Giáo trình Nuôi cá nước lạnh
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỦY SẢN
GIÁO TRÌNH
MÔ ĐUN: NUÔI CÁ NƯỚC LẠNH
NGHỀ: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
(Ban hành theo Quyết định số:
/QĐ-CĐKTKTTS ngày tháng năm 2020
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản)
Bắc Ninh, tháng 9 năm 2020
LỜI GIỚI THIỆU
Nuôi trồng thủy sản là một nghề truyền thống và có thế mạnh phát triển ở
Việt Nam. Tuy nhiên, việc chưa có những hiểu biết rõ ràng về môi trường, dịch
bệnh và đặc biệt là kỹ thuật nuôi đã gây thiệt hại không nhỏ đối với nghề. Vì
vậy, vấn đề kỹ thuật nuôi, quản lý môi trường, quản lý dịch bệnh là cần thiết và
cấp bách.
Xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình dạy nghề “Nuôi trồng thủy
sản” được dựa trên cơ sở phân tích nghề. Phần kỹ thuật nghề được kết cấu theo
các mô đun. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở dạy nghề trong quá trình
thực hiện, việc xây dựng chương trình, biên soạn bài giảng đào tạo nghề “Nuôi
trồng thủy sản” là cấp thiết hiện nay nhằm giúp cho người học nghề và bà con
lao động nông thôn giảm bớt rủi ro, hướng tới hoạt động nuôi trồng thủy sản
phát triển bền vững.
Chương trình, bài giảng dạy nghề “Nuôi trồng thủy sản” trình độ cao đẳng
nghề do trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản chủ trì xây dựng và
biên soạn theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2017/TT-BLĐTBXH ngày
01/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Chương trình dạy nghề “Nuôi trồng thủy sản” được tích hợp những kiến
thức, kỹ năng cần có của nghề. Nghề “Nuôi trồng thủy sản” gồm 28 mô đun ở
các lĩnh vực:
1) Môn học đại cương: 6 môn học (MH1 – MH6)
2) Môn học cơ sở: 6 môn học (MH7 – MH12)
3) Mô đun chuyên môn nghề bắt buộc: 12 mô đun (MĐ13 – MĐ24)
4) Mô đun tự chọn: 3 mô đun (MĐ25 – MĐ27)
5) Mô đun thực tập: 2 mô đun (MĐ28 – MĐ29)
Giáo trình mô đun “Nuôi cá nước lạnh” là một mô đun chuyên môn nghề,
được biên soạn theo chương trình đã được phê duyệt. Mô đun có thể dạy độc lập
hoặc cùng một số mô đun khác cho các khóa đào tạo, tập huấn theo nhu cầu của
người học. Mô đun được dạy sau khi đã học các môn học đại cương, và các môn
học cơ sở.
Mô đun “Nuôi cá nước lạnh” dạy cho người học những hiểu biết về đặc
điểm sinh học, kỹ thuật sản ương giống, nuôi thương phẩm và phòng trị bệnh
cho một số loài cá nước lạnh đang được nuôi phổ biến tại Việt Nam. Nội dung
giảng dạy được phân bổ trong thời gian 45 giờ gồm 3 bài:
Bài 1. Một số đặc điểm sinh học của các loài cá nước lạnh nuôi ở Việt
Nam
Bài 2. Kỹ thuật nuôi cá hồi vân (Onchorhynchus mykiss)
Bài 3. Kỹ thuật nuôi cá tầm (Acipenser sp)
2
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi có sử dụng, tham khảo nhiều tư liệu,
hình ảnh của các tác giả trong và ngoài nước, cập nhật những tiến bộ khoa học
kỹ thuật, sự góp ý của các chuyên gia, đồng nghiệp, đặc biệt là những vấn đề
thực tế về nuôi cá và đặc sản nước ngọt tại các địa phương Lào Cai, Sơn La,
Hòa Bình, Yên Bái, Vĩnh Phúc… Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.
Nhóm biên soạn xin được cảm ơn lãnh đạo và giảng viên trường Cao
đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản, các chuyên gia và các nhà quản lý tại địa
phương đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuận lợi để chúng
tôi hoàn thành cuốn giáo trình này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của đọc giả để giáo trình được hoàn thiện
hơn.
Bắc Ninh, ngày …… tháng …… năm 2020
Tham gia biên soạn:
1. Chủ biên: Th.S Ngô Chí Phương
2. Th.S Nguyễn Thanh Hoa
3. Th.S Nguyễn Thị Thủy
3
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
LỜI GIỚI THIỆU
1
2
5
6
BÀI GIẢNG MÔ ĐUN
BÀI 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁC LOÀI CÁC
NƯỚC LẠNH NUÔI Ở VIỆT NAM
6
1. Đặc điểm sinh học cá hồi vân
2. Đặc điểm sinh học cá tầm
BÀI 2: KỸ THUẬT NUÔI CÁ HỒI VÂN
1. Chuẩn bị ao, bể nuôi cá
2. Chọn và thả cá giống
17
23
23
32
39
53
3. Chăm sóc và quản lý cá
4. Thu hoạch và vận chuyển
BÀI 3: KỸ THUẬT NUÔI CÁ TẦM
1. Chuẩn bị bể, lồng nuôi cá
2. Chọn và thả cá giống
55
55
61
66
82
85
3. Chăm sóc và quản lý cá
4. Thu hoạch và vận chuyển
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
BÀI GIẢNG MÔ ĐUN
Tên mô đun: Nuôi cá nước lạnh
Mã mô đun: MĐ23
Vị trí, tính chất của mô đun:
- Vị trí: Nuôi cá nước lạnh là một mô đun chuyên môn nghề thuộc chương
trình khung đào tạo trình độ Cao đẳng nghề Nuôi trồng thủy sản, được giảng dạy
cho người học sau khi đã học các môn học / mô đun kỹ thuật cơ sở.
- Tính chất: Nuôi cá nước lạnh là mô đun chuyên nghiên cứu và ứng dụng
thực tiễn sản xuất nuôi thương phẩm các loài các nước lạnh nhập khẩu có giá trị
kinh tế cao.
Mục tiêu của mô đun:
- Kiến thức: Nêu được một số đặc điểm sinh học của các loài cá nước
lạnh; nội dung kỹ thuật chuẩn bị lồng nuôi, chuẩn bị bể, ao nuôi cá nước lạnh,
chọn và thả cá giống, cho cá ăn, phương pháp quản lý một số yếu tố môi trường
và thu hoạch cá.
- Kỹ năng: Thực hiện được công việc chuẩn bị lồng, bể, ao nuôi cá nước
lạnh, chọn và thả cá giống, chuẩn bị thức ăn, cho cá ăn, xác định một số yếu tố
môi trường và thu hoạch cá nuôi.
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Nghiêm túc trong học tập và vận dụng
được kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất.
Nội dung của mô đun:
Số Tên chương, mục
Thời gian (giờ)
TT
Tổng
số
Lý
Thực hàn, Kiểm
thuyết thí nghiệm, tra
thảo luận,
bài tập
1 Bài 1. Một số đặc điểm sinh học của
các loài cá nước lạnh nuôi ở Việt
Nam
3
3
2 Bài 2. Kỹ thuật nuôi cá hồi vân 20
(Onchorhynchus mykiss)
3 Bài 3. Kỹ thuật nuôi cá 22
tầm(Acipenser sp)
6
6
14
15
29
1
1
15
Cộng
45
5
BÀI 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁC LOÀI CÁC NƯỚC
LẠNH NUÔI Ở VIỆT NAM
Mã bài: MĐ23 - 01
Giới thiệu:
Nuôi cá nước lạnh giới thiệu đến người học một số đặc điểm sinh học của
các đối tượng cá nuôi nước lạnh, yêu cầu kỹ thuật môi trường nuôi, thực hiện
công việc cải tạo ao, thả cá giống, chăm sóc quản lý và thu hoạch cá đúng kỹ
thuật. Bài học có thời gian học lý thuyết 3 giờ. Bài học này mang tính lí thuyết
thuần túy để giới thiệu cho sinh viên nhận biết đặc điểm sinh học của các loài
cá nuôi nước lạnh.
Mục tiêu:
- Nêu được đặc điểm sinh học một số loài cá nuôi nước lạnh;
- Nhận dạng được các loài cá nuôi nước lạnh ở Việt Nam hiện nay;
- Bảo vệ phẩm giống các loài cá nuôi nước lạnh nuôi phổ biến ở Việt
Nam
Nội dung chính:
1. Đặc điểm sinh học cá hồi vân (Onchorhynchus mykiss):
1.1. Đặc điểm phân loại
Bộ: Salmoniformes
Họ: Salmonidae
Giống: Oncorhynchus
Loài: O. mykiss
Cá Hồi vân là một trong 70 loài thuộc họ cá Hồi Salmonidae, đầu tiên cá
Hồi vân được Walbalm phân loại với tên gọi là Salmo mykiss, sau đó được
Richardson phân loại lại với tên khoa học là Salmo gairdneri, nhưng từ năm
1989 cá Hồi vân được phân loại lại với tên khoa học là Oncorhynchus mykiss, có
tên tiếng Anh là Rainbow trout.
1.2. Đặc điểm hình thái và phân bố
Cá Hồi vân phân bố tự nhiên ở vùng biển Thái Bình Dương thuộc khu
vực Bắc Mỹ, từ Mêxicô đến Alaska, trước đây chúng phân bố rộng rãi trong các
hồ, suối và sông nước ngọt. Hiện nay, cá Hồi vân được coi như loài các thương
mại dùng để câu các giải trí. Cho, C. Young và Colin Cowey, (1991) cho rằng
thì cá Hồi vân phân bố tự nhiên ở các thủy vực nước lạnh thuộc khu vực từ châu
Phi cho tới bắc dãy Atlas, tây bắc Mêxicô và Đài Loan.
Cá Hồi vân có hình dáng thuôn, thon dài với 60- 66 đốt sống, 3- 4 gai
sống lưng, 10-12 tia vây lưng, 8-12 tia vây hậu môn và 19 tia vây đuôi. Trong
các vây có chứa lớp mô mỡ, mép vây thường có màu đen.
6
Màu sắc và hình dáng bên ngoài của cá tùy thuộc vào môi trường sống,
tuổi, giới tính và mức độ thành thục. Thông thường lưng cá có màu xanh như
màu quả ô liu, với các dải nhiều màu sắc như đỏ, tím, xanh dương và xanh lá
cây chạy dọc thân. Ở cá trưởng thành trên thân có một dải màu hồng chạy dọc
theo đường bên, dải này càng đậm ở thời kỳ cá sinh sản và bụng có màu trắng
bạc. Trên lưng, lườn, đầu và vây có các chấm màu đen hình cánh sao.
Hình 23.01.01: Cá hồi vân Oncorhynchus mykiss (Ngô Chí Phương, 11/2007)
1.3. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá hồi vân là loài cá ăn động vật và có thể gây ảnh hưởng đến các loài
thủy sản khác trong thủy vực. Giai đoạn cá con chúng ăn sinh vật phù, khi
trưởng thành chuyển sang ăn các loài côn trùng, giáp xác và cả cá con. Năm
1924, Embody và Gordon đã tiến hành nghiên cứu đầu tiên về thức ăn tự nhiên
của cá hồi vân, kết quả cho thấy trong thức ăn tự nhiên của cá hồi vân có hàm
lượng protein, lipid và các khoáng chất lần lượt là 45%, 16-17% và 12%.
Sau khi nở, cá bột sử dụng noãn hoàng để làm thức ăn. Khi túi noãn
hoàng gần hết chúng bắt đầu tìm kiếm thức ăn trong tầng nước mặt. Vì cá Hồi
vân bột có kích cỡ khá lớn cho nên có thể sử dụng thức ăn công nghiệp để ương
cá giai đoạn đầu.
1.3.1. Nhu cầu dinh dưỡng
1.3.1.1. Nhu cầu năng lượng:
Với động vật thủy sản, 1/3 năng lượng mất đi do quá trình bài tiết (trong
phân, những phần không tiêu hóa được, nước tiểu và bài tiết qua mang), 1/3
năng lượng dùng cho các hoạt động của cơ thể và 1/3 còn lại dành cho sự sinh
trưởng. Các giá trị này thay đổi tùy thuộc mức độ cho ăn và khả năng tiêu hóa
thức ăn của cá (Smith, 1989). Như vậy, năng lượng trao đổi chất cơ sở càng thấp
7
thì năng lượng tích lũy cho sinh trưởng càng cao. Đối với năng lượng tỏa nhiệt
gồm: trao đổi chất cơ sở (duy trì các hoạt động của động vật thủy sản), duy trì
cho sự vận động, phản ứng tổng hợp hay phân giải, lột xác… đo đó chi phí năng
lượng cho quá trình này khác nhau tùy theo loài. Trong một phạm vi nào đó, để
hạn chế mất năng lượng nên đảm bảo điều kiện môi trường thích hợp và hạn chế
stress hoặc những hoạt động quá mạnh đối với cá.
Barrow và ctv, (2001) cho biết cá thường sử dụng 70% năng lượng để duy
trì hoạt động và 30% năng lượng cho sinh trưởng. Đối với cá Hồi vân, nhu cầu
năng lượng duy trì hoạt động chiếm khoảng 17- 24% so với tổng nhu cầu năng
lượng hàng ngày của nó và cá con đòi hỏi năng lượng trong khẩu phần ăn cao
hơn so với cá lớn. Theo Cho. C. Y, (1982) cá Hồi vân giai đoạn trưởng thành ở
điều kiện 15oC cần 5- 15% năng lượng lấy vào (IE) cho quá trình bài tiết, tương
ứng ở giai đoạn cá con là 20- 30% (IE).
Các thí nghiệm với các mức lipít và protein tiêu hoá khác nhau. Kết quả
là khi tăng hàm lượng lipít, năng lượng tiêu hoá và protein tiêu hoá thì tốc độ
tăng trưởng của cá cũng tăng. Tác giả cũng cho rằng có thể tiết kiệm protein
bằng cách giảm hàm lượng protein tiêu hoá và sử dụng hàm lượng lipít cao
trong thức ăn. Khoảng 35- 40% năng lượng tiêu hoá của cá Hồi vân có nguồn
gốc từ lipít và 40- 45% từ protein.
Theo Cho. C. Y, (1992) thì nhu cầu năng lượng cho cá Hồi vân có trọng
lượng 96- 145g là 8,85 kcal/ cá thể/ ngày.
1.3.1.2. Nhu cầu protein
Theo NRC nhu cầu protein đối với động vật đã đưa ra: “Nhu cầu protein
là lượng protein tối thiểu trong thức ăn nhằm làm thoả mãn nhu cầu các axít
amin để đạt tốc độ tăng trưởng tối đa. “Nhu cầu protein của một đối tượng phụ
thuộc vào một số yếu tố như: năng lượng của thức ăn, thành phần axít amin và
khả năng tiêu hoá của protein thức ăn”
Nhu cầu protein của động vật nói chung và cá nói riêng thay đổi phụ
thuộc vào kích cỡ tuổi, giới tính, tình trạng sinh lí của động vật. Thông thường
cá giai đoạn nhỏ có nhu cầu protein cao hơn so với cá lớn. Đối với cá Hồi vân,
giai đoạn cá bột, đòi hỏi thức ăn giàu đạm 45- 50. Khi đạt cỡ cá giống nhu cầu
protein và giai đoạn nuôi thương phẩm cá cần thức ăn chứa hàm lượng protein
từ 42- 48 với cá giai đoạn nuôi thương phẩm nhu cầu protein dao động từ 38-
45 và với thức ăn năng lượng cao hàm lượng protein có thể từ 45- 50 .
Theo phân tích về dinh dưỡng của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I,
hàm lượng protein thô trong thức ăn nuôi cá Hồi vân nhập khẩu từ Phần Lan giai
đoạn 100- 1500g là 38,8%, các giai đoạn trước đó trong khoảng 40,6- 52,2%.
Theo Steffens Werner, (1989) cá Hồi vân sinh trưởng tốt nhất khi thức ăn
có chứa hàm lượng protein là 40- 50. Tốc độ tăng trưởng của cá Hồi vân tỷ lệ
thuận với hàm lượng protein trong thức ăn và sau 6- 8 tuần nuôi nhu cầu protein
trong khẩu phần thức ăn giảm từ 50 xuống 40. Đối với thức ăn giàu
8
cacbonhydrat thì cần có hàm lượng protein thô 40, trong khi đó với thức ăn
mà chất béo là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu thì hàm lượng protein chỉ
cần 30- 35 sẽ cho sinh trưởng của cá ở mức tối đa. Trong thức ăn có chứa hàm
lượng protein từ 30- 45, 5 protein có thể được thay thế bằng 5% chất béo mà
không làm tăng hệ số thức ăn.
Việc thay đổi các loại nguyên liệu cung cấp protein trong thức ăn cho cá
Hồi vân cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng trưởng của cá
Hồi vân điều này được khẳng định bởi cá tác giả khác nhau: (Satia, 1974) cho
răng nếu sử dụng bột cá làm thức ăn cho cá Hồi vân thì cần có hàm lượng
protein là 40%, (Zeitoun et al., 1973) cũng cho rằng nếu sử dụng protein từ
casein thì nhu cầu protein là 40%, tuy nhiên theo các nghiên cứu của (Halver et
al., 1964) thì nếu sử dụng casein để cung cấp protein thì cần thức ăn có khẩu
phẩn protein là 45%.
Nhu cầu protein đối với cá Hồi vân cao nhất ở giai đoạn cá bột sau đó
giảm dần ở các giai đoạn cá giống và cá trưởng thành. Đối với cá cỡ 100g thì
nhu cầu protein duy trì hàng ngày ở nhiệt độ 10oC, 15oC và 20oC tương ứng với
25,1; 69,3 và 97,7 mg/ngày. Trong các thí nghiệm của (Austreng, 1978) cho
thấy đối với cá cỡ 100 – 300g, tốc độ sinh trưởng tối đa của chúng đạt được khi
protein khẩu phần là 44. Đối với cá cái 2 năm tuổi, trong 3 tháng phát dục
trước khi sinh sản cần được cho ăn với thức ăn có hàm lượng protein là 36 và
chất béo là 18 thì cá thành thục nhanh và tỷ lệ thụ tinh cũng như tỷ lệ nở sẽ
đạt ở mức cao nhất (Watanabe và ctv, (1984)).
Ngoài ra việc cân đối tỷ lệ giữa hàm lượng protein và năng lượng trong
khẩu phần ăn cũng là yếu tố có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá Hồi vân (tỷ lệ
P/E) theo (Lee và Putnam, 1973) thì tỷ lệ P/E của cá Hồi vân là 19- 23, theo
(Cho và Woodward, 1989) thì tỷ lệ DP/DE của cá Hồi vân là 25,1. điều này
đúng theo lý thuyết là đối với các loài động vật biến nhiệt thường tỷ lệ P/E cao
hơn so với các loài động vật đẳng nhiệt.
1.3.1.3. Nhu cầu lipít và axít béo
Lipít là thành phần quan trọng trong thành phần thức ăn. Lipít cung cấp
năng lượng cao cho cá và là dung môi để hoà tan một số vitamin. Nhiều nghiên
cứu đã khẳng định lipít có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng
thức ăn của nhiều loài cá. Trong cơ thể cá lipít thường tồn tại ở hai dạng: lipít
cấu trúc màng tế bào và lipít dự trữ.
* Nhu cầu lipít:
Đối với các loài số trong khu vực sinh thái nước lạnh có nhu cầu lipít
trong thức ăn cao hơn so với cá sống trong khu vực nước ấm vì ngoài năng
lượng năng lượng sử dụng cho sinh trưởng cá cần một nguồn năng lượng lớn để
duy trì trong điều kiện nhiệt độ thấp. Mặc khác, khả năng sử dụng năng lượng
dưới dạng carbonhydrate của chúng kém hơn so với những loài cá nước ấm.
Steffens Werner, (1989) cho biết, đối với cá Hồi vân, thức ăn với 24% lipít (dầu
cá Trích) và 36% protein cho hiệu quả sinh trưởng tốt và hệ số chuyển hóa thức
9
ăn tốt nhất nếu nâng hàm lượng protein lên mức 36% và hàm lượng lipít ở mức
25- 45%. Tại NaUy, thức ăn công nghiệp cho nhóm cá Hồi thường có khẩu
phần lipít cao dao động từ 33- 38%.
Rehulka Jiri và Bohumil Mimarik, (2003) cho răng, trong thức ăn cho cá
Hồi vân, việc tăng hàm lượng lipít sẽ làm tăng khẳ năng sử dụng protein trong
thức ăn. Hàm lượng lipít tăng từ 8% lên 16% trong thức ăn kết quả là giảm tỷ lệ
chết và cá sinh trưởng tốt hơn. Khi tăng hàm lượng lipít trong thức ăn từ 9 -
11% (tương ứng với 48% protein) lên 17-18% lipít và protein là 44- 45% dùng
cho cá có khối lượng từ 5g trở lên, kết quả cho thấy đã cải thiện được sức sinh
trưởng và khả năng sử dụng thức ăn của cá. Đối với cỡ cá 250-500g, nếu tăng
hàm lượng lipít trong thức ăn thì tiết kiệm được protein.
Beamish và Medland, (1986) đã tiến hành các công thức thí nghiệm trên
cá Hồi vân ở 2 mức litpít là 12%, 24% (dầu cá Trích) với 3 mức protein tương
ứng là 30%, 43% và 52%. Kết quả cho thấy, ở mức 24% lipit thì mức tăng
trưởng của cá không có sự sai khác giữa 2 mức protein 43% và 52%, nhưng ở
các lô thí nghiệm ở mức 12% lipit và 30% protein thì mức tăng trưởng của cá
chậm hơn đáng kế. Tuy nhiên, ở mức 24% lipit khi tăng hàm lượng protein từ
30% lên 43%, thì mức tăng trưởng của cá cũng tăng. Nếu giới hạn khẩu phần
cho ăn (0,5% khối lượng cá/ngày), các lô thí nghiệm ở mức 24% lipit với 43%,
52% protein có mức tăng trưởng của cá tốt hơn so với các công thức thí nghiệm
khác.
* Nhu cầu a xít béo:
Các nghiên cứu trên họ cá Hồi tại Na Uy cho thấy vai trò quan trọng của
các axít béo 3, theo đó nhu cầu 3 trong thức ăn cá Hồi nên ở mức 1% khẩu
phần ăn. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khả năng tích luỹ và tỷ lệ axít béo
3/6 trong cơ thể của cá Hồi trong nuôi nhân tạo không cao như trong tự nhiên
(4,5 so với 17).
(Takeuchi và Watanabe (1982) cho biết, cá Hồi vân có nhu cầu khoảng
1% các axít béo 3 thiết yếu trong thức ăn, sử dụng hỗn hợp axít béo 18:
33/18: 26 theo tỷ lệ 0,5% - 3%/1% sẽ cho tốc độ sinh trưởng của cá tốt hơn
so với dùng đơn lẻ 18: 33 hoặc sử dụng 2,5-5% hàm lượng 18: 26. Nếu sử
dụng đơn 18: 33 với tỷ lệ 5% thì tốc độ sinh trưởng của cá cũng không bằng so
với có bổ sung 18: 26. Vì vậy 18: 26 được cho là có vai trò như chất bổ sung
đáp ứng nhu cầu axít béo thiết yếu của cá Hồi vân. Acid Arachidonic (20: 46)
cũng có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng của cá Hồi vân như là axít 18: 26.
Khi sử dụng 1% 6 PUFA và 1% 3 PUFA trong thức ăn làm cho cá có
tốc độ tăng trưởng tốt (Takeuchi và Watanabe, 1977).
Theo nghiên cứu của Watanabe et. al, (1977) chỉ ra rằng khi phối trộn
0,8% 18:33 trong khẩu phần thức ăn, cá Hồi vân đạt mức tăng trưởng tối ưu.
Cũng có thể thay thế 20% 18: 33 trong tổng lipít vào khẩu phần ăn hoặc với
mức hoặc 10% tổng lipít là 20: 53 và 22: 63. Tuy nhiên việc bổ sung một
10
lượng nhỏ 6 trong khẩu phần ăn sẽ đảm bảo tốt hơn cho sự sinh trưởng và phát
triển của cá.
Takeuchi và Watanabe, (1977) cho rằng, trong thức ăn có axít béo 20:
53 và 22: 66 sẽ cho tốc độ sinh trưởng của cá cao hơn so với thức ăn chỉ có
18: 33. Khẩu phần ăn có 0,25% 20: 53 hoặc 0,25% hỗn hợp 2 acid 20: 53
và 22: 63 (tỷ lệ 1:1) thì tốc độ sinh trưởng của cá tương đương với cá được cho
ăn khẩu phần 0,5% 18: 33. Khi sử dụng 0,5% hỗn hợp axít béo như trên sẽ cho
kết quả sinh trưởng của cá tốt hơn so với khi dùng đơn lẻ 0,5% cho từng loại.
Trong tổng hàm lượng lipít của thức ăn nếu bổ sung 1% 22: 63 hoặc 1% hỗn
hợp 20: 53 và 22: 63 (tỷ lệ 1:1) thì khả năng tiêu hoá thức ăn của cá ở mức
tối đa và cho tốc độ sinh trưởng của cá cao nhất. Nhu cầu của cá Hồi vân đối với
acid 18: 33 và các axít béo PUPA 3 lần lượt là 20%- 10% khẩu phần lipít.
Thành phần axit béo khẩu phần cũng có ảnh hưởng đến khả năng miễn
dịch của cơ thể. Trong một nghiên cứu trên cá Hồi, (Thomson et al, 1996) đã
thấy rằng khẩu phần đầy đủ axít béo 3 nhưng tỷ lệ 3/6 thấp thì sức đề
kháng với bệnh Aeromonas salmonicida và Vibrrio anguillarum kém hơn khẩu
phần có tỷ lệ 3/6 cao.
Bảng 23.01.01: Nhu cầu axít béo không no của một số loài trong họ cá hồi
Loài
Nhu cầu axít béo
Nguồn
Rainbow trout 20% linolenic acid hoÆc 10% Takeuchi & Watanabe (1977)
lipid d¹ng EPA vµ DHA
0,5% linoleic acid
Chum salmon 1% linoleic acid vµ 1% Takeuchi &Watanabe (1982)
linolenic acid
Yu & Sinnhuber (1979)
Coho salmon 1% linoleic acid vµ 1linolenic Takeuchi & Watanabe (1977)
acid
1.3.1.4. Nhu cầu Vitamin
Vitamin là những chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau, cơ thể động
vật có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát
triển bình thường.
Vai trò của vitamin được ứng dụng vào nuôi trồng thủy sản từ rất lâu,
nhất là từ khi nghề nuôi trồng thủy sản phát triển hình thức thâm canh cùng với
việc sử dụng thức ăn tổng hợp. Từ năm 1912, Dilley đã khám phá ra vai trò của
vitamin B12 trong việc phòng trị bệnh xuất huyết ở cá Hồi. Louis Wolf đã xác
định được vai trò của B1 (thiamine) hay của folic acid đối với cơ thể động vật.
Bảng 23.01.02: Nhu cầu của một số vitamin của cá hồi vân
Nguồn
Đơn
vị
TT
Vitamin
Steffens Hardy, R.W Halver Torrissen NRC
(1989)
(2002)
(1989)
10- 15
(1982)
10- 15
(1993)
10
1. Thiamine (B1)
Mg 10 – 20
-
11
2. Riboflavin (B2)
3. Pyridoxin (B6)
4. Pantothenic acid (B5)
5. Niacin (B3)
6. Biotin (H)
7. Folic acid (B9)
8. Cyanocobalamin (B12) Nt
9. Choline
10. Inositol
11. Viatmin C
12. Vitamin D
13. Vitamin E
14. Vitamin K
Nt
Nt
Nt
Nt
Nt
Nt
20-35
10-20
50-60
50-200 10
0,35-1,35 0,15
4
3
20
20- 25
10- 15
40- 50
10- 25
10- 20
40- 50
20
10- 15
40
150- 200 120- 200 150
1,5
6- 10
0,02
-
1- 1,5
5- 10
0,02
-
1
5
0,02
-
5-15
0,03-0,04 -
1
Nt
Nt
Nt
I.E
-
1000
350-500 300
200-400 50
300- 400 200- 300 400
80- 150 100- 150 100
-
40- 50
-
-
2400
2000
40- 50
-
2400
90
-
Mg 20-30mg 50 I.E
Mg 10-40
-
2000-
2500
2000-
2500
15. Vitamin A
IE 2500
2500
2500
1.3.1.5. Nhu cầu chất khoáng.
Chất khoáng là những nguyên tố hoá học cần thiết để xây dựng nên cơ thể
và tham gia vào quá trỡnh trao đổi chất trong cơ thể động vật. Chất khoáng có
vai trò như là chất xúc tác đối với các enzim, hócmon và protein. Cho đến nay,
người ta đó xỏc định được gần 100 nguyên tố tồn tại trong tự nhiên, trong đó có
trên 30 nguyên tố tồn tại trong cơ thể động vật và thực vật.
Khác với động vật trên cạn cá có khả năng tiếp nhận khoáng trực tiếp từ
trong nước qua con đường thẩm thấu. Tuy nhiên, phần lớn nhu cầu các chất
khoáng của cá được cung cấp từ thức ăn.
Bảng 23.01.03: Nhu cầu một số chất khoáng của cá Hồi vân
Nguồn tài liệu
Shearer (1984),
Kirchgessmer vµ
Shwarz (1986)
TT Khoáng
Steffens (1989)
Watanabe, T. (1990)
Đơn vị
2
Chỉ số
G/kg KP
Nt
Đơn vị
% KP
Nt
Chỉ số
<0,03
0,7 – 0,8
Đơn vị
g/kg
g/kg
g/kg
g/kg
Chỉ số
5,2
4,8
1,3
3,2
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Ca
P
Na
K
Cl (Nacl)
Mg
Zn
Mn
Cu
6
1 - 2,2
2-13
100
Nt
Nt
Nt
-
-
-
200-700 Mg/kg KP
%
Ppm
Nt
0,06-0,07
15-30
g/kg
0,33
25
1,8
1,2
15-100
12-13
3
0,6-2,8
0,05
0,2-0,4
-
Nt
Nt
Nt
Nt
Nt
Nt
mg/kg
mg/kg
mg/kg
13
3
-
0,1
-
-
Nt
10 I
11 Co
12 Se
13 Fe
Nt
mg/kg
12
12
Giá trị dinh dưỡng và thị trường cá hồi vân:
Thịt cá hồi vân rất ngon, mầu đỏ là sản phẩm được người tiêu dùng ưa
chuộng. Thành phần dinh dưỡng chính trong 100g thịt cá hồi vân bao gồm 30,2
g (chất rắn), 17,5g (protein), 10,2g (chất béo) và 0,1g (đường). Thịt cá còn
chứa nhiều axít béo (omega-3), axít này dễ hoà tan vitamine A và D, và chứa
lượng nước hoà tan vitamin B12. Giá cá hồi vân bán trên thị trường thế giới tùy
thuộc vào loại sản phẩm. Ở thị trường Mỹ, giá 1 pound (0,45 kg) cá nguyên con
là 3,49 Đô la, bỏ đầu và đuôi là 3,79 Đô la, 1 pound fi lê giá 4,3 Đô la. Trong
những năm gần đây, sản lượng cá hồi vân nuôi ở Trung Quốc đạt nghìn tấn. Giá
cá bán ở thị trường nội địa là 3 Đô la/kg (nguyên con). Giá của các sản phẩm
chế biến như cá hun khói, đóng hộp thì còn cao hơn nhiều so với cá tươi. Hàng
năm nước ta có nhập sản phẩm cá hồi để cung cấp cho nhiều nhà hàng, khách
sạn phục vụ khách hàng. Nếu như trong nước nuôi được cá hồi vân thương
phẩm thì cũng dễ dàng tiêu thụ nội địa. Trong trường hợp sản xuất được sản
lượng lớn thì xuất khẩu sản phẩm cá hồi là rất dễ dàng. Trung tâm đổi mới nghề
cá Phần Lan cũng đã nhận bao tiêu sản phẩm.
1.4. Đặc điểm môi trường sống
1.4.1. Nhiệt độ nước
Cá Hồi vân là loài cá rộng nhiệt, nhiều tác giả nghiên cứu ngưỡng nhiệt
độ của cá cho những kết quả khác nhau, tùy thuộc vào nguồn gốc, dòng cá và
biên độ nhiệt độ. Nhiệt độ thích hợp nhất cho hầu hết các loài cá Hồi sinh trưởng
là 15- 17oC, ở nhiệt độ này tốc độ trao đổi chất của cá là tối ưu, tức là cho hệ số
chuyển đổi thức ăn là tốt nhất. Cá Hồi vân bắt mồi tốt nhất ở nhiệt độ 15oC, bỏ
ăn khi nhiệt độ lên quá 20oC. Theo Pike, I.H và ctv (1990) khuyến cáo nên dừng
cho cá ăn khi nhiệt độ nước ở trên mức 22oC. Nhiệt độ trên 21oC là điều cần
tránh với cá hồi vân đặc biệt là khi hàm lượng ôxy hoà tan giảm.
Tuy nhiên, theo Hardy & ctv, 2000 cá hồi vân có thể sinh trưởng khi nhiệt
độ nước lên tới 25oC trong điều kiện có đủ ôxy và ở mức nhiệt độ thấp nhất là
3,3oC (Hinshaw Jeffrey, 1999). Nhiệt độ nước trong các trại nuôi cá hồi vân nên
duy trì trong khoảng 12- 20oC, không nên vượt quá 21- 23oC trong một thời gian
dài. Cá chết nhiều khi nhiệt độ ở mức ≥ 24oC. Khả năng sử dụng thức ăn và tốc
độ sinh trưởng của cá sẽ giảm dần rồi ngừng hẳn khi nhiệt độ nước ở mức trên
20oC, đây là ngưỡng cao nhất để cá hồi vân có thể sống trong một thời gian dài.
Nhiệt độ không những ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cá mà
còn ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng thức ăn và hoạt động của hệ tiêu hóa. Đối
với cá nước ấm cần nhiều thức ăn hơn so với cá nước lạnh. Ở nhiệt độ 3,3oC
hoặc thấp hơn, tần số bắt mồi của cá hồi vân bị giảm và khả năng tiêu hóa rất
chậm, vì vậy trong điều kiện nhiệt độ giảm thấp khẩu phần ăn chỉ nên duy trì ở
mức dao động từ 0,5-1,8% khối lượng cơ thể/ngày tùy thuộc vào cỡ cá, nếu cho
ăn nhiều thì cá cũng không có khả năng tiêu hóa và thức ăn sẽ bị thải ra ngoài.
Khi nhiệt độ nước trên 20oC thì khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của cá hồi
vân giảm và thức ăn không được tiêu hóa một cách triệt để. Nên giảm khẩu phần
13
ăn khi nhiệt độ nước cao để tránh thức ăn bị thải ra ngoài và đảm bảo duy trì
chất lượng nước tốt. Tác giả còn cho biết nhiệt độ dao động trong khoảng 12,7-
18,3oC là tối ưu để cho cá Hồi vân sinh trưởng và trong khoảng nhiệt độ ấy có
thể cho cá ăn ở khẩu phần tối đa (1,5- 6% khối lượng cơ thể, tùy theo cỡ cá).
Biên độ dao động nhiệt độ trong ngày nên duy trì trong khoảng từ 2- 3oC
để tránh gây sốc cho cá.
1.4.2. Hàm lượng ôxy hòa tan
Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng lớn đến sự sống, phân
bố và sức khỏe của cá nói chung và cá Hồi vân nói riêng là hàm lượng ôxy hòa
tan trong nước.
Hàm lượng ôxy hòa tan cho sinh trưởng tối ưu của các loài cá nước lạnh
là 7 mg/l, trong khi nuôi cá nước ấm chỉ cần 5 mg/l. Đối với cá hồi vân nuôi
trong bể, ôxy hòa tan là yếu tố môi trường quan trọng quyết định năng suất cá
nuôi. Hàm lượng ôxy hòa tan thích hợp cho cá Hồi vân sinh trưởng và phát triển
dao động trong khoảng 5- 10 mg/l, lý tưởng nhất ở mức 7mg/l trở lên. Theo
Theo Stevenson, J. P., (1980)Error! Reference source not found. và
Colt và ctv (2001) ngưỡng ôxy thấp nhất của cá hồi vân ở mức 6 mg/l và trong
các bể nuôi không nên để hàm lượng ôxy hòa tan ở mức thấp hơn 5 mg/l. Hàm
lượng ôxy hòa tan ở mức 1,5- 2mg/l thì cá hồi vân trưởng thành có thể chịu
được trong một thời gian ngắn và cũng đây là ngưỡng gây chết đối với cá trưởng
thành, đối với cá giống ngưỡng gây chết khoảng 3 mg/l. Theo Liao, (1971) thì
cần có 200- 300g ôxy hoà tan cho mỗi kg thức ăn cung cấp và nếu ôxy ở mức
3mg/l thì cần phải bổ sung bằng sục khí. Nhu cầu ôxy của cá có thể tăng lên sau
20 phút hoặc vài giờ, nhất là sau khi ăn việc này dẫn tới hiện tượng giảm ôxy
huyết, stress ở cá cần phải giảm lượng thức ăn.
Hàm lượng ôxy hòa tan có ảnh hưởng rất lớn đến sức sống và khả năng
kháng bệnh của cá của cá. Hàm lượng ôxy hòa tan cao sẽ giảm tỷ lệ chết của cá
do ký sinh trùng gây ra.
Khi nhiệt độ nước tăng lên, hàm lượng ôxy hòa tan cũng như khả năng
hòa tan của ôxy từ không khí vào môi trường nước bị giảm xuống, đây chính là
nguyên nhân dẫn đến cá bị stress trong những tháng mùa hè. Do vậy, hàm lượng
ôxy hòa tan là một trong những yếu tố hết sức quan trọng trong việc chọn thủy
vực để nuôi cá hồi. Cá hồi vân thường được nuôi trong các thủy vực tự nhiên và
trong các hệ thống nước chảy. Có một tương quan giữa hàm lượng ôxy hoà tan
với nhiệt độ nước và độ cao, khi độ cao tăng 300m làm khả năng hoà tan ôxy
giảm 0,5mg/l.
1.4.3. Độ pH
Nguồn nước chảy là yếu tố đầu tiên quyết định tới sự biến động pH trong
hệ thống nuôi, đối với cá hồi vân pH tốt nhất là trung tính hơi kiềm khoảng 7- 8,
nguồn nước có tính axít pH< 7 không thể tiến hành nuôi cá. pH tốt nhất cho cá
hồi vân sinh trưởng và phát triển là 7- 8,5, trong quá trình nuôi chú ý không lấy
14
nước tầng mặt sau trận mưa lớn.
Từ nghiên cứu gần đây cho thấy cá hồi vân có thể thích nghi được với
điều kiện pH thấp. Cá hương, cá giống và cá trưởng thành có thể sống khi pH ở
mức dưới 5. Tuy nhiên, ở mức pH thấp thì sẽ không tốt cho sự phát triển của
phôi và cá bột. Với mức pH 4,5- 5,5 tỷ lệ nở của trứng giảm và pH ở mức ≤ 4,3
phôi cũng như cá bột sẽ bị chết. Khi pH > 9 thì cá hồi có thể chết, đặc biệt là ở
giai đoạn phôi phát triển và cá bột.
1.4.4. Độ muối
Cá hồi vân là loài cá có khả năng thích nghi với môi trường nước mặn,
chúng thường sống trong nước ngọt, nhưng có thể sống ở môi trường nước biển
có độ muối đến 35‰. Chúng có khả năng thích nghi tốt với những thay đổi
nhanh về độ muối và di cư nhanh chóng từ nước ngọt ra đại dương trong hệ
thống nuôi thương phẩm. Finstad và ctv, (1998) cho biết, cá hồi vân cỡ 40-120
g/con di cư từ nước ngọt ra nước mặn có độ muối 26‰ mà không thấy một dấu
hiệu nào là cá bị stress. Thậm trí là ngược lại trong thực tế cá sống trong môi
trường nước ngọt khi bị stress có thể dùng muối bổ sung trong nước để giảm
stress.
Sức chịu đựng của cá hồi vân đối với sự tăng độ muối phụ thuộc vào cỡ
cá. Chúng có thể sinh trưởng trong nước lợ với độ muối thấp trong suốt năm đầu
tiên nhưng chúng chỉ chịu được độ muối 25-30‰ khi chiều dài cơ thể đạt 15-
20cm. Cá hồi vân cỡ 90g được nuôi trong nước có độ muối 20‰, cá sinh trưởng
tốt và sự sinh trưởng của cá sẽ giảm, hệ số thức ăn (FCR) sẽ tăng khi tăng độ
muối (Steffens, W., 1989).
Ở độ muối 0‰ và 8‰ sự sai khác về tốc độ sinh trưởng của cá không rõ
rệt nhưng khi độ muối lên đến trên 20‰ sự sinh trưởng bị chậm lại một cách
đáng kể. Ảnh hưởng của độ muối đến sinh trưởng của cá hồi vân phụ thuộc vào
thời gian trong năm và nhiệt độ. Ở nhiệt độ trên 12oC và với độ muối 20‰ sẽ ức
chế sự sinh trưởng của cá hồi vân nhưng ở nhiệt độ thấp hơn chúng sinh trưởng
tốt hơn trong nước ngọt
1.5. Đặc điểm sinh trưởng
Khả năng sinh trưởng của cá hồi vân tùy thuộc vào nhiệt độ, dinh dưỡng
và yếu tố di truyền. Nhìn chung cá hồi vân có tốc độ sinh trưởng nhanh, trong
điều kiện môi trường sống giàu thức ăn tự nhiên cá có thể đạt 100g trở lên trong
năm đầu, 250-300g sau 2 năm và sau 3 năm đạt 40- 45cm. Theo Bromage Niall
và ctv thì trong điều kiện nuôi, tính từ trứng có điểm mắt đến khi đạt 10- 20
tháng nuôi cá có thể đạt khối lượng bình quân 200 g/con
Sống tự nhiên ở hồ Kooteney-British Côlômbia cá đạt kích thước lớn nhất
là 23kg ở 5-6 tuổi. Tuy nhiên, trong các suối cá chỉ đạt khối lượng 100g sau 1
năm tuổi và 300-450g sau 3 năm tuổi. Cá hồi vân có thể sống 10- 12 năm và đạt
kích thước đến 20kg.
15
1.6. Đặc điểm sinh sản
1.6.1. Sinh sản tự nhiên:
Cá hồi vân sinh sản tự nhiên trong các thủy vực nước lạnh. Chúng có tập
tính đào tổ đẻ trứng. Một con cái có thể đẻ từ 700-4000 trứng/lứa đẻ. Sau khi đẻ,
trứng được thụ tinh và ấp trong tổ.
1.6.2. Sinh sản nhân tạo:
* Nuôi vỗ đàn cá bố mẹ và cho đẻ:
Cá bố mẹ có thể có thể được thu từ tự nhiên hoặc thu từ các trại nuôi cá
thịt. Cá hồi nuôi có đặc điểm là lớn nhanh, thành thục sớm, kích cỡ trứng lớn.
Cá bố mẹ thường được nuôi vỗ riêng trong ao nước chảy. Mật độ thả thích hợp
là 8.000 con/ha. Trong nuôi vỗ thành thục, tạo ăn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi
được đặc biệt chú ý. Tuy nhiên khi không đủ thức ăn tự nhiên thì cần phải cung
cấp thức ăn nhân tạo, bổ sung chất dinh dưỡng theo yêu cầu của cá. Thông
thường cá đực bắt đầu phát dục sau hai năm tuổi, còn cá cái thành thục muộn
hơn khi chúng đạt ba tuổi. Cá đực ở lứa tuổi từ hai đến bốn năm là thích hợp
nhất để cho sinh sản. Số lượng trứng hoặc sẹ sẽ tăng theo cỡ cá bố mẹ. Cá cái cỡ
lớn hơn thì đẻ nhiều trứng hơn, kích thước trứng lớn hơn và ấu trùng cá nở ra
cũng to hơn. Mùa sinh sản thường tập trung từ tháng 3-7 hàng năm.
Số lượng cá bố mẹ cần thiết phụ thuộc vào số lượng cá giống cần sản
xuất. Số lượng cá bố mẹ có thể tính ngược lại, dựa vào tỷ lệ sống của ấu trùng,
cá hương và cá giống. Có nhiều quan điểm khác nhau về tỷ lệ cá đực và cái,
nhưng thông thường thì tỷ lệ 1 đực 3 cái là thích hợp nhất. Cá đực và cá cái
thường được nuôi riêng trong các ao hoặc bể. Khi kiểm tra cá thành thục sinh
dục thì có thể cho đẻ nhân tạo theo phương pháp vuốt trứng và sẹ, thụ tinh khô.
Cũng có thể sử dụng phương pháp bảo quản tinh để tiết kiệm chi phí nuôi cá
đực.
* Ấp trứng và ương cá bột:
Trứng cá hồi vân có kích thước khá lớn, không dính và chìm trong nước.
Có nhiều loại thiết bị dùng để ấp trứng cá hồi, nhưng tốt nhất là dùng khay ấp
theo kiểu thiết kế của California. Ưu điểm của phương pháp ấp trứng trong khay
là trứng và ấu trùng có thể quan sát dễ dàng và tiện thao tác. Máng để chứa khay
ấp thường rộng khoảng 40- 50 cm và sâu 20 cm. Chiều dài có thể thay đổi trong
khoảng 3 - 4 m. Khay hình chữ nhật có lỗ đục được đặt trên máng, cách đáy trên
của máng khoảng 3 cm. Các lỗ ở khay phải giữ được trứng và cho phép ấu trùng
mới nở đi qua được theo dòng nước ở bên dưới. Lượng nước cần dùng để ấp
trứng là 5.000 lít cho 10.000 trứng trong 1 ngày. Thời gian trứng nở phụ thuộc
vào nhiệt độ nước và dao động trong khoảng 100 ngày ở 3,9oC và 21 ngày ở
14,4oC. Giai đoạn điểm mắt (có thể nhìn thấy mắt qua vỏ trứng) đến khi nở là
khoảng thời gian dài nên trứng có thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác để ấp
nở.
Khi mới nở, ấu trùng cần được ương vài ngày trong khay ấp trứng rồi mới
16
chuyển sang bể ương. Có thể sử dụng bể composite hoặc bê tông trong nhà để
ương cá hồi là thích hợp nhất. Cần duy trì dòng nước chảy và mật độ cá ương
trong bể một cách hợp lý. Bể tròn có thể ương ở mật độ cao hơn so với ương ở
các khay dài truyền thống. Thường bể tròn có đường kính 2 m, độ sâu khoảng
0,5- 0,6 m và bể dài 3- 4 m, rộng 70- 80 cm và sâu 50- 60 cm là thích hợp cho
việc ương cá bột. Cho cá ăn: số lượng thức ăn và tần suất cho ăn tuỳ theo cỡ cá
và nhiệt độ nước. Khi cá nhỏ thì cho ăn khoảng 5 - 6 lần trong ngày, khi cá lớn
thì cho ăn 2- 3 lần trong ngày. Trong thời gian ương phải thường xuyên vệ sinh
bể và kiểm tra chất lượng nước. Giai đoạn ương thường kéo dài trong khoảng
10-12 tuần. Sau đó cá con được phân cỡ để chuyển ương tiếp thành cá giống lớn
hoặc nuôi cá thịt.
2. Đặc điểm sinh học cá tầm (Acipenser sp):
Cá Tầm (Sturgeon) thuộc họ cá Acipenseridae xuất hiện trên trái đất
khoảng hơn 100 triệu năm trước, và theo Fishbase cá Tầm gồm 28 loài khác
nhau. Cá Tầm không chỉ là loài cá nước ngọt lớn nhất mà còn là loài sống lâu
nhất. Cá Tầm tự nhiên sống ở vùng Bắc Bán Cầu và thường gặp tại Bắc Ðại Tây
Dương, Bắc Thái Bình Dương, Vùng Biển Caspian, Biển Ðen, tại nhiều sông và
hồ như sông Delaware, Rhin, Garonne, Elbe, Volga, Danube và hồ Ladoga.
1.1. Đặc điểm phân loại
Lớp cá xương sụn: Osteichthyes
Họ cá Tầm : Acipenseridea
Giống: Acipenser
Loài : Acipenser baerii Brandt, 1869
Tên tiếng Anh: Siberian Sturgeon
Hình 23.01.02. Cá Tầm Siberi
17
1.2. Đặc điểm hình thái và phân bố
1.2.1. Đặc điểm hình thái
Cá Tầm Siberi có thân hình thuôn dài, nhô cao về phía lưng và dẹp về
phía bụng. Bề ngoài cá có màu đen hoặc xám đen, bụng có màu trắng. Cá có 5
háng xương nằm dọc cơ thể về phía lưng, không có xương cứng. Nắp mang hở,
có xương nắp mang và 4 cung mang, tuy nhiên không có màng mang. Mõm cá
hình nêm, hợp với đầu tạo thành hình tam giác. Miệng hướng dưới tương đối
lớn, môi phát triển kéo dài nhô ra hình tròn. Dưới mõm, phía trên miệng có 2 đôi
râu là cơ quan xúc giác của cá. Cá có 2 vây lưng, vây lưng phía trước là gai
cứng, vây lưng phía sau là gai mềm. Đuôi cá kéo dài, phía sau đuôi có vẩy cứng,
gai nhỏ xếp thành nhiều hàng.
1.2.2. Phân bố
Cá Tầm Sibêri có phân bố tự nhiên tại các nước gồm Nga, Kazakhstan và
Trung Quốc. Tại Nga, cá phân bố ở hầu hết các sông lớn ở vùng Sibêri. Vùng
phân bố của chúng phát triển theo hướng nam từ lưu vực sông Lena và vịnh Ob’
tới Cherniyi, Irtysh và sông Selenga.
Hiện nay cá Tầm Sibêri đã được nhập và phát triển tại nhiều nước như
Nhật Bản, Pháp, Đức, Italia, Hungary, Ba Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Mỹ, Uruguay,
Trung Quốc (FAO, 2009), Việt Nam.
1.3. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Tầm Sibêri là loài cá ăn ở tầng đáy. Với chiếc mõm hình nêm chúng
sục sạo lớp đáy bùn mềm và bằng cơ quan xúc giác nhạy cảm (râu) thì chúng có
thể phát hiện các loài động vật giáp xác và cá nhỏ, là nguồn thức ăn của chúng.
Vì không có răng nên chúng không thể bắt các con mồi lớn. Vì vậy khi còn nhỏ
thành phần thức ăn bao gồm các loài nhuyễn thể, giun tơ, ấu trùng muỗi và ấu
trùng các côn trùng, tôm nhỏ. Cá lớn lên thức ăn của cá là các loài cá nhỏ ăn đáy.
Cá Tầm Siberi là loài ưa hoạt động vào lúc bình minh hoặc chạng vạng
tối. Khi điều kiện ánh sáng mạnh cá sẽ nằm dưới đáy để ngủ, chỉ có thức ăn mới
hấp dẫn được chúng ra khỏi nơi trú ẩn. Trong điều kiện nuôi công nghiệp, cá có
thể sử dụng được thức ăn nhân tạo. Lượng thức ăn cho cá hàng ngày thay đổi
theo nhiệt độ như sau:
Bảng 23.01.04. Khẩu phần thức ăn của cá Tầm Siberi trong nuôi thương phẩm
Nhiệt độ (0C)
Lượng thức ăn (%Wthân/ ngày)
12
18
21
25
1,5- 2,1
2,2- 3,2
2,0- 4,0
3,3- 5,0
18
1.4. Đặc điểm môi trường sống
Cá Tầm là loài sống ở tầng đáy, thị giác kém phát triển, thích nơi có ánh
sáng yếu, ưa nơi có dòng nước chảy. Cường độ ánh sáng mạnh sẽ ảnh hưởng
đến hoạt động bắt mồi của. Trong hồ Baikal, chúng thường sống ở độ sâu 20-
50m, có khi xuống sâu tới 100- 150m. Chúng là cá bán di cư ngược dòng hoặc
cá nước ngọt, chủ yếu sống ở vùng trung lưu của các dòng sông.
Cá Tầm Siberi có thể thích nghi và phát triển tốt ở vùng có độ cao từ
600m trở lên, nhiệt độ nước dao động trong khoảng 18- 25oC, pH = 7- 8, hàm
lượng oxy hoà tan trong khoảng 7- 8, hàm lượng Fe < 0,1 g/m3, hàm lượng
H2S= 0, NH3 = 0,05g/m3.
- Nhu cầu hàm lượng ôxy hoà tan cao, thường trên 5 mg/lít, nếu hàm
lượng ôxy hoà tan dưới 4 mg/lít cá ăn kém, khi tiếp tục giảm xuống 3 mg/lít
hoặc thấp hơn nữa cá ngừng ăn rõ rệt, nghiêm trọng hơn cá hoạt động yếu, dẫn
đến hôn mê và chết.
- Cá Tầm thích nghi với pH từ 7,0 - 8,0. Khi pH xuống thấp có nghĩa là
hàm lượng CO2 tăng cao, nước chua, lượng ôxy hoà tan giảm không thích hợp
với nhu cầu ôxy cao của cá, khi pH cao làm tăng độc tính của NH4 không thích
hợp cho cá sinh trưởng, phát triển.
1.5. Đặc điểm sinh trưởng
Trứng cá được thụ tinh sau 8- 12 ngày thì nở tủy thuộc vào nhiệt độ môi
trường, nhiệt độ thích hợp khoảng 14- 17oC. Sau khi nở cá tự dưỡng bằng noãn
hoàng, trọng lượng cá lúc này khoảng 35mg/con. Ở nhiệt độ 15- 17 oC thì sau
10- 12 ngày khối noãn hoàng sẽ tiêu hết và cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên
ngoài. Trong điều kiện nhân tạo, ngay sau khi cá hết noãn hoàng thì cần cung
cấp thức ăn cho cá 30 phút/lần. Thức ăn của cá la dạng bột mịn và nhũ tương,
ngoài ra còn sử dụng thức ăn tươi sống như artemia, động vật phù du, thịt cá
tươi xay nhuyễn, Khẩu phần ăn của cá tùy theo nhiệt độ mà thay đổi cho phù
hợp từ 25- 45% trọng lượng cơ thể, Trong điều kiện nuôi tốt, sau 1 năm tuổi cá
có thể đạt trọng lượng 1,0- 1,5kg/con, cá 2 năm tuổi đạt 2,0- 3,0kg/con
(Dettlaff và ctv., 1982).
Tốc độ lớn của cá bột rất nhanh trong khoảng thời gian đầu. Sau khi đạt
tới độ trưởng thành thì tốc độ lớn của chúng chậm lại rất nhiều, mặc dù vẫn tiếp
tục trong vài năm. Kích thước tối đa của cá tới 2m, nặng khoảng 80- 100 kg.
Nhưng trong thực tế, ít khi khai thác được cá như vậy. Phần lớn cỡ cá khai thác
được trong tự nhiên đạt khoảng 15- 20 kg. Đôi khi cá 10- 12 năm tuổi khối
lượng đạt 20- 30 kg. Trong điều kiện nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp thì năm
đầu tiên cá đạt khối lượng 1,2- 2,2 kg, năm thứ 2 đạt 2,4- 4,5 kg và năm thứ 3
đạt 4,0- 7,0 kg.
1.6. Đặc điểm sinh sản
Trong tự nhiên, cá Tầm Sibêri là loài cá có tuổi thành thục cao, cá thành
19
thục muộn vào khoảng 10- 20 năm tuỳ từng vùng. Sau lần sinh sản đầu tiên,
phải sau 3- 5 năm cá cái mới tiếp tục các lần sinh sản tiếp theo, còn cá đực là 2-
3 năm. Khi tuyến sinh dục của cá ở đầu giai đoạn III, cá thường bơi vào sông
ngược lên thượng nguồn, lúc này tuyến sinh dục phát triển đến giai đoạn IV; cá
tập trung thành đàn tại các bãi đẻ. Sự thành thục của cá cái trong sinh sản nhân
tạo cần có sự can thiệp của quá trình nuôi qua đông trước thời điểm cá sinh sản
khoảng 1- 2 tháng. Cá Tầm Sibêri sinh sản vào mùa xuân từ tháng 2- 4 với nhiệt
độ nước thích hợp 13- 16oC và giới hạn cho phép từ 11- 18oC. Thời gian ấp
trứng trong tự nhiên tuỳ thuộc nhiệt độ kéo dài 5- 7 ngày. Sau khi sinh sản xong,
cá bố mẹ xuôi theo dòng nước sông ra cửa sông rồi ra biển, tuyến sinh dục lúc
này trở về giai đoạn II. Sau khi sinh sản, trứng và cá con bắt đầu trôi xuôi
khoảng trên dưới 1.500 km và sau đó ra vùng nước sâu có độ mặn cao. Đa số cá
con khi ra đến biển đều đạt tới độ dài 7- 36 cm (Ruban và cs, 1993).
Tuy nhiên trong điều kiện nuôi bình thường cá cái phát dục thành thục khi
đạt 6- 8 năm tuổi, cá đực sớm hơn một vài năm, khoảng 5- 6 năm (Williot và cs,
2001) và thời gian cá tái thành thục rút ngắn hơn. Tại các trại sản xuất giống với
việc sử dụng kích dục tố thì lượng cá cái sinh sản hàng năm có thể chiếm từ 35 –
60% số lượng cá trong trại nuôi.
Cá Tầm Sibêri là loài cá thành thục không đồng pha, trong điều kiện nuôi
chu kỳ thành thục sinh dục của cá đực là 1 năm còn cá cái là 1- 3 năm hoặc lâu
hơn, những cá cái đã đẻ trứng 2 lần thì có chu kỳ sinh sản đều đặn là 2 năm/ lần.
Tình hình nghiên cứu về cá tầm
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Thành công đầu tiên về nghiên cứu sinh sản cá Tầm do Ovsjannikov thực
hiện tại Nga năm 1869 khi tiến hành thụ tinh nhân tạo và ương ấu trùng cá Tầm
Sterlet A. ruthenus trên sông Volga. Tiếp theo thành công của Ovsjannikov, các
nhà khoa học Nga tập trung nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Tầm và họ tập
trung vào nguồn cá bố mẹ tự nhiên. Người ta đánh bắt cá bố mẹ trên đường di
cư đi đẻ để thu trứng và sẹ, tiến hành thụ tinh và ấp trứng, ương ấu trùng trong
điều kiện nhân tạo. Tuy nhiên hiệu quả công việc này không cao vì rất khó bắt
được cá bố mẹ đúng thời điểm thành thục để tiến hành thụ tinh nhân tạo. Do bị
hạn chế bởi số lượng cá bố mẹ đánh bắt được và mức độ thành thục của chúng
không đều nên lượng cá giống thu được thường không được nhiều và chất lượng
con giống không ổn định. Công nghệ này thường chỉ dùng trong điều kiện thí
nghiệm hoặc với mục đích khôi phục nguồn lợi tại các nước có cá Tầm phân bố
tự nhiên như Nga, Mỹ, Iran, Trung Quốc. Hiện nay ở Trung Quốc vẫn còn sử
dụng phương pháp này để khôi phục nguồn lợi loài cá Tầm bản địa.
Bước ngoặt tiến bộ trong sinh sản cá Tầm được Gerbil’skij và cộng sự
tiến hành khi dùng não thuỳ cá để kích thích cá bố mẹ rụng trứng. Sự phát triển
tiếp theo của công nghệ có sự hỗ trợ của các nghiên cứu về sự thành thục của
noãn bào, đặc tính sinh lý của tinh trùng, thụ tinh nhân tạo và nghiên cứu sự
phát triển của ấu trùng. Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng động vật phù du để
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Nuôi cá nước lạnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_nuoi_ca_nuoc_lanh.pdf

