Một số đặc điểm ngôn ngữ văn hoá thổ ngữ Ngọc Vừng, Vân Đồn, Quảng Ninh

65  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
Một số đặc điểm ngôn ngữ văn hoá thổ ngữ Ngọc Vừng,  
Vân Đồn, Quang Ninh  
Nguyễn Thu Huyền  
Viện Ngôn ngữ học  
Email liên hệ: [email protected]  
Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu về một số đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá của từ địa  
phương thổ ngữ Ngọc Vừng, Vân Đồn, Quảng Ninh. Về đặc điểm ngôn ngữ, từ địa phương  
Ngọc Vừng thuộc nhiều từ loại khác nhau. Trong đó, từ loại danh từ chiếm số lượng lớn hơn  
các từ loại khác, thể hiện sự phong phú các biến thể về sản vật, hiện tượng,… của địa phương.  
Xét về mặt nguồn gốc, từ địa phương Ngọc Vừng có nguồn gốc thuần Việt chiếm tỉ lệ lớn.  
Thông qua từ địa phương, đặc điểm văn hóa nông nghiệp và văn hoá biển được khắc hoạ rõ  
nét. Trong đó, văn hoá nông nghiệp được phản ánh đa dạng hơn văn hoá biển thông qua các  
trường từ vựng ngữ nghĩa của từ địa phương Ngọc Vừng.  
Từ khóa: từ địa phương, phương ngữ, thổ ngữ Ngọc Vừng.  
Linguistic characteristics and dialect spoken in Ngoc Vung commune,  
Van Don district, Quang Ninh  
Abstract: This article studies some linguistic characteristics and dialect spoken in  
Ngoc Vung, Van Don, Quang Ninh. In terms of linguistic characteristics, local words used in  
Ngoc Vung belong to different word classes, in which, nouns account for a larger number  
than others, demonstrating the richness and variety of variations in local products and  
phenomena. In terms of origin, Ngoc Vung dialect originating in Vietnamese makes up a large  
proportion. Through its dialect, agricultural cultural characteristics and marine culture in the  
locality are clearly illustrated. In particular, its agricultural culture is reflected more diversely  
than mariculture by using semantic and lexical fields.  
Keywords: local words, dialects, Ngoc Vung dialect.  
Ngày gửi bài: 12/08/2020  
Ngày duyệt đăng: 10/07/2021  
1. Đặt vấn đề  
Ngọc Vừng là một xã đảo thuộc huyện Vân Đồn của tỉnh Quảng Ninh. Đây là vùng đất có  
bề dày truyền thống văn hoá, lịch sử. Đến nay, nơi đây còn lưu giữ nhiều dấu ấn văn hoá như  
thương cảng Vân Đồn cổ, thành cổ Ngọc Vừng,… Về mặt địa lý tự nhiên, Ngọc Vừng có vị trí  
địa lý khá đa dạng gồm cả đồng bằng, bãi biển, sông, vụng biển,… với diện tích khoảng 36,6  
km2. Dân cư nơi đây thưa thớt, theo số liệu điều tra mới nhất của xã, Ngọc Vừng có gần 1.000  
người với gần 250 hộ dân ở 3 thôn (Bình Minh, Bình Hải, Ngọc Nam). Sống hòa nhập trong  
cộng đồng Ngọc Vừng gồm có 6 dân tộc khác nhau như: Kinh, Mường, Tày, Sán dìu, Dao, Thái.  
Những nghiên cứu về tiếng Quảng Ninh đã được đề cập đến trong một số công trình  
nghiên cứu như: Những vấn đề phương ngữ học tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2002), Đặc điểm  
66  
Nguyễn Thu Huyền  
các thổ ngữ ven biển Bắc Bộ (Nguyễn Tài Thái, 2018),... Trong các công trình này, các đặc điểm  
ngữ âm, từ vựng của tiếng Quảng Ninh cũng như của một số thổ ngữ đã được các tác giả miêu  
tả. Theo đó, tiếng Quảng Ninh nằm trong khu vực phương ngữ Bắc. Ngoài mang những nét  
chung của phương ngữ Bắc, tiếng Quảng Ninh còn mang nhiều nét riêng như sự biến đổi về  
thanh điệu, phụ âm đầu, phần vần. Trong đó, phụ âm đầu đã xảy ra một số sự chuyển đổi như  
sự chuyển đổi /l/ thành /n/; sự chuyển đổi của phụ âm quặt lưỡi /ʈ/ thành /t/, /ʐ/;… Phần vần  
trong tiếng Quảng Ninh ít có sự biến đổi hơn so với phụ âm đầu (Nguyễn Tài Thái, 2002). Tuy  
vậy, ngôn ngữ ở các khu vực ven biển, ngôn ngữ ở các đảo chưa thực sự được quan tâm chú  
ý một cách thỏa đáng. Đặc biệt ngôn ngữ ở đảo Ngọc Vừng thuộc tiếng Quảng Ninh cho đến  
nay vẫn chưa thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu mặc dù ngôn ngữ này còn lưu  
giữ được nhiều yếu tố cổ cả về mặt ngữ âm và từ vựng.  
Bài viết này lựa chọn thổ ngữ Ngọc Vừng để nghiên cứu về một số đặc điểm ngôn ngữ  
văn hoá nhằm góp phần bổ sung thêm những nét tiêu biểu, đặc trưng về ngôn ngữ cũng như  
văn hoá được phản ánh trong lớp từ địa phương nơi đây. Tư liệu nghiên cứu được thu thập gồm  
685 đơn vị là từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu  
điều tra điền dã, phương pháp phân tích từ vựng ngữ nghĩa, phương pháp miêu tả để làm rõ  
đặc điểm ngôn ngữ và văn hoá của từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng, Vân Đồn, Quảng Ninh.  
2. Đặc điểm ngôn ngữ  
2.1. Đặc điểm từ loại  
Trong số gần 2000 đơn vị từ vựng được khảo sát, chúng tôi thu được 685 biến thể từ địa  
phương thổ ngữ Ngọc Vừng thuộc các từ loại khác nhau. Điều này cho thấy từ địa phương thổ  
Ngữ Ngọc Vừng xuất hiện khá phong phú.  
Bang 1. Từ loại của từ địa phương Ngọc Vừng  
STT  
Từ loại Số lượng Tỉ lệ (%)  
Ví dụ  
1
2
3
4
Danh từ  
Động từ  
Tính từ  
526  
124  
33  
76,8  
18,1  
4,8  
gió mây, thầy phù thuỷ, chống quýt, chim hiếu,...  
đâm gạo, nghiến đầu, nằm ghé, dãy khiểng,...  
hất sốt, sất da, phỏng dạ,...  
Trạng từ  
2
0,3  
lúc nảy, dạo nãy  
Tổng số  
685  
100  
(Nguồn: Đề tài Đặc điểm ngữ âm - từ vựng tiếng Việt ở huyện đao Vân Đồn,  
Quang Ninh: Khao sát trường hợp xã Ngọc Vừng, 2020)  
2.1.1. Danh từ  
Trong số các từ loại, từ loại danh từ chiếm số lượng cao nhất trong từ địa phương thổ  
ngữ Ngọc Vừng, chiếm tỉ lệ 76,8% (526/685). Điều này phản ánh từ địa phương tập trung  
nhiều nhất ở các sản vật, dụng cụ, hiện tượng đời sống,... của địa phương. Cùng biểu thị một  
khái niệm nhưng từ địa phương Ngọc Vừng có các biến thể khác với từ toàn dân. Ví dụ: gió heo  
may trong từ toàn dân được được gọi là gió mây trong từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng; thầy  
địa lí, bát hương, nhặng,... trong từ toàn dân được gọi là thầy phù thủy, bát nhang, ruồi xanh,...  
trong từ địa phương Ngọc Vừng. Bên cạnh đó, cách định danh dựa theo vị trí thực vật tồn tại  
hay hình dáng, kích thước đồ vật cũng cho thấy cách tư duy của cư dân xã đảo này khá cụ thể,  
trực quan, sinh động. Chẳng hạn, để chỉ một loại bầu sống ở mặt đất, cư dân nơi đây gọi là bầu  
67  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
đất (bầu không leo giàn); bầu bát (tròn, làm gáo); bầu cẳng trâu (bầu dài, to); tre khổng giống  
như trúc nhưng mắt to; ong khoái quan hay còn được gọi là rươi, sống ở nước lợ tháng 9 mới  
có,.... Bên cạnh đó, lớp từ loại danh từ này còn thể hiện khá đa dạng các sản vật của cư dân  
miền biển. Sự phong phú của các sản vật biển cũng được thể hiện qua sự phân chia chi tiết,  
cụ thể tên gọi của các loại sản vật biển như: tôm, ốc,... Chẳng hạn, tôm đầu là loại tôm sống ở  
suối; tôm rong là loại tôm nhỏ để làm mắm; tôm gạo là loại tôm trắng để ăn phân biệt với tôm  
để làm mắm;... ốc hột là loại ốc sống ở ruộng, có hình dáng tròn; ốc suối là loại ốc sống ở suối;  
ốc côn là loại ốc to có vỏ cứng và màu đỏ; ốc nón (ốc đụn); ốc trố (ốc tố); ốc nợn; ốc nhay (ốc ray);  
ốc đá; ốc mèo; ốc mầu; ốc vấn;... lưới rê dưa: lưới rê bắt cá dưa; lưới rầm: thả sâu, quây vào rạn đá;  
lưới đánh mực: lưới chụp bắt cá, mực;...  
Bên cạnh những từ địa phương có sự khác biệt về từ vựng, những từ địa phương thổ  
ngữ Ngọc Vừng thuộc từ loại danh từ còn thể hiện sự phong phú về sự biến đổi ngữ âm so với  
từ vựng toàn dân. Sự khác biệt về ngữ âm của thổ ngữ này so với từ toàn dân thể hiện ở phụ  
âm đầu, thanh điệu như: giăng (trăng); thao (sao); tâu (trâu); thõ (thỏ); dím (nhím); te (tre); võ  
cây (vỏ cây); cõ nác (cỏ nác); nuồng (luồng); nát (lát);... Như vậy, sự khác biệt của từ địa phương  
thổ ngữ Ngọc Vừng ở từ loại danh từ so với từ toàn dân đã cho thấy sự phong phú về cách định  
danh sự vật cũng như sự đa dạng về biến thể ngữ âm hiện diện trong thổ ngữ này.  
2.1.2. Động từ  
Từ loại động từ trong từ địa phương Ngọc Vừng đứng vị trí thứ hai sau từ loại danh từ.  
Trong số 685 đơn vị từ địa phương Ngọc Vừng, từ loại động từ chiếm tỉ lệ 18,1% (124/685). Từ  
loại động từ của thổ ngữ này có sự khác biệt với từ toàn dân do sự biến đổi ngữ âm so với từ  
toàn dân hay do cách tri nhận của cư dân nơi đây có sự khác biệt với cư dân các vùng miền khác.  
Giống như từ loại danh từ, sự khác biệt về ngữ âm của từ loại động từ thổ ngữ Ngọc  
Vừng được thể hiện qua sự biến đổi về phụ âm đầu, thanh điệu so với từ toàn dân, chẳng  
hạn: lườm, liếc, lắc, ngẩng, duỗi tay, véo, đỡ, .... trong từ toàn dân được thể hiện bằng: nườm,  
niếc, nắc, ngửng, duổi tay, bẹo/ bấu, đợ, ... trong từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng. Bên cạnh  
sự khác biệt về mặt ngữ âm, từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng còn được thể hiện bằng các  
biến thể từ vựng. Ví dụ: hát giao duyên trong tiếng toàn dân được gọi là hát đúm trong thổ  
ngữ Ngọc Vừng; nấu riêu (cá nấu không hay cá luộc trong từ toàn dân); ngã sấp trong từ toàn  
dân được gọi là ngã ếp trong từ địa phương Ngọc Vừng; bện thừng trong từ toàn dân là cố  
sừng hay đánh dây trong từ địa phương Ngọc Vừng. Theo từ điển tiếng Việt,“bện”là hoạt động  
chập nhiều sợi lại thành dây, rồi tết các dây đó thành sợi to hoặc thành đồ dùng (Từ điển tiếng  
Việt, 2010, tr.88). Còn “cố” là hoạt động đưa ra nhiều sức hơn bình thường để làm việc gì cho  
kì được. (Từ điển tiếng Việt, 2010, tr.272). Hay giã gạo trong từ toàn dân được gọi là đâm gạo  
trong từ địa phương Ngọc Vừng. Theo từ điển tiếng Việt, “giã” là hoạt động làm cho giập, nát  
hoặc tróc lớp ngoài bằng cách cho vào cối và dùng chày nện xuống liên tiếp. (Từ điển tiếng  
Việt, 2010, tr.500). Còn “đâm” là hoạt động đưa nhanh cho mũi nhọn chạm mạnh vào nhằm  
làm thủng, làm tổn thương. (Từ điển tiếng Việt, 2010, tr.388);... Như vậy, cùng một hiện tượng  
trong đời sống nhưng cư dân nơi đây tri nhận khác biệt với cư dân các vùng miền khác trên cả  
nước. Điều này cũng phản ánh cách tri nhận của cư dân miền biển về những hoạt động xảy ra  
trong đời sống của con người khá đơn giản, mộc mạc.  
Bên cạnh đó, lớp từ địa phương của thổ ngữ này cũng phản ánh cách tư duy của cư  
dân nơi đây. Từ địa phương Ngọc Vừng chỉ hoạt động thường thể hiện mối quan hệ giữa hoạt  
68  
Nguyễn Thu Huyền  
động và chủ thể hay đối tượng của hoạt động như: nghiến đầu (đau đầu), hắt mũi (hắt hơi);  
giẵm lúa (rãi lúa ra sân cho trâu giẵm lên); hút gió/thổi gió (huýt sáo);... Ngoài ra, nhiều hoạt  
động mà từ toàn dân có nhiều biến thể khác nhau để diễn đạt nhưng từ địa phương Ngọc  
Vừng chỉ sử dụng một biến thể để diễn đạt chung cho các hoạt động đó. Điều đó được thể  
hiện ở chỗ tuỳ theo chủ thể khác nhau của hoạt động mà từ toàn dân sử dụng những biến thể  
khác nhau: hí (ngựa hí); hót (chim hót), rống (bò rống),.. nhưng trong từ địa phương thổ ngữ  
Ngọc Vừng chỉ được thể hiện bằng một biến thể chung“kêu”cho hoạt động của tất cả các chủ  
thể nói trên. Hay gánh và gồng trong từ toàn dân được gọi chung là gánh gồng trong từ địa  
phương Ngọc Vừng. Theo từ điển tiếng Việt,“gánh”là mang chuyển (thường là vật nặng) bằng  
cách mắc vào hai đầu một cái đòn đặt lên vai (Từ điển tiếng Việt, 2010, tr.484). Còn “gồng” là  
mang chuyển đồ đạc bằng cách mắc vào một đầu đòn gánh (Từ điển tiếng Việt, 2010, tr.533).  
Tuy nhiên, từ địa phương chỉ sử dụng một biến thể “gánh gồng” chung cho cả hai hiện tượng  
trên. Điều này cũng phản ánh, một số từ địa phương xuất hiện ở từ loại động từ có sự thu hẹp  
nghĩa so với từ vựng toàn dân.  
2.1.3. Tính từ  
Từ loại tính từ trong từ địa phương Ngọc Vừng chiếm tỉ lệ thấp, 4,8% (33/685). Từ loại  
tính từ Ngọc Vừng biểu hiện những tính chất đặc điểm của con người, sự vật,... có tên gọi khác  
với từ toàn dân. Từ địa phương thuộc loại từ này thường tập trung vào trường từ vựng về bệnh  
tật như: hất sốt (ngây ngấy sốt); phỏng dạ (bỏng dạ); đau đơn (thấp khớp); lang hoa (lang ben);  
tiêm na (lậu); ... Bên cạnh đó, nhiều từ địa phương Ngọc Vừng có sự biến đổi ngữ âm so với  
từ toàn dân như: lao lực, lao phổi, lao xương; nao nực, nao phổi, nao xương, ... Nhìn chung,  
những từ địa phương thuộc loại từ này thường biến đổi về ngữ âm so với từ toàn dân hoặc vay  
mượn từ gốc Hán làm giàu cho vốn từ địa phương của mình.  
Tuy vậy, lớp từ địa phương thuộc loại từ này xuất hiện không phong phú và đa dạng như  
các từ loại khác. Điều này cũng phản ánh không có sự khác biệt nhiều trong cách tư duy của  
người dân miền biển nơi đây về tính chất, đặc điểm của sự vật, hiện tượng,... so với cư dân các  
vùng miền khác trên cả nước.  
2.1.4. Trạng từ  
Kết quả khảo sát ngữ liệu cho thấy, chiếm tỉ lệ thấp nhất trong từ địa phương thổ ngữ  
Ngọc Vừng là trạng từ. Trạng từ chỉ chiếm tỉ lệ 0,3% (2/685). Điều này cho thấy những từ địa  
phương thuộc loại từ này có rất ít sự khác biệt so với từ toàn dân. Những từ địa phương thuộc  
loại từ này chỉ xuất hiện hạn chế do có sự biến đổi về thanh điệu của từ địa phương so với từ  
toàn dân hoặc do có sự biến đổi một thành phần của từ so với từ toàn dân như: lúc nãy dạo  
nãy hoặc vừa có sự biến đổi một thành phần của từ vừa có sự biến đổi thanh điệu như: một  
lúc lúc nửa.  
Tóm lại, từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng chủ yếu thuộc từ loại danh từ. Điều này phản  
ánh sự phong phú về sản vật địa phương của Ngọc Vừng cũng như sự phong phú về cách tri  
nhận của cư dân Ngọc Vừng thông qua cách định danh các sự vật, hiện tượng trong đời sống.  
Ngoài ra, từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng có sự khác biệt với từ toàn dân cao do sự biến đổi  
thanh điệu, phụ âm đầu hay phần vần so với từ toàn dân.  
2.2. Đặc điểm nguồn gôc  
Cư dân Ngọc Vừng sống ở đảo xa ít có sự giao thương, tiếp xúc với các nước phương Tây  
nên từ địa phương nơi đây chủ yếu có nguồn gốc Hán Việt, thuần Việt. Qua khảo sát ngữ liệu,  
chúng tôi chưa thấy từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng có nguồn gốc Ấn Âu hay ngôn ngữ  
khác. Số lượng từ địa phương Ngọc Vừng xét về mặt nguồn gốc được thể hiện qua bảng sau:  
69  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
Bang 2. Nguồn gốc của từ địa phương Ngọc Vừng  
Nguồn gốc Số lượng Tỉ lệ (%) Ví dụ  
STT  
đâm gạo (giã gạo), ngã ếp (ngã sấp), tượt  
(trượt), tong phong (bóng đèn),...  
1
Thuần Việt  
644  
94  
Động (đồi), bá (bác), ang (chum), bái  
(cúng),...  
2
Hán Việt  
26  
3,8  
Thuần Việt +  
Hán Việt  
hà châu (chai ngọc), lở tạng (bạch tạng),  
bạng gà, hà ve, hà cồn, hà ống,...  
3
15  
2,2  
Tổng số  
685  
100  
(Nguồn: Đề tài Đặc điểm ngữ âm - từ vựng tiếng Việt ở huyện đao Vân Đồn, Quang Ninh:  
Khao sát trường hợp xã Ngọc Vừng, 2020)  
2.2.1. Từ địa phương có nguồn gốc thuần Việt  
Kết quả khảo sát ngữ liệu cho thấy, từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng có nguồn gốc  
thuần Việt chiếm tỉ lệ 94% (644/685). Những từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng có nguồn gốc  
thuần Việt chiếm tỉ lệ cao theo chúng tôi một phần là do từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng có  
sự biến đổi về thanh điệu, vần hay phụ âm đầu so với từ toàn dân. Bên cạnh đó, từ địa phương  
thổ ngữ Ngọc Vừng có sự biến đổi một bộ phận của từ so với từ toàn dân như: ngã ếp ngã  
sấp; hắt mũi hắt hơi; nằm ghé nằm nghiêng; chó ngộ chó dại; nắm dao chuôi dao;...  
Ngoài ra, một số từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng khác biệt hoàn toàn với từ toàn dân về  
mặt từ vựng. Ví dụ: hút gió, huýt gió (thổi sáo); khoá ngang (quá giang); tong phong (bóng đèn);  
thầu dầu (đu đủ); tía tô (kinh giới); tranh trách (thạch sùng); ... Những từ địa phương Ngọc Vừng  
có nguồn gốc thuần Việt xuất hiện khá đa dạng trong các trường từ vựng như trường từ vựng  
về thiên nhiên: gió tây (gió lào), gió mây (gió heo may),...; trường từ vựng về hiện tượng tự  
nhiên: đất thét (đất sét), đất thó (đất đỏ), cồn (đá), động (đồi),...; trường từ vựng về nước, thuỷ  
văn: nước cạn (nước xuống), gành (ghềnh), ...; trường từ vựng về cơ thể người: khoáy (xoáy),  
tán dô (tán cao), nông cặm (lông quặm), răng vỗ (răng vẩu), nước đạnh (dãi),... Tóm lại, từ địa  
phương Ngọc Vừng có nguồn gốc thuần Việt chiếm tỉ lệ lớn, xuất hiện phong phú trong đời  
sống con người.  
2.2.2. Từ địa phương có nguồn gốc Hán Việt  
Theo kết quả khảo sát, từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng có nguồn gốc Hán Việt chiếm  
tỉ lệ thấp 3,8% (26/685). Những từ địa phương có nguồn gốc Hán Việt tập trung ở những từ chỉ  
thân tộc, bệnh tật và một số từ chỉ sự vật, hiện tượng trong đời sống. Theo từ điển Hán Việt,  
bá (chị mẹ): có 3 nghĩa liên quan đến từ chỉ thân tộc sau: (1) bác anh của cha: như “bá phụ”  
bác; (2) đàn bà gọi anh chồng là“bá”; (3) Tiếng tôn xưng người đứng tuổi hoặc hơn tuổi cha  
mình như “lão bá”; cô (chị bố) theo từ điển Hán Việt dùng để gọi chung đàn bà con gái, hoặc  
gọi con gái chưa chồng, cô em hoặc chị gái của cha:  
(khiêng): 摼 theo từ điển Hán Việt là xoay đầu; đảo đầu. Bái (khấn): vái, lạy như bái tạ  
em gái chồng;  
sư cô, ni cô. Khinh  
,
lạy tạ. Trong phim Hồng Lâu Mộng :“Kí yếu tác thi, nhĩ tựu bái ngã vi sư”  
(Đệ tứ thập bát hồi) – Chị đã muốn làm thơ thì phải vái tôi làm thầy. Cũng theo từ điển Hán  
Việt, sa trong tiếng Hán có nghĩa là cá nhám, cá mập. Ang (chum): là cái ang, vại, sành, cái  
chum to;... ( www.hvdic.thivien.net)  
Sự xuất hiện những từ có nguồn gốc Hán trong lớp từ địa phương Ngọc Vừng nói trên  
cho thấy có sự tiếp xúc, giao lưu văn hoá giữa người Hán và cư dân Ngọc Vừng. Điều này cũng  
70  
Nguyễn Thu Huyền  
thể hiện văn hoá Hán đã xâm nhập và ảnh hưởng đến cư dân Ngọc Vừng trên các phương diện  
đời sống. Tuy nhiên, lớp từ địa phương có nguồn gốc Hán không cao. Điều này chứng tỏ văn  
hoá Hán chưa ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng đến đời sống cư dân Ngọc Vừng.  
2.2.3. Từ địa phương có nguồn gốc Hán Việt kết hợp thuần Việt  
Ngoài nguồn gốc thuần Việt và Hán Việt, từ địa phương Ngọc Vừng còn có sự kết hợp  
giữa yếu tố Hán Việt và yếu tố thuần Việt. Tuy nhiên, những từ địa phương có sự kết hợp giữa  
yếu tố thuần Việt và Hán Việt chiếm tỉ lệ thấp (2,2%). Nhóm từ địa phương thuộc loại này chủ  
yếu chỉ các hiện tượng tự nhiên hay các sản vật của địa phương như: chương cát (doi cát),  
động đất (đồi đất), hà cồn, hà ve, hà ống,... Kết quả khảo sát ngữ liệu trên cũng cho thấy, mặc  
dù đã có từ toàn dân tương ứng nhưng cư dân Ngọc Vừng vẫn vay mượn yếu tố Hán. Bên cạnh  
đó, một số loài hải sản biển cũng có sự vay mượn yếu tố Hán để làm phong phú cho lớp từ địa  
phương của mình. Sự vay mượn yếu tố Hán phản ánh sự tiếp xúc và giao thoa của văn hoá Hán  
với ngôn ngữ và văn hoá cư dân Ngọc Vừng.  
So sánh với từ địa phương tiếng Hải Phòng trong nghiên cứu “Một số đặc điểm ngôn  
ngữ-văn hoá của từ địa phương ở Hải Phòng”(Nguyễn Thu Huyền, 2019), từ địa phương Ngọc  
Vừng không xuất hiện những từ có nguồn gốc Ấn Âu như trong từ địa phương tiếng Hải  
Phòng. Điều này cũng phản ánh, Ngọc Vừng là một đảo xa ít có sự giao thương với quốc tế  
hơn. Trong khi đó, Hải Phòng là thành phố ven biển có sự giao thương với nhiều nước trên  
thế giới hơn nên nguồn gốc từ địa phương cũng phong phú hơn từ địa phương Ngọc Vừng.  
3. Một số đặc điểm văn hoá thể hiện trong từ địa phương Ngọc Vừng  
Bang 3. Trường từ vựng, ngữ nghĩa của từ địa phương Ngọc Vừng  
STT Trường từ vựng, ngữ nghĩa Số lượng Tỉ lệ %  
Ví dụ  
thầu dầu, võ cây, hoa bắp, bầu  
cẳng châu,…  
1
cây cối, hoa quả  
89  
12,9  
mưa mù, chân giời, giăng tòn,  
gió nam,…  
đá cồn, động, động trọc,  
2
3
4
hiện tượng tự nhiên  
đất đai, thổ nhưỡng  
nước, thủy văn  
34  
17  
18  
4,9  
2,5  
2,6  
gành, chương cát, nước dạt,  
nước nợ,…  
tán dô, gồ má, nông cặm, răng  
vỗ,…  
5
cơ thể người  
bệnh tật  
71  
10,4  
dậy hạch, hất sốt, tiêm na, lở  
mai,…  
6
7
8
59  
21  
8,6  
3,1  
quan hệ gia đình  
cô, bá, rì,…  
hoạt động, tính chất cơ bản  
của con người  
gánh gồng/gắn, lên luống, đâm  
(gạo),…  
100  
14,6  
tài sản, vật dụng lao động,  
dụng cụ  
cào 3 răng, cào 8 răng, lưới rê  
dưa, lưới rầm,…  
9
106  
15,5  
10 văn hóa tín ngưỡng  
11 thời gian  
23  
7
3,4  
1
bái, áo cỉu, thân gia,…  
sớm, dạo nãy,…  
ốc xanh, ốc tố, ốc mầu, điệp  
điệp, hà râu, ốc nón, ốc vấn,…  
tâu, nai mi, hoãng, dím, thõ,…  
tà lồng ệp, gỏi tép, tai long yết,…  
12 động vật biển  
67  
9,8  
13 Động vật  
14 Sản phẩm địa phương khác  
56  
17  
8,2  
2,5  
(Nguồn: Đề tài Đặc điểm ngữ âm - từ vựng tiếng Việt ở huyện đao Vân Đồn, Quang Ninh:  
Khao sát trường hợp xã Ngọc Vừng, 2020)  
71  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
3.1. Đặc điểm văn hoá nông nghiệp  
Qua bảng khảo sát ngữ liệu trên cho thấy, số lượng từ địa phương phân bố theo các  
trường từ vựng có sự khác biệt. Trong đó, đặc điểm văn hoá nông nghiệp được thể hiện đa  
dạng qua các trường từ vựng về: cây cối, hoa quả (12,9%), hiện tượng tự nhiên (4,9%), đất  
đai thổ nhưỡng (2,5%), hoạt động của con người (14,6%); tài sản, vật dụng lao động, dụng  
cụ (15,5%),… Bên cạnh những từ địa phương có sự khác biệt về ngữ âm, từ địa phương Ngọc  
Vừng có sự khác biệt về từ vựng biểu thị phong phú các sản phẩm nông nghiệp ở địa phương  
như: bầu bát (tròn, làm gáo); bầu cẳng trâu (bầu dài, to); chuối tường/chuối lùn (chuối tiêu); tre  
khổng (giống như trúc, mắt to);… Trong từ địa Ngọc Vừng cũng tồn tại một số từ địa phương  
về vật dụng nông nghiệp nhưng không được phân biệt cụ thể như trong từ vựng toàn dân.  
Ví dụ: mẹt là đồ đan kín bằng tre nứa, lòng nông, hình tròn, cỡ như cái mâm, thường dùng để  
phơi, bày các thứ. Mẹt bánh đúc, mẹt hàng,… (Từ điển tiếng Việt, 2010, tr.808). Nia là đồ đan  
khít bằng tre, hình tròn, lòng rộng và nông, to hơn cái mẹt, dùng để phơi đựng,… (Từ điển  
tiếng Việt, 2010, tr.939). Nong là đồ đan khít bằng tre, hình tròn, lòng rộng và nông, to hơn nia,  
dùng để phơi đựng,… (Từ điển tiếng Việt, 2010, tr.946). Mặc dù vậy, cả ba khái niệm trên trong  
từ địa phương Ngọc Vừng chỉ được biểu thị bằng một biến thể duy nhất là “nia”. Ngược lại, có  
đơn vị từ vựng biểu thị cùng một đối tượng nhưng trong từ địa phương lại được biểu thị bằng  
nhiều biến thể khác nhau. Ví dụ:“khiêng”trong từ toàn dân được biểu thị bằng 2 biến thể trong  
từ địa phương là: khênh và gió khinh. Tương tự, “đồi” trong từ toàn dân được biểu thị bằng 3  
biến thể trong từ địa phương là: động, núi, rừng. Hay“nước ròng”trong từ toàn dân được biểu  
thị bằng 2 biến thể trong từ địa phương là: nước xuống, nước cạn. Ngoài ra, một số dụng cụ  
trong sản xuất nông nghiệp được phân biệt khá cụ thể và chi tiết như: trục đất (đeo đoạn gỗ  
dài, to, mắc vào bừa, cho trâu kéo để tơi đất); trục lúa (trục bằng trục sắt/đá cho trâu kéo); cào  
kéo (2 người, một cầm, 1 kéo để cào thành luống, để gon luống). Những điều trình bày trên  
cho thấy, văn hoá nông nghiệp đã được phản ánh khá rõ nét trong từ địa phương Ngọc Vừng.  
3.2. Đặc điểm văn hoá ngư nghiệp  
Kết quả khảo sát ngữ liệu cũng cho thấy, văn hoá ngư nghiệp được thể hiện qua các  
trường từ vựng về động vật biển, dụng cụ nghề biển hay các sản phẩm địa phương liên quan  
trực tiếp đến biển. Bảng thống kê trên đã chỉ ra động vật biển chiếm tỉ lệ 8,6%. Dụng cụ nghề  
biển chiếm số lượng không nhiều. Theo thống kê của chúng tôi, dụng cụ nghề biển chỉ chiếm  
3,2% trong tổng số tài sản, vật dụng lao động, dụng cụ nói chung. Đặc sản biển có số lượng  
thấp được thể hiện trong một số món ăn như: gỏi tép, cháo ngán, tiết canh ngán,… Nói chung,  
văn hoá biển được thể hiện đa dạng nhất qua trường từ vựng ngữ nghĩa về động vật biển.  
Để định danh các loài sinh vật biển, cư dân nơi đây có sự phân biệt khá chi tiết dựa vào hình  
dáng hay màu sắc, nơi cư trú của sinh vật để gọi tên. Chẳng hạn, để chỉ loài cá song, từ địa  
phương có tới 4 biến thể như: song vàng, song đỏ, song đen, song chuột,… Để chỉ loài tôm, từ  
địa phương cũng có nhiều biến thể như: tôm rong, tôm gạo, tôm đầu,… Điều đó cho thấy văn  
hoá biển để lại dấu ấn khá đậm nét trong lớp từ địa phương về sinh vật biển. Tuy vậy, văn hoá  
biển chưa được phản ánh phong phú như văn hoá nông nghiệp. Điều này được phản ánh rõ  
qua các trường từ vựng về văn hoá nông nghiệp thể hiện trong bảng 3.  
Bên cạnh phản ánh đặc điểm văn hóa nông nghiệp, ngư nghiệp từ địa phương thổ ngữ  
Ngọc Vừng còn phản ánh đặc điểm về cơ thể người, bệnh tật hay thời gian. Tuy nhiên, những  
từ địa phương ở những trường từ vựng này chủ yếu là những từ có sự biến đổi về ngữ âm so  
với từ toàn dân nên chúng tôi chỉ đi sâu vào những từ địa phương phản ánh đặc điểm về văn  
72  
Nguyễn Thu Huyền  
hóa nông nghiệp và ngư nghiệp để làm nổi bật hơn một số đặc điểm văn hóa được thể hiện  
qua lớp từ địa phương của cư dân nơi đây.  
4. Kết luận  
Từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng xuất hiện đa dạng và phong phú trong các trường từ  
vựng, ngữ nghĩa. Xét về mặt từ loại, từ địa phương thổ ngữ Ngọc Vừng thuộc từ loại danh từ  
chiếm số lượng lớn nhất. Điều này đã cho thấy sự linh hoạt trong cách định danh về các sản  
vật địa phương cũng như hiện tượng tự nhiên, đồ dùng, dụng cụ,… của cư dân Ngọc Vừng.  
Đứng thứ hai là từ địa phương thuộc từ loại động từ. Lớp từ địa phương này đã phản ánh cách  
tri nhận của cư dân miền biển về những hoạt động xảy ra trong đời sống con người có phần  
khá giản đơn, mộc mạc. Từ địa phương thuộc từ loại tính từ và trạng từ chiếm tỉ lệ thấp. Điều  
này cũng phản ánh cách tư duy về đặc điểm, tính chất của con người, sự vật hiện tượng cũng  
như cách tri nhận về không gian, thời gian,…của cư dân nơi đây không có sự khác biệt nhiều  
so với cư dân các vùng miền khác trên cả nước.  
Thông qua lớp từ địa phương Ngọc Vừng, đặc điểm văn hoá nông nghiệp và văn hoá  
biển được biểu hiện khá sinh động. Trong đó, đặc điểm văn hoá nông nghiệp được phản ánh  
đậm nét hơn văn hoá biển thông qua số lượng những từ địa phương thể hiện dụng cụ làm  
nông nghiệp cũng như sản phẩm của nông nghiệp. Còn đặc điểm văn hóa biển để lại dấu ấn  
khá đậm nét thông qua số lượng những từ địa phương về sinh vật biển. Cũng thông qua lớp  
từ địa phương này, chúng ta thấy được sự giao lưu tiếp xúc văn hoá của Ngọc Vừng với các  
nền văn hoá khác trên thế giới. Với vị trí ngoài đảo xa, giao thông chưa thật thuận tiện, nền  
văn hoá Ngọc Vừng có sự ảnh hưởng và giao thoa của văn hoá Hán. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng  
này chưa sâu rộng đến ngôn ngữ cũng như văn hoá Ngọc Vừng.  
Tài liệu tham khao  
Hoàng Thị Châu. (2009). Phương ngữ học tiếng Việt. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội.  
Thiều Chửu. (1997). Hán - Việt tự điển. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.  
Trần Trí Dõi. (2001). Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa. Nxb Văn hóa thông tin.  
Phạm Đức Dương. (2007). Bức tranh ngôn ngữ - văn hóa tộc người ở Việt Nam và Đông  
Nam Á. Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội. Hà Nội.  
Phạm Văn Hảo. (Chủ biên, 2009). Từ điển phương ngữ tiếng Việt. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội.  
Nguyễn Thu Huyền. (2019). “Một số đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá của từ địa phương ở  
Hải Phòng”. Tạp chí Khoa học Xã hội Miền Trung. Số 3. Tr.42-48  
Nguyễn Tài Thái - Nguyễn Thu Huyền. (2020). Đặc điểm ngữ âm - từ vựng tiếng Việt ở  
huyện đảo Vân Đồn, Quảng Ninh: Khảo sát trường hợp xã Ngọc Vừng. Viện Ngôn ngữ học. Hà  
Nội.  
Nguyễn Đức Tồn. (2010). Đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy”. Nxb Từ  
điển Bách Khoa.  
Phòng thông tin ngôn ngữ học. (2002). Những vấn đề Phương ngữ học tiếng Việt (Phương  
ngữ bắc). Viện Ngôn ngữ học. Hà Nội.  
Viện Ngôn ngữ học. (2010). Từ điển Tiếng Việt. Nxb Từ điển Bách Khoa.  
baoquangninh.com.vn/xa-hoi, ngày truy cập 18/6/2020.  
pdf 8 trang baolam 20520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm ngôn ngữ văn hoá thổ ngữ Ngọc Vừng, Vân Đồn, Quảng Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_ngon_ngu_van_hoa_tho_ngu_ngoc_vung_van_don_q.pdf