Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng
Vietnam J. Agri. Sci. 2016, Vol. 14, No. 9: 1475-1483
Tạp chí KH Nông nghiệp Việt Nam 2016, tập 14, số 9: 1475-1483
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT ĐÔ GỖ MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU
̀
CỦA MỘT SỐ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Trần Quang Vinh*, Mai Thanh Cúc
Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Ngày gửi bài: 27.09.2016
Ngày chấp nhận: 30.10.2016
TÓM TẮT
Sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của các làng nghề truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng (VĐBSH) đã tồn
tại và liên tục phát triển trong nhiều năm qua với số lượng cơ sở chế biến gỗ tăng nhanh, giải quyết nhiều công ăn
việc làm và đem lại ý nghĩa tích cực về hiệu quả kinh tế xã hội cho vùng. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu gỗ mỹ nghệ
của nhiều làng nghề VĐBSH vẫn còn bị bó hẹp, thiếu tính ổn định và bền vững, đặc biệt việc xuất khẩu qua các thị
trường tiềm năng như EU, Mỹ, Nhật Bản… còn rất hạn chế. Bằng các phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương
pháp điều tra phỏng vấn, thảo luận nhóm, phương pháp thống kê mô tả và thống kê phân tích. Bài viết này phản ánh
thực trạng sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ một số làng nghề VĐBSH, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy
việc sản xuất sản phẩm của các làng nghề này.
Từ khóa: Phát triển sản xuất, đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, thực trạng và giải pháp, vùng đồng bằng sông Hồng.
Current State and Solutions for the Development
of Export Joineries of Traditional Carpentry Villages in the Red River Delta Region
ABSTRACT
The manufacture of export joineries of traditional carpentry villages in the Red River Delta (RRD) region has
attained substantial achievements in the recent time with a fast increase in wood processing bases that offer jobs
and bring about positive significance in terms of socio-economic efficiency for the region. Beside the attained
achievements, there still exist short-comings that need to be overcome, such as the limitation in export market for
handicraft joineries, lack of stability and sustainability, especially the very limited exportation to potential markets such
as EU, the U.S and Japan. Based on database study, interview method, group discussion, descriptive statistics and
analytical statistics, this article focused on analysis and evaluation to clarify the current state of joinery
manufacturing in some carpentry villages in the RDR, from which solutions to promote the production of these
handicraft villages are proposed.
Keywords: Export joinery manufacture, traditional carpentry villages, the Red River Delta Region.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
năm 2013, Việt Nam là nước xuất khẩu đồ gỗ
lớn thứ 4 thế giới, với thị phần khoảng 4,7%, sau
Trung Quốc (34,6%), Italia (9,3%) và Đức (9%)
(dẫn theo Nguyễn Thị Thu Trang và Phan Minh
Đô
truyền thống đặc biệt phản ánh nền văn hoá lâu
đời của dân tộc Việt Nam. Sản xuất đô gô mỹ
̀ gỗ mỹ nghệ Việt Nam là một mặt hàng
̀
̃
Thủy, 2014). Đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ mỹ
nghệ ở Việt Nam được đánh giá là một trong số
ít các ngành hội nhập thành công với kim ngạch
xuất khẩu tăng nhanh và tạo dựng được vị trí
trong xuất khẩu đồ gỗ toàn cầu. Theo số liệu từ
Trung tâm Thương mại quốc tế ITC (trademap)
nghệ còn có ý nghĩa quan trọng là quảng bá văn
hoá truyền thống của Việt Nam ra thị trường
quốc tế, giúp Việt Nam vững vàng hội nhập với
nền kinh tế thế giới.
1475
Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng
Tuy nhiên, ngành đồ gỗ Việt Nam hiện
đang phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng
loại được sản xuất bởi các đối thủ lớn như:
Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia...
nên có phát triển nhưng vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng của đất nước và chưa bền vững.
các văn bản nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà
nước và của các ngành chức năng cũng như số
liệu của các địa phương. Các thông tin, số liệu sơ
cấp của các làng nghề được thu thập trực tiếp
(phỏng vấn) qua điều tra, khảo sát thực tế,
trong đó tập trung vào ba làng nghề Đồng Kỵ
(Từ Sơn - Bắc Ninh), Vạn Điểm (Thường Tín -
Hà Nội) và La Xuyên (Ý Yên - Nam Định). Đây
là các làng nghề có tốc độ phát triển sản xuất
nhanh, được khách hàng ưa chuộng và có sản
lượng thành phẩm chiếm trên 51,3% sản phẩm
Số lượng làng nghề chế biến gỗ và sản suất mộc
mỹ nghệ của vùng đồng bằng sông Hồng chiếm
gần 50% số làng nghề đồ gỗ tại Việt Nam (Tô
Xuân Phúc và cs., 2012). Các làng nghề truyền
thống có từ lâu đời đó là làng nghề Đồng Kỵ,
Tam Sơn, Mai Động (Từ Sơn - Bắc Ninh), Vạn
Điểm (Thường Tín - Hà Nội), Sơn Đông (Hoài
Đức - Hà Nội); La Xuyên (Ý Yên - Nam Định)…
Tuy nhiên, theo đánh giá hiện nay, thị trường
đồ gỗ mỹ nghệ vùng đồng bằng sông Hồng (Hiệp
hội làng nghề truyền thống, 2011).
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ của nhiều làng nghề
3.1. Thực trạng sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
xuất khẩu của một số làng nghề truyền
thống vùng đồng bằng sông Hồng
VĐBSH vẫn còn bị bó hẹp, thiếu tính ổn định và
bền vững. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào
để nâng cao khả năng sản xuất đô
xuất khẩu cho các làng nghề. Đã có một số
nghiên cứu về phát triển sản xuất gỗ và đô gỗ
̀ gỗ mỹ nghệ
3.1.1. Quy mô doanh nghiệp, hộ gia đình
sản xuất đồ gỗ
̀
mỹ nghệ của các làng nghề như của Huỳnh Văn
Hạnh (2012), Phùng Văn Vinh (2012), Nguyễn
Văn Hiến (2012) và Trần Văn Hùng (2015)…;
nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu
chuyên sâu về phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ
nghệ xuất khẩu. Bài viết này sẽ tập trung làm
rõ: (i) Thực trạng việc xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ
xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống
VĐBSH; (ii) Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát
Nhìn chung số lượng doanh nghiệp sản xuất
đô
qua các năm, quy mô của doanh nghiệp cũng có
bước phát triển do nhu cầu về đô gỗ mỹ nghệ
̀ gỗ mỹ nghệ tại các làng nghề VĐBSH tăng
̀
ngày càng tăng. Ngay trong giai đoạn từ 2010
đến đầu năm 2015, mặc dù nền kinh tế có gặp
khó khăn nhưng sản lượng đồ gỗ mỹ nghệ sản
xuất và tiêu thụ vẫn tăng nhanh. Tổng hợp số
liệu của chúng tôi từ các địa phương cho thấy số
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại hai làng nghề Vạn
Điểm (Thường Tín - Hà Nội) và La Xuyên (Ý
Yên - Nam Định) vẫn có sự tăng lên hàng năm,
mặc dù mức tăng không đều. Riêng Đồng Kỵ
(Từ Sơn - Bắc Ninh), năm 2015 số doanh nghiệp
nhỏ giảm mạnh so với năm 2014 do tình hình
xuất khẩu sang Trung Quốc (thị trường chủ yếu
của làng nghề này) có sự biến động lớn trong
năm 2014 và đầu năm 2015, đó chính là lý do
khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ giải thể trong
năm 2014 (Biểu đồ 1).
triển sản xuất đô
làng nghề và đưa ra (iii) Một số giải pháp nhằm
phát triển sản xuất đô gỗ mỹ nghệ xuất khẩu
của các làng nghề này.
̀ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của các
̀
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng
gồm: nghiên cứu tư liệu, tài liệu có liên quan
(nghiên cứu tại bàn); phỏng vấn bằng bảng câu
hỏi; thảo luận nhóm và hội thảo. Phương pháp
thống kê mô tả được sử dụng để mô tả, phân
tích thực trạng sản xuất.
Nhìn chung, hơn 80% các doanh nghiệp là
của tư nhân, được phát triển và thành lập từ các
hộ sản xuất nên chủ yếu có quy mô nhỏ. Bên
cạnh các doanh nghiệp, chiếm phần lớn các cơ sở
sản xuất kinh doanh của làng nghề là các hộ làm
Các thông tin, số liệu chung về tình hình
phát triển sản xuất, xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ
được điều tra, thu thập từ các công trình nghiên
cứu đã công bố có liên quan; niên giám thống kê;
1476
Trần Quang Vinh, Mai Thanh Cúc
Biểu đồ 1. Sự gia tăng số lượng doanh nghiệp tại các làng nghề
giai đoạn 2010 - 2015 (ĐVT: số doanh nghiệp)
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ UBND huyện Thường Tín, Ý Yên và thị trấn Từ Sơn (2016)
Bảng 1. Quy mô các hộ sản xuất kinh doanh đồ gỗ ở các làng nghề
vùng đông bằng sông Hồng
Năm
TĐPTBQ
Chỉ tiêu
ĐVT
(%)
2010
4688
11.585
2,5
2011
4926
12.000
2,4
2012
5002
13.913
2,8
2013
5061
13.889
2,7
2014
5551
14.330
2,6
2015
5388
14.325
2,7
Tổng số hộ
hộ
102,8
104,3
101,5
99,2
Tổng số lao động
Số lao động BQ/hộ
Doanh thu BQ/hộ
người
người
tr.đ
591,2
570,5
552,8
575,3
519,7
566,6
Nguồn: Tổng hợp từ Phòng Thống kê huyện Ý Yên, Thường Tín và thị trấn Từ Sơn (2016)
nghề mộc. Việc sản xuất kinh doanh của các hộ
này đưa lại nguồn thu đáng kể cho làng nghề.
Thống kê quy mô hộ sản xuất tại ba làng nghề
Đồng kỵ, Vạn Điểm, La Xuyên được thể hiện tại
bảng 1.
thể kiếm được các đơn đặt hàng lớn bởi vì khách
hàng thường e dè về năng lực sản xuất, vốn
cũng như hóa đơn chứng từ (Nguyễn Tôn Quyền
và cs., 2006).
3.1.2. Đặc điểm lao động của các làng nghề
Theo thống kê từ các địa phương năm 2015,
tại làng nghề La Xuyên, Vạn Điểm, việc sản
xuất kinh doanh đồ gỗ chủ yếu dành cho thị
trường nội địa, sản phẩm xuất khẩu chiến
khoảng trên 30%. Riêng Đồng Kỵ sản phẩm
xuất khẩu chiếm 60% tổng lượng sản phẩm sản
xuất ra với thị trường xuất khẩu chủ yếu là
Trung Quốc. Ngoài các doanh nghiệp thì số hộ
Số lượng sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ được sản
xuất tại các làng nghề VĐBSH chiếm khá lớn là
các hộ sản xuất (Tô Xuân Phúc và cs., 2012).
Các chủ hộ sản xuất có vai trò rất quan trọng,
họ vừa là người tổ chức, quản lý sản xuất, vừa là
người trực tiếp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Đặc điểm chung của các chủ hộ điều tra được
thể hiện qua bảng 2.
tham gia sản xuất sản phẩm xuất khẩu trực
tiếp chiếm bình quân là 36,7% trong tổng số hộ,
còn lại đa phần các hộ là làm gia công hay sản
xuất một phần sản phẩm như tay vịn, chân bàn,
cửa tủ… nên giá trị gia tăng của sản phẩm thấp.
Một yếu điểm của sản xuất hộ đó là rất khó có
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, rất ít các
chủ hộ được qua đào tạ. Đây là một nhược điểm,
một trong những nguyên nhân cản trở trực tiếp
sự phát triển của các làng nghề, ảnh hưởng đến
việc phát triển sản xuất quy mô lớn, tìm tòi áp
1477
Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng
Bảng 2. Đặc điểm cơ bản chung của các hộ sản xuất gỗ mỹ nghệ
vùng đồng bằng sông Hồng
Chỉ tiêu
ĐVT
%
La Xuyên
97,8
2,2
Vạn Điểm
96,4
Đồng Kỵ
97,9
2,1
Trung bình
97,4
Chủ hộ: - Nam
- Nữ
%
3,6
2,6
Tuổi trung bình
năm
năm
%
38,0
8,0
43,0
40,0
5,6
40,3
Kinh nghiệm sản xuất
6,7
6,8
Chưa qua đào tạo quản lý, kỹ thuật
76,4
82,1
91,3
83,3
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2015.
dụng công nghệ mới, tìm kiếm và mở rộng thị
trường. Riêng với các doanh nghiệp (25 doanh
nghiệp năm 2015), đa phần chủ doanh nghiệp là
nam, tuổi trung bình là 42,5 và 84,4% đã qua
đào tạo về quản lý hoặc kỹ thuật.
hàng lớn. Riêng đối với các hộ, giá trị đầu tư cho
máy móc, thiết bị còn thấp hơn (Bảng 3).
Số liệu bảng trên cho thấy giá trị nhà xưởng
của các hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ là khá lớn,
tuy nhiên chủ yếu là giá trị đất. Đầu tư vào
thiết bị phục vụ sản xuất vẫn ở mức thấp. Đây
là nguyên nhân quan trọng làm cho năng suất
lao động của các làng nghề thấp, sức cạnh tranh
của sản phẩm kém, ảnh hưởng đến việc xuất
khẩu sản phẩm.
3.1.3. Vốn đầu tư cho sản xuất
Theo điều tra năm 2015, vốn đầu tư cho
máy móc, thiết bị trung bình cho một doanh
nghiệp khoảng 620 - 900 triệu đồng, có 12,6%
các doanh nghiệp có vốn trên 1 tỷ đồng. Mức vốn
cố định này thấp thua rất nhiều so với mức bình
quân của vùng Đông Nam bộ (các doanh nghiệp
chế biến gỗ có số vốn dưới 1 tỷ chỉ chiếm có 27%
trong tổng số doanh nghiệp) (Trần Văn Hùng,
2015). Điều này đã phần nào phản ánh trình độ
công nghệ còn lạc hậu cũng như năng lực còn
hạn chế của các doanh nghiệp làng nghề
VĐBSH trong việc đáp ứng nhu cầu những đơn
Một trong những khó khăn đối với các
doanh nghiệp và các hộ, đặc biệt là các hộ trong
sản xuất hàng xuất khẩu đó là vốn để mua
nguyên vật liệu (chủ yếu là gỗ thành phẩm để
sản xuất sản phẩm…). Chính vì vậy, các hộ sản
xuất thường chỉ nhận làm gia công cho các đơn
vị lớn hơn. Kết quả điê
̀u tra 62 doanh nghiệp và
hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ (gồm 25 doanh nghiệp
Bảng 3. Tình hình nhà xưởng, thiết bị của các hộ sản xuất
Chỉ tiêu
ĐVT
La Xuyên
Đồng Kỵ
Vạn Điểm
Nhà xưởng:
- Diện tích
- Giá trị
m2
240,2
157,2
126,4
3620
160
135
25
Tr.đ
2100
132,9
100,40
32,50
2400
170,5
130
Thiết bị:
- Giá trị máy móc
- Giá trị công cụ
Tr.đ
Tr.đ
40,5
Cơ cấu giá trị nhà xưởng, thiết bị:
- Nhà xưởng
%
%
94,05
5,95
93,37
6,63
95,77
4,23
- Thiết bị
Ghi chú: Tính bình quân cho một hộ,; Giá đất theo thời điểm điều tra
Nguồn: Số liệu điều tra, khảo sát năm (2015)
1478
Trần Quang Vinh, Mai Thanh Cúc
Bảng 4. Khó khăn của doanh nghiệp và hộ sản xuất
khi vay vốn sản xuất hàng gỗ mỹ nghệ xuất khẩu tại các tổ chức tín dụng
Rất
khó khăn
Khó
khăn
Bình
thường
Rất thuận
lợi
Điểm trung
Nguyên nhân
Thủ tục hành chính phức tạp
Thuận lợi
bình
8,97
9,24
9,96
7,26
15,57
9,94
26,78
29,42
30,15
25,74
18,23
38,69
44,14
23,36
12,38
15,5
3,76
3,92
3,45
2,92
2,85
Điều kiện cho vay của ngân hàng quá chặt chẽ
Lãi suất cho vay của ngân hàng cao
Thời gian làm thủ tục vay vốn lâu
10,23
20,64
22,66
11,35
16,62
19,25
24,91
24,59
24,36
Doanh nghiệp (hoặc cơ sở) thiếu năng lực xây
dựng dự án và phương án trả nợ vốn vay
Nguồn: Điều tra của tác giả (2015)
nghiệp và 37 hộ sản xuất) xuất khẩu năm 2015
về những khó khăn của doanh nghiệp và hộ khi
vay vốn sản xuất tại các tổ chức tín dụng được
thể hiện tại bảng 4.
thấp, thiếu tính ổn định. Đây là tình trạng
chung của nhiều hộ sản xuất vùng ĐBSH.
3.1.4. Nguồn nguyên vật liệu để sản xuất
hàng xuất khẩu
Số liệu trên cho thấy, mặc dù thủ tục và
quy trình vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức
tín dụng khác đã được đơn giản hóa nhưng
20,64% doanh nghiệp và hộ sản xuất được điều
tra vẫn cho rằng quy trình và thủ tục rất mất
thời gian, việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi không
dễ. Qua điều tra, khó khăn lớn nhất đối với các
doanh nghiệp sản xuất là thời gian làm thủ tục
vay vốn chậm trong khi nhiều đơn hàng xuất
khẩu khách hàng đặt rất gấp. Còn riêng đối với
37 hộ sản xuất, 64,6% số hộ chưa tiếp cận nguồn
vay vốn sản xuất các đơn hàng xuất khẩu trong
5 năm trở lại đây. Các hộ này phần lớn sản xuất
đơn hàng cho các công ty của Trung Quốc và
thường được các công ty này này đặt cọc trước
Nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành sản
xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của VĐBSH được
cung cấp từ hai nguồn chính là trong nước và
nhập khẩu từ nước ngoài. Nguồn nguyên liệu
trong nước các doanh nghiệp chế biến gỗ mua
trực tiếp từ các đầu nậu/nhà buôn tại các địa
phương như Nghệ An, Gia Lai, Kom Tum, Đắc
Lắc... Tuy nhiên, nguồn này rất hạn chế do chủ
trương cấm khai thác rừng ở Việt Nam, hiện
nguồn gỗ này còn chủ yếu là ở các khu vực rừng
được khai thác để chuyển đổi mục đích sử dụng
(NewForests, 2010). Hiện tại, 90% nguồn gỗ của
VĐBSH đang phải nhập khẩu từ các nước như
Lào, Campuchia, New Zealand, Nam Phi,
Indonesia, Myanma, Braxin, Chi lê,… Việc nhập
khẩu nguyên liệu sẽ làm tăng chi phí cho các cơ
một phần vốn khi đặt hàng, các đơn hàng
thường nhỏ. Vì vậy, giá trị sản xuất sản phẩm
Bảng 5. Giá một số nguyên liệu gỗ chủ yếu (Đơn vị tính: 1.000 đ/m3)
So sánh (%)
Năm
Loại gỗ
2013
2014
2015
14/13
15/14
111,8
78,1
Gỗ gụ
13.000
300.000
150.000
10.000
90.000
17.000
320.000
180.000
12.000
120.000
19.000
250.000
200.000
16.000
100.000
130,8
106,7
120,0
120,0
133,3
Gỗ trắc
Gỗ mun
Gỗ lim
Gỗ sú
111,1
133,3
83,3
Nguồn: Kết quả điều tra và tính toán của tác giả (2015)
1479
Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng
sở sản xuất và mang tính rủi ro lớn. Hơn nữa,
việc nhập khẩu gỗ từ nước ngoài còn gặp khó
khăn về chứng minh nguồn gỗ hợp pháp như
đạo luật LACEY của Mỹ và FLEGT của EU đã
đề cập. Ngoài những khó khăn rất lớn này, sự
tăng giá nguyên liệu gỗ cũng ảnh hưởng không
Xuyên, Vạn Điểm thì có thêm đơn hàng của
khách Đài Loan, Hông Kông, Pháp, Nhật Bản,
Mỹ, Thái Lan, Canada… (Biểu đồ 2).
Công tác quảng bá sản phẩm ra thị trường
nước ngoài còn rất yếu, việc thành lập trang
web để quảng cáo sản phẩm chủ yếu là của các
doanh nghiệp nhưng hầu hết các trang web đều
bằng tiếng Việt, chỉ có 32,4% trang web có tiếng
Anh nhưng nội dung cũng rất sơ sài. Một số hộ
sản xuất có in tờ rơi, brochure… giới thiệu sản
phẩm nhưng cũng rất hạn chế so với giới thiệu
trực tiếp. Điều này đã hạn chế rất nhiều đến
công tác giới thiệu sản phẩm, thúc đẩy việc xuất
khẩu sản phẩm ra nước ngoài.
nhỏ đối với ngành sản xuất và chế biến gỗ Việt
Nam nói chung. Giá một số nguyên liệu gỗ chủ
yếu tăng nhanh liên tục qua 3 năm từ 2013 -
2015, cá biệt có những loại gỗ như gỗ lim giá
năm 2015 so với năm 2014 tăng 33,3%, thể hiện
tại bảng 5.
Các nguồn nguyên vật liệu khác như trai,
nứa, ốc… dùng để khảm cũng chủ yếu từ nguồn
hàng nhập từ Singapore và Indonesia, Trung
Quốc... Vì hàng trong nước rất ít và không có
nhiều chủng loại nên đã gây rất nhiều bị động
trong sản xuất hàng xuất khẩu.
3.2. Giải pháp phát triển sản xuất đô gỗ mỹ
nghệ xuất khẩu của một số làng nghề
truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng
̀
3.2.1. Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển
3.1.5. Tình hình tiêu thụ, thị trường và công
tác quảng bá cho việc xuất khẩu sản phẩm
các làng nghề đô gỗ mỹ nghệ vùng đồng
̀
bằng sông Hồng hướng đến sản xuất sản
phẩm xuất khẩu
Trong những năm qua, ngành chế biến và
xuất khẩu sản phẩm gỗ của vùng đã có những
bước phát triển vượt bậc, kim ngạch xuất khẩu
luôn tăng trưởng cao. Năm 2015, thị trường
xuất khẩu các làng nghề Đồng Kỵ, La Xuyên,
Vạn Điểm chủ yếu là Trung Quốc, đặc biệt hầu
hết sản phẩm (trên 60% tổng lượng sản phẩm
sản xuất) của làng nghề Đồng Kỵ là xuất khẩu
sang Trung Quốc. Một số doanh nghiệp tại La
Các cơ sở, hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
VĐBSH có quy mô còn nhỏ lẻ, năng lực sản xuất
rất hạn chế (về điều kiện nhà xưởng, vốn, công
nghệ…). Đặc biệt, giữa các làng nghề còn thiếu
sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất nên
ít tạo được giá trị gia tăng trong chuỗi liên kết.
Vì vậy, cần triển khai quy hoạch tổng thể phát
Biểu đồ 2. Thị trường xuất khẩu của các làng nghề năm 2015
Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả (2015)
1480
Trần Quang Vinh, Mai Thanh Cúc
triển ngành gỗ mỹ nghệ VĐBSH hướng đến
xuất khẩu. Nên hình thành các cụm sản xuất có
thế mạnh của từng làng nghề để hỗ trợ nhau
như: cụm gồm các làng nghề chạm khắc gỗ
Hương Mạc, Đồng Giao, Phù Khê…. hỗ trợ cho
các làng nghề Mai Động, Phù Khê, Đồng Kỵ… Tổ
chức sắp xếp lại các cơ sở chế biến gỗ theo hướng
chuyên môn hoá, hợp tác hoá, đa dạng hoá sản
phẩm bằng các công cụ chính sách điều tiết của
Nhà nước để thúc đẩy các cơ sở sản xuất nhỏ
liên kết chặt chẽ với nhau và với các doanh
nghiệp lớn, đáp ứng các đơn hàng với khối lượng
quản trị doanh nghiệp mà nhất là các kiến
thức về quản lý và hạch toán kinh tế trong cơ
chế thị trường. Cần có chính sách tăng cường
hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các
doanh nghiệp để đào tạo tại chỗ, gắn đào tạo
với sử dụng lao động để nâng cao tay nghề cho
công nhân và cán bộ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu
của các doanh nghiệp. Do tính chất đặc thù của
nghề truyền thống, vì vậy về cơ bản, lâu dài các
làng gỗ mỹ nghệ ở VĐBSH phải có chiến lược
cử con em ở địa phương đi đào tạo bài bản ở
trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp và có chính
sách thoả đáng - kể cả trong khi học, để họ trở
về làng nghề làm việc và sinh sống. Riêng về
các doanh nghiệp, đặc biệt là các hộ tại làng
nghề cũng cần ý thức vấn đề truyền nghề cho
con em tại địa phương để nghề truyền thống
của làng nghề không bị mai một.
lớn. Hình thành các khu vực sản xuât́ sản phẩm
phụ trợ (làm chân ghế, khảm tay ghế…) xung
quanh các làng nghề chính để hỗ trợ làng nghề
này. Hình thành và phát triển các cụm công
nghiệp làng nghề tạo điều kiện cho doanh
nghiệp và hộ sản xuất mở rộng quy mô, khắc
phục ô nhiễm môi trường…
3.2.2. Tăng cường sự giúp đỡ, hỗ trợ để đổi
mới công nghệ cho các cơ sở sản xuất kinh
doanh ngành nghề gỗ mỹ nghệ
3.3.4. Nguồn nguyên liệu cho sản xuất sản
phẩm xuất khẩu
Cần có chính sách phát triển các nguồn
nguyên liệu trong nước bằng việc mở rộng
nhanh diện tích rừng trồng và có những chính
sách thích hợp nhằm kiểm soát nguồn gỗ nhập
khẩu, cụ thể:
Cần sự giúp đỡ, hỗ trợ đắc lực và có hiệu
quả từ các cơ quan, tổ chức bên ngoài, mà trước
hết là chính quyền các cấp, các cơ quan nghiên
cứu khoa học - công nghệ, các trường đại học và
các hiệp hội ngành nghề. Nhà nước cũng cần đề
ra các chính sách hỗ trợ thiết thực cho các làng
nghề gỗ mỹ nghệ, trong đó có VĐBSH. Trước
mắt theo chúng tôi cần đề ra: (i) Các chính sách
tài trợ nghiên cứu và chuyển giao kết quả
nghiên cứu về thiết kế sản phẩm, vật liệu, vật
tư, công nghệ chế biến gỗ; (ii) Các chương trình
tập huấn, đào tạo miễn phí về các công nghệ
mới, quy trình tổ chức sản xuất, quản lý cho các
(i) Hiện tại các chính sách trồng rừng là
chính sách phát triển các loại cây rừng trồng nói
chung, không có chính sách cụ thể về loại cây
trồng phục vụ chế biến gỗ cho từng đặc thù của
làng nghề, vì vậy cần nghiên cứu, xây dựng
danh mục các loại gỗ nguyên liệu ưu tiên, từ đó
xác định các loại cây trồng thích hợp cho rừng
sản xuất phục vụ đặc thù của làng nghề;
(ii) Có các chính sách hỗ trợ (về giải phóng
mặt bằng, thủ tục hành chính, thuế, vay tín
dụng...) cho các dự án đầu tư xây dựng vùng
nguyên liệu cho các khu vực tập trung nhiều cơ sở
chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ tại Việt
Nam nói chung và VĐBSH nói riêng.
cơ sở gỗ mỹ nghệ; (iii) Chính sách hô
̃ trợ, cho
vay vốn ưu đãi để đổi mới công nghệ…
3.2.3. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và
nâng cao tay nghề cho người lao động
trong các làng nghề
(iii) Tiến hành đàm phán, thỏa thuận với các
nước hiện đang cung cấp gỗ nguyên liệu với tỷ lệ
lớn vào Việt Nam (Lào, Campuchia...) để kiểm
soát nguồn gốc gỗ nhập khẩu vào Việt Nam;
Trước hết cần có chương trình, kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng cho các chủ cơ sở đồ gỗ mỹ
nghệ ở VĐBSH. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng
cần tập trung ở các mặt khoa học, kỹ thuật,
1481
Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng
(iv) Chính phủ cần sớm thành lập chợ gỗ,
sàn giao dịch gỗ nhằm cung cấp thông tin về giá
cả thị trường gỗ trong nước và thế giới, các vấn
đề về pháp luật khi các doanh nghiệp xuất khẩu
gỗ ra nước ngoài.
thuộc vào nhập khẩu, kênh tiêu thụ, phát triển
thị trường xuất khẩu chưa được định hướng và
đầu tư mạnh. Những nguyên nhân trên làm thị
trường xuất khẩu của đô
làng nghề bị bó hẹp, phụ vào thị trường nên
thiếu tính bền vững, rui ro lớn, giá trị gia tăng
không cao.
Nhằm đẩy mạnh việc xuất khẩu, mở rộng
̀ gỗ mỹ nghệ một số
̉
3.2.5. Giải pháp về tiêu thụ, thị trường và
quảng bá cho sản suất sản phẩm xuất khẩu
Cần có các chính sách và biện pháp hỗ trợ
cho các doanh nghiệp thuộc làng nghề gỗ mỹ
các thị trường, đặc biệt là các thị trường tiềm
năng lớn như EU, Mỹ, Nhật, Úc, Canada… đòi
hỏi thực hiện đồng bộ các giải pháp và chính
sách, từ việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển
các làng nghề gỗ mỹ nghệ nhằm nâng cao năng
lực sản xuất đến việc tăng cường sự giúp đỡ, hỗ
trợ để đổi mới công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực, giải quyết vấn đề về nguồn
nguyên liệu, hỗ trợ việc phát triển thị trường và
quảng bá cho sản xuất sản phẩm xuất khẩu…
nghệ trong cả nước và VĐBSH phát triển mạnh
cửa hàng giới thiệu trưng bày sản phẩm tại các
địa phương lớn trong cả nước và tại nước ngoài.
Riêng các hộ có thể liên kết trong các tổ chức
sản xuất hoặc hợp tác xã để đẩy mạnh quảng
bá, phát triển cửa hàng giới thiệu sản phẩm,
xây dựng trang web giới thiệu… Nhà nước nên
có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp
lớn hình thành các siêu thị đồ gỗ như chính sách
về mặt bằng, vốn, thuế… Tăng cường giúp đỡ các
làng nghề về định hướng chiến lược mặt hàng và
thị trường tiêu thụ, tìm kiếm, bảo lãnh, hướng
dẫn doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi phân
phối hiệu quả tại các thị trường xuất khẩu trọng
điểm. Muốn vậy, Nhà nước cần có các cơ quan
hoặc bộ phận chuyên trách nghiên cứu và thông
tin thị trường về nghề gỗ mỹ nghệ nói chung và
VĐBSH nói riêng. Nhà nước cũng cần nghiên
cứu mô hình liên kết thành công giữa nhà sản
xuất và nhà phân phối và có chính sách hỗ trợ
phát triển liên kết. Từng bước phát triển hội
chợ, triển lãm quốc tế, tổ chức tập huấn nâng
cao trình độ chuyên môn của ngành và tổ chức
các chuyến thăm xúc tiến thương mại trong và
ngoài nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Quang Dương (2012). Báo cáo trong chương
trình Quản lý và phát triển rừng bền vững - Hội
nghị thường niên Đối tác hỗ trợ ngành Lâm nghiệp
(FSSP).
NewForests (2010). Vietnam: A Forestry Investment
Opportunity, Market Outlook trang web:
/2014/08/201006MarketOutlookVietnamSustainabl
eForestry.pd, truy cập ngày 24/6/2014.
Huỳnh Văn Hạnh (2012). Ngành chế biến gỗ Việt Nam
và các cơ hội cho ATIBT - Hội thảo giao thương
quốc tế giữa các doanh nghiệp Việt Nam và
ATIBT, Hà Nội ngày 23/10/2012.
Hiệp hội làng nghề truyền thống Việt Nam (2011). Báo
cáo về tình hình phát triển làng nghề.
Nguyễn Văn Hiến (2012). Phát triển làng nghề theo
hướng bền vững ở Việt Nam trong tiến trình hội
nhập kinh tế thế giới, Tạp chí Phát Triển & Hội
Nhập, 4(14).
4. KẾT LUẬN
Phát triển sản xuất sản phẩm gỗ mỹ nghệ
hướng đến xuất khẩu sẽ góp phần tích cực đối
với việc phát triển kinh tế, xã hội trong giai
đoạn hiện nay. Thực tế nghiên cứu đã chỉ ra,
năng lực sản xuất của các cơ sở kinh doanh, đặc
biệt là các hộ sản xuất VĐBSH phần lớn còn rất
nhỏ, yếu về vốn, trang thiết bị, phương tiện sản
xuất rất lạc hậu, nguồn nguyên vật liệu bị phụ
Trần Văn Hùng (2015). Thực trạng và giải pháp phát
triển ngành công nghiệp chế biến gỗ vùng Đông
Nam Bộ, Tạp chí Phát Triển & Hội Nhập, 22(32).
Tô Xuân Phúc, Nguyễn Tôn Quyền, Lê Duy Phương,
Cao Thị Cẩm, Ngụy Thị Hồng (2012). Làng nghề
gỗ trong bối cảnh thực thi Flegt và Redd+ tại Việt
Nam, Forest Trends và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản
Việt Nam.
1482
Trần Quang Vinh, Mai Thanh Cúc
Nguyễn Thị Thu Trang, Phan Minh Thủy (2014). Báo
cáo nghiên cứu - Hỗ trợ Hiệp hội thực hiện nghiên
cứu chiến lược phát triển ngành chế biến gỗ, Dự án
EU-MUTRAP với sự phối hợp của Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam.
UBND thị trấn Từ Sơn (2016). Số liệu thống kê từ năm
2010 - 2015.
UBND huyện Thường Tín (2016). Số liệu thống kê từ
năm 2010 - 2015.
UBND huyện Ý Yên (2016). Số liệu thống kê từ năm
2010 - 2015.
Nguyễn Tôn Quyền, Trịnh Vỹ, Huỳnh Thạch, Vũ Bảo
(2006). Công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam -
Cẩm Nang ngành lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ
ngành Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và PTNT.
Phùng Văn Vinh (2012). Báo cáo kết quả điều tra, đánh
giá thực trạng các cơ sở chế biến lâm sản trên địa
bàn tỉnh, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ.
1483
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp phát triển sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu của một số làng nghề truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_phap_phat_trien_san_xuat_do_go_my_nghe_xuat_khau_cua_mo.pdf

