệ đi trước. Ông nội thằng Cộc có lần  
dạy nó bài học đầu đời, khi ông đưa cha nó và  
nó ra biển quan sát rừng Mắm. Từ cảm nhận sự  
hy sinh của đời cây Mắm, thằng Cộc nhận ra lẽ  
sống hy sinh của ông và cha nó, mà chấp nhận  
tiếp tục hy sinh cho đời con cháu nó: “- Bờ biển  
này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra  
hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn  
và không bao giờ thành đất thꢀt được để ta hưởng,  
nếu không có rừng mắm mọc trên đất đó cho chắc  
đất. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối  
ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn  
trái mới mọc được. Thấy thằng cháu nội ngơ ngác  
chưa hiểu, ông cụ vꢀn vai nó mà tiếp:“- Ông với lại  
tía con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con  
là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng  
đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài,  
mít, dừa, cau”. Đời mắm tuy vô ích, nhưng không  
uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã  
gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng” [6].  
Vẽ ra viễn cảnh tươi sáng, như ông nội thằng  
Cộc phác họa, cũng có thể khái quát ấy là quá  
trình khai hoang mở cõi Phương Nam của người  
xưa: “Ông ôi - nó than - nhưng tràm buồn quá!/ -  
Tràm sẽ khỏi buồn nữa. Năm tới, đất thuần, ta  
làm ba mươi công và sẽ gọi dân cấy gặt ở nơi xa  
tới để phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi  
thiên hạ sẽ bắt chước tràn tới đây mà phá rừng,  
vùng Ô Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu” [6].  
3. KẾT LUẬN  
Tính cách văn hóa Nam Bộ được hình  
thành trong quá trình khai hoang, mở đất  
phương Nam của lưu dân Việt vùng Thanh -  
Nghệ mấy trăm năm trước. Trong quá trình ấy,  
môi trường tự nhiên và điều kiện xã hội mới đã  
tác động dần hình thành những đặc điểm riêng  
mang phong cách văn hóa vùng miền. Trong  
đó, những đặc trưng hình thành từ điều kiện tự  
nhiên, như đặc trưng của vùng đồng bằng sông  
rạch tạo nên tính mở, thoáng của làng xóm, nên  
những biểu hiện sông nước, tính bộc trực và  
tính thực tiễn được hình thành. Ngoài ra, sự  
tiếp xúc của các cộng đồng dân tộc bản địa đã  
sớm định cư và những cộng đồng người Việt  
đến sau mà cần có tính trọng nghĩa, tính bao  
dung để duy trì mối quan hệ xã hội thích hợp  
cho điều kiện phát triển vùng đất mới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Văn Hầu (2004), Diện mạo Văn học dân gian Nam Bộ, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
[2] Nguyên Hùng (2005), Người Bình Xuyên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.  
[3] Sơn Nam (2005), Bà chúa Hòn, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
[4] Sơn Nam (2005), Xóm Bàu Láng, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
[5] Sơn Nam (2005), Hương rừng Cà Mau, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
[6] Nguyễn Q. Thắng (2002), Tuyển tập Bình Nguyên Lộc, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội.  
[7] Trần Ngọc Thêm (Chủ biên, 2013), Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, Nxb Văn hóa - Văn nghệ.  
[8] Huỳnh Công Tín (2020), Soạn giả Viễn Châu 120 bài Vọng cổ đặc sắc, Nxb Văn hóa - Văn nghệ.  
[9] Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
[10] Phi Vân (2000), Đồng quê, Nxb Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
Ngày nhận bài: 22-10-2020. Ngày biên tập xong: 02-01-2021. Duyệt đăng: 22-01-2021  
13  
pdf 7 trang baolam 28740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc trưng văn hóa người Việt ở Nam Bộ qua phong cách ngôn ngữ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_trung_van_hoa_nguoi_viet_o_nam_bo_qua_phong_cach_ngon_ng.pdf