Giáo trình Điện tử Vi mạch, điện tử số (Phần 1) - Trường Đại học Sư phạm Huế

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM HUẾ  
THs: PHAN VĂN ĐƯỜNG  
GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ  
VI MẠCH – ĐIỆN TỬ SỐ  
HUẾ 3-2008  
2
CHƯƠNG 1  
VI MẠCH ( I.C.)  
1.1. KHÁI NIỆM MỞ ĐẦU  
Thiết bị điện tử là những dụng cụ, máy móc dùng các linh kiện điện tử giúp cho con  
người thực hiện một chức năng nào đó (máy tính, máy in, máy quét, máy thu hình...)  
Một thiết bị điện tử thường có sơ đồ khối như hình sau (Hình 1.1)  
Thiết bị ra  
Vỏ máy  
Mạch điện tử  
Nguồn nuôi  
Thiết bị vào  
Hình 1.1: Sơ đồ khối một thiết bị điện tử  
Thiết bị vào: Biến đổi những tín hiệu không điện thành điện (đầu từ, bàn phím, camera,  
micro v.v...)  
Thiết bị ra: Biến đổi các tín hiệu đã được gia công, xử lý thành những mục đích cần  
khống chế và điều khiển (đưa ra loa, đầu từ, hiển thị lên màn hình...)  
Nguồn cung cấp: Cung cấp toàn bộ năng lượng cho máy hoạt động, nguồn cung cấp là  
nguồn điện một chiều được lọc rất kỷ và rất ổn định.  
Vỏ máy: Bảo vệ thiết bị bên trong và để trang trí.  
Mạch điện tử: Phần quan trọng nhất của thiết bị điện tử, đóng vai trò gia công và xử lý số  
liệu theo những mục đích và chương trình định trước. Việc gia công và xử lý này căn cứ vào  
đặc tính của từng phần tử của mạch, căn cứ vào những định luật ghép nối các phần tử với nhau.  
Bao gồm:  
a/Linh kiện điện tử : Được chia làm hai loại  
* Linh kiện tích cực: Đóng vai trò chính trong thiết bị gồm có: Transistor, Diode. Tín hiệu  
điện qua nó sẽ bị biến đổi.  
*Linh kiện thụ động: Gồm có: Điện trở (R), tụ điện (C), cuộn cảm (L). Giúp cho các linh  
kiện tích cực hoạt động. Chỉ gia công sổ liệu chứ không xử lý số liệu.  
b/Mạch điện:  
Các linh kiện điện tử trên được liên kết với nhau theo các định luật nhất định để thực hiện  
các chức năng nhất định. Có nhiều định luật để nối các phần tử với nhau nhưng chỉ có hai  
nguyên lý làm việc chung :  
*Nguyên lý tương tự (analog): Tín hiệu ở đầu vào và đầu ra đều biến thiên liên tục theo  
3
thời gian.  
*Nguyên lý số (digital): Tín hiệu ở đầu vào và đầu ra đều biến thiên rời rạc nhằm thực  
hiện các phép tính toán. Nguyên lý số tác động nhanh và có khả năng rộng lớn hơn nguyên lý  
tương tự. Tất cả các đại lượng đều có thể biến đổi thành rời rạc (ta gọi là số hóa).  
Thiết bị điện tử có các yêu cầu sau:  
a/ Kích thước nhỏ: Gọn, chiếm ít không gian, trọng lượng bé nhưng vẩn giữ nguyên tính  
năng.  
b/ Độ tin cậy cao: Xác suất để mạch làm việc bình thường trong những điều kiện cho  
trước (không đồng nghĩa tuổi thọ với độ bền của thiết bị).  
P2  
c/ Hiệu suất cao: Tiết kiệm năng lượng:  
→1  
P
1
P2: Công suất ở tải.  
P1: Công suất nguồn cung cấp.  
d/ Giá thành hạ.  
Như vậy yêu cầu đầu tiên là giảm nhỏ kích thước của thiết bị đã đưa đến việc giảm nhỏ  
kích thước các linh kiện trong mạch. Điều này xuất hiện việc vi hình hóa (micro modun) mạch  
điện, dẫn đến việc chế tạo vi mạch.  
1.2. ĐẠI CƯƠNG VỀ VI MẠCH  
1.2.1. Cấu tạo  
Vi mạch còn gọi là mạch tích hợp (integrated circuit), gọi tắt là IC. Có hình dang bên  
ngoài như hình 1.2.  
Hình 1.2: Hình dạng của vi mạch  
Đây là các mạch điện tử chứa các linh kiện tích cực (transistor, diode) và linh kiện thụ  
động (điện trở, tụ điện có điện dung bé), kích thước rất bé cỡ μm (hoặc nhỏ hơn) được kết nối  
với nhau theo công nghệ silicon. Tất cả các linh kiện của mạch được chế tạo đồng thời trên  
một đế (subtrate) làm bằng Silic. Vỏ ngoài của vi mạch thường làm bằng kim loại hoặc bằng  
4
chất dẻo (plastic) Các linh kiện trong vi mạch không thể tách rời nhau. Mỗi vi mạch sẽ đảm  
nhiệm một chức năng điện tử nhất định nào đó (khuếch đại, giải mã, lập mã, bộ đếm, bộ  
nhớ...).  
Có đến hàng triệu transistor trong một vi mạch, số lượng này ngày càng tăng do số lượng  
thông tin cần xử lý ngày càng nhiều. Mạch điện tử ngày càng phức tạp, gồm rất nhiều linh kiện  
điện tử được tích hợp lại. Hiện nay, công nghệ silicon đang tính tới những giới hạn của vi mạch  
tích hợp và các nhà nghiên cứu đang nỗ lực tìm ra một loại vật liệu mới có thể thay thế công  
nghệ silicon này.  
Hệ thống trên một vi mạch (system-on-a-chip) SOC là một hệ thống điện tử được xây  
dựng trên một đế silicon. Ý tưởng ban đầu là tích hợp tất cả các linh kiện của một thiết bị điện  
tử (máy tăng âm, thu hình, máy tính…) lên trên một vi mạch đơn (hay còn gọi là một chip  
đơn). Hệ thống SOC này có thể bao gồm các khối chức năng số, tương tự, tín hiệu kết hợp  
(mixed-signal) và cả các khối tạo dao động. Một hệ thống điển hình bao gồm một loạt các  
mạch tích hợp cho phép thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Từ đó ta có mạch tích hợp khuếch  
đại, mạch lập mã, giải mã, xử lý, bộ nhớ…  
Sự phát triển gần đây của công nghệ bán dẫn cho phép chúng ta tích hợp ngày càng nhiều  
thành phần vào một hệ thống trên một vi mạch SOC, có thể tích hợp thêm các khối như: bộ xử  
lý tín hiệu số, bộ mã hóa, giải mã,... tùy theo yêu cầu của từng ứng dụng cụ thể.  
Hình 1.3 cho ta cấu trúc bên trong và hình dạng bên ngoài vi mạch Pentium IV  
Hình 1.3: Cấu trúc bên trong và hình dáng bên ngoài của vi mạch Pentium IV  
a/Cấu trúc bên trong, b/ Hình dạng bên ngoài, c/ Dùng trong máy điện toán cá nhân.  
Vi mạch cần giải quyết các vấn đề sau:  
5
1. Khoảng không gian mà số lượng các linh kiện điện tử chiếm chỗ:  
Một máy tính điện tử cần dùng đến hàng triệu, hàng vài chục triệu bộ phận rời. Nếu  
không thực hiện bằng vi mạch, thì không những thể tích của nó sẽ quá lớn mà điện năng cung  
cấp cho nó cũng sẽ vô cùng phức tạp.  
2. Độ tin cậy(reliability) của hệ thống điện tử: là độ đáng tin cậy trong hoạt động đúng  
theo tiêu chuẩn thiết kế. Độ tin cậy của một hệ thống tất nhiên phụ thuộc vào độ tin cậy của các  
thành phần cấu thành và các bộ phận nối tiếp giữa chúng. Hệ thống cáng phức tạp, số bộ phận  
càng tăng và chỗ nối tiếp càng nhiều. Vì vậy, nếu dùng bộ phận rời cho các hệ thống phức tạp,  
độ tin cậy của nó sẽ giảm thấp. Một hệ thống như vậy sẽ rất dễ dàng hư hỏng.  
3. Tuổi thọ trung bình t của một hệ thống điện tử gồm n thành phần sẽ là:  
1
1
1
1
=
+
+....+  
t
t1 t2  
tn  
Vậy nếu một transistor có tuổi thọ là 106 giờ, thì một máy tính gồm 500.000 transistor  
sẽ chỉ có tuổi thọ là 2 giờ.  
Các thành phần trong vi mạch được chế tạo đồng thời và cùng phương pháp, nên tuổi thọ  
vi mạch xấp xỉ tuổi thọ một transistor Planar.  
1.2.2.Lịch sử vi mạch  
Năm 1947, John Bardeen và William Brattain của phòng thí nghiệm Bell (Bell Lab Hoa  
kỳ) phát minh ra Transistor tiếp điểm PCT (Point Contact Transistor), đây là một đột phá trong  
nỗ lực tìm ra thiết bị mới thay cho đèn điện tử tiêu tốn quá nhiều năng lượng. Dòng điện vào  
(bên trái hình tam giác) được truyền qua lớp dẫn điện (conversion layer) trên bề mặt bản  
Germanium và được khuyếch đại thành dòng ra (bên phải hình tam giác.)  
Năm 1950, William Shockley cũng ở hãng Bell phát minh ra transistor kiểu tiếp hợp. Đây  
là mô hình đầu tiên của loại bipolar transitor sau này. Việc phát minh ra transistor là một bước  
tiến vĩ đại của kỹ thuật điện tử, mở đầu cho việc phát minh ra vi mạch. Sau đó, William  
Shockley rời Bell Labs, thành lập Shockley Semiconductor tại 391 đường San Antonio tại  
Mountain View California. Những nhân viên đầu tiên của ông có Gordon Moore và Robert  
6
Noyce, là những người đã sáng lập ra Intel. Công ty bắt đầu phát triển các thiết bị silicon.  
• 1/10/1956 William Shockley, John Bardeen và Walter Brattain được trao giải Nobel vật  
lý cho những nghiên cứu về chất bán dẫn và phát hiện tác động của transistor  
• 1957 Một nhóm gồm 8 người đã rời Shockley Semiconductor Laboratory để thành lập  
Fairchild Semiconductors. Đây là công ty đầu tiên chỉ tập trung phát triển silicon.  
• 12 / 9/1958 Jack Saint Clair Kilby của công ty Texas Instruments (Hoa kỳ) phát minh ra  
mạch tích hợp (Integrated Circuit) đầu tiên, mở đầu cho thời kỳ hoàng kim của vi điện tử, là  
nền tảng của chip hiện đại ngày nay. Điểm quan trọng trong phát minh của Kilby là ở ý tưởng  
về việc tích hợp tất cả các linh kiện điện tử của một mach điện tử trên một tấm silicon.  
• Năm 1959, Jean Hoerni và Robert Noyce (công ty Fairchild, Mỹ), sau này là người đồng  
sáng lập hãng Intel, thành công trong việc chế tạo ra transistor trên một mặt phẳng silicon. Hình  
1.4 là transistor với cả 3 cực: gốc (base), thu (colector) và phát (emiter) cùng nằm trên một mặt  
phẳng.  
Hình 1.4: Transistor với cả 3 cực: gốc, thu và phát cùng nằm trên một mặt phẳng.  
• Năm 1961, cũng chính Jean Hoerni và Robert Noyce đã tạo ra mạch flip-flop (với 4  
transistor và 5 điện trở) trên mặt silicon (Hình 1.5).  
Hình 1.5: Cấu trúc bên trong một vi mach flip-flop  
• 19/4/1965 Gordon Moore nhà sáng lập Intel với bài viết “Bổ sung thêm các thành phần  
7
vào vi mạch” đăng trên tạp chí Electronics đã Công bố Định luật Moore, dự đoán số transistor  
trên chip mỗi năm sẽ tăng gấp đôi trong vòng 10 năm tới. Năm 1975 ông đã sửa lại là cứ 24  
tháng thì số transistor lại tăng gấp đôi. Tới nay dự báo của ông vẫn còn đúng.  
• Năm 1970, G.E.Smith và W.S.Boyle (AT&T Bell Lab., USA) tạo ra mạch CCD 8-bit.  
Cùng năm 1970, J.Karp và B.Regitz (công ty Intel, Mỹ) tạo ra mạch DRAM 1103 với trên  
1000 tế bào nhớ. (Hình 1.6)  
Hình 1.6: DRAM 1103  
• Năm 1971, M.E.Hoff, S.Mazer, 嶋 正利, F.Faggin (công ty Intel, Mỹ) tạo ra bộ vi xử lý  
4004 với trên 2.200 transistor (Hình 1.7).  
Hình 1.7: Vi xử lý Intel 4004  
• Năm 2000 Kilby được giải Nobel Vật lý cho việc chế tạo ra mạch tích hợp. 42 năm sau  
khi công nghệ này ra đời.  
• Năm 2004, công ty Intel (Mỹ) chế tạo chip Pentium 4 với trên 42 triệu transistor (Hình  
1.8).  
Cùng năm 2004, Intel tung ra chip Itanium 2 (9MB cache) phục vụ máy chủ, với số  
transistor lên tới 592 triệu con.  
8
Hình 1.8: Vi xử lý Pentium 4  
Hình 1.8: Chip Pentium 4  
• Năm 2005, nhóm liên kết giữa IBM, SONY, SONY Computer Entertainment, và  
Toshiba giới thiệu chip CELL đa lõi (multicore), hoạt động ở tốc độ 4GHz.  
Chưa đầy 50 năm kể từ ngày Kilby đề xuất ra ý tưởng về vi mạch, ngành công nghệ vi  
mạch đã đạt được những thành tựu rực rỡ. Sự tăng trưởng ở tốc độ chóng mặt của ngành công  
nghệ vi mạch là chìa khóa quan trọng bậc nhất trong cuộc cách mạng công nghệ thông tin hiện  
nay.  
1.2.3.Vỏ ngoài của vi mạch  
Hiện nay do chưa thể chế tạo được một số linh kiện có trị số lớn trong vi mạch (tụ điện có  
điện dung lớn, cuộn cảm...). Do mức độ tích hợp ngày càng lớn, vi mạch cần kết nối với các  
linh kiện, các thiết bị khác nên vi mạch có nhiều chân ra ngoài để nối với các linh kiện, các  
thiết bị này. Có nhiều kiểu vỏ bọc khác nhau làm bằng kim loại, gốm (ceramic) hoặc chất dẽo  
(plastic), hiện nay phổ biến các kiểu sau:  
Loại SIP (Single in Package):  
Có hình chữ nhật, chân ra chia đều trên một hàng. Chân số 1 được nhận biết nhờ một  
đường vạch ngang hoặc một chấm (Hình 1.9a)  
Loại DIP (Dual in Package):  
Chân vi mạch được chia làm hai hàng song song (Hình 1.9b)  
Loại QFP (Quad Flat Package): Dạng hình vuông, có 4 hàng chân ra được bố trí chung  
quanh vi mạch. Thường gặp ở các vi mạch cực lớn như các Vi xử lý. (Hình1.9c)  
9
Hình 1.9a: Vỏ vi mạch loại SIP  
Hình 1.9b: Vỏ vi mạch loại DIP  
Hình 1.9c: Vỏ vi mạch loại QFP  
1.2.4. Phân loại vi mạch  
a/Dựa trên quan điểm thiết kế vi mạch: Người ta phân loại dựa trên mức độ tích hợp các  
phần tử trong vi mạch. Chia làm:  
Vi mạch cở nhỏ SSI (Small Scale Intergration): Chứa vài chục Transistor hoặc vài cổng  
logic. Ra đời từ đầu thập niên 60 (mạch khuếch đại, mạch lật...)  
Vi mạch cở vừa MSI (Medium Scale Intergration): Chứa vài chục cổng logic hoặc hàng  
trăm transistor. Ra đời giữa thập niên 60 (bộ giải mã,thanh ghi, bộ đếm...)  
Vi mạch cở lớn LSI (Large Scale Intergration) : Chứa vài trăm cổng logic hoặc hàng  
ngàn transítor. Ra đời đầu thập niên 70 (các vi xử lý 4 hoặc 8 bit, cửa ghép nối vào ra...)  
Vi mạch cực lớn VLSI (Very Large Scale Intergration): Chứa vài ngàn cổng logic hoặc  
hàng vạn transistor. Ra đời cuối thập niên 70 (các vi xữ lý 16 hoặc 32 bit ...)  
Vi mạch ULSI (Ultra Large Scale Intergration): Chứa vài trăm ngàn cổng hoặc vài triệu  
transistor. Ra đời đầu thập niên 90 cho đến nay.  
10  
Bảng 1.1: Mức độ tích hợp trong các vi mạch  
Loại vi mạch  
Số lượng chức năng  
Số lượng Transistor  
Diện tích bề mặt của  
mỗi vi mạch  
3 mm2  
SSI  
MSI  
LSI  
2 ÷ 20  
100  
500  
20 ÷ 100  
8 mm2  
100 ÷ 50.000  
50.000 ÷ 100.000  
100.000 ÷ 400.000  
100.000  
20 mm2  
40 mm2  
70 mm2 ÷ 150 mm2  
VLSI  
ULSI  
250.000  
1.000.000 ÷ 4.000.000  
b/Dựa trên quan điểm sử dụng: Tùy theo bản chất của tín hiệu vào và ra người ta chia  
làm 3 loại sau:  
Vi mạch tuyến tính (IC Analog): Tín hiệu vào và ra có biên độ biến thiên liên tục theo thời  
gian. Còn gọi là vi mạch tương tự, vi mạch thuật toán.  
Vi mạch số (IC Digital): Biên độ tín hiệu vào và ra có giá trị gián đoạn (thường ở hai mức  
điện áp). Còn gọi là vi mạch logic.  
Vi mạch chuyển đổi: Là cầu nối giữa 2 loại trên gồm:  
*ADC (Analog Digital Converter): Tín hiệu vào lên tục, tín hiệu ra gián đoạn.  
101100  
ADC  
*DAC (Digital Analog Converter): Tín hiệu vào gián đoạn, tín hiệu ra liên tục.  
101100  
DAC  
1.3.VI MẠCH TUYẾN TÍNH  
Vi mạch tuyến tính là những mạch tổ hợp mà điện áp ra là một hàm liên tục đối với điện  
áp vào.  
Vi mạch tuyến tính còn được gọi là vi mạch khuếch đại thuật toán (operational amplifier),  
vi mạch tương tự.  
1.3.1. Ký hiệu : Vi mạch tuyến tính có ký hiệu như hình 1.10  
Hình 1.10: Ký hiệu của vi mạch tuyến tính  
Vi mạch tuyến tính có hai đầu vào và một đầu ra gồm:  
Đầu vào đảo (-) : Tín hiệu vào và ra ngược pha nhau 180 độ  
11  
Đầu vào thuận (+) : Tín hiệu vào và ra cùng pha nhau  
Một mạch khuếch đại tuyến tính lý tưởng có những đặc tính sau :  
- Điện trở vào vô cùng lớn Rv = ∞  
- Điên trở ra bằng không Rr = 0  
- Hệ số khuếch đại vô cùng lớn Ku = ∞  
- Dãi tần khuếch đại vô cùng lớn  
- Cân bằng một cách lý tưởng : Nếu Uv = 0 thì Ur = 0  
- Các thông số không bị biến đổi theo nhiệt độ và độ ẩm  
1.3.2. Mạch khuếch đại vi sai  
Sơ đồ cơ bản của vi mạch tuyến tính là khuếch đại vi sai. Đây là mạch khuếch đại dùng  
hai transistor mắc theo kiểu liên kết emitter (Hình 1.11).  
Hình1.11: Tầng khuếch đại vi sai  
Hai transistor sử dụng phải có các thông số hoàn toàn giống nhau, trở kháng vào Zv vô  
cùng lớn.  
Mạch khuếch đại vi sai có đặc điểm rất quan trọng là tín hiệu ra tỉ lệ với hiệu số của hai  
tín hiệu vào:  
Ur = K(U1 - U2) (1.1)  
K là hệ số khuếch đại của mạch khuếch đại vi sai.  
Từ (1.1) ta thấy: bất kỳ một thăng giáng nào của điện áp tín hiệu vào chung cho cả hai lối  
vào sẽ bị khữ lẫn nhau và không làm ảnh hưởng đến lối ra.  
Thực tế, tín hiệu ra của mạch không những chỉ phụ thuộc vào hiệu số giữa hai tín hiệu  
vào, nó còn phụ thuộc vào mức trung bình của hai tín hiệu đó:  
U1 + U2  
Ura =  
2
12  
K'  
Ura = K(U1 − U2 ) + (U1 + U2 )  
2
Như vậy (1.1) có thể viết:  
K’ là hệ số khuếch đại trung bình  
1.3.3 Sơ đồ nguyên lý một vi mạch tuyến tính:  
Vi mạch tuyến tính có cấu trúc bên trong tuỳ thuộc vào nhiệm vụ và yêu cầu kỹ thuật của  
vi mạch. Để xét cấu trúc của vi mạch thuật toán, ta có thể xét hai vi mạch tuyến tính thông  
dụng: 702 và 709.  
a/Vi mạch khuếch đại thuật toán loại 702:  
Tuỳ theo hãng sản xuất nó có nhiều tên gọi khác nhau: µA702L, SN52702N... Sơ đồ  
nguyên lý như hình 1.12  
Hình 1.12: Sơ đồ nguyên lý của vi mạch thuật toán loại 702  
Tầng thứ nhất: Gồm T2 và T3 các gánh của chúng là R1, R2 đây là tầng khuếch đại vi sai  
với nguồn dòng là T1, và T9. T9 có nhiệm vụ bù nhiệt.  
Tầng thứ hai: Bao gồm T4 và T5, điện áp ra của tầng này lấy từ cực C của T5. T4 điều  
chỉnh gánh của tầng một bằng cách rẽ dòng các điện trở gánh R1 và R2 nhiều hay ít. Khi điện áp  
ở cực B của T4 tăng (ứng với điện áp Base của T5 giảm) làm cho dòng điện cực thu tăng theo,  
đưa đến điện áp ở cực thu T4 giảm xuống, nó giảm tương đương với việc tăng điện trở R2 do đó  
làm tăng hệ số khuếch đại toàn bộ. Emitơ của T4 được đấu đất.  
Tầng thứ ba: Bao gồm 3 transsistorr T6, T7 và T8, trong đó T6 làm mạch định mức điện  
áp một chiều, nghĩa là nó làm cho điện áp một chiều ở đầu ra (chân 7) bằng điện áp đất, T8 làm  
nguồn dòng điện. Khi chưa có tín hiệu, điện áp của T7 ở gần mức đất. Điện trở R11 nằm trong  
mạch cực C của T7, nên đưa điện áp hồi tiếp dương về cực B của T7, làm cho hệ số khuếch đại  
của T7 tuy là mắc theo C chung nhưng vẫn lớn rất.  
13  
b/Vi mạch khuếch đại thuật toán loại 709:  
Có sơ đồ nguyên lý như hình 1.13. Tuỳ theo hãng sản xuất nó có nhiều tên gọi khác nhau:  
MA 709, K1YT 53, SN 72709.... Mạch thuật toán 709 bao gồm 4 tầng chính.  
Tầng thứ nhất: Gồm có T1 và T2 là mạch khuếch đại vi sai T11 và T10 được mắc theo kiểu  
thiên áp dùng diode dể làm nguồn dòng điện cho T1 và T2.  
Tầng thứ hai: Gồm cặp T3, T5 và T4, T6, đây cũng là tầng khuếch đại vi sai mắc theo kiểu  
phức hợp để tăng trở kháng vào và hệ số khuếch đại của tầng. T15 làm nhiệm vụ bù nhiệt cho  
mạch thiên áp tầng hai. Các transistor T4 và T6 còn hợp với R8, R10 làm thành một mạch hồi  
tiếp âm từ cực C của T2 về ổn định nguồn dòng điện T11. Nguồn dòng điện này còn được ổn  
định thêm bằng mạch hồi tiềp âm từ đầu ra qua R15, R9 , R10 đến T10. T15 được đấu với điểm A  
coi như điểm giữa. Điện thế của điểm A được ổn định bằng các mạch T9, R7, R9 và T12, T13,  
R15, R9. Các transistor T3, T, T7 còn có tác dụng ổn định điện áp nguồn cho tầng vi sai, T7 làm  
mạch lọc nguồn.  
Hình 1.13: Sơ đồ nguyên lý của vi mạch thuật toán loại 709  
Tầng thứ ba: Gồm hai Transistor T8 và T9 trong đó T8 mắc theo kiểu C chung và T9 mắc  
theo kiểu B chung. Đây là mạch định mức điện áp để đưa mức tín hiệu (thành phần 1 chiều)  
xuống gần bằng - E, có như thế tín hiệu mới có thể tiếp tục khuếch đại bằng T12, T13 và T14.  
Tầng thứ tư: Là tầng cuối, gồm T12, T13 và T14. Đây là tầng có hồi tiếp âm sâu bằng R15 ,  
14  
R17 và T9, hệ số khuếch đại của tầng này khoảng bằng 3 và ít phụ thuộc vào nhiệt độ .  
Mạch bù tần số ở đầu vào được nối giữa cực B và C của T4, mạch bù tạo ra một hồi tiếp  
âm, nó gồm một điện trở mắc nối tiếp với một tụ điện.  
Mạch bù đầu ra được nối giữa C của T9 và E của T13, T14.  
Tóm lại, qua cách phân tích sơ đồ nguyên lý của mạch khuếch đại thuật toán ở trên, đã  
cho ta biết nguyên lý cấu tạo chung bên trong của một mạch khuếch đại thuật toán. Tuy vậy,  
khi sử dụng các mạch khuếch đại thuật toán, ta không cần phải biết sơ đồ nguyên lý bên trong  
của mạch mà chỉ cần biết các tham số của nó gồm: sơ đồ chân, công suất, điện áp cung cấp  
…Các tham số này do nơi sản xuất cung cấp và ghi vào sách số liệu (data book) hoặc sổ tay  
hướng dẫn (handbook).  
1.3.4. Các cách mắc cơ bản của vi mạch tuyến tính:  
Vi mạch tuyến tính có 2 cách mắc cơ bản:  
a/ Cách mắc đảo  
Tín hiệu được đưa vào đầu vào đảo (-). R2 là điện trở hồi tiếp (feedback), nó đưa một  
phần năng lượng từ đầu ra trở lại đầu vào. R1 là điện trở tín hiệu. Đầu vào thuận nối đất (Hình  
1.14)  
Hình 1.14: Cách mắc đảo  
Ta tìm hệ số khuếch đại điện áp của vi mạch:  
Từ sơ đồ nguyên lý ta có thể viết:  
Uv − Ur  
U1 − Uv  
I1 =  
I2 =  
R1  
R2  
và  
Coi mạch là lý tưởng :  
RV ~ ∞  
Iv ~ 0  
⇒
I1 ~ I2  
U1 − Uv Uv − Ur  
Do đó ta có thể viết:  
=
(1.2)  
R1  
R2  
Ngoài ra, xem hệ số khuếch đại là lý tưởng:  
15  
K = ∞, Uv ~ 0 Do đó (1.2) trở thành:  
U1  
R1  
Ura  
R2  
Ura  
U1  
R2  
R1  
= −  
hay  
= −  
R2  
R1  
Vậy hệ số khuếch đại của mạch: Ku = −  
Dấu trừ cho biết đầu vào và đầu ra ngược pha nhau.  
b/ Cách mắc thuận  
Tín hiệu đưa vào đầu vào không đảo (+). Điện áp từ đầu ra đưa trở lại đầu vào đảo qua bộ  
chia thế gồm R1 và R2 (Hình 1.15) . Tín hiệu vào và ra cùng pha nhau.  
Hình 1.15: Cách mắc thuận  
Xem mạch là lý tưởng và chứng minh tương tự như trên, ta có thể viết:  
Ur R1 + R2  
R1  
R2  
K =  
=
= 1+  
U1  
R1  
Khi cho R2 >> R1 thì hệ số khuếch đại của hai trường hợp trên là giống nhau và bằng:  
R2  
Ku =  
R1  
Tuy nhiên cách mắc đảo ổn định hơn vì có hồi tiếp âm.  
1.3.5. Ứng dụng của Vi mạch thuật toán để thực hiện các phép tính cơ bản:  
Sơ đồ thực hiện các phép tính cơ bản:  
a/Sơ đồ thực hiện phép cộng: (Hình 1.16):  
Hình 1.16: Sơ đồ thực hiện phép cộng  
16  
Coi dòng vào bằng 0 ta có:  
I1+ I2 + I3 = If  
Mặt khác, khi Uv= 0 (Coi hệ số khuếch đại của mạch là lớn vô cùng), đẳng thức trên có  
thể viết:  
U1 U2 U3  
Ura  
R
+
+
= −  
R
R
R
Hay : Ura = - (U1 + U2 + U3).  
Nghĩa là điện áp ra bằng tổng điện áp vào.  
b/Sơ đồ thực hiện phép trừ: (Hình 1.17):  
Tín hiệu được đưa vào cả hai lối vào đảo và thuận:  
Hình1.17: Sơ đồ thực hiện phép trừ  
Áp dụng các công thức tính hệ số khuếch đại trong trường hợp mắc đảo và thuận, ta có:  
R4  
R1 + R2  
R2  
R1  
Ura = U2  
⋅
− U1  
R3 + R4  
R1  
Nếu chọn R1 = R2 , R3 = R4 thì đẳng thức trên trở thành:  
R4  
Ura = (U2 − U1)  
R1  
Nghĩa là điện áp ra tỷ lệ với hiệu điện áp vào.  
c/Sơ đồ lấy tích phân: (Hình 1.18):  
Hình 1.18: Sơ đồ lấy tích phân  
17  
Coi dòng vào bằng 0 ta có:  
I1 = If (1.3)  
Mặt khác coi Uv= 0 ta có:  
U1  
R
I1 =  
(1.4)  
dUra  
Mà:  
If = −C  
(1.5)  
dt  
Thay (1.3), (1.4) vào (1.5) ta có:  
U1  
R
dUra  
dt  
= −C  
1
1
dUra = −  
U1dt ⇒ Ura = −  
U1dt  
∫
CR  
CR  
d/Sơ đồ lấy vi phân: (Hình 1.19)  
Hình 1.19: Sơ đồ lấy vi phân  
dU1  
dt  
Ta có: I1 = If nhưng I1 = C  
Ura  
Vì I f = −  
nên  
R
dU1  
Ura  
R
dU1  
C
= −  
Ura = −CR  
dt  
dt  
hay  
1.3.6. Ứng dụng vào các bộ khuếch đại  
Vi mạch thuật toán được sử dụng rộng rãi trong các mạch khuếch đại.  
a/Khuếch đại điện áp âm tần  
Vi mạch BA328 được dùng khá phổ biến để khuếch đại điện áp âm tần (Hình 1.20).  
BA328 thuộc loại khuếch đại hai kênh (stereo). Điện trở R1 R2 quyết định hệ số khuếch  
đại của Vi mạch. Thường ta giữ nguyên R2 chỉ thay đổi R1 để có hệ số khuếch đại theo ý muốn.  
Nếu ta tăng hệ số khuếch đại lên quá mức sẽ gây ra méo tín hiệu.  
18  
Hình 1.20: Khuếch đại điện áp âm tần dùng vi mạch khuếch đại thuật toán BA328  
R3 và tụ C tạo thành một vòng hồi tiếp âm điện áp để sửa đổi đường đặc trưng tần số.  
Thay đổi trị số của điện trở R3 ta có âm thanh lợi trầm hoặc lợi bổng theo ý muốn. R3 càng  
thấp, hồi tiếp âm càng sâu, mạch càng lợi trầm.  
Tín hiệu cần khuếch đại có biên độ rất bé được đưa vào chân 8. Tín hiệu sau khi khuếch  
đại được lấy ra ở chân 6.  
Điện áp cung cấp cho cả hai kênh được đưa vào chân 4 (+Vcc) và chân 5 (-Vcc). Chân 5  
đồng thời cũng là đất của mạch.  
Nguồn cung cấp 9 VDC được lọc bằng R và C1.  
Do độ nhạy cao và tín hiệu đầu vào rất bé, ta phải dùng dây có giáp bọc để dẫn tín hiệu  
vào và ra nhằm loại bỏ nhiễu.  
b/Khuếch đại công suất âm tần  
Để khuếch đại công suất âm tần ta có thể dùng vi mạch LA4440. Vi mạch LA4440 thuộc  
loại khuếch đại hai kênh, có sơ đồ khối như hình 1.21. Tuy nhiên vi mạch LA4440 có thể dùng  
để khuếch đại công suất âm tần một kênh.  
Khi khuếch đại hai kênh (stereo), công suất ra danh định 6W x 2. Khi sử dụng để khuếch  
đại một kênh (mono), công suất ra danh định lên đến gần 20 W. Nguồn cung cấp 12V đến 15V.  
Chân 1và chân 7: Đầu vào thứ hai của LA4440.  
Chân 2 và chân 6: Đầu vào của LA4440.Tín hiệu âm tần cần khuếch đại được đưa vào  
Chân 4: Đầu ra Mute  
Chân 5: lọc Ripple filter  
Chân 8, 14: Điểm mass của vi mạch  
Chân 9 và 13: Bảo vệ quá áp  
19  
Hình 1.21: Sơ đồ khối cấu trúc bên trong LA4440  
Chân 10 và 12: Đầu ra của vi mạch  
Chân 11: Nhận điện áp cung cấp + VCC  
Sơ đồ nguyên lý mạch khuếch đại công suất hai kênh (Hình 1.22)  
Hình 1.22: Khuếch đại công suất âm tần dùng vi mạch LA4440 mắc stereo  
20  
Khi muốn LA4440 cho ta một công suất lớn ở loa, ta mắc theo sơ đồ nguyên lý mạch  
khuếch đại công suất một kênh (Hình 1.23)  
Hình 1.23: Khuếch đại công suất âm tần dùng vi mạch LA4440 mắc mono  
1.3.7. Bộ tạo sóng điện hình sin dùng vi mạch tuyến tính:  
a/Tạo sóng hình sin cao tần  
Vi mạch thuật toán có thể làm bộ khuếch đại trong khâu khuếch đại của bộ tạo sóng hình  
sin cao tần hoặc âm tần.  
Hình 1.24 là mạch tạo sóng cao tần dùng vi mạch thuật toán BA328, BA328 là một loại vi  
mạch rất thông dụng, rất dễ kiếm trên thị trường, hoạt động rất tin cậy.  
Hình 1.24: Sơ đồ nguyên lý của bộ tạo sóng cao tần dùng vi mạch thuật toán  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 76 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 7320 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Điện tử Vi mạch, điện tử số (Phần 1) - Trường Đại học Sư phạm Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_dien_tu_vi_mach_dien_tu_so_phan_1_truong_dai_hoc.pdf