Hình tượng “nhân vật nữ nổi loạn” trong tiểu thuyết của Nhất Linh (thời kì tự lực văn đoàn)

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 7 (2021): 1191-1199  
Vol. 18, No. 7 (2021): 1191-1199  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
HÌNH TƯỢNG “NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN”  
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHẤT LINH (THỜI KÌ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN)  
Nguyễn Thị Hoàng Mai  
Trường Phổ thông Năng khiếu, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Hoàng Mai – Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 31-3-2021; ngày nhận bài sửa: 05-4-2021; ngày duyệt đăng: 22-7-2021  
TÓM TẮT  
“Nhân vật nữ nổi loạn” là kiến tạo mới của Nhất Linh, phát triển hình tượng nhân vật nữ  
Việt Nam trong hệ quy chiếu với văn học truyền thống, cho thấy sự nhạy bén của nhà cách tân  
trước những đổi mới của đời sống văn hóa xã hội tiền bán thế kỉ XX – vấn đề phụ nữ. Bằng phương  
pháp nghiên cứu văn học sử và phương pháp nghiên cứu hệ thống, bài viết này trình bày “vấn đề  
phụ nữ” với kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Tự lực văn đoàn và trong tiểu thuyết của Nhất Linh để  
cho thấy Nhất Linh công tâm nhìn nhận lại vai trò, vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã  
hội, bước đầu đặt nền móng cho những chặng đường xác lập bình đẳng giới và tiến tới nữ quyền  
trong văn học Việt Nam sau này. Đây là sự vận động mạnh mẽ và tiến bộ trong quan điểm thẩm mĩ  
cũng như tư duy, nhận thức của nhà văn, ghi lại một dấu ấn quan trọng trong tiến trình văn học  
nước nhà.  
Từ khóa: bình đẳng giới; Nhất Linh; nhân vật nữ nổi loạn; Tự lực văn đoàn; vấn đề phụ nữ  
1.  
Đặt vấn đề  
Con người là điểm xuất phát, vừa là đối tượng khám phá chủ yếu vừa là cái đích cuối  
cùng của văn học; đồng thời cũng là điểm quy chiếu và là thước đo giá trị của mọi vấn đề  
xã hội, sự kiện và biến cố xã hội. Nguồn gốc sâu xa của tiến trình đổi mới văn học nói  
chung, của một tác giả cách tân nói riêng đều bắt nguồn từ trong cảm hứng sáng tạo, trong  
quan niệm nghệ thuật và trong tư duy nghệ thuật về con người.  
Trong bối cảnh xung đột và giao thoa mạnh mẽ văn hóa Đông – Tây ở Việt Nam đầu  
thế kỉ XX, có thể thấy những chuyển biến rõ rệt về nhân sinh quan và quan điểm nghệ  
thuật của đội ngũ sáng tác Tự lực văn đoàn, thể hiện rõ nhất ở thủ lĩnh Nhất Linh. Một  
trong những biểu hiện ấy là cách ông nghiêm túc và có hệ thống nhìn nhận, định vị lại  
người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến văn học trong  
Cite this article as: Nguyen Thi Hoang Mai (2021). The depiction of “Rebellious female character” in Nhat  
Linh novels (Tu luc van doan period). Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, 18(7),  
1191-1199.  
1191  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1191-1199  
giai đoạn này, góp phần tạo nên một loạt các nhân vật khá nhất quán về cách hành xử mà  
chúng ta có thể gọi là “nhân vật nữ nổi loạn”, một dấu ấn trong tiến trình văn học dân tộc.  
2.  
Giải quyết vấn đề  
2.1. “Vấn đề phụ nữ”  
Như một dạng thức nhân vật, người phụ nữ từ lâu đã có mặt trong văn học Việt Nam,  
đặc biệt nổi bật lên từ thế kỉ XVIII-XIX. Thế nhưng, dù là nhân vật chính hay nhân vật  
phụ, họ đều được xây dựng như những nạn nhân của số phận (thuyết tài mệnh) trong xã hội  
cường quyền và nam quyền, hay để chứng minh cho phẩm chất công dung ngôn hạnh, tiết  
liệt, thủy chung, tuyệt nhiên không có tiếng nói riêng. Và như thế, người phụ nữ không  
được đặt ra như “vấn đề” của xã hội. Bước sang thế kỉ XX, vấn đề này thực sự được đặt ra.  
Mới đầu là báo chí, sau đó là văn học, hai mặt trận sát cánh và tương hỗ nhau.  
Cuối thế kỉ XIX – bước sang thế kỉ XX, phong trào đấu tranh vì quyền lợi của phụ  
nữ diễn ra ngày càng rộng khắp trên thế giới và ảnh hưởng đến Việt Nam, trước tiên là báo  
chí. Trong ba làn sóng của phong trào Nữ quyền thì đây là khoảng thời gian của làn sóng  
thứ nhất, tập trung vào đấu tranh đòi quyền bình đẳng cơ bản: bình đẳng xã hội, bình đẳng  
đạo đức, quyền bầu cử... Ở Việt Nam giai đoạn này, những đòi hỏi cho phụ nữ cũng không  
thể đi xa hơn thế.  
Tiếng nói của người phụ nữ lần đầu tiên được chính thức vang lên vào năm 1918,  
trên tờ báo Nữ giới chung (Tiếng chuông của nữ giới) của nữ chủ bút Sương Nguyệt Anh  
(1864-1921). Tờ báo đề cao vai trò phụ nữ trong xã hội, đòi nam nữ bình quyền, lấy gương  
sáng của phụ nữ Tây Âu để khuyến khích chị em. Tiếp theo, hàng loạt dòng báo “nữ lưu”  
ra đời: Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân tiến, Đàn bà mới…, cùng với đó là  
những tên tuổi như Đạm Phương nữ sử (1881-1947), Huỳnh Thị Bảo Hòa (1896-1982),  
những bậc nữ lưu tiến bộ thời bấy giờ ở Trung Kỳ đều viết về phụ nữ; hoặc Phan Thị Bạch  
Vân (1903?-?) với Nữ lưu thơ quán ở Nam Kỳ. Tất cả cho thấy “vấn đề phụ nữ là vấn đề  
quan trọng trong những vấn đề xã hội, có mật thiết liên lạc với nền tảng kinh tế chính trị  
của xã hội loài người” (Nguyen, 1938, p.3).  
Cùng với chị em, cánh đàn ông cũng lên tiếng. Trong cuốn sách viết năm 1929, Phan  
Bội Châu khẳng định “vấn đề phụ nữ” cần phải đặt bên cạnh những vấn đề xã hội khác:  
“Phụ nữ là một hạng người ở trong loài người, cũng là một xuất dân ở trong dân nước [...],  
muốn nghiên cứu vấn đề về loài người và vấn đề về quốc dân mà lại bỏ vấn đề phụ nữ,  
thiệt là khuyết điểm cho nhà luân lí, và đến khi cải lương xã hội, thiệt là một chốn tệ hại rất  
to” (Phan, 1929, p.1). Trên tờ Phụ nữ Tân văn, từ 1929 đến 1931 lần lượt xuất nhiều ý kiến  
của Phan Khôi quan tâm về vấn đề này – về sau được tập hợp trong Phan Khôi – Vấn đề  
phụ nữ   nước ta (Lại Nguyên Ân giới thiệu và biên soạn, NXB Phụ nữ, 2 1 ).  
Trong bối cảnh như thế, với chủ trương canh tân đất nước và đổi mới văn học, cùng  
định hướng sáng tác chú trọng cải cách xã hội, tự do cá nhân, các nhà trí thức Tây học Tự  
lực văn đoàn thực sự ý thức được trọng trách của mình trong việc xây dựng hình tượng  
1192  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Hoàng Mai  
nhân vật nữ hợp với thời cuộc, nhập thời cuộc. Một khi thời cuộc đã có những tâm thế như  
thế, con người như thế, tất yếu họ phải bước vào trang sách, để thấy được hình bóng của  
cuộc đời và bước đi của lịch sử.  
Lật lại những trang sáng tác của Nhất Linh, ta dễ nhận thấy một hệ thống nhân vật nữ  
căn bản khác về chất so với loại nhân vật này trước đây trong văn học Việt Nam, thậm chí,  
đậm nét hơn so với nhân vật nữ của các thành viên trong nhóm Tự lực văn đoàn, nổi bật ở  
tính chất “nổi loạn”, tiềm tàng trong hầu hết các nhân vật nữ chính diện của ông, trình hiện  
trong không gian gia đình lẫn suy tư về xã hội.  
2.2. Kiểu “nhân vật nữ nổi loạn” của Tự lực văn đoàn  
Loại hình nhân vật nổi loạn không xa lạ với văn học nhân loại. Nhưng ở đây không  
phải là kiểu nhân vật siêu nhân (Lucifer, Satan...) chống lại Chúa Trời hay người anh hùng  
nổi dậy (Spartacus, Jacquou...) đánh đổ vương quyền, chúa đất. Cũng không phải là loại  
nhân vật “thức dậy sớm” (Hamlet) báo hiệu một thời đại mới, mà là một kiểu phổ biến của  
thế kỉ XX: nổi loạn là sự phản ứng với các giá trị truyền thống, những định kiến xã hội kìm  
hãm tự do cá nhân, để được sống với giá trị đích thực của mình. Và đối với phái nữ, bên  
cạnh sự đấu tranh bình đẳng với nam giới, còn là hành trình đi tìm bản thân, chống lại con  
người cam chịu trong mình, khẳng định vị thế xã hội như một thực thể độc lập.  
Nhiều “nhân vật nữ nổi loạn” được khắc họa rõ nét trong văn học thế giới, trở thành  
những hình tượng trác tuyệt và bất diệt: Jane Eyre trong tiểu thuyết cùng tên của Charlotte  
Brontë, Hester Prynne trong Kí tự màu đỏ của Nathaniel Hawthorne, Scarlett O'Hara trong  
Cuốn theo chiều gió của Margaret Mitchell, Becky trong Hội chợ phù hoa của William  
Makepeace Thackeray, Bovary của Gustave Flaubert, Anna Karenina của Lev Tolstoi...  
Tất cả đều không chịu ở yên trong khuôn khổ cho phép, bằng những cách khác nhau, họ  
dấn thân vào cuộc hành trình đi tìm bản thân, và, ở những mức độ khác nhau, họ đã khẳng  
định được vị thế của mình trong xã hội.  
Tuy nhiên, những gương mặt như thế chưa phải là nhân vật nữ nổi loạn của Tự lực  
văn đoàn nói chung và của Nhất Linh nói riêng. Mỗi thời đại có vấn đề của nó. “Vấn đề  
phụ nữ” của non nửa thế kỉ XX tại Việt Nam là sự thức tỉnh cá nhân, vì thế nhân vật nữ nổi  
loạn được xây dựng vừa như những nạn nhân của chế độ phong kiến gia trưởng, vừa như  
sự thức tỉnh cá nhân, bắt đầu khẳng định mình trong khung cảnh gia đình cũng như xã hội.  
Những thập niên đầu thế kỉ XX, trong lòng xã hội Việt Nam chứa đựng tiềm năng  
bùng nổ xung đột của “gió Đông – gió Tây”, cũ – mới. Gió Tây trực tiếp tấn công vào vị  
thế độc quyền của tư tưởng Nho giáo vốn tồn tại cả nghìn năm phong kiến, đem đến luồng  
tư tưởng cởi mở, nhất là trong cách nhìn người phụ nữ. Tuy nhiên, tư tưởng Nho giáo vẫn  
còn khá vững chắc trong thành trì cuối cùng của nó: gia đình. Sự giam hãm của thành trì  
này tất nhiên liên quan đến người phụ nữ, như khẳng định tính chất bền vững của chế độ  
gia trưởng, củng cố uy quyền của nam giới. Bản thân người phụ nữ, sống lâu trong sự trói  
buộc, đã quen cam chịu, chấp nhận tất các định kiến. Thông qua nếp nghĩ, cách dạy dỗ con  
1193  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1191-1199  
cháu của thế hệ người lớn tuổi như những bà Phán, bà Án..., ta có thể hình dung những  
người trước khi thành những bậc “mẫu nghi” (cả mẹ đẻ lẫn mẹ chồng) ấy từng thủ thúc  
trước sự thống trị của nam giới, từng an phận phục tùng, để rồi sau đó lấy những kinh  
nghiệm mình từng trải qua để áp đặt đời sau, dùng Gia huấn, Nữ huấn dạy dỗ con cái, lấy  
cái “gia phong” để đánh giá phẩm chất thế hệ sau. Đối trọng với những hình tượng phụ nữ  
thủ cựu là các nhân vật nữ tân thời – thế hệ cháu con. Vậy, xung đột ở đây chính là xung  
đột giữa cũ và mới, giữa định kiến gia trưởng với khát khao bứt phá những ràng buộc.  
Như vậy, có thể thấy rằng, “vấn đề phụ nữ” của xã hội Việt Nam những năm  
1900-1945 đã quy định nên cơ cấu xây dựng nhân vật nữ nổi loạn trong tiểu thuyết của  
Nhất Linh.  
2.3. Hình tượng “nhân vật nữ nổi loạn” của Nhất Linh  
Không chỉ so với các tác phẩm truyền thống có nhân vật phụ nữ (Truyện thơ Nôm  
Giai nhân tài tử), mà so ngay với tác phẩm của các nhà văn khác trong Tự lực văn đoàn,  
Nhất Linh tỏ ra kiên tâm và mạnh mẽ hơn trong việc kiến tạo hình ảnh người phụ nữ mới.  
Những Lan (Hồn bướm mơ tiên), Liên (Gánh hàng hoa) của Khái Hưng, hay Trinh (Ngày  
mới) của Thạch Lam... vẫn hiện lên trong khung hình “khắc kỉ phục lễ”: duyên dáng, dịu  
dàng đậm nét cổ truyền, an phận và giàu đức hi sinh, đè nén cá tính để hòa mình vào hình  
mẫu lí tưởng của số đông.  
Cũng như hầu hết tác phẩm của Tự lực văn đoàn, nội dung tiểu thuyết Nhất Linh  
xoay quanh câu chuyện tình yêu, hôn nhân, nhưng nhà văn xoáy sâu vào những rạn nứt của  
đời sống gia đình mà nguyên nhân là ngăn trở của lễ giáo cũ, là phản ứng của lớp người trẻ  
khẳng định nhu cầu tự do, phủ nhận con người chức năng trong luân thường đạo lí Nho  
giáo, đi tìm cái đẹp, cái giá trị trong cuộc sống Âu hóa. Trong ý nghĩa ấy, ta có những nhân  
vật mang phẩm tính “nổi loạn”.  
Loan trong Đoạn tuyệt là một kiểu nổi loạn có ý thức. Sự nổi loạn này diễn ra khá  
nhất quán, từ suy nghĩ, lời nói cho đến cả hành động. Ở nàng là một quan niệm sống hoàn  
toàn mới mẻ: “Việc gì phải hết hi vọng. Mẹ chồng ác thì đi chỗ khác mà ở, chồng ghét thì  
càng nên đi lắm. Khổ là vì mình cứ tưởng mình là thân con gái thì phải lấy gia đình chồng  
làm gia đình mình, nếu mất gia đình ấy là đời mình bỏ đi. Sao lại thế được. Mình sống,  
muốn sống thì không thể sống một mình được sao, nếu cái gia đình kia không cho mình  
được sung sướng”. (Ta, 2  4, p.15 ). Mong muốn “sống cái đời tự do rộng rãi, không gì  
bó buộc”, Loan luôn có những hành động thể hiện sự “nổi loạn” đi ra ngoài cái khuôn khổ  
và chuẩn mực của gia đình chồng. Ví dụ, ngay trong buổi lễ tơ hồng, nàng “thản nhiên  
ngồi ngang hàng với Thân” (Ta, 2  4, p.2 2). Khi vào cửa nhà chồng, thay vì phải bước  
qua cái hỏa lò, nàng lại “vờ như vô ý lấy chân hất đổ cái hoả lò” (Ta, 2  4, p.2 2). Ngay  
cả việc nàng cố gắng tạo dựng một cuộc đời tự lập hòng xây dựng hạnh phúc với Thân  
cũng là một sự nổi loạn. Chẳng thế mà, khi nàng nói lên ý muốn của mình, Thân đã vô  
cùng kinh ngạc: “Chàng uể oải đứng lên như không buồn nghe lời vợ nói, song trong lòng  
1194  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Hoàng Mai  
sợ, vì thấy vợ có những ý tưởng lạ lùng mà không bao giờ chàng nghĩ tới” (Ta, 2  4,  
p.214). Không những thế, cái mới mà nhân vật Loan mang đến là tình yêu ngoài hôn nhân  
với kiểu nhân vật nổi loạn. Khác với Nhung, có tình yêu sau hôn nhân, Loan có tình yêu  
ngoài hôn nhân. Mặc dù là vợ Thân nhưng trong trái tim Loan chỉ có một tình yêu duy nhất  
dành cho Dũng. Trong ngày cưới, lúc Thân đến đón dâu, nàng thầm so sánh với Dũng.  
Đêm tân hôn hình ảnh của Dũng hiện ra trong tâm trí nàng. Loan nhớ đến Dũng khi bệnh  
nàng nguy kịch. Nàng tự coi mình là người vợ trong tinh thần của Dũng. Khái niệm này  
khá mới mẻ cho đến sáng tác của Nhất Linh. Loan đã cho mình quyền được ghen tuông với  
Dũng – ghen tuông như một người vợ ghen tuông chồng có tình nhân, khi bắt gặp chồng  
đứng nói chuyện với những cô gái khác. Cô so sánh Dũng với Thân, càng thấy Thân bất  
tài, vô dụng bao nhiêu thì càng yêu Dũng bấy nhiêu.  
Nhung trong Lạnh lùng là một kiểu nổi loạn khác. Nhung là một người phụ nữ phải  
sống cảnh góa chồng khi tuổi đời còn rất trẻ. Không những thế, nàng còn rất đẹp. Chính  
điều ấy đã khiến nàng không thể yên ổn với danh tiếng “tiết hạnh” mà người đời dành tặng  
cho nàng. Cuộc gặp gỡ với Nghĩa – một thầy giáo trẻ đã làm bùng lên ngọn lửa yêu đương  
và khao khát hạnh phúc trong Nhung. Nàng yêu Nghĩa với một tình yêu vừa mãnh liệt vừa  
đau khổ và dằn vặt. Bởi lẽ, mang danh một người phụ nữ tiết hạnh, Nhung không có những  
hành động nổi loạn mang tính khiêu khích và thách đố như Loan. Nhưng cuộc sống góa  
bụa với tiếng thơm của một người phụ nữ đức hạnh, thủy chung đã không khiến nàng an  
phận. Cuối cùng, nàng chọn cách nổi loạn trong bóng tối, nàng ngoại tình với Nghĩa.  
Tuy nhiên, những nhân vật ấy nổi loạn là để đấu tranh cho quyền được sống, được  
yêu là những quyền chính đáng của con người cá nhân khi thấy “cái áo” của những lễ giáo  
phong kiến đã quá chật đối với họ. Cuộc nổi loạn của họ được đồng tình, được cảm thông,  
thậm chí được ca ngợi. Nhưng Nhất Linh là nhà văn của những cái mới, ông không bao giờ  
bằng lòng với những cái mình đang có và đã đạt được. Thành công của những cuốn tiểu  
thuyết luận đề không làm cho Nhất Linh thỏa mãn. Ông muốn thể nghiệm những điều mới.  
Và trong tiểu thuyết, đó là những nhân vật nổi loạn đến mức cực đoan, thậm chí “vô luân”  
như nhận định của một số nhà nghiên cứu. Nhất Linh muốn tạo ra những nhân vật hoàn  
toàn mới – những nhân vật chưa từng có trong văn học. Đó là những nhân vật chỉ biết đến  
mình và sống vì mình mà không cần quan tâm đến người khác và bất chấp mọi hậu quả.  
Nhân vật tiêu biểu nhất cho kiểu nhân vật nổi loạn này là Tuyết trong Đời mưa gió mà  
Nhất Linh viết chung với Khái Hưng (và nếu xét nhân vật nam thì là Trương trong  
Bướm trắng).  
Tuyết trong Đời mưa gió là một cô gái lịch lãm, xuất thân trong một gia đình giàu có,  
được giáo dục đàng hoàng theo lối phương Tây. Cô không chỉ xinh đẹp, biết cách ăn mặc  
mà còn có học vấn, tri thức Tây học, đặc biệt rất tinh tế trong hưởng thụ đời sống vật chất  
và tinh thần, rất có óc thẩm mĩ từ cách ăn uống đến trang hoàng nhà cửa. Cuộc đời của  
Tuyết có lẽ sẽ rất rạng rỡ nếu nàng không gặp một cú sốc, một sự kiện đã khiến bản ngã  
1195  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1191-1199  
trong con người nàng phải đứng trước lựa chọn khó khăn: cuộc hôn nhân không mong  
muốn với một người chồng ngu dốt trong một gia đình trưởng giả, cổ lỗ. Sự kiện ấy cùng  
với môi trường sống trong nhà chồng đã xung đột gay gắt với định hướng sống, khát vọng  
sống vốn tràn trề mạnh mẽ từ bản ngã ý thức của nàng. Và nàng đã phản ứng bằng nổi  
loạn, nổi loạn một cách cực đoan: Tuyết bỏ nhà đi theo người tình, kể từ đó sống đời mưa  
gió. Trong cuộc xung đột giữa môi trường sống khắt khe nghiệt ngã và bản ngã của một cái  
tôi tự do, Tuyết đã không cố gắng xây dựng cuộc sống mới để dẫn đến ngộ sát chồng như  
Loan, nàng cũng không chấp nhận cuộc sống tiết hạnh giả tạo để ngoại tình trong bóng tối  
như Nhung “nàng đòi hỏi một sự giải phóng “triệt để” khỏi gia đình nói chung như một tế  
bào của xã hội, chối bỏ trách nhiệm làm vợ, làm mẹ” (Le, 2  3, p.44). Chính vì thế, với  
nàng, cuộc sống của một người đàn bà gắn liền với gia đình, với chức năng sinh sản thật  
đáng sợ: “Tuyết nghe câu nói mà rùng mình. Trời ơi, đẻ như thế thì có khác gì con lợn nái?  
Nếu người đàn bà mà chỉ có một việc đẻ thì đời thực tẻ ngắt” (Ta, 2004, p.500). Tuyết đã  
chọn nghe theo tiếng nói bên trong con người mình và từ chối mọi yêu cầu bên ngoài. Đây  
là một sự lựa chọn hoàn toàn có ý thức: bản ngã của Tuyết với năng lượng quá mạnh bất  
mãn trước thực tại và quyết định quay lưng, để rồi chỉ nghe theo những gì bản năng mách  
bảo. Từ đây, Tuyết bước vào cuộc sống “đời mưa gió” với tất cả những gì tự do nhất, cá  
tính nhất. Cho đến bấy giờ, trong văn học Việt Nam, chưa có một nhân vật nữ thứ hai nào  
dám thẳng thắn thể hiện một quan niệm sống táo bạo như nàng. Với nàng, con người nàng  
chỉ thuộc về một mình nàng, không chịu sự chi phối, ràng buộc hay sắp đặt của bất kì ai.  
Nàng nói: “Em đã thề với em rằng bao giờ em cũng sẽ là của em, từ thể phách cho chí tâm  
hồn”, “Những ý tưởng trong tiểu thuyết Thái Tây dạy em rằng em hoàn toàn là của em, em  
được tự do hành động như lòng sở thích” (Ta, 2004, p.508-509). Tự do như thế nên trong  
tình yêu nàng không thích sự ràng buộc. Yêu đối với nàng chỉ là “sự gặp gỡ của hai xác  
thịt”, “tình ái chỉ là tình dục” và giá trị của nó chỉ để mang lại “lạc thú”. Chính vì thế, dù  
yêu Chương và được Chương yêu, Tuyết vẫn không có ý định gắn bó lâu dài với chàng:  
“Nàng không muốn đời nàng có dính dáng quá mật thiết với đời một kẻ khác”. Tuyết thích  
tự do, ưa tìm kiếm những điều mới lạ. Đối với nàng, cuộc đời là những giây phút của  
những biến động. Nàng không làm chủ cuộc đời mình và cũng không muốn làm chủ nó.  
Nàng sống theo tiếng gọi ở “một cõi xa xăm” nào đó. Mọi việc nàng làm đều rất tùy hứng.  
Yêu Chương, rời bỏ Chương rồi lại trở về bên chàng. Tất cả đều tùy hứng. Các tác giả của  
Đời mưa gió đã rất dụng ý khi xây dựng thêm nhân vật Thu như một sự đối sánh với  
Tuyết. Thu là cô gái của truyền thống, nàng sinh ra trong một gia đình giàu có, nàng xinh  
đẹp, yểu điệu và luôn khép nép, giữ gìn theo chuẩn mực của một cô gái nền nếp. Thu cũng  
được nhiều người ngưỡng mộ, cũng có những cuộc chơi, những buổi tiệc tùng, nhưng,  
cũng như tất cả những cô gái truyền thống khác, Thu chọn cuộc sống gia đình yên ổn dù đó  
là một gia đình được xây dựng dựa trên hôn nhân không tình yêu. Nhưng Tuyết thì khác,  
nàng không chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt và giả dối. Nàng muốn được sống cuộc đời tự do  
1196  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Hoàng Mai  
theo ý mình, nàng chấp nhận mọi hậu quả và nàng rất thành thực. Thành thực với Chương  
và với chính mình: “Trời ơi, anh yêu được em ư? Anh chưa biết em là ai đấy, em chỉ là  
một đứa giả dối, man trá, em là một con đĩ khốn nạn, đê hèn. Em sẽ lừa dối người yêu, vì  
em đã trở thành một đứa vứt đi, tiêm nhiễm hết mọi thứ xấu xa của xã hội này” (Ta, 2004,  
p.42 )… Một câu nói cho thấy một sự tự ý thức sâu sắc về mình.  
Tuyết là nhân vật “nổi loạn” dữ dội nhất không chỉ của Nhất Linh, Khái Hưng mà là  
của cả Tự lực văn đoàn, thậm chí của của văn học Việt Nam lúc bấy giờ. Cũng như Anna  
Karenina của Lev Tolstoi, Tuyết của Nhất Linh và Khái Hưng là người phụ nữ đang cố  
gắng giải phóng cá tính của mình ra khỏi mọi sự áp chế của xã hội phong kiến. Tuyết và  
Anna Karenina phải kết hôn và sống với người mình không yêu. Cả hai đều chấp nhận rời  
bỏ đứa con của mình, rời bỏ gia đình để được sống cuộc sống như mình mong muốn. Cuối  
cùng, họ đã phải trả giá cho sự “nổi loạn” của mình: Anna lao vào đoàn tàu tìm cái chết khi  
bị người tình hờ hững, còn Tuyết từ chối lời đề nghị quay trở lại của Chương để rồi chết  
trong đơn độc và bệnh tật. Nhưng đó là sự tự lựa chọn của họ, và họ đã được sống theo  
những lựa chọn của chính mình.  
Tuy nhiên, Nhất Linh không dừng ở đó. Ông đi xa hơn, cho thấy những bi thảm nội  
tại trong những con người dám nổi loạn mà điều kiện khách quan và chủ quan vẫn chưa  
cho họ đến được cùng đích hoàn hảo. Cái nhìn hiện thực cho ông thấy cuộc chiến đấu mới  
bắt đầu, còn lắm cam go phía trước.  
Xung đột giữa mới và cũ không chỉ đơn giản ở các thế hệ khác nhau, mà còn ngấm  
ngầm nhưng hết sức khốc liệt trong bản thân một cá thể. Bởi lẽ, mỗi cá nhân dù muốn  
vùng vẫy, nổi loạn thoát ra khỏi những ràng buộc của luân lí xã hội cũ để khẳng định, để  
sống với cái tôi bản thể của mình, nhưng sinh ra và lớn lên ở một quốc gia có truyền thống  
văn hóa phương Đông nên dù muốn hay không, một cách rất tự nhiên trong bản thể cá  
nhân của những con người mới ấy vẫn còn dấu ấn của những văn hóa ấy. Chính vì thế, bên  
cạnh những xung đột giữa cá nhân – xã hội mà họ phải đối diện, còn một mối xung đột nữa  
cũng quyết liệt và gay gắt không kém là xung đột với chính mình. Đây mới thật sự là tử  
huyệt. Nó không chỉ khiến các nhân vật phải sống với bi kịch trong nội tâm của mình mà  
còn biến tất cả thành lực cản vô hình nhưng đầy hiệu quả trong việc tự trói mình trở lại.  
Điều này xảy ra với các phụ nữ tân thời. Nhung trong Lạnh lùng chọn giải pháp dung hòa  
giữa tình yêu và trách nhiệm, bổn phận bằng cách ngoại tình với Nghĩa một cách vụng  
trộm, lén lút. Nhưng chính điều này khiến Nhung rơi vào nỗi đau khi biết mình đang phải  
sống cuộc sống giả dối không chỉ với những người xung quanh mà còn giả dối với chính  
mình. Hơn nữa, cuộc sống giả dối ấy sẽ đưa nàng về đâu? Nàng sẽ sống với sự giả dối đến  
bao giờ? Kết quả cuối cùng của cuộc sống ấy là gì? Nhung chưa biết, chỉ biết rằng mỗi lần  
nghĩ tới Nghĩa, muốn giải phóng mình thì lại nghe thấy tiếng người chồng đã mất miệt thị:  
“Con khốn nạn”, để rồi hiện lên với nàng ở cuối tác phẩm là bốn chữ “Tiết hạnh khả  
phong” và viễn cảnh thờ chồng đến đầu bạc răng long. Tuyết (Đời mưa gió) dù chọn lối  
1197  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1191-1199  
sống tự do, phóng túng nhưng dường như trong sâu thẳm tâm hồn mình Tuyết vẫn không  
tìm thấy được niềm hạnh phúc thực sự. Chưa kể, bản thân nàng hiểu rất rõ mình không có  
quyền can dự vào gia đình mình cũng như can dự vào cuộc đời của Chương khi đã rơi vào  
một cuộc đời sa ngã. Cuối cùng, Tuyết mất hết tất cả, chết trong đói rét, bệnh tật và cô độc.  
Loan (Đoạn tuyệt) có được hạnh phúc vì tự đồng nhất mình với Dũng – một kiểu “nam  
tính hóa nữ tính”. Nghĩa là, ở mức độ nào đó nàng vẫn phụ thuộc vào hệ quy chiếu của xã  
hội gia trưởng, đàn ông vẫn là quy chuẩn để người phụ nữ hướng tới, nhằm đạt được sự  
ngang hàng.  
Rõ ràng, hành trình đi về phía tự do đối với người đàn bà không hề đơn giản. Mặc dù  
họ đã bắt đầu biết lắng nghe, cảm nhận tình cảm và con tim, nhưng không phải lúc nào  
cũng thoát khỏi sự giám sát của luân lí truyền thống.  
3.  
Kết luận  
Bằng việc khắc họa chân dung hàng loạt nhân vật nữ nổi loạn trong tiểu thuyết của  
mình, Nhất Linh lên tiếng thách thức nền luân lí Nho giáo lỗi thời, đưa ra một cái nhìn cởi  
mở đối với phụ nữ, tiến tới xác lập bình đẳng giới trong văn học và trong đời sống xã hội  
Việt Nam. Đây là sự vận động mạnh mẽ và tiến bộ trong quan điểm thẩm mĩ cũng như tư  
duy, nhận thức của nhà văn nhập thời cuộc, ghi lại một dấu ấn quan trọng vào tiến trình  
văn học nước nhà. Tuy hành trình xác lập bình đẳng giới này còn dang dở nhưng đã đặt  
nền móng vững chắc cho những chặng tiếp theo của văn học nữ quyền ở Việt Nam.  
Tuyên bố về quyền lợi: Tác giả xác nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Authors (2000). Phong Hoa ngay nay [Phong Hoa in the Modern Period]. Hanoi: Writers  
Association Publishing House.  
Le, T. D. T. (2003). Quan niem ve con nguoi trong tieu thuyet Tu luc van doan [The Concept of  
Human in The Novels of The Self-Strengthening Literary Union]. Hanoi: The Youth  
Publishing House.  
Nguyen, T. K. A. (1938). Van de phu nu [The Issue of Women]. People Commune Bookshop,  
Cho Lon.  
Ta, D. A (Editor), (2004). Tuyen tap Tu luc van doan, tap 1 [Collection of The Self-Strengthening  
Literary Union, Vol. 1]. Hanoi: Writers Association Publishing House.  
Phan, B. C. (1929). Van de phu nu [The Issue of Women]. Hue: Reform Bookshop.  
Vu, G. (1995). Nhat Linh trong tien trinh hien dai hoa Van hoc [Nhat Linh in the Process of  
Modernization of Literature]. Hanoi: Culture Publishing House.  
1198  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Hoàng Mai  
THE DEPICTION OF “REBELLIOUS FEMALE CHARACTER” IN NHAT LINH  
NOVELS (TU LUC VAN DOAN PERIOD)  
Nguyen Thi Hoang Mai  
VNU-HCM High School for the Gifted, Vietnam  
Corresponding author: Nguyen Thi Hoang Mai – Email: [email protected].vn  
Received: March 31, 2021; Revised: April 05, 2021; Accepted: July 22, 2021  
ABSTRACT  
Nhat Linh's new product, a “rebellious female character” is extended upon the depiction of  
Vietnamese women in traditional literature, reflecting the author’s sensitivity to sociocultural  
changes, especially related to women, before the first half of the 20th century. This systematic  
review on the history of literature elaborates on the roles of women by analysing rebellious female  
archetypes featured in the works of “Tu luc van doan” and of Nhat Linh. Nhat Linh objectively  
reevaluated the roles of women in families and societies. This lays a foundation for the  
establishment of gender equality and feminist movements in current Vietnamese literature. This  
was a powerful and progressive movement in the aesthetic perspectives and logic of a  
contemporary author, representing an important milestone in Vietnam’s literature progress.  
Keywords: gender equality; Nhat Linh; rebellious female characters; Tu luc van doan;  
women's issues  
1199  
pdf 9 trang baolam 29000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hình tượng “nhân vật nữ nổi loạn” trong tiểu thuyết của Nhất Linh (thời kì tự lực văn đoàn)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhinh_tuong_nhan_vat_nu_noi_loan_trong_tieu_thuyet_cua_nhat_l.pdf