Giáo trình Cơ sở khoa học vật liệu - Chương 5: Cấu trúc của vật liệu gốm

45  
CHƯƠNG 5:  
5.1. Mở đầu  
CẤU TRÚC CỦA VẬT LIỆU GỐM  
5.1.1. Giới thiệu  
Gốm được định nghĩa là các hợp chất rắn hình thành do nhiệt (đôi khi do nhiệt và  
áp suất). Gốm bao gồm ít nhất hai nguyên tố mà một trong các nguyên tố đó là một  
không kim loại hoặc một không kim loại ở trạng thái rắn (nonmetallic elemental solid -  
NMES). Nguyên tố kia có thể là kim loại hoặc một NMES.  
Ví dụ: MgO là gốm vì nó là hợp chất rắn của một kim loại liên kết với một không  
kim loại là oxy. SiO2 cũng là gốm vì nó bao gồm một NMES và một không kim loại.  
TiC, ZrB2 là gốm vì chúng kết hợp các kim loại (Ti, Zr) và các NMES (C, B). SiC là  
gốm vì nó kết hợp hai NMES. Ngoài ra, các hợp chất như BaTiO3, YBa2Cu3O3,  
Ti3SiC2 cũng là các gốm vì chúng thỏa mãn định nghĩa trên.  
Như vậy các oxýt, nitrua, borua, cacbua và silicua của kim loại và NMES, các  
hợp chất silicat cũng là các gốm. Do phần lớn của lớp vỏ trái đất là các khoáng silicat  
thậm chí cả xi măng, gạch, thủy tinh, bêtông cũng là các hợp chất silicat nên có thể nói  
chúng ta đang sống trong một thế giới của vật liệu gốm.  
5.1.2. Vi cấu trúc của gốm  
Trong gốm, các hạt (đơn tinh thể) có độ lớn từ 1 – 50 m và chỉ có thể nhìn thấy  
trên kính hiển vi. Hình dạng và kích thước hạt, sự hiện diện của lỗ xốp, sự có mặt của  
các pha thứ hai và cách phân bố chúng được gọi là vi cấu trúc (microstructure). Nhiều  
tính chất của gốm phụ thuộc vào vi cấu trúc này.  
5.1.3. Gốm truyền thống và gốm tiên tiến  
Gốm truyền thống chủ yếu dựa trên các hợp chất siliscat, được đặc trưng bằng  
các vi cấu trúc xốp, rất thô, không đồng nhất và nhiếu pha. Thông thường gốm truyền  
thống được chế tạo bằng cách trộn đất sét (Al2O3.SiO2.H2O) và tràng thạch (feldspar -  
(K2O.Al2O3.6SiO2), rối tạo hình bằng cách đúc khuôn hoặc nặn trên bàn xoay, sau đó  
nung trong lò để chúng kết khối và cuối cùng là tráng men. Các sản phẩm gốm truyền  
thống bao gồm: đồ sứ, đồ sành, gạch, ngói, thủy tinh và các gốm ở nhiệt độ cao khác  
(xi măng, gạch chịu lửa v.v..).  
Trong vòng 50 năm gần đây, nhiều loại gốm khác xuất hiện, không dựa trên đất  
sét hoặc các hợp chất silicat mà dựa trên nhiều loại nguyên liệu được chế tạo công phu  
như các oxýt, cacbua, perovskite hoặc các nguyên liệu hoàn toàn nhân tạo. Vi cấu trúc  
46  
của các gốm này có độ mịn cao hơn, đồng nhất hơn và ít xốp hơn nhiều so với vật liệu  
gốm truyền thống. Chúng được gọi là gốm tiên tiến hay gốm hiện đại. Các sản phẩm  
gốm tiên tiến được áp dụng trong các hệ giao tiếp sử dụng cáp quang (optical fiber  
communication system), các hệ vi cơ điện tử (microelectro-mechanical system –  
MEMS) và chế tạo các vật liệu gốm áp điện (piezoelectric ceramic). Ngoài ra sản  
phẩm gốm tiên tiến còn bao gồm ferrite (MgFe2O4) để làm nam châm nhân tạo, gốm  
hấp thu neutron (B4C3), gốm bền cơ, bền nhiệt cao (SiC, Si3N4) dùng cho các động cơ  
đốt trong, gốm sinh học (Al2O3), nhiên liệu cho lò phản ứng hạt nhân (UO2)…  
5.2. Quan hệ giữa số sắp xếp Kcation và tỉ lệ bán kính r/R  
Số sắp xếp Kcation  
Giá trị tới hạn  
Khoảng bền của r/R  
Dạng hình học  
Luôn có thể  
2
0
0 < r/R < 0,155  
3
4
0,155  
0,225  
0,155 ≤ r/R < 0,225  
0,225 ≤ r/R < 0,414  
6
8
0,414  
0,732  
0,414 ≤ r/R < 0,732  
0,732 ≤ r/R < 1  
12  
1
r/R = 1  
5.3. Cấu trúc các tinh thể vô cơ  
5.3.1. Dạng đơn chất  
5.3.1.1. Kim cương  
a. Ô cơ sở  
Ô cơ sở là ô mạng Fcc và có thêm 4 nguyên tử bên trong ở ( ¼, ¼, ¼), ( ¾, ¼,  
¾), ( ¼, ¾, ¾) và ( ¾, ¾, ¼), hoặc có thể xem như Fcc chia làm 8 khối đều nhau và có  
4 nguyên tử ở tâm 4 khối cách nhau.  
y
(0,1)  
O
1/4  
(0,1)  
3/4  
B
1/2  
a/2  
D
3/4  
1/4  
a/2  
x
A
a/2  
47  
a2 a2  
a2 a2 a2 3a2  
a 3  
2
a 3  
4
AD2   
; BD2 AD2 AB2   
BD   
OD   
4
4
4
4
4
4
b. Số sắp xếp  
Mỗi nguyên tử C BQGN bởi 4 nguyên tử khác cách đều với khoảng cách  
a 3  
4
, cho nên K = 4. Khi đó nguyên tử cacbon sẽ nằm ở đỉnh và tâm của 1 tứ diện đều,  
a 3  
r   
8
.
5.3.1.2. Graphit  
a. Ô cơ sở:  
Hình sáu phương với a = 2,46 A, c =  
6,82 A. Mạng tạo thành bởi các lớp nguyên tử  
cách nhau c/2 = 3,41 A, cho nên còn gọi là cấu  
trúc lớp. Trên từng lớp, các nguyên tử tạo thành  
các lục giác đều. Các đỉnh của lục giác đều sẽ  
trùng nhau trên 2 lớp cách nhau, còn trong 2 lớp  
kế tiếp chỉ trùng nhau ở 3 trong 6 đỉnh.  
b. Số sắp xếp  
Mỗi nguyên tử BQGN bởi 3 nguyên tử  
a 3  
khác với khoảng cách  
= 1,42 A.  
3
5.3.2. Dạng hợp chất ion kiểu AB  
5.3.2.1. Tính chất  
▪ Số nguyên tử A = Số nguyên tử B trong ô cơ sở.  
▪ Số nguyên tử B BQGN A = Số nguyên tử A BQGN B  
5.3.2.2. Mạng NaCl  
▪ Ô cơ sở là Fcc của Cl- còn Na+ chiếm vị trí các lỗ  
hổng khối 8 mặt (hoặc ngược lại). Mỗi Na+ BQGN bởi  
6 Cl- và ngược lại.  
▪ n(Na+) = 1/8 x 8 + 1/2 x 6 = 4  
▪ n(Cl-) = 1/4 x 12 + 1 = 4  
▪ Các ion trái dấu sẽ tiếp xúc nhau trên các cạnh  
của ô cơ sở.  
▪ Nếu gọi r là bán kính cation và R là bán kính  
anion thì R + r = a/2  
48  
5.3.2.3. Mạng CsCl  
▪ Ô cơ sở là Bcc: Cs+ ở đỉnh, Cl- ở tâm khối (hoặc ngược  
lại).  
▪ n(Cl-) = 1; n(Cs+) = 1/8 x 8 = 1  
▪ Mỗi Cs+ BQGN bởi 8 Cl- và ngược lại.  
▪ Các ion trái dấu tiếp xúc nhau theo đường chéo khối  
a 3  
của ô cơ sở, nên R + r =  
2
5.3.2.4. Mạng ZnS (dạng sphalerite)  
▪ Ô cơ sở: Fcc của S2- và có thêm 4 Zn2+ ở vị trí giống 4  
nguyên tử phía trong của kim cương.  
▪ n(S2-) = 1/8 x 8 + 1/2 x 6 = 4; n(Zn2+) = 4  
a 3  
4
▪ Mỗi Zn2+ BQGN bởi 4 S2- và ngược lại. R + r =  
▪ Ngoài ra ZnS còn tồn tại ở dạng Wurtzite sáu phương.  
Mỗi Zn2+ BQGN bởi 4 S2- và ngược lại.  
5.3.3. Dạng hợp chất ion kiểu AB2 (hoặc A2B)  
5.3.3.1. Tính chất  
▪ Số nguyên tử B = 2 x Số nguyên tử A trong ô cơ sở.  
▪ Số nguyên tử B BQGN A = 2 x Số nguyên tử A BQGN B  
5.3.3.2. Mạng CaF2  
▪ Ô cơ sở: Fcc của Ca2+ và có thêm 8 F- chiếm vị trí  
trung tâm của 8 hình khối nhỏ, như vậy F- sẽ tạo mạng  
lập phương riêng  
▪ n(F-) = 8; n(Ca2+) = 1/8 x 8 +1/2 x 6 = 4  
▪ Mỗi Ca2+ BQGN bởi 8 F-, Mỗi F- BQGN bởi 4  
Ca2+.  
a 3  
R + r =  
4
49  
5.3.3.3. Mạng Cu2O  
▪ Ô cơ sở: Bcc của O2- và có thêm 4 Cu+ chiếm vị trí  
như 4 nguyên tử phía trong của kim cương.  
▪ n(Cu+) = 4  
▪ n(O2-) = 1/8 x 8 + 1 = 2.  
Mỗi Cu+ có 2 O2- BQGN, mỗi O2- có 4 Cu+ BQGN  
5.3.3.4. Các dạng mạng khác  
CaTiO3 (perovskiste)  
TiO2 (rutile)  
BaTiO3  
Al2O3 (Corundum)  
Nếu corundum có lẫn các nguyên  
tố Fe, Ti, Cr ở dạng vết thì nó sẽ  
có màu xanh, vàng, hồng, tím, cam  
và được gọi là saphire. Nếu  
corundum có màu đỏ (chủ yếu do  
lẫn Cr) thì được gọi là ruby. Do có  
độ cứng cao nên corundum thường  
được dùng làm bột mài. Saphire,  
Ruby cùng với emerald (ngọc lục  
bảo) và kim cương là bốn loại đá  
quý, trong đó kim cương có độ  
cúng cao nhất..  
5.4. Cấu trúc silicat  
Silicat cấu tạo chủ yếu từ hai nguyên tố Si và oxy, do đó các khối đá, đất, đất sét  
4-  
và cát nằm trong nhóm silicat. Đơn vị cấu trúc của Silicat là các tứ diện đều SiO4 ,  
trong đó Oxy nằm ở đỉnh còn Si nằm ở tâm của tứ diện. Mỗi oxy còn thiếu 1 e để đạt  
4-  
cấu hình bền nên các tứ diện SiO4 có thể sắp xếp thành các mạch đơn, mạch kép, tấm  
hoặc cấu hình không gian bằng cách dùng chung các đỉnh của tứ diện.  
.
:
:
:
:
:
O
..  
..  
O
..  
..  
Si  
..  
.
.
O
..  
O :  
.
50  
5.4.1. Dioxyt Silic (SiO2) - Silica  
SiO2 (Cristobalite)  
Dạng vật liệu silicat đơn giản nhất là  
dioxyt silic (SiO2) có cấu trúc mạng lưới không  
gian ba chiều, trong đó mỗi oxy nằm ở đỉnh còn  
Si nằm ở tâm của một tứ diện đều. Các tứ diện  
này chia sẻ đỉnh với nhau nên vật liệu trung hòa  
về điện và mọi nguyên tử đều có cấu trúc điện  
tử bền, khi đó tỷ lệ Si:O là 1:2 tạo thành công  
thức SiO2.  
Nếu các tứ diện này sắp xếp một các trật  
tự và đều đặn sẽ tạo thành cấu trúc tinh thể. Có  
ba dạng cấu trúc tinh thể đa hình của SiO2 là  
thạch anh (quartz), cristobalite và tridymite.  
Các cấu trúc này tương đối phức tạp và không  
xếp chặt nên thạch anh có khối lượng riêng thấp  
2,65 g/cm3. Độ bền của liên kết Si-O mạnh nên  
chúng có nhiệt độ nóng chảy cao (1710 oC).  
5.4.2. Thủy tinh  
Silica (SiO2) có thể được chế tạo ở dạng rắn vô định hình hoặc thủy tinh, có trạng  
thái sắp xếp nguyên tử rất ngẫu nhiên (giồng như cấu trúc của chất lỏng) và được gọi  
là silica nóng chảy (fused silica) hoặc silica trong suốt (vistreous silica). Giống như  
4-  
silica tinh thể, đơn vị cơ sở của thủy tinh cũng dựa trên các tứ diện SiO4 nhưng sắp  
xếp chúng một cách ngẫu nhiên.  
Thủy tinh vô cơ thông thường sử dụng để làm bình chứa, cửa kiếng, v.v… là  
thủy tinh silica được pha thêm các oxýt như CaO, Na2O. Cation của các oxýt này tích  
4-  
hợp vào trong mạng lưới SiO4 và làm biến đổi nó, do đó các oxýt này được gọi là các  
chất biến đổi mạng lưới (network modifiers). Cation của một số oxýt khác như TiO2,  
51  
Al2O3 sẽ thay thế Si và trở thành một phần của mạng lưới làm mạng bền hơn, các oxýt  
này được gọi là các chất trung gian. Việc thêm các chất biến đổi mạng lưới hay các  
chất trung gian sẽ làm hạ nhiệt độ nóng chảy và giảm độ nhớt của thủy tinh, dẫn đến  
dễ tạo hình ở nhiệt độ thấp.  
5.4.3. Các silicát  
4-  
Đối với nhiều loại khoáng silicat khác nhau, các oxy ở đỉnh của tứ diện SiO4 có  
thể chia sẻ với các tứ diện khác tạo thành các cấu trúc phức tạp khác nhau:  
▪ Disilicat: Hai tứ diện SiO44- kết hợp với nhau bằng cách dùng chung một nguyên  
6-  
tử oxy tạo thành anion Si2O7 (Hình b).  
4-  
▪ Pyroxene (cấu trúc mạch đơn): mỗi tứ diện SiO4 chia sẻ hai oxy với hai tứ diện  
4-  
SiO4 lân cận để tạo thành anion (SiO3)n2n- (Hình c).  
4-  
▪ Amphibole (cấu trúc mạch kép): mỗi tứ diện SiO4 chia sẻ ba oxy với ba tứ diện  
4-  
SiO4 lân cận để tạo thành dạng (Si4O11)6- (Hình d).  
4-  
▪ Phyllosilicate (cấu trúc dạng tấm): các tứ diện SiO4 chia sẻ oxy với nhau tạo  
dạng (Si2O5)2 - (Hình e).  
52  
Các cation điện tích dương như Ca2+, Mg2+ và Al3+ có thể bù trừ điện tích âm còn  
4-  
4-  
thiếu của các đơn vị SiO4 để đạt trung hòa về điện hoặc liên kết các tứ diện SiO4 với  
nhau.  
5.4.3.1. Các silicat đơn  
Dạng cấu trúc đơn giản nhất thuộc loại này là các tứ diện cô lập (hình a). Ví dụ  
4-  
Forsterite (Mg2SiO4) tương đương với hai ion Mg2+ kết hợp với mỗi tứ diện SiO4 sao  
cho mỗi ion Mg2+ có 6 oxy bao quanh gần nhất.  
6-  
Dạng ion Si2O7 tạo thành khi hai tứ diện chia sẻ cùng một oxy (hình b). Ví dụ  
Akermanite (Ca2MgSi2O7) là khoáng có hai ion Ca2+ và một ion Mg2+ kết hợp với mỗi  
6-  
đơn vị Si2O7 .  
5.4.3.2. Silicat dạng tấm  
Các cấu trúc dạng tấm hai chiều không gian có thể được tạo thành bằng cách chia  
4-  
sẻ 3 ion xoy của mỗi tứ diện SiO4 (hình e). Mỗi đơn vị lặp lại của dạng tấm có công  
thức (Si2O5)2-, các điện tích âm sẽ ở trên các ion oxy nằm ngoài mặt phẳng. Sự trung  
hòa điện được thiết lập bằng cách ghép với một cấu trúc tấm thứ hai có dư cation để  
tạo liên kết với các oxy của tấm Si2O5. Các vật liệu như vậy gọi là silicat tấm, là các  
cấu trúc cơ bản đặc trưng của đất sét và các khoáng khác.  
Một trong những khoáng sét phổ biến nhất là cao lanh (kaolinite) có cấu trúc hai  
lớp silicat tương đối đơn giản. Đất sét cao lanh có công thức Al2(Si2O5)(OH)4, trong đó  
2+  
lớp (Si2O5)2- được trung hòa điện bằng lớp Al2(OH)4 .  
Mặt phẳng ở giữa  
của các anion bao gồm  
các ion oxy từ lớp  
(Si2O5)2- và các ion OH-  
2+  
từ lớp Al2(OH)4 . Liên  
kết giữa hai lớp là tương  
đối mạnh và thuộc loại  
liên kết trung gian giữa  
liên kết ion – liên kết  
cộng hóa trị. Tuy nhiên  
giữa các lớp lân cận chỉ  
có liên kết yếu Van der  
Waals, nên khi thêm  
nước vào đất sét, các lớp  
có thể trượt lên nhau dọc  
theo liên kết van der  
Waals làm cho nó có tính  
dẻo.  
Các khoáng khác  
cũng có cấu trúc tấm  
như:  
talc  
[Mg3(Si2O5)2(OH)2] và  
micas (ví dụ muscovite  
KAl3Si3O10(OH)2)  
53  
5.4.4. Phân loại vật liệu gốm trên cơ sở các ứng dụng của nó  
doc 9 trang baolam 29320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo trình Cơ sở khoa học vật liệu - Chương 5: Cấu trúc của vật liệu gốm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_co_so_khoa_hoc_vat_lieu_chuong_5_cau_truc_cua_vat.doc