Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng

Vietnam J. Agri. Sci. 2016, Vol. 14, No. 9: 1475-1483  
Tạp chí KH Nông nghiệp Việt Nam 2016, tập 14, số 9: 1475-1483  
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT ĐÔ GỖ MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU  
̀
CỦA MỘT SỐ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG  
Trần Quang Vinh*, Mai Thanh Cúc  
Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Ngày gửi bài: 27.09.2016  
Ngày chấp nhận: 30.10.2016  
TÓM TẮT  
Sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của các làng nghề truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng (VĐBSH) đã tồn  
tại và liên tục phát triển trong nhiều năm qua với số lượng cơ sở chế biến gỗ tăng nhanh, giải quyết nhiều công ăn  
việc làm và đem lại ý nghĩa tích cực về hiệu quả kinh tế xã hội cho vùng. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu gỗ mỹ nghệ  
của nhiều làng nghề VĐBSH vẫn còn bị bó hẹp, thiếu tính ổn định và bền vững, đặc biệt việc xuất khẩu qua các thị  
trường tiềm năng như EU, Mỹ, Nhật Bản… còn rất hạn chế. Bằng các phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương  
pháp điều tra phỏng vấn, thảo luận nhóm, phương pháp thống kê mô tả và thống kê phân tích. Bài viết này phản ánh  
thực trạng sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ một số làng nghề VĐBSH, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy  
việc sản xuất sản phẩm của các làng nghề này.  
Từ khóa: Phát triển sản xuất, đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, thực trạng và giải pháp, vùng đồng bằng sông Hồng.  
Current State and Solutions for the Development  
of Export Joineries of Traditional Carpentry Villages in the Red River Delta Region  
ABSTRACT  
The manufacture of export joineries of traditional carpentry villages in the Red River Delta (RRD) region has  
attained substantial achievements in the recent time with a fast increase in wood processing bases that offer jobs  
and bring about positive significance in terms of socio-economic efficiency for the region. Beside the attained  
achievements, there still exist short-comings that need to be overcome, such as the limitation in export market for  
handicraft joineries, lack of stability and sustainability, especially the very limited exportation to potential markets such  
as EU, the U.S and Japan. Based on database study, interview method, group discussion, descriptive statistics and  
analytical statistics, this article focused on analysis and evaluation to clarify the current state of joinery  
manufacturing in some carpentry villages in the RDR, from which solutions to promote the production of these  
handicraft villages are proposed.  
Keywords: Export joinery manufacture, traditional carpentry villages, the Red River Delta Region.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
năm 2013, Việt Nam là nước xuất khẩu đồ gỗ  
lớn thứ 4 thế giới, với thị phần khoảng 4,7%, sau  
Trung Quốc (34,6%), Italia (9,3%) và Đức (9%)  
(dẫn theo Nguyễn Thị Thu Trang và Phan Minh  
Đô  
truyền thống đặc biệt phản ánh nền văn hoá lâu  
đời của dân tộc Việt Nam. Sản xuất đô gô mỹ  
̀ gỗ mỹ nghệ Việt Nam là một mặt hàng  
̀
̃
Thủy, 2014). Đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ mỹ  
nghệ ở Việt Nam được đánh giá là một trong số  
ít các ngành hội nhập thành công với kim ngạch  
xuất khẩu tăng nhanh và tạo dựng được vị trí  
trong xuất khẩu đồ gỗ toàn cầu. Theo số liệu từ  
Trung tâm Thương mại quốc tế ITC (trademap)  
nghệ còn có ý nghĩa quan trọng là quảng bá văn  
hoá truyền thống của Việt Nam ra thị trường  
quốc tế, giúp Việt Nam vững vàng hội nhập với  
nền kinh tế thế giới.  
1475  
Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng  
Tuy nhiên, ngành đồ gỗ Việt Nam hiện  
đang phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng  
loại được sản xuất bởi các đối thủ lớn như:  
Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia...  
nên có phát triển nhưng vẫn chưa tương xứng  
với tiềm năng của đất nước và chưa bền vững.  
các văn bản nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà  
nước và của các ngành chức năng cũng như số  
liệu của các địa phương. Các thông tin, số liệu sơ  
cấp của các làng nghề được thu thập trực tiếp  
(phỏng vấn) qua điều tra, khảo sát thực tế,  
trong đó tập trung vào ba làng nghề Đồng Kỵ  
(Từ Sơn - Bắc Ninh), Vạn Điểm (Thường Tín -  
Hà Nội) và La Xuyên (Ý Yên - Nam Định). Đây  
là các làng nghề có tốc độ phát triển sản xuất  
nhanh, được khách hàng ưa chuộng và có sản  
lượng thành phẩm chiếm trên 51,3% sản phẩm  
Số lượng làng nghề chế biến gỗ và sản suất mộc  
mỹ nghệ của vùng đồng bằng sông Hồng chiếm  
gần 50% số làng nghề đồ gỗ tại Việt Nam (Tô  
Xuân Phúc và cs., 2012). Các làng nghề truyền  
thống có từ lâu đời đó là làng nghề Đồng Kỵ,  
Tam Sơn, Mai Động (Từ Sơn - Bắc Ninh), Vạn  
Điểm (Thường Tín - Hà Nội), Sơn Đông (Hoài  
Đức - Hà Nội); La Xuyên (Ý Yên - Nam Định)…  
Tuy nhiên, theo đánh giá hiện nay, thị trường  
đồ gỗ mỹ nghệ vùng đồng bằng sông Hồng (Hiệp  
hội làng nghề truyền thống, 2011).  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ của nhiều làng nghề  
3.1. Thực trạng sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ  
xuất khẩu của một số làng nghề truyền  
thống vùng đồng bằng sông Hồng  
VĐBSH vẫn còn bị bó hẹp, thiếu tính ổn định và  
bền vững. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào  
để nâng cao khả năng sản xuất đô  
xuất khẩu cho các làng nghề. Đã có một số  
nghiên cứu về phát triển sản xuất gỗ và đô gỗ  
̀ gỗ mỹ nghệ  
3.1.1. Quy mô doanh nghiệp, hộ gia đình  
sản xuất đồ gỗ  
̀
mỹ nghệ của các làng nghề như của Huỳnh Văn  
Hạnh (2012), Phùng Văn Vinh (2012), Nguyễn  
Văn Hiến (2012) và Trần Văn Hùng (2015)…;  
nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu  
chuyên sâu về phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ  
nghệ xuất khẩu. Bài viết này sẽ tập trung làm  
rõ: (i) Thực trạng việc xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ  
xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống  
VĐBSH; (ii) Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát  
Nhìn chung số lượng doanh nghiệp sản xuất  
đô  
qua các năm, quy mô của doanh nghiệp cũng có  
bước phát triển do nhu cầu về đô gỗ mỹ nghệ  
̀ gỗ mỹ nghệ tại các làng nghề VĐBSH tăng  
̀
ngày càng tăng. Ngay trong giai đoạn từ 2010  
đến đầu năm 2015, mặc dù nền kinh tế có gặp  
khó khăn nhưng sản lượng đồ gỗ mỹ nghệ sản  
xuất và tiêu thụ vẫn tăng nhanh. Tổng hợp số  
liệu của chúng tôi từ các địa phương cho thấy số  
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại hai làng nghề Vạn  
Điểm (Thường Tín - Hà Nội) và La Xuyên (Ý  
Yên - Nam Định) vẫn có sự tăng lên hàng năm,  
mặc dù mức tăng không đều. Riêng Đồng Kỵ  
(Từ Sơn - Bắc Ninh), năm 2015 số doanh nghiệp  
nhỏ giảm mạnh so với năm 2014 do tình hình  
xuất khẩu sang Trung Quốc (thị trường chủ yếu  
của làng nghề này) có sự biến động lớn trong  
năm 2014 và đầu năm 2015, đó chính là lý do  
khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ giải thể trong  
năm 2014 (Biểu đồ 1).  
triển sản xuất đô  
làng nghề và đưa ra (iii) Một số giải pháp nhằm  
phát triển sản xuất đô gỗ mỹ nghệ xuất khẩu  
của các làng nghề này.  
̀ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của các  
̀
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng  
gồm: nghiên cứu tư liệu, tài liệu có liên quan  
(nghiên cứu tại bàn); phỏng vấn bằng bảng câu  
hỏi; thảo luận nhóm và hội thảo. Phương pháp  
thống kê mô tả được sử dụng để mô tả, phân  
tích thực trạng sản xuất.  
Nhìn chung, hơn 80% các doanh nghiệp là  
của tư nhân, được phát triển và thành lập từ các  
hộ sản xuất nên chủ yếu có quy mô nhỏ. Bên  
cạnh các doanh nghiệp, chiếm phần lớn các cơ sở  
sản xuất kinh doanh của làng nghề là các hộ làm  
Các thông tin, số liệu chung về tình hình  
phát triển sản xuất, xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ  
được điều tra, thu thập từ các công trình nghiên  
cứu đã công bố có liên quan; niên giám thống kê;  
1476  
Trần Quang Vinh, Mai Thanh Cúc  
Biểu đồ 1. Sự gia tăng số lượng doanh nghiệp tại các làng nghề  
giai đoạn 2010 - 2015 (ĐVT: số doanh nghiệp)  
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ UBND huyện Thường Tín, Ý Yên và thị trấn Từ Sơn (2016)  
Bảng 1. Quy mô các hộ sản xuất kinh doanh đồ gỗ ở các làng nghề  
vùng đông bằng sông Hồng  
Năm  
TĐPTBQ  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
(%)  
2010  
4688  
11.585  
2,5  
2011  
4926  
12.000  
2,4  
2012  
5002  
13.913  
2,8  
2013  
5061  
13.889  
2,7  
2014  
5551  
14.330  
2,6  
2015  
5388  
14.325  
2,7  
Tổng số hộ  
hộ  
102,8  
104,3  
101,5  
99,2  
Tổng số lao động  
Số lao động BQ/hộ  
Doanh thu BQ/hộ  
người  
người  
tr.đ  
591,2  
570,5  
552,8  
575,3  
519,7  
566,6  
Nguồn: Tổng hợp từ Phòng Thống kê huyện Ý Yên, Thường Tín và thị trấn Từ Sơn (2016)  
nghề mộc. Việc sản xuất kinh doanh của các hộ  
này đưa lại nguồn thu đáng kể cho làng nghề.  
Thống kê quy mô hộ sản xuất tại ba làng nghề  
Đồng kỵ, Vạn Điểm, La Xuyên được thể hiện tại  
bảng 1.  
thể kiếm được các đơn đặt hàng lớn bởi vì khách  
hàng thường e dè về năng lực sản xuất, vốn  
cũng như hóa đơn chứng từ (Nguyễn Tôn Quyền  
và cs., 2006).  
3.1.2. Đặc điểm lao động của các làng nghề  
Theo thống kê từ các địa phương năm 2015,  
tại làng nghề La Xuyên, Vạn Điểm, việc sản  
xuất kinh doanh đồ gỗ chủ yếu dành cho thị  
trường nội địa, sản phẩm xuất khẩu chiến  
khoảng trên 30%. Riêng Đồng Kỵ sản phẩm  
xuất khẩu chiếm 60% tổng lượng sản phẩm sản  
xuất ra với thị trường xuất khẩu chủ yếu là  
Trung Quốc. Ngoài các doanh nghiệp thì số hộ  
Số lượng sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ được sản  
xuất tại các làng nghề VĐBSH chiếm khá lớn là  
các hộ sản xuất (Tô Xuân Phúc và cs., 2012).  
Các chủ hộ sản xuất có vai trò rất quan trọng,  
họ vừa là người tổ chức, quản lý sản xuất, vừa là  
người trực tiếp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.  
Đặc điểm chung của các chủ hộ điều tra được  
thể hiện qua bảng 2.  
tham gia sản xuất sản phẩm xuất khẩu trực  
tiếp chiếm bình quân là 36,7% trong tổng số hộ,  
còn lại đa phần các hộ là làm gia công hay sản  
xuất một phần sản phẩm như tay vịn, chân bàn,  
cửa tủ… nên giá trị gia tăng của sản phẩm thấp.  
Một yếu điểm của sản xuất hộ đó là rất khó có  
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, rất ít các  
chủ hộ được qua đào tạ. Đây là một nhược điểm,  
một trong những nguyên nhân cản trở trực tiếp  
sự phát triển của các làng nghề, ảnh hưởng đến  
việc phát triển sản xuất quy mô lớn, tìm tòi áp  
1477  
Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng  
Bảng 2. Đặc điểm cơ bản chung của các hộ sản xuất gỗ mỹ nghệ  
vùng đồng bằng sông Hồng  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
%
La Xuyên  
97,8  
2,2  
Vạn Điểm  
96,4  
Đồng Kỵ  
97,9  
2,1  
Trung bình  
97,4  
Chủ hộ: - Nam  
- Nữ  
%
3,6  
2,6  
Tuổi trung bình  
năm  
năm  
%
38,0  
8,0  
43,0  
40,0  
5,6  
40,3  
Kinh nghiệm sản xuất  
6,7  
6,8  
Chưa qua đào tạo quản lý, kỹ thuật  
76,4  
82,1  
91,3  
83,3  
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2015.  
dụng công nghệ mới, tìm kiếm và mở rộng thị  
trường. Riêng với các doanh nghiệp (25 doanh  
nghiệp năm 2015), đa phần chủ doanh nghiệp là  
nam, tuổi trung bình là 42,5 và 84,4% đã qua  
đào tạo về quản lý hoặc kỹ thuật.  
hàng lớn. Riêng đối với các hộ, giá trị đầu tư cho  
máy móc, thiết bị còn thấp hơn (Bảng 3).  
Số liệu bảng trên cho thấy giá trị nhà xưởng  
của các hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ là khá lớn,  
tuy nhiên chủ yếu là giá trị đất. Đầu tư vào  
thiết bị phục vụ sản xuất vẫn ở mức thấp. Đây  
là nguyên nhân quan trọng làm cho năng suất  
lao động của các làng nghề thấp, sức cạnh tranh  
của sản phẩm kém, ảnh hưởng đến việc xuất  
khẩu sản phẩm.  
3.1.3. Vốn đầu tư cho sản xuất  
Theo điều tra năm 2015, vốn đầu tư cho  
máy móc, thiết bị trung bình cho một doanh  
nghiệp khoảng 620 - 900 triệu đồng, có 12,6%  
các doanh nghiệp có vốn trên 1 tỷ đồng. Mức vốn  
cố định này thấp thua rất nhiều so với mức bình  
quân của vùng Đông Nam bộ (các doanh nghiệp  
chế biến gỗ có số vốn dưới 1 tỷ chỉ chiếm có 27%  
trong tổng số doanh nghiệp) (Trần Văn Hùng,  
2015). Điều này đã phần nào phản ánh trình độ  
công nghệ còn lạc hậu cũng như năng lực còn  
hạn chế của các doanh nghiệp làng nghề  
VĐBSH trong việc đáp ứng nhu cầu những đơn  
Một trong những khó khăn đối với các  
doanh nghiệp và các hộ, đặc biệt là các hộ trong  
sản xuất hàng xuất khẩu đó là vốn để mua  
nguyên vật liệu (chủ yếu là gỗ thành phẩm để  
sản xuất sản phẩm…). Chính vì vậy, các hộ sản  
xuất thường chỉ nhận làm gia công cho các đơn  
vị lớn hơn. Kết quả điê  
̀u tra 62 doanh nghiệp và  
hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ (gồm 25 doanh nghiệp  
Bảng 3. Tình hình nhà xưởng, thiết bị của các hộ sản xuất  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
La Xuyên  
Đồng Kỵ  
Vạn Điểm  
Nhà xưởng:  
- Diện tích  
- Giá trị  
m2  
240,2  
157,2  
126,4  
3620  
160  
135  
25  
Tr.đ  
2100  
132,9  
100,40  
32,50  
2400  
170,5  
130  
Thiết bị:  
- Giá trị máy móc  
- Giá trị công cụ  
Tr.đ  
Tr.đ  
40,5  
Cơ cấu giá trị nhà xưởng, thiết bị:  
- Nhà xưởng  
%
%
94,05  
5,95  
93,37  
6,63  
95,77  
4,23  
- Thiết bị  
Ghi chú: Tính bình quân cho một hộ,; Giá đất theo thời điểm điều tra  
Nguồn: Số liệu điều tra, khảo sát năm (2015)  
1478  
Trần Quang Vinh, Mai Thanh Cúc  
Bảng 4. Khó khăn của doanh nghiệp và hộ sản xuất  
khi vay vốn sản xuất hàng gỗ mỹ nghệ xuất khẩu tại các tổ chức tín dụng  
Rất  
khó khăn  
Khó  
khăn  
Bình  
thường  
Rất thuận  
lợi  
Điểm trung  
Nguyên nhân  
Thủ tục hành chính phức tạp  
Thuận lợi  
bình  
8,97  
9,24  
9,96  
7,26  
15,57  
9,94  
26,78  
29,42  
30,15  
25,74  
18,23  
38,69  
44,14  
23,36  
12,38  
15,5  
3,76  
3,92  
3,45  
2,92  
2,85  
Điều kiện cho vay của ngân hàng quá chặt chẽ  
Lãi suất cho vay của ngân hàng cao  
Thời gian làm thủ tục vay vốn lâu  
10,23  
20,64  
22,66  
11,35  
16,62  
19,25  
24,91  
24,59  
24,36  
Doanh nghiệp (hoặc cơ sở) thiếu năng lực xây  
dựng dự án và phương án trả nợ vốn vay  
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015)  
nghiệp và 37 hộ sản xuất) xuất khẩu năm 2015  
về những khó khăn của doanh nghiệp và hộ khi  
vay vốn sản xuất tại các tổ chức tín dụng được  
thể hiện tại bảng 4.  
thấp, thiếu tính ổn định. Đây là tình trạng  
chung của nhiều hộ sản xuất vùng ĐBSH.  
3.1.4. Nguồn nguyên vật liệu để sản xuất  
hàng xuất khẩu  
Số liệu trên cho thấy, mặc dù thủ tục và  
quy trình vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức  
tín dụng khác đã được đơn giản hóa nhưng  
20,64% doanh nghiệp và hộ sản xuất được điều  
tra vẫn cho rằng quy trình và thủ tục rất mất  
thời gian, việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi không  
dễ. Qua điều tra, khó khăn lớn nhất đối với các  
doanh nghiệp sản xuất là thời gian làm thủ tục  
vay vốn chậm trong khi nhiều đơn hàng xuất  
khẩu khách hàng đặt rất gấp. Còn riêng đối với  
37 hộ sản xuất, 64,6% số hộ chưa tiếp cận nguồn  
vay vốn sản xuất các đơn hàng xuất khẩu trong  
5 năm trở lại đây. Các hộ này phần lớn sản xuất  
đơn hàng cho các công ty của Trung Quốc và  
thường được các công ty này này đặt cọc trước  
Nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành sản  
xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của VĐBSH được  
cung cấp từ hai nguồn chính là trong nước và  
nhập khẩu từ nước ngoài. Nguồn nguyên liệu  
trong nước các doanh nghiệp chế biến gỗ mua  
trực tiếp từ các đầu nậu/nhà buôn tại các địa  
phương như Nghệ An, Gia Lai, Kom Tum, Đắc  
Lắc... Tuy nhiên, nguồn này rất hạn chế do chủ  
trương cấm khai thác rừng ở Việt Nam, hiện  
nguồn gỗ này còn chủ yếu là ở các khu vực rừng  
được khai thác để chuyển đổi mục đích sử dụng  
(NewForests, 2010). Hiện tại, 90% nguồn gỗ của  
VĐBSH đang phải nhập khẩu từ các nước như  
Lào, Campuchia, New Zealand, Nam Phi,  
Indonesia, Myanma, Braxin, Chi lê,… Việc nhập  
khẩu nguyên liệu sẽ làm tăng chi phí cho các cơ  
một phần vốn khi đặt hàng, các đơn hàng  
thường nhỏ. Vì vậy, giá trị sản xuất sản phẩm  
Bảng 5. Giá một số nguyên liệu gỗ chủ yếu (Đơn vị tính: 1.000 đ/m3)  
So sánh (%)  
Năm  
Loại gỗ  
2013  
2014  
2015  
14/13  
15/14  
111,8  
78,1  
Gỗ gụ  
13.000  
300.000  
150.000  
10.000  
90.000  
17.000  
320.000  
180.000  
12.000  
120.000  
19.000  
250.000  
200.000  
16.000  
100.000  
130,8  
106,7  
120,0  
120,0  
133,3  
Gỗ trắc  
Gỗ mun  
Gỗ lim  
Gỗ sú  
111,1  
133,3  
83,3  
Nguồn: Kết quả điều tra và tính toán của tác giả (2015)  
1479  
Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng  
sở sản xuất và mang tính rủi ro lớn. Hơn nữa,  
việc nhập khẩu gỗ từ nước ngoài còn gặp khó  
khăn về chứng minh nguồn gỗ hợp pháp như  
đạo luật LACEY của Mỹ và FLEGT của EU đã  
đề cập. Ngoài những khó khăn rất lớn này, sự  
tăng giá nguyên liệu gỗ cũng ảnh hưởng không  
Xuyên, Vạn Điểm thì có thêm đơn hàng của  
khách Đài Loan, Hông Kông, Pháp, Nhật Bản,  
Mỹ, Thái Lan, Canada… (Biểu đồ 2).  
Công tác quảng bá sản phẩm ra thị trường  
nước ngoài còn rất yếu, việc thành lập trang  
web để quảng cáo sản phẩm chủ yếu là của các  
doanh nghiệp nhưng hầu hết các trang web đều  
bằng tiếng Việt, chỉ có 32,4% trang web có tiếng  
Anh nhưng nội dung cũng rất sơ sài. Một số hộ  
sản xuất có in tờ rơi, brochure… giới thiệu sản  
phẩm nhưng cũng rất hạn chế so với giới thiệu  
trực tiếp. Điều này đã hạn chế rất nhiều đến  
công tác giới thiệu sản phẩm, thúc đẩy việc xuất  
khẩu sản phẩm ra nước ngoài.  
nhỏ đối với ngành sản xuất và chế biến gỗ Việt  
Nam nói chung. Giá một số nguyên liệu gỗ chủ  
yếu tăng nhanh liên tục qua 3 năm từ 2013 -  
2015, cá biệt có những loại gỗ như gỗ lim giá  
năm 2015 so với năm 2014 tăng 33,3%, thể hiện  
tại bảng 5.  
Các nguồn nguyên vật liệu khác như trai,  
nứa, ốc… dùng để khảm cũng chủ yếu từ nguồn  
hàng nhập từ Singapore và Indonesia, Trung  
Quốc... Vì hàng trong nước rất ít và không có  
nhiều chủng loại nên đã gây rất nhiều bị động  
trong sản xuất hàng xuất khẩu.  
3.2. Giải pháp phát triển sản xuất đô gỗ mỹ  
nghệ xuất khẩu của một số làng nghề  
truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng  
̀
3.2.1. Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển  
3.1.5. Tình hình tiêu thụ, thị trường và công  
tác quảng bá cho việc xuất khẩu sản phẩm  
các làng nghề đô gỗ mỹ nghệ vùng đồng  
̀
bằng sông Hồng hướng đến sản xuất sản  
phẩm xuất khẩu  
Trong những năm qua, ngành chế biến và  
xuất khẩu sản phẩm gỗ của vùng đã có những  
bước phát triển vượt bậc, kim ngạch xuất khẩu  
luôn tăng trưởng cao. Năm 2015, thị trường  
xuất khẩu các làng nghề Đồng Kỵ, La Xuyên,  
Vạn Điểm chủ yếu là Trung Quốc, đặc biệt hầu  
hết sản phẩm (trên 60% tổng lượng sản phẩm  
sản xuất) của làng nghề Đồng Kỵ là xuất khẩu  
sang Trung Quốc. Một số doanh nghiệp tại La  
Các cơ sở, hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ  
VĐBSH có quy mô còn nhỏ lẻ, năng lực sản xuất  
rất hạn chế (về điều kiện nhà xưởng, vốn, công  
nghệ…). Đặc biệt, giữa các làng nghề còn thiếu  
sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất nên  
ít tạo được giá trị gia tăng trong chuỗi liên kết.  
Vì vậy, cần triển khai quy hoạch tổng thể phát  
Biểu đồ 2. Thị trường xuất khẩu của các làng nghề năm 2015  
Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả (2015)  
1480  
Trần Quang Vinh, Mai Thanh Cúc  
triển ngành gỗ mỹ nghệ VĐBSH hướng đến  
xuất khẩu. Nên hình thành các cụm sản xuất có  
thế mạnh của từng làng nghề để hỗ trợ nhau  
như: cụm gồm các làng nghề chạm khắc gỗ  
Hương Mạc, Đồng Giao, Phù Khê…. hỗ trợ cho  
các làng nghề Mai Động, Phù Khê, Đồng Kỵ… Tổ  
chức sắp xếp lại các cơ sở chế biến gỗ theo hướng  
chuyên môn hoá, hợp tác hoá, đa dạng hoá sản  
phẩm bằng các công cụ chính sách điều tiết của  
Nhà nước để thúc đẩy các cơ sở sản xuất nhỏ  
liên kết chặt chẽ với nhau và với các doanh  
nghiệp lớn, đáp ứng các đơn hàng với khối lượng  
quản trị doanh nghiệp mà nhất là các kiến  
thức về quản lý và hạch toán kinh tế trong cơ  
chế thị trường. Cần có chính sách tăng cường  
hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các  
doanh nghiệp để đào tạo tại chỗ, gắn đào tạo  
với sử dụng lao động để nâng cao tay nghề cho  
công nhân và cán bộ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu  
của các doanh nghiệp. Do tính chất đặc thù của  
nghề truyền thống, vì vậy về cơ bản, lâu dài các  
làng gỗ mỹ nghệ ở VĐBSH phải có chiến lược  
cử con em ở địa phương đi đào tạo bài bản ở  
trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, cao  
đẳng, trung học chuyên nghiệp và có chính  
sách thoả đáng - kể cả trong khi học, để họ trở  
về làng nghề làm việc và sinh sống. Riêng về  
các doanh nghiệp, đặc biệt là các hộ tại làng  
nghề cũng cần ý thức vấn đề truyền nghề cho  
con em tại địa phương để nghề truyền thống  
của làng nghề không bị mai một.  
lớn. Hình thành các khu vực sản xuât́ sản phẩm  
phụ trợ (làm chân ghế, khảm tay ghế…) xung  
quanh các làng nghề chính để hỗ trợ làng nghề  
này. Hình thành và phát triển các cụm công  
nghiệp làng nghề tạo điều kiện cho doanh  
nghiệp và hộ sản xuất mở rộng quy mô, khắc  
phục ô nhiễm môi trường…  
3.2.2. Tăng cường sự giúp đỡ, hỗ trợ để đổi  
mới công nghệ cho các cơ sở sản xuất kinh  
doanh ngành nghề gỗ mỹ nghệ  
3.3.4. Nguồn nguyên liệu cho sản xuất sản  
phẩm xuất khẩu  
Cần có chính sách phát triển các nguồn  
nguyên liệu trong nước bằng việc mở rộng  
nhanh diện tích rừng trồng và có những chính  
sách thích hợp nhằm kiểm soát nguồn gỗ nhập  
khẩu, cụ thể:  
Cần sự giúp đỡ, hỗ trợ đắc lực và có hiệu  
quả từ các cơ quan, tổ chức bên ngoài, mà trước  
hết là chính quyền các cấp, các cơ quan nghiên  
cứu khoa học - công nghệ, các trường đại học và  
các hiệp hội ngành nghề. Nhà nước cũng cần đề  
ra các chính sách hỗ trợ thiết thực cho các làng  
nghề gỗ mỹ nghệ, trong đó có VĐBSH. Trước  
mắt theo chúng tôi cần đề ra: (i) Các chính sách  
tài trợ nghiên cứu và chuyển giao kết quả  
nghiên cứu về thiết kế sản phẩm, vật liệu, vật  
tư, công nghệ chế biến gỗ; (ii) Các chương trình  
tập huấn, đào tạo miễn phí về các công nghệ  
mới, quy trình tổ chức sản xuất, quản lý cho các  
(i) Hiện tại các chính sách trồng rừng là  
chính sách phát triển các loại cây rừng trồng nói  
chung, không có chính sách cụ thể về loại cây  
trồng phục vụ chế biến gỗ cho từng đặc thù của  
làng nghề, vì vậy cần nghiên cứu, xây dựng  
danh mục các loại gỗ nguyên liệu ưu tiên, từ đó  
xác định các loại cây trồng thích hợp cho rừng  
sản xuất phục vụ đặc thù của làng nghề;  
(ii) Có các chính sách hỗ trợ (về giải phóng  
mặt bằng, thủ tục hành chính, thuế, vay tín  
dụng...) cho các dự án đầu tư xây dựng vùng  
nguyên liệu cho các khu vực tập trung nhiều cơ sở  
chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ tại Việt  
Nam nói chung và VĐBSH nói riêng.  
cơ sở gỗ mỹ nghệ; (iii) Chính sách hô  
̃ trợ, cho  
vay vốn ưu đãi để đổi mới công nghệ…  
3.2.3. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và  
nâng cao tay nghề cho người lao động  
trong các làng nghề  
(iii) Tiến hành đàm phán, thỏa thuận với các  
nước hiện đang cung cấp gỗ nguyên liệu với tỷ lệ  
lớn vào Việt Nam (Lào, Campuchia...) để kiểm  
soát nguồn gốc gỗ nhập khẩu vào Việt Nam;  
Trước hết cần có chương trình, kế hoạch  
đào tạo, bồi dưỡng cho các chủ cơ sở đồ gỗ mỹ  
nghệ ở VĐBSH. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng  
cần tập trung ở các mặt khoa học, kỹ thuật,  
1481  
Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng  
(iv) Chính phủ cần sớm thành lập chợ gỗ,  
sàn giao dịch gỗ nhằm cung cấp thông tin về giá  
cả thị trường gỗ trong nước và thế giới, các vấn  
đề về pháp luật khi các doanh nghiệp xuất khẩu  
gỗ ra nước ngoài.  
thuộc vào nhập khẩu, kênh tiêu thụ, phát triển  
thị trường xuất khẩu chưa được định hướng và  
đầu tư mạnh. Những nguyên nhân trên làm thị  
trường xuất khẩu của đô  
làng nghề bị bó hẹp, phụ vào thị trường nên  
thiếu tính bền vững, rui ro lớn, giá trị gia tăng  
không cao.  
Nhằm đẩy mạnh việc xuất khẩu, mở rộng  
̀ gỗ mỹ nghệ một số  
̉
3.2.5. Giải pháp về tiêu thụ, thị trường và  
quảng bá cho sản suất sản phẩm xuất khẩu  
Cần có các chính sách và biện pháp hỗ trợ  
cho các doanh nghiệp thuộc làng nghề gỗ mỹ  
các thị trường, đặc biệt là các thị trường tiềm  
năng lớn như EU, Mỹ, Nhật, Úc, Canada… đòi  
hỏi thực hiện đồng bộ các giải pháp và chính  
sách, từ việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển  
các làng nghề gỗ mỹ nghệ nhằm nâng cao năng  
lực sản xuất đến việc tăng cường sự giúp đỡ, hỗ  
trợ để đổi mới công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng  
nguồn nhân lực, giải quyết vấn đề về nguồn  
nguyên liệu, hỗ trợ việc phát triển thị trường và  
quảng bá cho sản xuất sản phẩm xuất khẩu…  
nghệ trong cả nước và VĐBSH phát triển mạnh  
cửa hàng giới thiệu trưng bày sản phẩm tại các  
địa phương lớn trong cả nước và tại nước ngoài.  
Riêng các hộ có thể liên kết trong các tổ chức  
sản xuất hoặc hợp tác xã để đẩy mạnh quảng  
bá, phát triển cửa hàng giới thiệu sản phẩm,  
xây dựng trang web giới thiệu… Nhà nước nên  
có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp  
lớn hình thành các siêu thị đồ gỗ như chính sách  
về mặt bằng, vốn, thuế… Tăng cường giúp đỡ các  
làng nghề về định hướng chiến lược mặt hàng và  
thị trường tiêu thụ, tìm kiếm, bảo lãnh, hướng  
dẫn doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi phân  
phối hiệu quả tại các thị trường xuất khẩu trọng  
điểm. Muốn vậy, Nhà nước cần có các cơ quan  
hoặc bộ phận chuyên trách nghiên cứu và thông  
tin thị trường về nghề gỗ mỹ nghệ nói chung và  
VĐBSH nói riêng. Nhà nước cũng cần nghiên  
cứu mô hình liên kết thành công giữa nhà sản  
xuất và nhà phân phối và có chính sách hỗ trợ  
phát triển liên kết. Từng bước phát triển hội  
chợ, triển lãm quốc tế, tổ chức tập huấn nâng  
cao trình độ chuyên môn của ngành và tổ chức  
các chuyến thăm xúc tiến thương mại trong và  
ngoài nước.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Nguyễn Quang Dương (2012). Báo cáo trong chương  
trình Quản lý và phát triển rừng bền vững - Hội  
nghị thường niên Đối tác hỗ trợ ngành Lâm nghiệp  
(FSSP).  
NewForests (2010). Vietnam: A Forestry Investment  
Opportunity, Market Outlook trang web:  
/2014/08/201006MarketOutlookVietnamSustainabl  
eForestry.pd, truy cập ngày 24/6/2014.  
Huỳnh Văn Hạnh (2012). Ngành chế biến gỗ Việt Nam  
và các cơ hội cho ATIBT - Hội thảo giao thương  
quốc tế giữa các doanh nghiệp Việt Nam và  
ATIBT, Hà Nội ngày 23/10/2012.  
Hiệp hội làng nghề truyền thống Việt Nam (2011). Báo  
cáo về tình hình phát triển làng nghề.  
Nguyễn Văn Hiến (2012). Phát triển làng nghề theo  
hướng bền vững ở Việt Nam trong tiến trình hội  
nhập kinh tế thế giới, Tạp chí Phát Triển & Hội  
Nhập, 4(14).  
4. KẾT LUẬN  
Phát triển sản xuất sản phẩm gỗ mỹ nghệ  
hướng đến xuất khẩu sẽ góp phần tích cực đối  
với việc phát triển kinh tế, xã hội trong giai  
đoạn hiện nay. Thực tế nghiên cứu đã chỉ ra,  
năng lực sản xuất của các cơ sở kinh doanh, đặc  
biệt là các hộ sản xuất VĐBSH phần lớn còn rất  
nhỏ, yếu về vốn, trang thiết bị, phương tiện sản  
xuất rất lạc hậu, nguồn nguyên vật liệu bị phụ  
Trần Văn Hùng (2015). Thực trạng và giải pháp phát  
triển ngành công nghiệp chế biến gỗ vùng Đông  
Nam Bộ, Tạp chí Phát Triển & Hội Nhập, 22(32).  
Tô Xuân Phúc, Nguyễn Tôn Quyền, Lê Duy Phương,  
Cao Thị Cẩm, Ngụy Thị Hồng (2012). Làng nghề  
gỗ trong bối cảnh thực thi Flegt và Redd+ tại Việt  
Nam, Forest Trends và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản  
Việt Nam.  
1482  
Trần Quang Vinh, Mai Thanh Cúc  
Nguyễn Thị Thu Trang, Phan Minh Thủy (2014). Báo  
cáo nghiên cứu - Hỗ trợ Hiệp hội thực hiện nghiên  
cứu chiến lược phát triển ngành chế biến gỗ, Dự án  
EU-MUTRAP với sự phối hợp của Phòng Thương  
mại và Công nghiệp Việt Nam.  
UBND thị trấn Từ Sơn (2016). Số liệu thống kê từ năm  
2010 - 2015.  
UBND huyện Thường Tín (2016). Số liệu thống kê từ  
năm 2010 - 2015.  
UBND huyện Ý Yên (2016). Số liệu thống kê từ năm  
2010 - 2015.  
Nguyễn Tôn Quyền, Trịnh Vỹ, Huỳnh Thạch, Vũ Bảo  
(2006). Công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam -  
Cẩm Nang ngành lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ  
ngành Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và PTNT.  
Phùng Văn Vinh (2012). Báo cáo kết quả điều tra, đánh  
giá thực trạng các cơ sở chế biến lâm sản trên địa  
bàn tỉnh, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ.  
1483  
pdf 9 trang baolam 18440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_phat_trien_san_xuat_do_go_my_nghe_xuat_khau_cua_mo.pdf