Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Khái Hưng dưới góc nhìn nữ quyền luận
No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.21-26
DOI:
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
NHÂN VẬT NỮ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA KHÁI HƯNG DƯỚI GÓC NHÌN NỮ QUYỀN LUẬN
(Khảo sát qua Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió, Nửa chừng xuân)
Phạm Thị Thiểm1*
1Ban Tuyên giáo, Bộ Giáo dục và đào tạo
Thông tin bài viết
Tóm tắt
Dùng lý thuyết phê bình nữ quyền để khám phá hình tượng người phụ nữ, bài
viết chỉ ra những nét mới, độc đáo trong cách nhìn nhận và xây dựng nhân vật
trong tiểu thuyết của Khái Hưng. Không chỉ ngợi ca vẻ đẹp ngoại hình, nhà văn
còn rất trân trọng những nét đẹp tâm hồn của các cô “gái mới”. Khác với
những người phụ nữ truyền thống đại diện cho luân lý và đạo đức phong kiến,
họ không ngần ngại thể hiện khát khao và đòi hỏi chính đáng để luôn được
sống là mình và cho mình, nhất là trong tình yêu và hôn nhân. Bài viết hi vọng
sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc đánh giá, “nhìn nhận lại” hiện tượng “Tự lực
văn đoàn” nói chung, tiểu thuyết của Khái Hưng nói riêng.
Ngày nhận bài:
27/8/2020
Ngày duyệt đăng:
20/9/2020
Từ khóa:
“Nữ quyền”, “tiểu thuyết”,
“Tự lực văn đoàn”, “Khái
Hưng”, “hình tượng người
phụ nữ”
1. Đặt vấn đề
Bắt nguồn từ chế độ phong kiến, tư tưởng “trọng
nam khinh nữ” không chỉ gây tình trạng bất bình
đẳng giới trầm trọng mà còn là nguồn cơn của biết
bao tấn bi kịch đối với người phụ nữ. Như một lẽ
tất yếu, ngọn lửa đấu tranh giành quyền bình đẳng
cho một nửa thế giới đã bùng lên mạnh mẽ ở khắp
nơi với tên gọi Nữ quyền luận - Chủ nghĩa nữ
quyền. Cuộc đấu tranh ấy diễn ra trên nhiều lĩnh
vực, trong đó có văn học. Ở Việt Nam, vấn đề nữ
quyền luận tuy mới được đặt ra trong thời gian gần
đây với số lượng công trình nghiên cứu còn khá ít
ỏi, nhưng thu hút sự quan tâm của đông đảo giới
nghiên cứu. Vì vậy, tìm hiểu, đánh giá về vấn đề
nữ quyền luận trong các sáng tác văn học là việc
làm hết sức cần thiết.
khuynh hướng và trào lưu văn học. Cùng với phong
trào Thơ mới, tiểu thuyết 1930 – 1945 (với hai dòng
chủ đạo là tiểu thuyết lãng mạn (tiêu biểu là Tự lực
văn đoàn) và tiểu thuyết hiện thực) đã mở ra một thời
kỳ rực rỡ huy hoàng trong văn học dân tộc – một thời
kỳ phát triển đến đỉnh cao của thể loại với nhiều tác
phẩm xuất sắc. Mặc dù vậy, khi nhìn lại lịch sử
nghiên cứu, nếu những đánh giá về tiểu thuyết hiện
thực đã có được sự nhất quán, thống nhất ngay từ đầu
thì việc định giá tiểu thuyết lãng mạn lại tương đối
phức tạp với những nhận định nhiều khi trái chiều.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn - khen cũng nhiều mà chê cũng không
ít. Thậm chí, có những lúc, giai đoạn văn học này còn
bị phủ định. Bởi vậy, sau gần một thế kỉ, vấn đề
“nhận thức lại” để tìm ra những cách tiếp nhận khác
đã trở thành một hướng đi mới trong nghiên cứu văn
học lãng mạn ở Việt Nam. Một loạt tác phẩm của
Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam…
được in lại và giới thiệu từ những góc nhìn mới. Tự
lực văn đoàn được đánh giá như một nhân tố tích
2. Nội dung
2.1. Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và vấn đề “nhận
thức lại”
Nhìn lại quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam,
giai đoạn 1930-1945 diễn ra vô cùng quyết liệt quá
trình hiện đại hóa văn học với sự nở rộ của nhiều
P.T.Thiem/ No.18_Oct 2020|p.21-26
cực, góp phần đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết
hơn nhân vật nam. Điều đó cho thấy sự quan tâm đặc
biệt của nhà văn đối với nữ giới. Nhà văn khao khát
khám phá vẻ đẹp mới ở nhân vật, khao khát thể hiện
những diễn biến mới trong tâm lý cũng như những
suy tư, trăn trở về cuộc đời, thân phận của họ, qua đó,
giúp nữ giới xác lập được tiếng nói riêng, mạnh mẽ,
đầy kiêu hãnh.
và thi pháp thể loại. Ngay từ khi mới ra đời, Tự lực
văn đoàn đã đề ra tôn chỉ hoạt động: “lúc nào cũng
trẻ, cũng yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến
bộ”. Tư tưởng ấy được thể hiện rất thành công trong
những tác phẩm được viết bằng bút pháp mềm mại
và điêu luyện của Khái Hưng. Với Khái Hưng, viết
văn như là một cách để chống lại lễ giáo phong kiến
hà khắc và đòi hỏi hạnh phúc cá nhân cho con người.
Để đạt được điều đó, ông và các nhà văn của Tự lực
văn đoàn đã xây dựng hình ảnh những người phụ nữ
truyền thống và hiện đại trong mối quan hệ xung đột
gay gắt, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của những cô gái
“mới”. Họ không chỉ có sức hấp dẫn về ngoại hình
mà còn luôn mang trong mình khát khao sống mãnh
liệt, khát khao được là chính mình, được tự do trong
tình yêu và hôn nhân.
2.2.1. Ý thức sâu sắc về vẻ đẹp tự thân
Trước hết, các nhân vật nữ đều được Khái Hưng
nhấn mạnh ở phương diện ngoại hình. Lan, Mai,
Liên, Tuyết… đều là những người phụ nữ đẹp, hấp
dẫn. Vẫn là vẻ đẹp của mái tóc, của làn da, của đôi
mắt, nụ cười, dáng vẻ… , những vẻ đẹp thể hiện đặc
trưng nữ giới vô cùng rõ nét nhưng độc đáo là ở chỗ,
nhà văn thường miêu tả vẻ đẹp ấy trong những khung
cảnh thiên nhiên thơ mộng, trữ tình, đồng thời luôn
thể hiện cái nhìn trân trọng dành cho họ.
Không thể phủ nhận những thành tựu đáng trân
trọng của giới nghiên cứu về tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn nói chung, nhân vật nữ trong tiểu thuyết của
Khái Hưng nói riêng. Qua tìm hiểu những nghiên cứu
đó, chúng tôi đã tiếp thu nhiều luận điểm sâu sắc, có
giá trị khoa học mang tính chất gợi dẫn quan trọng
giúp chúng tôi triển khai đề tài này. Nhưng cũng phải
khẳng định rằng, phần lớn các công trình nghiên cứu
dừng lại ở việc tiếp cận hình tượng người phụ nữ
dưới góc nhìn thi pháp và nhìn một cách tổng thể,
cho đến thời điểm này, chưa có công trình nghiên
cứu tiếp cận từ lý thuyết phê bình nữ quyền. Thiết
nghĩ, đây thực sự là một hướng đi mới, phù hợp, có
triển vọng, có thể mang đến những phát hiện mới mẻ
về những vấn đề vốn được xem là xưa cũ.
Có thể thấy, văn học từ xưa đến nay đã dành rất
nhiều bút mực để miêu tả vẻ đẹp thân thể của người
phụ nữ. Với tư duy hồn nhiên và chịu ảnh hưởng của
nền văn hóa Mẫu hệ, các nghệ sĩ dân gian với cái
nhìn đầy thiện cảm đã tạo nên những phác thảo đơn
sơ về chân dung người phụ nữ: “Cổ tay em trắng như
ngà/ Đôi mắt em liếc như là dao cau/ Miệng cười như
thể hoa ngâu/ Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”.
Mỗi người đẹp một vẻ. Có người đẹp nhờ mái tóc
bồng bềnh, đôi chân mày cong tựa vầng trăng non:
“Chân mày vầng nguyệt có duyên/ Tóc mây gợn
sóng đẹp duyên tơ hồng”. Có người lại đẹp nhờ ánh
mắt, khuôn mày biết nói: “Những người con mắt là
răm/ Đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền”.
Đến văn học trung đại, sự kiềm tỏa của lễ giáo
phong kiến hà khắc cùng chế độ nam quyền khiến
các tác giả dường như né tránh miêu tả vẻ đẹp thân
thể của người phụ nữ, hoặc có được đề cập cũng là
theo những khuôn mẫu định sẵn, kiểu như: “Khuôn
trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” (Truyện Kiều -
Nguyễn Du). Hệ giá trị thẩm mĩ trung đại đánh giá
người phụ nữ theo công thức: “Công, Dung, Ngôn,
Hạnh” mà chữ Dung luôn được xếp sau. Người phụ
nữ sống khép mình theo lễ giáo: “Nam nữ thụ thụ bất
thân”. Vậy nên, những miêu tả đầy táo bạo, phồn
thực như nữ sĩ Hồ Xuân Hương thời đó được xem
như là một sự nổi loạn: “Mùa hè hây hẩy gió nồm
đông/ Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng/ Lược trúc
biếng cài trên mái tóc/ Yếm đào trễ xuống dưới
nương long/ Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm/ Một
lách đào nguyên suối chửa thông” (Thiếu nữ ngủ
ngày - Hồ Xuân Hương)
2.2. Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết
Khái Hưng dưới lăng kính nữ quyền luận
Khái Hưng sáng tác dồi dào, phong phú với niềm
say mê và giàu nghị lực. Qua 15 năm cầm bút, Khái
Hưng để lại 12 tiểu thuyết, trong đó có một tiểu
thuyết viết chung với Nhất Linh và rất nhiều truyện
ngắn, kịch… Trong phạm vi khảo sát của đề tài,
chúng tôi chỉ tập trung vào 3 tiểu thuyết được xem là
tiêu biểu nhất của Khái Hưng, đó là: Hồn bướm mơ
tiên (1933), Đời mưa gió (viết chung với Nhất Linh,
1937) và Nửa chừng xuân (1938).
Không phải ngẫu nhiên mà số lượng nhân vật nữ
trong các tiểu thuyết này lại nhiều đến thế. Hầu hết
nhân vật chính trong các tiểu thuyết đều do nhân vật
nữ đảm nhiệm. Có khi, số lượng nhân vật nữ nhiều
P.T.Thiem/ No.18_Oct 2020|p.21-26
Sang thế kỉ XX, dưới ảnh hưởng của tư tưởng
con ngươi sáng dịu… Mặt trái xoan, hai con mướt
ướt như hai ngôi sao lấp lánh sau làn mây mỏng” [3,
tr95], Mai thực sự đã chiếm được cảm tình của Lộc
ngay từ lần đầu gặp gỡ: “Mai cầm cành đào cài vào
mái tóc, quả nhỏ và lá rũ xuống trán, xuống tai, khiến
Lộc đứng ngẩn người ra ngắm ngía, tấm tắc khen:
Trông em đẹp như thiên nga” [3, tr181]. Bác sĩ Minh
thì quả quyết: “Mai đẹp lắm, đẹp ít người sánh kịp”
[3, tr263]. Còn với họa sĩ Bạch Hải, Mai là một kiểu
mẫu lí tưởng: “Tôi đi tìm kiểu mẫu đã nhiều, song
chưa gặp được ai có cái nhan sắc như cô” [3, tr270].
Thậm chí, những người không dành cho Mai chút
yêu mến nào cũng chẳng thể phủ nhận vẻ xinh đẹp
của Mai. Bà Án, mẹ Lộc, người cương quyết tìm mọi
cách để phá tan hạnh phúc gia đình Mai Lộc cũng
phải thốt lên sửng sốt khi gặp Mai: “Mai đẹp lắm,
đẹp dịu dàng, đôn hậu” [3, tr316]. Còn bà Hàn không
bằng lòng mua nhà cho Mai chỉ vì “Mai đẹp quá” [3,
tr150]. Khái Hưng nhiều lần lặp đi lặp lại hình ảnh
Mai với nụ cười tươi thắm nở trên môi như muốn
nhấn mạnh nét đẹp thân thiện, tươi trẻ và sức cuốn
hút lạ kì: “Cái nụ cười của cô vẫn còn nở trên cặp
môi thắm” [3, tr123], “Cô đi thoăn thoắt lúc cặp môi
thắm với gió xuân” [3, tr131]”, “Nụ cười lạ, nở trên
cặp môi đỏ thắm” [3, tr132]…
phương Tây, cái nhìn về người phụ nữ đã cởi mở hơn
rất nhiều. Trùng quang tâm sử (Phan Bội Châu), Tố
tâm (Hoàng Ngọc Phách), Giọt lệ sông Hương (Tam
Lang Vũ Đình Chí) là những tác phẩm đã xây dựng
thành công hình tượng người phụ nữ nhưng đó vẫn là
những mẫu hình phụ nữ truyền thống.
Chỉ đến khi Tự lực văn đoàn xuất hiện, khi người
phụ nữ xuất hiện trong văn học với tư cách là một
con người cá nhân mang theo trong mình những khát
vọng tự do mạnh mẽ mới thực sự được tôn vinh và
được nhìn nhận một cách thỏa đáng. Vẻ đẹp thân xác
của người phụ nữ được các nhà văn miêu tả cụ thể,
trực diện với tất cả những nét vẽ trần thế nhất, gợi
cảm nhất bởi các nhà văn quan niệm: vẻ đẹp thân xác
mới chính là thước đo, là tiêu chuẩn để đánh giá con
người. Đây là một quan điểm thẩm mĩ hoàn toàn mới
mẻ của thời đại. Điều này giúp độc giả có thể cảm
nhận được vẻ đẹp của nhân vật như họ đang đứng
ngay trước mặt.
Đọc tiểu thuyết của Khái Hưng, chúng tôi nhận
thấy Khái Hưng đặc biệt chú ý tới sự trẻ trung và bản
sắc giới tính của người phụ nữ. Lan trong Hồn bướm
mơ tiên xinh đẹp, hiền hòa, dịu dàng và nữ tính đến
nỗi Ngọc luôn muốn họa nàng thành tranh để được
thỏa sức ngắm nhìn. Vì vậy, dù màn cải trang nam
của Lan hoàn hảo đến đâu đi chăng nữa thì những vẻ
đẹp nữ tính trong nàng vẫn toát ra bên ngoài khiến
Ngọc ngay từ lần đầu gặp mặt đã không thôi nghi
ngờ: “Quái lạ, sao vùng nhà quê lại có người đẹp đến
thế, nước da trắng mát, tiếng nói dịu dàng, trong trẻo
như tiếng con gái” [3, tr10]. Khái Hưng không chỉ có
biệt tài sử dụng ngôn ngữ mà còn có năng lực hội họa
tinh tế khiến bức họa chân dung Lan hiện lên sống
động, hút hồn: từ những vẻ đẹp bên ngoài của “làn da
trắng mát”, “hai má đỏ hồng” đến sự tươi mới, trẻ
trung bên trong của một tâm hồn cô gái mới lớn.
Chính những vẻ đẹp đó đã hút hồn Ngọc, khiến Ngọc
ngày đêm thẫn thờ tưởng nhớ: “Tôi xin thú thực với
ni cô rằng, tôi yêu ni cô, tôi yêu ngay từ lúc còn
tưởng ni cô là trai. Ni cô là một người thông minh,
đĩnh ngộ, xinh đẹp như thế, ai lại không yêu được”
[3, tr82].
Lan và Mai xinh đẹp là thế nhưng quyến rũ nhất
phải kể đến Tuyết trong Đời mưa gió. Với Tuyết,
Khái Hưng mạnh dạn khắc họa những nét đẹp mang
đầy yếu tố sắc dục. Đó là vẻ đẹp của “cặp mắt sắc
sảo” [4, tr53], “hai má đỏ hây” [4, tr56], “cái tay
trắng muốt, mềm mại” [4, tr69]. “Tuyết vừa nói vừa
liếc mắt long lanh hoạt động nhìn Chương một cách
rất tình tứ. Cặp môi bôi sáp đỏ hình trái tim… một nụ
cười làm hai lúm đồng tiền ở hai má mơn mởn như
tuyết trái đào Lạng Sơn chín hồng mới hái” [4, tr33].
Dường như bị mê hoặc bởi Tuyết, Chương đã không
ít lần ví Tuyết như “tố nữ”, như “tiên giáng trần”. “Ai
đã đến chơi nhà Chương cũng khó lòng ghét được
Tuyết... Vì Tuyết khôn khéo mà lại thông minh...
Nàng lại là người rất thiệp, thạo đủ ngón lịch sự
phong lưu” [4, tr103-104].
Điều đặc biệt là những nhân vật nữ trong tiểu
thuyết của Khái Hưng không chỉ xinh đẹp mà họ còn
rất ý thức về vẻ đẹp tự thân ấy của mình, thậm chí ý
thức việc dùng phấn son để được lộng lẫy, xinh đẹp
hơn. Đây là điều mà trong văn học truyền thống
trước giờ chưa từng có. Tuyết thường ăn vận rất
thành thị. Mỗi khi ra ngoài Tuyết không quên trang
điểm bởi khi trang điểm xong và trông mình trong
Nếu như Lan trong Hồn bướm mơ tiên hiện lên
với vẻ đẹp nữ tính, trong sáng và đầy thánh thiện
dưới con mắt si tình của riêng mình Ngọc thì vẻ đẹp
của Mai trong Nửa chừng xuân lại có thể làm đắm
say không biết bao người. Với “nước da trắng, quầng
mắt sâu hoắm làm tăng vẻ rực rỡ long lanh của hai
23
P.T.Thiem/ No.18_Oct 2020|p.21-26
gương, Tuyết “thấy nhan sắc thay đổi hẳn… vẻ mặt
Mai không được, quay sang nịnh nọt Mai về làm lẽ
của Lộc, Mai cũng một mực từ chối: “Con không thể
nào yêu chồng người khác được. Thà con chết còn
hơn đi lấy lẽ. Lương tâm con không cho con làm
những điều vô nhân đạo như thế” [3, tr223]. Mai
chấp nhận xa Lộc, chấp nhận hi sinh tình yêu, chấp
nhận hy sinh hạnh phúc ngay giữa “nửa chừng xuân”
để đối mặt với lam lũ, vất vả ở đời chứ không chấp
nhận là kẻ thứ ba xen vào giữa hạnh phúc của người
khác. Sự mạnh mẽ, dứt khoát của Lan, của Mai khác
hẳn với hình ảnh những người phụ nữ trong văn học
truyền thống. Sự mạnh mẽ, dứt khoát quyết liệt ấy chỉ
có thể có ở những người phụ nữ có ý chí vượt lên trên
những kiềm tỏa trói buộc mình, chủ động thay đổi cuộc
đời mình, tự giải thoát mình khỏi những tư tưởng “thiên
định” về “phận má hồng”, về “nỗi truân chuyên “tiền
định”. Đó là những người phụ nữ mạnh mẽ, quyết đoán,
bản lĩnh, dám làm, dám chịu, không dễ dàng thỏa hiệp
cũng như tự biến mình thành kẻ lệ thuộc.
tươi tắn, đôi má hồng đào, cặp mắt sáng quắc” [4,
tr151]. Có lần “Chương bĩu môi bảo Tuyết: “Cô có
thấy cô dơ dáng dại hình không?” Tuyết đứng dậy
ngắm trước gương bầu dục, rồi trở lại chỗ cũ trả lời:
“Không anh ạ. Hình dáng em vẫn xinh như thường”
[4, tr57]. Tuyết tự thú nhận: “Trời phú cho em một
khối óc tốt tươi và một trái tim dễ cảm nên em thấy
ai, em cũng tưởng người ta yêu em và em cũng muốn
yêu người ta” [4, tr86]. Còn Mai, Mai thấy mình “trẻ
lắm… mới 19 cái xuân xanh…. Mai cũng biết Mai
trẻ. Mai đẹp… Chỉ ngắm cái nét mặt khinh bỉ của
mấy chị em con bác Phán, Mai cũng đủ hiểu rằng
Mai đẹp. Mai lại nhớ khi ở trên xe hỏa, có một công
tử vận tây đã lưu ý đến Mai, làm Mai phải bẽn lẽn cúi
mặt” [3, tr112]. Bằng việc bứt phá ra khỏi thứ văn
đạo mạo truyền thống, thay vào đó là cách miêu tả tự
nhiên về những nét đẹp thân thể của người phụ nữ,
Khái Hưng đã đem đến cho văn học những nét chấm
phá vô cùng mới mẻ nhằm tôn vinh giá trị của người
phụ nữ.
Mạnh mẽ hơn cả, cá tính hơn cả, dám là mình hơn
cả phải kể đến cô Tuyết trong Đời mưa gió. Tuyết
xác lập cho mình một lẽ sống riêng: “Không tình,
không cảm, chỉ coi lạc thú trên đời như một vị thuốc
trường sinh” [4, tr73]. Vì vậy, cô luôn đi theo tiếng
gọi của lạc thú, chẳng ai có thể điều khiển hay giữ
được chân cô. Tuyết thú nhận: “Em đã như con chim
lạc đàn, nay đây mai đó” [4, tr84], “cái đời khốn nạn
ấy, thật ra em đã tự dấn mình vào, em nhận như thế
chứ không dám chối cãi, mà em không hề oán trách
ai” [4, tr85], “Em đã thề với em rằng bao giờ e cũng
sẽ là của em, từ thể phách cho chí tâm hồn. Em
không sao làm vợ, nghĩa là làm vật sở hữu của ai
được” [4, tr137].
2.2.2. Khát khao tự do, quyết liệt đấu tranh cho
tình yêu và hạnh phúc
Không chỉ khám phá vẻ đẹp ngoại hình của các
nhân vật nữ, Khái Hưng còn rất dụng công khắc họa
vẻ đẹp tâm hồn họ. Nhà văn không ca ngợi vẻ đẹp
của trinh tiết, đạo đức ở những người phụ nữ như các
nhà văn trước đây mà chú trọng ngợi ca những phẩm
chất mới mẻ, thể hiện rõ ý thức cá nhân của nhân vật.
Trước hết, họ đều là những người phụ nữ thông
minh, có học thức, rất bản lĩnh, quyết đoán và luôn
mong muốn được chủ động lựa chọn số phận của
mình. Họ khát khao được hưởng hạnh phúc, khát
khao tự do trong tình yêu và hôn nhân. Vậy nên, ở
những tình huống cần phải lựa chọn giữa trách nhiệm
bổn phận và đời sống cá nhân tự do, các nhân vật nữ
đã phản kháng dữ dội, quyết liệt để bảo vệ mình và
những người thân yêu.
Đặt vào giữa thế giới các nhân vật trong lịch sử
văn học Việt Nam trước đó, Tuyết như thể là một kẻ
lạc đàn – một người từ một thế giới khác đến: suy
nghĩ khác, hành xử khác, sống khác. Cô gái ấy yêu
thì dám nói là yêu, thậm chí chủ động đấu tranh để
giành lấy người mà mình yêu. Câu nói cửa miệng của
Tuyết: “như thường” phần nào thể hiện bản ngã, sự
tự tin của một “gái mới” thản nhiên khẳng định cá
tính, bất chấp ai nghĩ gì, nói gì. Sự đối lập giữa Tuyết
và Thu cùng thái độ của Chương cũng cho thấy thị
hiếu thẩm mĩ của thời đại đã thay đổi: trước đây một
cô gái như Thu mới là hoàn hảo (vị thế gia đình xứng
đáng cho một cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối, vẻ yểu
điệu xinh tươi lại khép nép giữ gìn rất ra dáng con nhà
nề nếp) nhưng nay, một cô gái như Tuyết mới thực sự
hấp dẫn. Tuyết nhí nhảnh, trẻ trung, thẳng thắn và rất
Không chiều theo sự sắp đặt của gia đình, Lan
trốn vào tu trên chùa Long Giáng, xa lánh cõi trần.
Sự phản ứng mạnh mẽ của Lan không chỉ thể hiện ý
thức rõ rệt của cô về quyền tự do cá nhân mà còn là
minh chứng hùng hồn chứng minh rằng: người phụ
nữ hiện đại hoàn toàn có quyền bác bỏ những quy
tắc, luật lệ xưa cũ trói buộc con người. Còn Mai, cô
xuất thân trong gia đình trí thức nhưng khi cha mất,
gia tài dần khánh kiệt, một mình cô cáng đáng gia
đình, nuôi em ăn học. Cô thà bán nhà chứ nhất quyết
không làm lẽ ông Hàn. Bà Án thuyết phục Lộc rời xa
P.T.Thiem/ No.18_Oct 2020|p.21-26
thực tế. Tuyết dám nói, dám làm, dám bộc lộ mình và
tính nơi họ. Ẩn sau vẻ bề ngoài mạnh mẽ, quyết đoán
vẫn là trái tim thổn thức, giàu yêu thương.
dám chịu trách nhiệm về chính mình.
Kết thúc tác phẩm, những cô “gái mới” trong tiểu
thuyết của Khái Hưng vẫn không nhận được hạnh
phúc trọn vẹn bởi sợi dây của lễ giáo phong kiến vẫn
không thôi kiềm tỏa họ, bởi cái mới tuy đã nhen
nhóm nhưng còn yếu ớt, chưa đủ sức chống đỡ và
chiến thắng cả một thành trì vững chãi của chế độ
nam quyền và thần quyền. Lan vẫn đi tu. Mai nuôi
con một mình, không danh chính ngôn thuận với
Lộc. Tuyết thân tàn ma dại, bỏ Chương đi giữa
những ngày Tết sum họp, ấm áp của mọi người.
Nhưng thông qua cuộc đời của Lan, Mai, Tuyết, Khái
Hưng đã xác lập những góc nhìn mới mẻ về người
phụ nữ, thể hiện sự tôn vinh và trân trọng dành cho
họ. Thậm chí, khi người đời có nhìn họ bằng ánh mắt
đầy kì thị thì tác giả vẫn nhìn họ rất đỗi trìu mến.
Phương, bạn thân của Chương bức xúc khi thấy đi
đâu Chương cũng cho Tuyết đi cùng: “Ai lại thân
danh một ông giáo mà mê một con đĩ, đi đâu cũng
đưa nó đi theo như vợ” [4, tr99] thì Chương không
ngại ngùng phản pháo: “Tuyết là người yêu của tôi,
anh chỉ nên biết thế thôi. Vả đĩ, thì ai ai cũng đĩ, chỉ
khác có một đằng đĩ với một người và một đằng đĩ
với nhiều người” [4, tr99]. Với Chương, Tuyết như
một cô gái thượng lưu và tử tế. Câu nói của Chương
hay nói cách khác, đó cũng chính là tiếng nói xác lập
tinh thần tôn trọng, đề cao quyền tự do cá nhân của
Khái Hưng dành cho người phụ nữ, dù họ là ai, họ
thuộc tầng lớp nào trong xã hội.
Cuộc hôn nhân không hạnh phúc với một người
chồng ngu dốt trong một gia đình trưởng giả, cổ lỗ đã
khiến Tuyết (Đời mưa gió) quyết định bỏ nhà đi
“theo giai”. Tuyết phớt lờ mọi ánh mắt dè bỉu, đặt
mình ra ngoài vòng luân lí, đạo đức, sống đời mưa
gió miễn sao được tự do và được thỏa mãn nhu cầu
thể xác. Gặp Chương, Tuyết tưởng như tìm được một
vòng tay yêu thương yên bình. Nhưng không bằng
lòng với cuộc sống tẻ nhạt, Tuyết không ít lần bỏ đi
theo Văn, theo Giang, rồi lại tự tìm về với Chương.
Lần trở lại cuối cùng, Tuyết vô cùng hối hận: “Nếu ta
biết chàng yêu ta đến thế thì ta đừng đến nhà chàng
có hơn không. Chàng sẽ mãi sống với hình ảnh
không già của ta. Nhưng nay chàng đã trông thấy ta
rồi, thì từ đây, ta sẽ không còn chiếm được một chỗ
cỏn con trong tâm hồn chàng nữa” [4, tr215]. Thế mà
một sớm mai thức giấc, Tuyết lại bỏ Chương đi. Đối
với Tuyết, thà liều thân với một đời mưa gió, khổ sở,
đê tiện còn hơn là sống lừa dối bên cạnh Chương.
Tuyết cũng không thể sống mãi một kiếp buồn tẻ
cùng vun đắp hạnh phúc đơn sơ, giản dị với người
chồng học thức, nhân hậu bởi chính nó, luôn nhắc
Tuyết rằng: địa vị của nàng vốn không phải ở đây.
“Nàng như hiểu lờ mờ rằng, trừ những khoái lạc hàng
ngày ra, nàng không nên hy vọng những hạnh phúc
đâu đâu. Gia đình. Một người như nàng không có
quyền tưởng tới gia đình” [4, tr174]. Người con gái
ấy đã hoàn toàn tự do đến với Chương và cũng hoàn
toàn tự do để ra đi. Vậy nên, hành động hủy đi kí ức,
xé vứt vào lò sưởi những bức ảnh treo trên tường rồi
đi biệt lại là minh chứng cho lòng tự trọng của Tuyết.
Tuyết thực sự thấy mình nhơ nhuốc và không muốn
quấy rối cuộc sống bình yên của Chương thêm lần
nào nữa.
3. Kết luận
Kể từ khi ra đời đến nay, Tự lực văn đoàn đã trở
thành tâm điểm chú ý của giới nghiên cứu văn học và
sức sống ấy vẫn luôn mạnh mẽ cho tới ngày hôm
nay. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Tự lực
văn đoàn nói chung, hình tượng người phụ nữ trong
tiểu thuyết của Khái Hưng nói riêng. Tuy nhiên, chưa
có công trình nào dùng lý thuyết phê bình nữ quyền
để nhìn nhận về hình tượng nhân vật vô cùng độc đáo
này. Hướng đi mới thực sự đã đem đến những phát
hiện vô cùng thú vị, đồng thời như là một “cách đọc
khác” về Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đời
mưa gió... Ở đây, nhà văn đã có sự phân biệt rõ ràng
về hai loại nhân vật nữ trong tác phẩm của mình. Với
những nhân nật nữ đại diện cho tư tưởng bảo thủ,
tính nữ bị mờ hóa, con người chức năng, con người
bổn phận được nhấn mạnh. Ngược lại, với những
nhân vật nữ đại diện cho lối sống mới, tư tưởng mới,
tính nữ được nhấn mạnh, vẻ đẹp hiện đại về hình
thức được ngợi ca, khát vọng và phẩm chất mới được
tô đậm. Thiết nghĩ, chính sự trân trọng mà Khái
Nếu Tuyết sống hưởng lạc thì Mai, người phụ nữ
mạnh mẽ, thanh cao và đức hạnh, hoàn toàn xứng
đáng được hưởng hạnh phúc nhưng lại luôn nhận về
mình phần thua thiệt, tự nguyện hi sinh cho em, cho
chồng, cho con: “Trong nhân loại có một hạng người
đa cảm đến nỗi thà chịu khổ còn hơn là đứng ngắm
cái khổ của người khác.Vì thế, họ hay nghĩ đến sự hi
sinh nọ, sự hi sinh kia” [3, tr16]. Mai chịu nhiều thua
thiệt nhưng vẫn giữ cho mình một tình yêu trọn vẹn,
chân thành dành cho Lộc và chưa từng rung động với
bất cứ ai khác. Bởi với Mai, hi sinh là hạnh phúc.
Phát hiện ra những phẩm chất mới của người phụ nữ
nhưng Khái Hưng cũng nhận thấy rất rõ bản sắc giới
P.T.Thiem/ No.18_Oct 2020|p.21-26
Hưng và những nhà văn cùng chí hướng với ông luôn
3. Khai Hung (2018), Hon buom mo tien, Nua chung
xuan, Writers Association Publishing House, Hanoi
dành cho những cô “gái mới” đã góp phần thổi bùng lên
trong xã hội nhận thức mới về quyền sống, quyền được
hạnh phúc và được khẳng định giá trị của người phụ nữ,
điều mà các nhà văn ở giai đoạn trước chưa làm được.
4. Nhat Linh, Khai Hung (2009), Rainy Life,
Literature Publishing House, Hanoi
5. Phung Gia The, Tran Thien Khanh (2016),
Literature and Women (Some theoretical and historical
issues), International Publishing House, Hanoi
REFERENCES
1. Do Hong Duc (2010), Female character in Nhat
Linh and Khai Hung's novels, Doctoral thesis, Hanoi
University of Education
2. Dao Duy Hiep (2008), Literary criticism from
modern theory, Educational Publishing House
THE WOMEN CHARACTERS IN KHAI HUNG’ S NOVEL ON WOMEN’S RIGHT
Article info
Abstract
Using feminist criticism theory to discover the image of the woman, the article
points out new and unique features in the way of looking at and building
characters in Khai Hung's novels. Not only praising the beauty of the appearance
but the writer also greatly appreciates the spiritual beauty of the "new women".
Unlike traditional women who represent feudal morality and ethics, they do not
hesitate to express a legitimate desire and demand to always live as themselves and
for themselves, especially in their love and marriage. The article hopes to
contribute a small part to the evaluation, "re-recognition" of the phenomenon of
"Self-reliance union" in general, and Khai Hung's novels in particular.
Recieved:
27/8/2020
Accepted:
20/9/2020
Keywords:
"Feminist",
"novel",
"Self-reliance union",
"Khai Hung", "image of
a woman"
Bạn đang xem tài liệu "Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Khái Hưng dưới góc nhìn nữ quyền luận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhan_vat_nu_trong_tieu_thuyet_cua_khai_hung_duoi_goc_nhin_nu.pdf

