Vấn đề đội ngũ dạy Ngữ văn ở một số cơ sở đào tạo sư phạm hiện nay - thực trạng và giải pháp

VẤN ĐỀ ĐỘI NGŨ  
DẠY NGỮ VĂN Ở  
MỘT SỐ CƠ SỞ  
Khoa Sƣ phạm, Trƣờng Đại  
học Bạc Liêu  
Điện thoại: 0998222608  
ĐÀO  
TẠO  
SƢ  
PHẠM HIỆN NAY-  
THỰC TRẠNG VÀ  
GIẢI PHÁP  
E-mail:  
HOÀNG TIẾN CHÍNH  
TÓM TẮT  
Đào tạo nghề cho ngƣời học nghề giỏi về kiến thức, vững về nghiệp vụ chuyên  
môn là mục tiêu đặt ra cho bất cứ cơ sở đào tạo ngành nghề nào. Mục tiêu của ngƣời  
đƣợc đào tạo thế nào, thì ngƣời đào tạo cũng phải giỏi và vững hai mặt nhƣ vậy. Nghề  
dạy học nói chung, dạy Ngữ văn nói riêng không nằm ngoài mục tiêu này. Tuy nhiên,  
hiện nay một số cơ sở đào tạo sƣ phạm ngành Ngữ văn lại không đƣợc nhƣ thế. Đội ngũ  
đào tạo sƣ phạm Ngữ văn có ngƣời qua trƣờng lớp sƣ phạm, có ngƣời chƣa qua đào tạo  
sƣ phạm và hầu nhƣ không nắm đƣợc mối liên hệ dạy ở phổ thông về kiến thức và  
phƣơng pháp giảng dạy. Giải pháp để cơ sở đào tạo ngành Ngữ Văn đáp ứng đƣợc “Dạy  
học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông”, trƣớc hết,  
ngƣời đào tạo Ngữ văn phải có kiến thức chuyên môn ngữ văn không những giỏi mà  
còn vững về nghiệp vụ sƣ phạm và nắm chắc kiến thức phổ thông, phƣơng pháp giảng  
dạy ở phổ thông. Có nhƣ vậy, cơ sở đào tạo sƣ phạm mới phát huy vai trò “đầu tàu”,  
“dẫn đƣờng” của các cơ sở đào tạo trong việc đổi mới giáo dục phổ thông.  
Từ khoá: cơ sở đào tạo, sƣ phạm, thực trạng, giải pháp  
ABSTRACT  
THE ISSUE OF PHILOLOGY TEACHING STAFF IN SEVERAL  
EDUCATIONAL INSTITUTIONS NOWADAYS – REALITY AND SOLUTION  
The common purpose of all educational intistutions is to provide deep  
knowledge to the trainees and help them become professional in their fields. In order to  
achieve the goal, the trainers must be excellent first in their major. Teaching in general  
and teaching philology in particular are to achieve this goal. However, some philology  
eductional institutions do not meet ths demand. There have been both well-trained and  
747  
un-trained philology teaching staff. Moreover, almost un-trained teachers do not  
understand the general teaching relation between knowledge and training methods. The  
solution for philology educational campuses to meet the requirement “ Teaching  
phelology in the context of requyring comprehensive innovation for education” is that  
the philology trainers must have not only great personal knowledge but also sound  
teaching skill. Getting the goal, the educations institutions can be the “ leaders”, the  
“guides” for all the training institutions educational renovation.  
Key words: educational institution, pedagogy, reality, solution  
Những năm qua không thể phủ nhận những thành tựu của nền giáo dục nƣớc  
nhà, trong đó có những đóng góp của các cơ sở đào tạo sƣ phạm trong cả nƣớc. Những  
cơ sở này đáp ứng yêu cầu cơ bản của xã hội trong giáo dục thế hệ trẻ về kiến thức và  
phẩm chất đạo đức. Để đáp ứng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, cần  
chỉ ra những hạn chế, đặc biệt là trong thời gian gần đây, một số cơ sở đào tạo sƣ phạm  
chƣa chú trọng đến tính sƣ phạm trong đào tạo, trong đó có đào tạo sƣ phạm ngành Ngữ  
văn.  
Nâng cao chất lƣợng đƣợc xác định ở hai phía: phía cơ sở đào tạo và phía ngƣời  
đƣợc đào tạo. Phía đào tạo bao gồm những yếu tố: Chất lƣợng đội ngũ giảng viên,  
phƣơng pháp giảng dạy, chƣơng trình, giáo trình đào tạo, các phƣơng tiện, cơ sở vật  
chất – kỹ thuật phục vụ cho đào tạo (phòng học có trang thiết bị, thƣ viện, phòng thí  
nghiệm,…), công tác quản lí đào tạo, môi trƣờng đào tạo,… Phía ngƣời đƣợc đào tạo  
(ngƣời học) bao gồm các yếu tố: Những kiến thức mà ngƣời học đã tiếp nhận từ trƣớc  
(đầu vào), thái độ và nỗ lực của ngƣời học trong quá trình học tập, quan niệm nghề  
nghiệp và kĩ năng vận dụng chuyên môn vào thực tiễn,… Chúng tôi đƣa ra một số hạn  
chế của cơ sở đào tạo sƣ phạm ngành Ngữ văn về những vấn đề sau:  
Vấn đề thứ nhất. Trƣớc đây, tỉnh nào cũng có Trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm,  
Trƣờng Trung học Sƣ phạm đào tạo giáo viên dạy trung học cơ sở, giáo viên dạy tiểu  
học và giáo viên dạy mầm non phục vụ cho giảng dạy của tỉnh nhà. Hiện nay, nhiều  
trƣờng sƣ phạm này đã nâng cấp lên trƣờng đại học đa ngành. Các trƣờng này đã  
chuyển trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm, Trung học Sƣ phạm thành một Khoa Sƣ phạm trong  
hệ thống trƣờng đa ngành. Khoa Sƣ phạm đảm nhiệm đào tạo giáo viên trung học cơ sở,  
giáo viên tiểu học, giáo viên mầm non, thậm chí đào tạo cả giáo viên trung học phổ  
thông.  
Để đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá của Bộ Giáo dục và Đào tạo về bằng cấp, một số  
cơ sở đào tạo sƣ phạm nhận những ngƣời có bằng cấp thạc sĩ, trong số đó có những  
748  
ngƣời chƣa qua đào tạo sƣ phạm, chỉ có chứng chỉ sƣ phạm. Việc đào tạo sƣ phạm mà  
chƣa qua trƣờng lớp sƣ phạm có điều không ổn. Bởi vì ngoài kĩ năng nghề nghiệp  
truyền đạt kiến thức cho sinh viên, còn có rất nhiều kĩ năng khác sinh viên cần học hỏi ở  
ngƣời thầy. Dấu ấn sƣ phạm để lại trong lòng ngƣời học rất mạnh, có thể đi suốt cuộc  
đời dạy học của ngƣời đƣợc đào tạo. Dấu ấn đó có thể là kiến thức uyên bác, có thể là  
cách truyền đạt kiến thức, khuyến khích ngƣời học tìm tòi tri thức, ở giọng giảng bài,…  
hoặc có thể là phẩm chất đạo đức, lối sống. Có ngƣời lập luận rằng, phƣơng pháp dạy đã  
có bộ môn phƣơng pháp đảm nhiệm truyền đạt còn gì. Đành rằng phƣơng pháp bộ môn  
do bộ môn phƣơng pháp giảng dạy, nhƣng ngƣời đào tạo ở các cơ sở đào tạo sƣ phạm  
cũng phải là những ngƣời gƣơng mẫu trong việc thực hiện phƣơng pháp dạy học. Ngƣời  
đào tạo sƣ phạm Ngữ văn nắm vững phƣơng pháp sƣ phạm nói chung còn phải nắm  
vững phƣơng pháp bộ môn Ngữ văn. Ngƣời đào tạo Ngữ văn phải thể hiện năng lực  
bình văn, thẩm văn cho sinh viên học hỏi. Năng lực này thể hiện trong giờ văn, giờ  
tiếng Việt và giờ làm văn cũng thế. Một số cơ sở đào tạo sƣ phạm do ít lớp, ngƣời dạy  
bộ môn phƣơng pháp có khi chỉ có một, khi ngƣời này chuyển công tác, nghỉ hƣu thì  
ngƣời thay thế chƣa nắm vững kiến thức phƣơng pháp bộ và những kĩ năng khác, do  
vậy chất lƣợng đào tạo bộ môn này chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu.  
Phƣơng pháp dạy Ngữ văn ngày nay, nếu chỉ thao thao bất tuyệt thì không còn  
đắc dụng nữa. Giáo sƣ Trần Đình Sử trong bài viết “Đào tạo giáo viên phải đi đôi với  
đổi mới toàn diện triệt để việc học” đăng trong kỉ yếu “Hội thảo khoa học Quốc gia về  
dạy học Ngữ văn ở trƣờng phổ thông Việt Nam”, cho rằng: “Một trong những yếu kém  
cơ bản của giáo viên hiện nay là không biết cách học, do đó cũng không biết cho học  
sinh học tập”, “Chính vì chƣa coi trọng sự học mà phƣơng pháp đào tạo đại học hiện  
nay rất cũ kĩ, lạc hậu. Các phƣơng pháp khích lệ học tập hầu nhƣ chƣa đƣợc vận dụng  
có hệ thống. Chúng ta chƣa có bài tập yêu cầu sinh viên đọc tài liệu tham khảo, phát  
hiện và ghi chép các đoạn văn quan trọng, sinh viên phải hoàn thành việc ấy mới đƣợc  
cho phép thi hết môn”. Yếu kém này do chính chƣa đƣợc đào tạo bài bản môn Ngữ văn  
ở trƣờng đào tạo sƣ phạm. Nguyên nhân cũng có thể là do năng lực của một số cán bộ  
giảng dạy chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới đào tạo ở trƣờng sƣ phạm. Mặt khác, đổi  
mới dạy học đòi hỏi có tấm lòng, say mê nghề nghiệp. Thiếu nó thì không sao đổi mới  
đƣợc.  
Vấn đề thứ hai. Ngƣời đào tạo ở cơ sở đào tạo sƣ phạm phải nắm chắc nội dung  
kiến thức ở phổ thông, kiến thức học nội dung gì và đƣợc dạy nhƣ thế nào. Có câu  
chuyện vui đã diễn ra trong thực tế, một cô giáo dạy đại học có con học lớp 5 hỏi bài  
toán. Cô nhờ thầy dạy toán đại học giải, theo cách đó cô hƣớng dẫn cho con, con đem  
bài đến lớp, cô giáo ở tiểu học chấm cho điểm kém, vì đáp án đúng nhƣng cách giải  
không phù hợp với học sinh tiểu học. Qua câu chuyện, ta thấy ngƣời đào tạo sƣ phạm  
phải nắm chắc kiến thức dạy ở phổ thông và cách dạy nhƣ thế nào để đáp ứng yêu cầu  
749  
của mỗi hệ đào tạo. Môn Ngữ văn cũng vậy, kiến thức các cấp học đồng tâm, kế thừa  
với nhau, nhƣng mỗi cấp giải quyết một cách khác nhau, sâu, hẹp khác nhau. Có ngƣời  
nói, ngƣời đào tạo sƣ phạm không cần làm thế, sau này ngƣời đƣợc đào tạo sƣ phạm ra  
trƣờng giảng dạy ắt sẽ biết. Điều đó cũng có thể đúng, nhƣng việc cho ngƣời đƣợc đào  
tạo sƣ phạm biết để giải quyết những kiến thức về mức độ, quan điểm, rộng, hẹp khác  
nhau là việc của bộ môn Ngữ văn ở cơ sở đào tạo. Ngƣời đƣợc đào tạo nhƣ vậy khi ra  
trƣờng về phổ thông dạy học không còn bỡ ngỡ, hơn nữa đã có nền tảng khi đổi mới,  
thay sách giáo khoa có thể phần nào thích ứng đƣợc ngay. Những ngƣời chƣa qua đào  
tạo sƣ phạm cũng khó có những ứng xử, giải quyết những vấn đề nhƣ vậy.  
Vấn đề thứ ba, thực tập, kiến tập sƣ phạm ở một số cơ sở đào tạo chƣa đƣợc coi  
trọng. Để tiết kiệm kinh phí, một số cơ sở đào tạo sƣ phạm gửi thẳng sinh viên xuống  
trƣờng phổ thông thực tập, kiến tập. Cuối kì thực tập, kiến tập danh sách đánh giá sinh  
viên lại gửi về cơ sở đào tạo. Vì không có giảng viên đi theo giám sát, một số cơ sở đào  
tạo khi nhận kết quả đều thấy kết quả hầu hết đƣợc xếp loại giỏi, tình trạng này do nể  
nang, các em xin nâng để dễ xin việc sau khi ra trƣờng. Có cơ sở đào tạo thành lập đoàn  
thực tập, có giảng viên phụ trách, nhƣng số giờ tính quá ít, họ chỉ đến giao cho trƣờng  
phổ thông, thỉnh thoảng giảng viên tới trƣờng phổ thông xem tình hình sinh viên thế nào  
có ai vi phạm gì không cho đúng trách nhiệm. Cơ sở đào tạo không có chế tài gì với  
những ngƣời đƣợc phân công làm trƣởng đoàn này. Chúng ta đều biết, đợt thực tập,  
kiến tập, ngoài lợi ích cho sinh viên trong đào tạo nghề thì giảng viên các bộ môn, đặc  
biệt là bộ môn phƣơng pháp đi theo đoàn thực tập, kiến tập là dịp học hỏi, nắm kiến  
thức, phƣơng pháp dạy phổ thông để kịp thời bổ sung vào giáo án của mình. Tiếc rằng,  
một số cơ sở đào tạo sƣ phạm hiện nay không chú ý việc này. Giảng viên tự giác đi tìm  
hiểu ở phổ thông là việc rất khó.  
Từ những vấn đề trên, có thể đƣa ra những giải pháp khắc phục:  
Một là, những ngƣời đào tạo sƣ phạm phải qua những lớp đào tạo nghề nghiệp sƣ  
phạm. Nếu chƣa qua đào tạo phải học lại, không phải chỉ học chứng chỉ sƣ phạm là  
xong. Ngƣời cán bộ quản lí khi tiếp nhận nhận ngƣời dạy ở cơ sở đào tạo sƣ phạm phải  
chú ý điều này.  
Hai là, mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo với trƣờng phổ thông phải có sự gắn kết sâu  
sắc. Gắn kết để sinh viên thực tập nghề nhƣng cũng là nơi cán bộ giảng dạy học hỏi trao  
đổi nghề nghiệp dạy ở phổ thông, nơi nghiên cứu áp dụng những đề tài khoa học giáo  
dục của các cơ sở đào tạo sƣ phạm. Ngƣời đào tạo sƣ phạm Ngữ văn phải luôn trau dồi  
phƣơng pháp sƣ phạm, đồng thời trau dồi kĩ năng bộ môn. Trong sinh hoạt chuyên môn  
của các tổ bộ môn trong các cơ sở đào tạo phải luôn đƣợc bàn bạc, thảo luận thƣờng  
xuyên về vấn đề này. Đào tạo năng lực ngữ văn và những kĩ năng khác cho ngƣời học  
phải đƣợc đặt ra yêu cầu của đào tạo sƣ phạm. Đáp ứng yêu cầu đổi mới, ngƣời cán bộ  
750  
dạy Ngữ văn ở cơ sở đào tạo sƣ phạm luôn nêu cao tinh thần học hỏi,nâng cao trình độ  
chuyên môn, nghiệp vụ.  
Ba là, các cơ sở đào tạo sƣ phạm ở tỉnh chỉ là một khoa đào tạo sƣ phạm trong  
trƣờng đa ngành nên chất lƣợng đào tạo sƣ phạm còn hạn chế. Cơ sơ đào tạo sƣ phạm  
cần có những trƣờng trọng điểm nhƣ Trƣờng Sƣ phạm Hà Nội, Trƣờng Sƣ phạm Thành  
phố Hồ Chí Minh, Trƣờng Sƣ phạm Đà Nẵng, Trƣờng Sƣ phạm Vinh, Trƣờng Sƣ phạm  
Thái Nguyên, Trƣờng Sƣ phạm Cần Thơ. Những cơ sở đào tạo này đƣợc đầu tƣ về cơ  
sở vật chất và con ngƣời tƣơng xứng với trọng trách đào tạo giáo viên trung học cơ sở  
và giáo viên trung học phổ thông. Những cơ sở đào tạo của các tỉnh đào tạo giáo viên  
tiểu học và giáo viên mầm non. Đồng thời những cơ sở này là nơi bồi dƣỡng giáo viên  
các hệ theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo.  
“Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo,  
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng  
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” của Bộ Giáo dục và Đào tạo để giáo dục nƣớc  
nhà phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới ngày  
càng bức thiết đặt ra cho ngành giáo dục. Đổi mới giáo dục, trƣớc hết phải đổi mới cơ  
sở đào tạo sƣ phạm, trong đó lấy con ngƣời đổi mới là trọng tâm, có nhƣ vậy mới đào  
tạo ra những ngƣời giáo viên phổ thông đáp ứng sự đổi mới toàn diện này. Sƣ phạm  
Ngữ văn cũng thế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Hiểu văn dạy văn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.  
2. Trần Đình Sử (2013), “Vấn đề đào tạo, bồi dƣỡng giáo viên hiện nay – thực trạng và  
giải pháp, Đào tạo giáo viên phải đi đôi với đổi mới toàn diện triệt để việc học”, Kỉ yếu  
Hội thảo khoa học Quốc gia về dạy Ngữ văn ở trƣờng phổ thông Việt Nam, Nxb. Đại  
học Sƣ phạm.  
751  
pdf 5 trang baolam 19180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề đội ngũ dạy Ngữ văn ở một số cơ sở đào tạo sư phạm hiện nay - thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_doi_ngu_day_ngu_van_o_mot_so_co_so_dao_tao_su_pham_hi.pdf