Dạy học làm văn ở trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực

DẠY HỌC LÀM  
VĂN TRUNG  
HỌC PHỔ THÔNG  
Khoa Ngữ văn, Trƣờng  
Đại học Sƣ phạm TP. Hồ  
Chí Minh  
Ở
THEO  
ĐỊNH  
Điện thoại: 0913.726.077  
HƢỚNG  
PHÁT  
TRIỂN NĂNG LỰC  
Email:  
ThS. LÊ THỊ NGỌC CHI  
TÓM TẮT  
Theo định hƣớng dạy học phát triển năng lực, dạy học Làm văn phải chú trọng  
hai kĩ năng nói và viết của HS. Bài viết này phân tích vấn đề GV cần có những thay đổi  
nhƣ thế nào trong khâu dạy thực hành làm văn và đánh giá bài làm của HS để phù hợp  
với định hƣớng trên. Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất một số ý kiến đối với việc biên  
soạn phần Làm văn trong SGK Ngữ văn.  
Từ khoá: dạy học Làm văn, dạy học phát triển năng lực, thực hành, đánh giá  
ABSTRACT  
Teaching Composition Writing in High School with Competency- Based Approach  
According to competency-based education‟s point of view, teaching  
composition writing focuses on both speaking and writing skills of student. This article  
analyzes how teacher can change in teaching composition writing practice and  
evaluating the student‟s text to conform to that point. In addition, the article also  
proposes some ideas about compiling the composition writing in language arts and  
literature textbooks.  
Key words: teaching composition writing, competency-based education, practise,  
evaluate  
1. Đặt vấn đề  
528  
Từ năm 1975 đến nay, giáo dục phổ thông đã trải qua hai lần thay sách giáo  
khoa (SGK) (năm 1981 và 2002) nhƣng chƣơng trình, cách dạy học và cách đánh giá  
vẫn chƣa tạo ra những chuyển biến có tính chất “cách mạng” trong giáo dục. Chúng ta  
có thể nhận thấy sự chi phối của định hƣớng nội dung việc chƣơng trình dạy học hiện  
nay chú trọng trang bị cho học sinh (HS) hệ thống tri thức khoa học thuộc nhiều lĩnh  
vực; nhƣng lại chƣa quan tâm thật sự đến đối tƣợng ngƣời học và khả năng vận dụng tri  
thức vào thực tiễn. Việc xây dựng chƣơng trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 theo  
định hƣớng phát triển năng lực ngƣời học (định hƣớng năng lực) – “chuyển mạnh quá  
trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm  
chất ngƣời học” [2] – là một sự thay đổi đúng đắn, kịp thời, phù hợp với xu hƣớng của  
những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.  
2. Từ định hƣớng năng lực, nhìn lại việc dạy học Làm văn ở trung học phổ thông  
(THPT) hiện nay  
Theo định hƣớng năng lực, môn Ngữ văn sau năm 2015, bên cạnh việc quan tâm đến  
những năng lực chung, sẽ phải chú ý đến những năng lực đặc trƣng của môn học là  
năng lực tiếp nhận văn bản (gồm các kĩ năng đọc, nghe, quan sát) và năng lực tạo lập  
văn bản (gồm các kĩ năng nói, viết,trình bày) [3]. Từ đó hình thành và phát triển ở HS  
năng lực giao tiếp và năng lực để quan sát, phân tích trong khi luyện tập các thao tác lập  
luận trong văn nghị luận.  
- Không chỉ chú trọng về kĩ năng viết, chƣơng trình cũng đã quan tâm đến việc  
rèn luyện cho HS kĩ năng nói, trình bày, bàn bạc một vấn đề trƣớc một hay nhiều ngƣời  
bằng ngôn ngữ nói trong một số bài học nhƣ: Trình bày một vấn đề (lớp 10), Phỏng vấn  
và trả lời phỏng vấn (lớp 11), Phát biểu theo chủ đề, Phát biểu tự do (lớp 12)… Cả nói  
và viết đều là những kĩ năng quan trọng, thể hiện năng lực giao tiếp của HS, nhƣng  
trong chƣơng trình, số lƣợng những bài học về kĩ năng nói còn rất hạn chế. Hơn nữa,  
trong quá trình dạy học, nội dung các bài này phần lớn đƣợc tiến hành dạy bằng cách  
cho HS quan sát các ngữ liệu, phân tích ngữ liệu, rút ra các kết luận cần thiết, sau đó  
luyện tập bằng một vài bài tập đơn giản có trong sách giáo khoa (SGK). Nhƣ vậy, HS  
đƣợc tiếp thu thông tin nhiều hơn là vận dụng thông tin để trau dồi kĩ năng nói, trình  
bày.  
- Khâu kiểm tra, đánh giá chƣa thực sự hƣớng vào việc đánh giá năng lực tạo lập  
văn bản của HS. Kĩ năng đƣợc chú trọng kiểm tra là kĩ năng viết. Các văn bản viết do  
HS tạo lập (bài làm) chủ yếu đƣợc đánh giá về khả năng tái hiện tri thức. Một bài làm  
đạt yêu cầu trƣớc hết phải là bài làm mà HS nhớ đƣợc nhiều và chính xác các thông tin  
đã đƣợc tiếp thu. Các kĩ năng sử dụng từ, viết câu, đoạn, lập luận, trích dẫn… của HS  
529  
vẫn đƣợc xem xét, nhƣng thƣờng dựa trên đánh giá chủ quan của ngƣời chấm chứ  
không phải dựa trên một bản đánh giá với những tiêu chí, thang điểm cụ thể cho từng kĩ  
năng.  
Bên cạnh đó, nội dung và hình thức các đề làm văn hiện nay đã có thay đổi (theo  
hƣớng đề mở), chú ý hơn đến việc để HS có thể sáng tạo trong cách viết và tự do thể  
hiện suy nghĩ của bản thân. Nhƣng sự thay đổi tích cực này chủ yếu đƣợc áp dụng cho  
các kì thi mà đối tƣợng là một số ít HS đƣợc rèn luyện nhiều về kĩ năng làm văn, nhƣ  
HS giỏi, HS thi vào đại học chuyên ngành ngôn ngữ, văn học, văn hoá… Còn trong  
kiểm tra đánh giá thƣờng xuyên và ngay cả ở các kì thi tốt nghiệp THPT, đề thi chủ yếu  
vẫn theo định hƣớng nội dung với những hình thức quen thuộc, ví dụ nhƣ: Phân tích  
diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật Mị qua cảnh đêm mùa xuân Mị muốn đi  
chơi và bị trói trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài (trích đề thi tốt nghiệp THPT  
môn Ngữ văn năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) hay Phân tích hình tƣợng sông  
Đà trong tác phẩm Ngƣời lái đò Sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân (trích đề thi tốt  
nghiệp THPT môn Ngữ văn năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo). Với những đề văn  
nhƣ trên, HS không phải suy nghĩ nhiều để giải quyết vấn đề, không có sự hứng thú,  
sáng tạo, chỉ cần tái hiện những thông tin về hình tƣợng đã đƣợc giáo viên (GV) dạy  
trên lớp sao cho đầy đủ, chính xác.  
- Mặc dù HS đƣợc học và rèn luyện nhiều về kĩ năng viết trong trƣờng phổ  
thông nhƣng trong thực tế, nhiều HS vẫn lúng túng khi đƣợc yêu cầu viết một lá đơn,  
một biên bản, hay lập một kế hoạch, phân tích một văn bản chƣa đƣợc học trong chƣơng  
trình… Điều đó cho thấy khả năng ứng dụng của việc dạy học Làm văn vẫn còn hạn  
chế.  
Nhìn chung, việc dạy học Làm văn ở THPT hiện nay chủ yếu vẫn theo định  
hƣớng nội dung, còn nhiều điểm chƣa phù hợp với đặc trƣng của hoạt động tạo lập văn  
bản. Vì vậy, khi chƣơng trình Ngữ văn đƣợc biên soạn theo định hƣớng phát triển năng  
lực, việc dạy học Làm văn cũng cần có những thay đổi cho phù hợp. Trong bài viết này,  
chúng tôi muốn bàn đến sự thay đổi ở hai khía cạnh là việc dạy thực hành làm văn và  
việc đánh giá bài làm của HS.  
3. Những vấn đề cần lƣu ý khi dạy học Làm văn theo định hƣớng phát triển năng  
lực  
3.1. Dạy thực hành Làm văn  
Làm văn là quá trình mang tính tích hợp cao và thể hiện rõ sự sáng tạo của HS.  
Bởi lẽ bản thân việc vận dụng ngôn ngữ để nói, viết, trình bày tƣ tƣởng của một cá nhân  
trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể là hoạt động mang tính sáng tạo. Bên cạnh đó,  
530  
trong khi thực hành làm văn, HS sẽ phải vận dụng những kiến thức về tiếng Việt, văn  
học, kinh nghiệm sống và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ để thể hiện suy nghĩ, quan điểm  
của bản thân trƣớc một vấn đề. Do vậy, không khó để chúng ta nhận thấy tính tích hợp  
của nhiều kiến thức, kĩ năng và thái độ của ngƣời học trong quá trình làm văn. Thiết  
nghĩ, việc dạy thực hành làm văn muốn đạt hiệu quả trƣớc hết cần nắm đƣợc hai đặc  
trƣng cơ bản này.  
Từ việc tìm hiểu các phƣơng pháp dạy học tích cực, chúng tôi nhận thấy hƣớng  
dẫn HS thực hành tạo lập văn bản qua các dự án là một hình thức phù hợp với những  
đặc trƣng trên đồng thời cũng phù hợp với định hƣớng phát triển năng lực. Dạy học theo  
dự án không còn là một vấn đề mới mẻ đối với nhiều môn học. Ở đây, chúng tôi muốn  
nhấn mạnh hình thức này nên đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, phổ biến nhƣ là một hoạt  
động đặc trƣng của dạy thực hành làm văn vì một số lí do cơ bản sau đây:  
Thứ nhất, hình thức này khắc phục đƣợc tình trạng lặp lại đơn điệu của những  
dạng bài tập về làm văn, ví dụ: Hãy lập dàn ý cho bài văn nghị luận với đề bài sau  
đây…, Hãy diễn đạt một luận điểm trong phần thân bài của dàn ý vừa lập thành một  
đoạn văn…, Phân tích cách bác bỏ/ cách bình luận trong các đoạn văn sau…, Chỉ ra  
những từ ngữ dùng không phù hợp trong đoạn văn sau, thay thế bằng những từ ngữ  
thích hợp với yêu cầu của văn nghị luận và vấn đề cần nghị luận. Viết lại đoạn văn sau  
khi đã sửa lại những từ ngữ không thích hợp...  
Thứ hai, khi đƣợc thực hành bằng các dự án, HS sẽ ý thức rõ hơn tính chất liên  
kết giữa các đơn vị bài học về một dạng văn bản nào đó để có thể phối hợp các kĩ năng  
đã đƣợc học một cách hiệu quả. Chẳng hạn những kĩ năng mà HS đƣợc học trong từng  
bài Tính chuẩn xác và hấp dẫn của văn bản thuyết minh, Phƣơng pháp thuyết minh,  
Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh, Tóm tắt văn bản thuyết minh… sẽ cùng đƣợc thể  
hiện khi HS đƣợc phân công vào các vai với những công việc cụ thể để tiến hành thực  
hiện một dự án liên quan đến việc thuyết minh.  
Thứ ba, hình thức thực hành này giúp HS rèn luyện kĩ năng làm việc hợp tác với  
các thành viên trong nhóm, phát huy đƣợc tính sáng tạo, tƣ duy phê phán trong khi thực  
hiện dự án. HS sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong cách tiến hành, cách sử dụng ngôn ngữ  
để thể hiện sản phẩm… tuỳ theo năng lực của mỗi cá nhân và sự thống nhất ý kiến trong  
nhóm.  
Cuối cùng, hình thức này giúp cho việc dạy học Làm văn gắn liền với thực tế  
cuộc sống hơn. Bởi lẽ một trong những bản chất của các dự án trong dạy học là tính  
thực tiễn. Nhƣ vậy, với các văn bản nhật dụng, văn bản thuyết minh, tự sự hay nghị luận  
về một vấn đề trong xã hội, có lẽ ý tƣởng cho các dự án không ít; nhƣng với văn bản  
531  
nghị luận về một vấn đề trong văn học thì GV cần lựa chọn các dự án thể hiện đƣợc tinh  
thần tích hợp giữa văn học, thực tiễn và làm văn.  
3.2. Đánh giá bài văn của HS  
Trong dạy học theo định hƣớng năng lực, đánh giá kết quả học tập của HS  
không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện thông tin đã biết làm trọng tâm mà chú trọng  
khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống cụ thể. Thiết nghĩ, việc  
đánh giá bài văn của HS cũng cần có những thay đổi cho phù hợp với định hƣớng chung  
này.  
Khâu quan trọng nhất trong việc đánh giá chính là ra đề. Đối với phần Làm văn,  
đổi mới trong cách ra đề nghị luận văn học cần đƣợc quan tâm hơn hết để khắc phục  
tình trạng “lối mòn” trong đề văn nhƣ đã phân tích ở trên. “Để đổi mới, một trong  
những điểm cần chú ý là cần thay đổi cách hỏi, cách nêu vấn đề. Cùng một tác phẩm,  
cho dù là tác phẩm đã học, nhƣng có nhiều cách hỏi, cách khai thác dƣới nhiều góc độ  
và yêu cầu khác nhau khiến cho vấn đề nêu lên mới mẻ, buộc HS phải suy nghĩ, tìm tòi  
và sáng tạo”[4, tr.75]. Để HS không bất ngờ, lúng túng khi kiểm tra, những cách hỏi,  
cách đặt vấn đề mới cần đƣợc thực hiện thƣờng xuyên trong quá trình dạy thực hành  
làm văn. Vấn đề có thể nằm trong một văn bản cụ thể hay nhiều văn bản cùng đề tài,  
cùng giai đoạn sáng tác; có thể là một vấn đề văn học hoặc vấn đề xã hội đƣợc đặt ra  
trong văn bản… Chúng tôi trích ra đây hai đề làm văn đƣợc gợi ý [4, tr.77-78] về tác  
phẩm Sóng (Xuân Quỳnh) để làm ví dụ:  
(1) Những xúc cảm trong tình yêu thƣờng mang tính phổ quát nhƣng mỗi nhà  
thơ lại có cách nói riêng. Đâu là cách nói riêng của Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng?  
(2) Về các chữ xuôi, ngược và phương trong khổ thơ:  
“Dẫu xuôi về phƣơng bắc  
Dẫu ngƣợc về phƣơng nam  
Nơi nào em cũng nghĩ  
Hƣớng về anh – một phƣơng”  
Với những đề văn mang tính gợi mở nhƣ thế, HS sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong  
việc vận dụng kiến thức, kĩ năng, cách diễn đạt và quan trọng là đƣợc thể hiện suy nghĩ,  
cảm nhận của chính bản thân trƣớc một vấn đề.  
Cùng với việc đổi mới cách ra đề, đáp án cũng cần có nhiều gợi mở về nội  
dung, tôn trọng ý kiến và lí lẽ của ngƣời viết. Các nội dung đánh giá cần đƣợc đƣa ra  
với các tiêu chí cụ thể, chẳng hạn nhƣ [8, tr. 216-217]:  
532  
Về nội dung bài viết: xác định đƣợc luận đề trong đoạn mở đầu; tránh đƣợc  
việc nêu các thông tin không liên quan hay thông tin tóm tắt; đƣa ra đƣợc những nhận  
định sâu sắc và những hiểu biết thấu đáo về văn bản; giải quyết đƣợc tất cả các khía  
cạnh của đề bài, xác định đƣợc trọng tâm; nêu đƣợc những dẫn chứng phù hợp, hỗ trợ  
hữu hiệu cho luận đề; giải thích, phân tích một cách thuyết phục và sâu sắc các dẫn  
chứng; việc lựa chọn các dẫn chứng cho thấy HS nắm toàn bộ văn bản thay vì chỉ một  
phần.  
Về hình thức bài viết: thể hiện rõ bố cục; trình bày các đoạn văn rõ ràng, dễ  
đọc; đáp ứng yêu cầu về độ dài.  
Về diễn đạt: các đoạn văn có câu chủ đề rõ ràng; chuyển ý giữa các đoạn văn  
một cách mạch lạc; hạn chế lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp; hạn chế dùng các từ ngữ khó  
hiểu, hạn chế viết các câu, đoạn dài dòng.  
Dựa trên những tiêu chí đó, GV xây dựng thang điểm đánh giá cho từng nội  
dung với các mức độ tốt, trung bình, dƣới trung bình (có thể sử dụng thang điểm 100 để  
thuận lợi cho việc xây dựng thang điểm cũng nhƣ chấm điểm, sau đó quy đổi kết quả về  
thang điểm 10).  
Ngoài ra, dạy học Làm văn cần quan tâm đến việc đa dạng hoá hình thức đánh  
giá quá trình. Thay vì chỉ dựa trên các bài viết, GV còn có thể đánh giá kĩ năng tạo lập  
văn bản của HS qua bài trình bày trƣớc lớp, bài trình diễn sản phẩm của dự án… Nhƣ  
vậy, việc đánh giá không chỉ chú trọng vào kĩ năng viết mà còn hƣớng đến cả kĩ năng  
nói và trình bày.  
4. Một số đề xuất đối với việc biên soạn nội dung Làm văn trong SGK Ngữ văn  
Trên cơ sở những phân tích ở trên, chúng tôi nêu lên một số ý kiến sau đây đối  
với việc biên soạn SGK Ngữ văn:  
- Bổ sung vào chƣơng trình những dạng văn bản mà HS đƣợc tiếp xúc và sử  
dụng nhiều trong cuộc sống nhƣ: văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận, hành  
chính, báo chí, sinh hoạt (thƣ, tin nhắn, nhật kí…); việc bổ sung này cần đƣợc thể hiện ở  
cả phần Đọc – hiểu văn bản (qua các văn bản cụ thể) và phần Làm văn;  
- Các kĩ năng làm văn cần đƣợc sắp xếp phù hợp với từng bậc học, từng khối  
lớp, tránh trƣờng hợp không có sự nối tiếp hoặc trùng lặp; xác định rõ ở bậc THCS HS  
đƣợc thực hành tạo lập những dạng văn bản nào, dạng nào phù hợp với khả năng tƣ duy  
của HS THPT;  
533  
- Thời lƣợng cho phần Làm văn cần phù hợp, cân đối với phần văn bản và tiếng  
Việt, tránh trƣờng hợp các văn bản đọc – hiểu nhiều, thời gian dành cho việc thực hành  
làm văn bị rút ngắn;  
- Bên cạnh những bài tập đơn giản để HS rèn luyện thuần thục một kĩ năng, nên  
bổ sung các bài tập làm văn dạng tình huống mang tính thực tiễn;  
- Có thể thay đổi tên gọi của phần Làm văn để tránh việc hiểu một cách phiến  
diện làm văn chỉ là viết bài văn nghị luận, cũng để phù hợp hơn với mục đích hình  
thành cho HS năng lực tạo lập các loại văn bản.  
5. Kết luận  
Trên đây là suy nghĩ của chúng tôi về một số vấn đề GV cần thay đổi trong hoạt  
động hƣớng dẫn thực hành và đánh giá bài văn của HS để phù hợp với việc dạy học  
Làm văn theo định hƣớng phát triển năng lực ngƣời học. Tuy nhiên, để việc thay đổi  
này thực sự có hiệu quả thì bản thân GV cần nhận thức đúng đắn tinh thần của việc dạy  
học hƣớng đến năng lực ngƣời học, từ đó xác định rõ mục đích, mục tiêu cụ thể của  
môn học Ngữ văn và của phần Làm văn. Bên cạnh đó, còn có những yếu tố khách quan  
có thể tác động đến hiệu quả của việc đổi mới trong dạy học Làm văn nhƣ: chƣơng trình  
SGK Ngữ văn, tính tích hợp của các phần trong môn Ngữ văn, những quy định về kiểm  
tra, đánh giá tổng kết (thi học kì, thi tốt nghiệp) đối với môn Ngữ văn…  
534  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Ngữ văn 10 (Tập 1, 2), Ngữ văn 11 (Tập 1, 2), Ngữ  
văn 12 (Tập 1, 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành  
Trung ƣơng Đảng khóa XI, (Nghị quyết số 29-NQ/TW), Hà Nội.  
3. Đỗ Ngọc Thống (2012), “Chƣơng trình Ngữ văn trong nhà trƣờng phổ thông Việt  
Nam và hƣớng phát triển sau 2015”.  
4. Đỗ Ngọc Thống (2012), “Định hƣớng về đổi mới kiểm tra, đánh giá bộ môn Ngữ  
văn ở trƣờng trung học phổ thông chuyên”, Tài liệu chuyên văn, Nxb Giáo dục Việt  
Nam, tr.67-79.  
5. Đỗ Ngọc Thống (2014), “Tiếng Việt trong chƣơng trình giáo dục phổ thông sau năm  
2015”, Tạp chí Ngôn ngữ, 1 (296), tr. 28-36.  
6. Hoàng Thị Tuyết (2013), “Phát triển chƣơng trình đại học theo cách tiếp cận năng  
lực – Xu thế và nhu cầu”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, 9 (19), tr.80-87.  
7. Argüelles, Antonio&Gonczi, Andrew (2000), Competency Based Education and  
Training: A World Perspective, Editorial Limusa.  
8. Peter, Filene (2008), Niềm vui dạy học (The joy of teaching) – Hƣớng dẫn thực hành  
cho tân giảng viên đại học, Tô Diệu Lan, Trần Nữ Mai Thy dịch, Nxb Văn hoá Sài  
Gòn.  
9. Robert, Connors & Cheryl, Glenn (1999), The St. Martin‟s Guide to Teaching  
Writing,  
Bedford/St  
Martin‟s,  
Bosto  
535  
pdf 8 trang baolam 21100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dạy học làm văn ở trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfday_hoc_lam_van_o_trung_hoc_pho_thong_theo_dinh_huong_phat_t.pdf