Giáo trình Khuyến ngư và phát triển nông thôn

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỦY SẢN  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC/MÔ ĐUN: KHUYẾN NGƢ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
NGHỀ: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
(Ban hành theo Quyết định số:  
/QĐ-CĐKTKTTS ngày tháng năm 2020  
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản)  
Bắc Ninh, tháng 9 năm 2020  
1
MỤC LỤC  
CHƢƠNG 1. KHUYẾN NGƢ TRONG PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY  
SẢN……………………………………………………………………………1  
CHƢƠNG 2. CHỨC NĂNG VÀ CÔNG TÁC KHUYẾN NGƢ  
3
CHƢƠNG 3: CÁN BỘ KHUYẾN NGƢ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁN BỘ  
KHUYẾN NGƢ  
CHƢƠNG 4: PHƢƠNG PHÁP VÀ PHƢƠNG TIỆN KHUYẾN NGƢ  
4
5
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC/MÔ ĐUN  
Tên môn học/mô đun: Khuyến ngƣ và phát triển nông thôn  
Mã môn học/mô đun: MH 25  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun:  
- Vị trí: Môn học Khuyến ngƣ và phát triển nông thôn là môn học thuộc  
CHƢƠNG trình giảng dạy Cao đẳng, đƣợc giảng dạy sau các mô - đun, môn học  
chuyên ngành nuôi trồng thủy sản.  
- Tính chất: Môn học Khuyến ngƣ và phát triển nông thôn là môn học cơ sở  
ngành giúp ngƣời học thực hiện đƣợc các kỹ năng: Phân tích đặc điểm đối tƣợng  
thuỷ sản, khả năng thuyết trình và xây dựng, tổ chức các mô hình nuôi trồng thuỷ  
sản. Môn học đƣợc giảng dạy ở lớp học và các cơ sở sản xuất giống, nuôi thƣơng  
phẩm các đối tƣợng thuỷ sản nƣớc ngọt.  
Mục tiêu của môn học/mô đun:  
- Kiến thức:  
+ Hiểu đƣợc vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công tác khuyến ngƣ.  
+ Hiểu và trình bày đƣợc đặc điểm của đối tƣợng khuyến ngƣ, các phƣơng  
pháp khuyến nông, khuyến ngƣ.  
- Kỹ năng:  
+ Phân tích đƣợc đặc điểm của từng đối tƣợng nuôi  
+ Thuyết trình đƣợc các chƣơng tập huấn trong công tác khuến ngƣ  
+ Tổ chức hƣớng dẫn thăm quan các mô hình chăn nuôi  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
6
+ Có tinh thần nhiệt tình, tâm huyết với nghề  
7
CHƯƠNG 1: KHUYẾN NGƯ TRONG PHÁT TRIỂN NTTS  
Mục tiêu:  
Hiểu đƣợc các khái niệm và vai trò, các hình thức của khuyến ngƣ trong NTTS.  
Vận dụng đƣợc trong thực tiến hoạt động nghề nghiệp.  
Nội dung chính:  
1. KHÁI NIỆM KHUYẾN NGƢ  
1.1. Định nghĩa:  
“Khuyến ngƣ” là một thuật ngữ khó định nghĩa một cách chính xác. Vì  
khuyến ngƣ đƣợc tổ chức bằng nhiều cách, nhằm phục vụ nhiều mục đích có tầm  
hẹp hay rộng khác nhau. Theo từ nguyên, Khuyến có nghĩa là khuyên ngƣời ta nên  
gắng sức, ngƣ có nghĩa là ngƣ dân. Vậy có thể hiểu khuyến ngƣ là những khuyến  
cáo ngƣ dân phát triển ngƣ nghiệp. Tuy nhiên, thuật ngữ khuyến ngƣ có rất nhiều  
định nghĩa khác nhau:  
1.2. Vai trò của khuyến ngƣ  
Dựa vào các đặc điểm của khuyến ngƣ, ngƣời ta có thể phát biểu theo những  
cách sau:  
- Khuyến ngƣ (KN) là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên  
quan đến việc phát triển ngƣ nghiệp. Đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà  
trƣờng, trong đó các ngƣời già và trẻ học bằng cách thực hành. Tất cả những kết  
quả đạt đƣợc của khuyến ngƣ là giúp cho gia đình ngƣ dân có đƣợc một cuộc sống  
tốt hơn.  
- KN là chƣơng trình giáo dục cho ngƣ dân dựa trên nhu cầu của họ, giúp họ  
giải quyết các vấn đề trên cơ sở tự lực.  
8
     
- KN là những hoạt động nhằm giúp đỡ ngƣ dân và gia đình họ cải thiện  
cuộc sống. Khuyến ngƣ viên ( KNV ) có nhiệm vụ chuyển giao đến cho ngƣ dân  
những kiến thức về khoa học tự nhiên để họ có khả năng điều hành trang trại, cơ sở  
sản xuất một cách có hiệu quả hơn.  
- KN không phải là một tổ chức cứng nhắc, mà là một quá trình giáo dục có  
mục đích để chuyển những thông tin có ích đến ngƣời ngƣ dân, nhằm giúp họ học  
cách sử dụng chúng để xây dựng một đời sống tốt hơn cho mình, cho gia đình và  
cho xã hội.  
- KN là một quá trình đặc biệt giúp cho ngƣời ta học bằng cách thực hành và  
phát triển lòng tin để đáp ứng mục tiêu làm tăng thu nhập và chất lƣợng đời sống  
của họ.  
- KN là một kiểu đào tạo đặc biệt, dành cho những ngƣời dân sống ở nông  
thôn, ven biển nhằm đem lại cho họ những lời khuyên và những thông tin cần thiết  
giúp họ giải quyết những vấn đề của họ.  
- KN luôn đi sát với công việc của ngƣời sản xuất nhằm cải thiện điều kiện  
sống và làm việc của họ. Điều này bao gồm sự giúp đỡ những ngƣời ngƣ dân tăng  
hiệu quả sản xuất và qua đó làm cho họ tự tin trong tƣơng lai phát triển của mình.  
- KN là phƣơng tiện để giúp ngƣ dân cải thiện kỹ thuật khai thác, nuôi trồng,  
chế biến thủy hải sản, cải thiện thu nhập và mức sống, bằng cách sử dụng những tài  
nguyên có sẵn của họ nhƣ đồng vốn, nhân lực, dụng cụ... với sự giúp đỡ tối thiểu  
của nhà nƣớc.  
Những định nghĩa trên cho chúng ta một điểm giống nhau: Tất cả đều nhấn  
mạnh KN là một quá trình kéo dài trong một giai đoạn, chứ không phải là một hành  
động duy nhất, thực hiện một lần rồi thôi.  
2. MỤC TIÊU CỦA KHUYẾN NGƢ  
9
 
Mục tiêu của KN là “ hƣớng hoạt động” là cái hƣớng mà nỗ lực của chúng ta  
sẽ hƣớng tới. Nhƣ vậy, mục tiêu có thể định nghĩa nhƣ là sản phẩm cuối cùng đã  
đƣợc định trƣớc.  
Để giải quyết vấn đề này, KNV cần phải giúp xác định hƣớng đi mà dân  
chúng muốn và cần, sau đó phải giúp đỡ họ trong quá trình đi theo hƣớng đó. Đó là  
cái lõi của công tác KN, từ đó nội dung phải đƣợc soạn ra.  
2.1. Các yếu tố của mục tiêu  
Để một chƣơng trình KN đạt đƣợc mục tiêu cần phải có ít nhất là 3 yếu tố:  
- Sự tham gia của quần chúng  
- Sự thay đổi các tập quán theo ƣớc muốn  
- Lĩnh vực bàn luận  
- Trong bối cảnh phát triển thủy sản, KN có mục đích giúp đỡ ngƣ dân tự  
giải quyết vấn đề của họ thông qua con đƣờng giáo dục, giúp ngƣ dân cải thiện  
cuộc sống thông qua cải thiện năng suất lao động, phát triển sản xuất.  
- KN là những hoạt động phối hợp nhịp nhàng với cộng đồng ngƣ dân chứ  
không phải thay thế họ. Chỉ những ngƣời ngƣ dân mới có thể chọn lựa cho họ  
phƣơng thức sản xuất và cách sống thích hợp với họ. KNV làm việc bên cạnh họ  
nhƣng không thể thay họ làm những việc đó. KNV thƣờng xuyên trao đổi thảo luận  
các vấn đề với ngƣ dân, giúp họ đánh giá tốt hơn các dữ kiện và tìm ra cách giải  
quyết.  
2.2. Mức độ của mục tiêu  
Mục tiêu cơ bản: Phổ biến tri thức khoa học ngƣ nghiệp, nâng cao đời sống  
vật chất tinh thần của ngƣ dân hơn trƣớc, cải thiện phƣơng pháp sản xuất ngƣ  
nghiệp. Cải thiện tổ chức ngƣ dân và sinh hoạt của ngƣ dân.  
10  
   
Mục tiêu tổng quát: Làm cho việc sản xuất của ngƣ dân, của trang trại đƣợc  
tốt hơn, cho việc thu nhập và nghĩa vụ của công dân tốt hơn.  
Mục tiêu hoạt động: Thiết kế và quản lý việc triển khai “Thí điểm” trình diễn  
các mô hình hoạt động sản xuất ngƣ nghiệp thông qua từng công việc cụ thể.  
2.3. Thiết lập các mục tiêu  
Một trong những vấn đề chính mà khuyến ngƣ trong chƣơng trình phát triển  
nông thôn gặp phải là việc thiết lập, tái thiết lập hay chấp nhận các mục tiêu hữu  
hiệu.  
Để giải quyết vấn đề này, khuyến ngƣ viên cần phải giúp để xác định hƣớng  
đi mà dân chúng muốn và cần, sau đó phải giúp đỡ họ suốt trong quá trình đi theo  
hƣớng đó.  
Trong khuyến ngƣ, điều quan trọng là cần phải quan tâm đến những gì mà  
ngƣ dân cảm thấy cần và KN nghĩ là mình cần phải có. Điều lý tƣởng nhất là có sự  
phù hợp hoàn hảo giữa 2 điều kiện trên. Tuy nhiên trong thực tế khó đạt kết quả tốt  
khi một bên nào đó chiếm ƣu thế trong việc sắp đặt các mục tiêu. Những gì mà ngƣ  
dân muốn chƣa chắc là cái mà họ cần nhất. Những gì mà KNV nghĩ chƣa chắc là  
cái mà ngƣ dân cần. Những KNV có kinh nghiệm họ luôn nghĩ rằng những chƣơng  
trình KN thành công là những chƣơng trình đã đƣợc xây dựng trên những tình  
huống thực tiễn. Họ cố tìm ra những mong muốn, những nhu cầu, những khó khăn  
của ngƣ dân trƣớc khi bắt tay vào việc xây dựng mục tiêu cho chƣơng trình khuyến  
ngƣ.  
3. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC KHUYẾN NGƢ  
3.1. Hệ thống tổ chức của nhà nƣớc  
11  
     
Hệ thống tổ chức của nhà nƣớc đƣợc tổ chức từ trung ƣơng đến cơ sở ở trung  
ƣơng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thƣờng trực về công tác  
khuyến ngƣ của Chính Phủ. Ở Bộ NN-PTNT có Trung tâm Khuyến ngƣ Quốc gia.  
Ở mỗi tỉnh có tổ chức thành lập 2 hoặc 3 Sở riêng biệt và Trung tâm Khuyến  
ngƣ thuộc Sở Nông nghiệp ( hoặc Thuỷ sản) đảm nhiệm. Trung tâm khuyến ngƣ  
tỉnh đƣợc tổ chức các Trạm khuyến ngƣ theo huyện, liên huyện hoặc cụm xã.  
Ở cơ sở gồm có mạng lƣới khuyến ngƣ xã, hợp tác xã, tổ liên kết, hội ngƣ  
dân, xây dựng mạng lƣới cán bộ khuyến ngƣ cơ sở hay chỉ đạo viên và khuyến ngƣ  
viên ở địa phƣơng.  
3.2. Tổ chức khuyến ngƣ tự nguyện  
Tổ chức khuyến ngƣ tự nguyện là tổ chức khuyến ngƣ của các cơ quan  
nghiên cứu, giảng dạy đào tạo, các đoàn thể, các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân  
trong và ngoài nƣớc lập ra để thực hiện nội dung của công tác Khuyến ngƣ và đƣợc  
cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động.  
Các tổ chức Khuyến ngƣ tự nguyện đƣợc tham gia hoạt động các chƣơng  
trình dự án Khuyến ngƣ Quốc gia, đƣợc tham gia các chƣơng trình đào tạo chuyên  
môn, nghiệp vụ. Thông qua các hợp đồng với các tổ chức Khuyến ngƣ Quốc gia.  
12  
 
Tổ chức khuyến ngƣ  
Chính phủ  
Phi chính phủ  
Bộ NN & PTNT  
Dự án nƣớc ngoài  
Hiệp hội  
Viện nghiên cứu  
Trung tâm KNQG  
Trung tâm  
KN sở TS  
Trung tâm  
KN sở NN  
Trƣờng đào tạo  
Trạm KN Huyện  
Phòng KN Xã  
Hợp tác xã  
Ngƣời nông dân  
Sơ đồ hệ thống tổ chức của khuyến ngƣ  
13  
4. THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG KHUYẾN NGƢ  
Các đoàn thể chính trị và lãnh đạo địa phƣơng: Sự ủng hộ tích cực của họ sẽ  
giúp cho mối liên hệ giữa khuyến ngƣ viên và ngƣ dân đƣợc thuận lợi hơn.  
Các cơ sở dịch vụ: Cung cấp vật liệu cho phục vụ sản xuất ngƣ nghiệp hay  
các lãnh vực khác, cho vay vốn hay các dịch vụ thƣơng mại. Những dịch vụ nhƣ  
vậy sẽ giúp cho ngƣ dân thoả mãn nhiều hơn trong công việc sản xuất.  
Các dịch vụ về sức khoẻ: Qua các dịch vụ này, khuyến ngƣ viên sẽ nắm  
đƣợc tình trang sức khoẻ của ngƣời dân trong vùng, đặc biệt là tình trạng về dinh  
dƣỡng vì rằng có mối tƣơng quan chặt chẽ giữa phát triển ngƣ nghiệp và chế độ  
dinh dƣỡng. Do đó, khuyến ngƣ viên phải theo dõi chặt chẽ các chƣơng trình, đề án  
liên quan và nắm bắt cho đƣợc các nhu cầu của địa phƣơng trong lĩnh vực này.  
Thông tin trong khuyến ngƣ còn thông qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng  
nhƣ loa, internet, điện thoại… để thu thập thông tin từ ngƣời ngƣ dân cũng nhƣ hƣớng  
dẫn ngƣ dân những kiến thức kĩ thuật tiến bộ cũng nhƣ định hƣớng vùng nuôi, đối tƣợng  
nuôi cho hợp lí  
14  
 
CHƯƠNG 2: CHỨC NĂNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NGƯ  
Mục tiêu:  
- Hiểu đƣợc chức năng, đối tƣợng và phƣơng pháp khuyến ngƣ.  
- Vận dụng đƣợc các phƣơng pháp khuyến ngƣ trong lĩnh vực NTTS.  
Nội dung chính:  
1. ĐỐI TƢỢNG KHUYẾN NGƢ  
Đối tƣợng của công tác khuyến ngƣ là những ngƣời nông dân ngƣ  
dân nam và nữ tham gia vào sản xuất cá giống, đánh cá ở những thuỷ vực  
lớn và ven biển, chế biến, vận chuyển và bán cá …  
1.1. Khái quát các đặc điểm kinh tế xã hội ở nông thôn hiện nay  
Cùng với sự phát triển của xã hội, nền kinh tế ở khu vực nông thôn  
đang chuyển từ tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dẫn  
đến những biến đổi trong xã hội nông thôn.  
Các chính sách Nhà nƣớc về đất, tín dụng, phát triển nông thôn đã  
có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Các chính sách  
này giúp cho nông ngƣ dân đƣợc vay vốn để sản xuất, đƣợc hỗ trợ phần  
nào kinh phí để ứng dụng kỹ thuật mới vào ngành nghề của mình. Đƣợc sự  
giúp đỡ, hỗ trợ của nhà nƣớc về kỹ thuật nuôi trồng, khai thác và bảo quản  
sau thu hoạch.  
Vai trò và tầng lớp trung nông ngày càng tăng trong sự phát triển  
kinh tế xã hội đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam. Vì tầng lớp này về mặt  
kinh tế cũng là tƣơng đối ổn định, họ có vốn để phát triển sản xuất. Hơn  
nữa trình độ của họ cũng cao hơn so với những nông dân nghèo vì họ có  
cơ hội học tập.  
15  
   
Sự khẳng định về kinh tế của các hộ nông nghiệp ở nông thôn. Bây  
giờ không còn khái niệm rằng làm nông nghiệp thì chỉ đủ ăn, không thể  
giàu lên đƣợc. Ở nông thôn những hộ làm giàu từ trang trại chăn nuôi,  
trồng trọt và kết hợp từ mô hình VAC ngày càng nhiều. Tuy nhiên muốn  
làm đƣợc nhƣ vậy thì họ phải có đất rộng và sự cần cù của bản thân. Còn  
những hộ không có nhiều đất để mở trang trại thì tận dụng số đất đó để  
chăn nuôi nhƣ là nuôi gà, nuôi lợn, nuôi vịt… Ở nông thôn đến nay vẫn  
còn rất nhiều làng nghề, các nông ngƣ dân đã biết kết hợp làng nghề của  
mình với nghề nông cho hiệu quả rất cao. Ví dụ nhƣ ở làng Bá thuộc  
huyện Đan Phƣợng có làng nghề truyền thống là làm rƣợu và làm đậu phụ.  
Trƣớc kia nền kinh tế nƣớc ta còn bao cấp nên sản phẩm làm ra cũng rất  
khó tiêu thụ. Kể từ khi nền kinh tế mở cửa ngƣời dân nơi đây biết kết hợp  
từ việc làm rƣợu, làm đậu phụ với nuôi lợn thịt. Rƣợu nấu lấy nƣớc còn  
lại bã rƣợu cho đun chung với rau lợn, bột ngô làm cám cho lợn ăn. Tƣơng  
tự nhƣ vậy, làm đậu phụ để lấy đậu đem đi bán còn bã đậu cũng đem nấu  
chung với rau lợn và bột ngô cho lợn ăn rất chóng lớn. Chỉ từ 3 - 4 tháng  
kể từ khi bắt lợn giống về nuôi là đƣợc một lứa lợn xuất chuồng với khối  
lƣợng trung bình của một con là 60 – 70 kg. Mỗi nhà nhƣ vậy nuôi tới 10  
đến 30 con lợn, thậm chí có nhà nuôi tới 50 con. Tuy nhiên làm nhƣ thế  
vẫn chƣa tận dụng đƣợc hết những sản phẩm của mình và còn gây ô nhiễm  
môi trƣờng do phân lợn quá nhiều. Gần đây một số hộ nông dân đã xây  
dựng hầm Bioga để chuyển phân thành khí ga. Song nếu những ngƣời dân  
ở đây có thể kết hợp thêm làm vƣờn và thả cá thì hiệu quả kinh tế sẽ còn  
lớn hơn nhiều.  
Sự phát triển nhanh chóng các hệ thống khuyến nông, khuyến ngƣ  
cũng góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội. Hệ thống khuyến nông,  
khuyến ngƣ giúp đỡ cho các nông ngƣ dân các kỹ thuật mới để thay đổi  
16  
cách làm ăn ít có sự tính toán của họ làm cho công việc của họ thu lại kết  
quả cao hơn.  
Xã hội nông thôn Việt Nam đang đứng trƣớc những thử thách:  
Nghèo nàn và lạc hậu vẫn còn mặc dù đã có chƣơng trình 135, 120  
của Nhà nƣớc hỗ trợ. Trong các văn kiện trọng yếu của chính phủ, nuôi  
trồng thuỷ sản đƣợc coi là phƣơng tiện giúp nhiều ngƣời thoát nghèo  
nhƣng hiện nay vẫn có khoảng 20% ngƣời dân sống ở nông thôn là ngƣời  
nghèo. Hầu hết các chƣơng trình khuyến ngƣ nhằm vào việc đạt đƣợc mục  
tiêu sản lƣợng hơn là các mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Kết quả là các  
nông ngƣ dân giàu hơn sẽ đƣợc hƣởng lợi nhiều hơn từ các hoạt động  
khuyến ngƣ.  
Cơ sở vật chất quá lạc hậu, hạ tầng xã hội càng ở mức thấp. Nó  
không những không đáp ứng và không hỗ trợ mà còn cản trở sự phát triển  
kinh tế xã hội ở nông thôn. Đây cũng là những cản trở lớn đến việc ứng  
dụng khoa học công nghệ vào sản xuất ở nông thôn.  
Sự phân cách giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo đang ngày càng lớn.  
Ngƣời giàu có vốn làm ăn, có đầu óc tính toán thì lại càng giàu. Ngƣợc lại  
ngƣời nghèo vừa không có vốn lại bị cản trở việc nâng cao kiến thức trong  
làm ăn. Để giảm hố sâu ngăn cách này thì Nhà nƣớc phải tích cực hơn nữa  
trong việc hỗ trợ và giúp đỡ ngƣời nghèo.  
1.2. Đặc điểm tâm lý ngƣời nông dân Việt Nam  
1.2.1. Một số đặc điểm chung của người nông dân Việt Nam  
Quan niệm không rõ ràng về thời gian. Cũng do tính chất công việc  
của ngƣời nông dân là không có giờ giấc cố định khi làm việc, thích là  
làm mà không thích là nghỉ, hôm nay không làm có thể để đến ngày mai.  
17  
 
Quan niệm về con số, đơn vị đo lƣờng không chính xác: Ví dụ nhƣ  
cũng gọi là một chục nhƣng với ngƣời dân ở miền Bắc tính một chục bằng  
mƣời, ngƣời dân miền Trung hay miền Nam lại cho là 12 nếu là chục bắp  
(ngô), 14 nếu là chục đậu bắp… Hay là để đo lƣờng một đơn vị nào đó họ  
dùng nhiều đơn vị khác nhau nhƣ: Ca, bát, giạ, thúng…  
Sống tản mát và cô lập trong phạm vi làng xã, xóm ấp, ít giao lƣu.  
Điều này dẫn đến các đặc điểm khác nhƣ:  
+ Tính bảo thủ, cục bộ trong phạm vi làng xã, không giao lƣu với các  
làng xã bên. Nhiều làng xã xóm giềng chỉ vì một vài xích mích của vài cá  
nhân dẫn đến bất hoà thậm chí cả hận thù với cả làng. Có nhiều làng xã  
thanh niên trong làng vì không muốn con gái làng mình lấy chồng làng  
khác dẫn đến cấm thanh niên làng khác đến làng mình. Đã có những vụ án  
mạng chỉ vì những cái lệ tự đặt rất không hợp lý của ngƣời nông dân.  
+ Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, tuỳ tiện, thiếu khoa học, thiếu tổ  
chức, thích thì làm không thích thì thôi. Những điều này cản trở rất nhiều  
tới việc tiếp thu khoa học kỹ thuật vào sản xuất làm cho nền kinh tế ở  
nông thôn kém phát triển.  
+ Trình độ văn hoá còn thấp nên còn mê tín dị đoan. Đặc điểm của  
những ngƣời tham gia sản xuất nông nghiệp là trình độ văn hoá của họ  
thấp do nghèo nên ít đƣợc đến trƣờng. Trình độ văn hoá thấp kéo theo  
nhiều tƣ tƣởng không đúng trong đó có mê tín dị đoan. Ngƣời dân thƣờng  
cầu xin may mắn ở cúng bái chứ không tự tin bản thân mình sẽ tạo ra đƣợc  
may mắn cho mình.  
+ Lãng phí thời gian và tiền bạc vào những việc không cần thiết nhƣ  
ma chay, cƣới xin, cúng bái trong khi tiền làm ra không xứng cho việc chi  
tiêu nhƣ thế.  
18  
Hiện nay, trong tình hình đất nƣớc đang có nhiều biến chuyển về  
kinh tế, nông dân Việt Nam cũng đã có biến đổi tâm lý, tính cách phù hợp  
với cuộc sống hiện đại. Cụ thể là:  
Họ luôn mong muốn có cuộc sống tốt hơn. Muốn có cuộc sống tốt  
hơn thì phải biết tính toán trong làm ăn, tiếp thu khoa học công nghệ trong  
sản xuất.  
Họ chủ động tìm hiểu nhiều hơn về kỹ thuật sản xuất qua các  
phƣơng tiện truyền thông đại chúng để làm ăn có hiệu quả hơn.  
Ảnh hƣởng của văn minh đô thị cũng phần nào làm xáo động nếp  
sống tạo nên những phong trào, trào lƣu trong đời sống của nông dân. Mặc  
dù sống sau luỹ tre làng và tính bảo thủ cao nhƣng những ngƣời nông dân  
ngƣ dân đều ít nhiều chịu ảnh hƣởng của văn minh đô thị. Có điều này bởi  
vì trong tƣ tƣởng của họ có mong muốn cuộc sống tốt hơn, muốn vậy phải  
tiếp thu phƣơng cách làm ăn mới.  
1.2.2. Đặc điểm tâm lý riêng của người nông dân nghèo  
Cam chịu số phận: Trong tâm lý của mỗi ngƣời dân nghèo đều mong  
muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn và họ cố hết sức để làm việc. Nhƣng trong  
công việc thì họ thƣờng không biết tính toán, họ cũng không biết phải làm  
một việc gì khác để thay đổi cuộc sống của mình ngoài đồng ruộng và  
chăn nuôi nhỏ lẻ. Cuộc sống nghèo vẫn hoàn nghèo và họ cũng không than  
vãn số phận.  
Sống buông thả, không nghĩ đến ngày mai: Sống buông thả ở đây  
không có nghĩa là sống dễ dãi nhƣ mọi ngƣời vẫn thƣờng dùng khi nói về  
một bộ phận thanh niên sống không đúng mực. Sống buông thả ở đây  
nghĩa là không tính toán kế hoạch cho tƣơng lai, thích gì làm nấy không  
19  
cần để ý xem việc mình làm có hậu quả gì không. Lấy ví dụ nhƣ một gia  
đình nông dân nghèo chỉ đủ lúa gạo để ăn trong một năm không dƣ dật,  
nhƣng nếu gia đình ấy có con cái cƣới xin hay ma chay thì cỗ bàn rất linh  
đình mặc cho việc tổ chức ấy dẫn đến hậu quả là nợ nần khó trả.  
Mặc cảm với xã hội: Do họ nghèo, không có tiền để tham gia các  
hoạt động xã hội, không có tiền để bằng bạn bằng bè nên thƣờng sinh ra  
tâm lý mặc cảm và tự ti với xã hội.  
Không quan tâm tới tiến bộ xã hội; trình độ học vấn kém: Đối với  
ngƣời nông dân nghèo thì mất mùa, đói kém là cái họ quan tâm nhất. Họ  
không quan tâm tới tiến bộ xã hội, họ cũng không hiểu nhiều về tình hình  
thế giới cũng nhƣ trong nƣớc. Họ biết gia đình họ, bà con làng xóm của họ  
rất rõ còn những cái ở xa họ mà không thể hình dung nổi thì hầu nhƣ họ  
không biết và không quan tâm tới.  
Cần cù chịu khó: Đây là một trong những đức tính tốt đẹp nhất của  
ngƣời nông dân. Nó giúp ngƣời nông dân làm ra lúa gạo, rau màu, chịu  
đựng đƣợc những gian nan vất vả của cuộc sống.  
Đoàn kết trong tầng lớp mình: Ngƣời nông dân sống sau luỹ tre làng  
nên tình làng nghĩa xóm của họ rất cao, họ đoàn kết với nhau rất chặt chẽ  
trong cuộc sống.  
1.2.3. Tâm lý riêng của tầng lớp trung nông  
Tính tƣ hữu cao: Tầng lớp trung nông là những ngƣời làm nông ngƣ  
nghiệp nhƣng biết tính toán và có vốn làm ăn nên họ có của ăn của để.  
Cũng chính vì vậy mà họ có tính tƣ hữu cao khác hẳn với tầng lớp nông  
dân nghèo.  
Tự khẳng định cuộc sống, thích chủ nghĩa cá nhân.  
20  
Trọng chữ tín: Vì họ làm ăn cũng coi là có tính toán nên họ phải  
trọng chữ tín.  
Cần cù, ham mê học hỏi cái mới: Điều này khác hẳn với những  
ngƣời nông dân nghèo. Nó sẽ giúp cho tầng lớp trung nông giàu lên một  
khi biết áp dụng cái mới vào trong sản xuất.  
Giàu tình làng nghĩa xóm: Tuy là giàu hơn ngƣời nông dân nghèo  
nhƣng xua nay họ vẫn sống ở nông thôn nên tình làng nghĩa xóm đã ăn sâu  
vào máu thịt họ. Họ vẫn là những ngƣời dân giàu tình cảm.  
1.2.4. Tâm lý riêng của tầng lớp người giàu ở nông thôn  
Thích làm giàu: Ngƣời giàu thì lại muốn giàu hơn nên tâm lý thích  
làm giàu của những ngƣời này rất mạnh. Họ có mong muốn vƣơn lên  
ngang tầm với dân đô thị. Những ngƣời này có suy nghĩ tiến bộ, họ luôn  
mong muốn tìm hiểu cái mới để làm giàu.  
1.3. Giải pháp tiếp cận với nông dân  
Muốn tiếp cận với ngƣời nông dân trƣớc hết phải hiểu họ, điều thứ  
hai là thân thiện và nhiệt tình với họ.  
Ở lần tiếp xúc đầu tiên cán bộ khuyến ngƣ nên tự giới thiệu nhƣng  
không phải giới thiệu một cách khiêm tốn hay tự cao quá. Sau đó hỏi  
những câu hỏi mang tính chất thăm hỏi làm quen, tránh hỏi những câu hỏi  
khiến họ khó trả lời. Rồi sau đó giới thiệu cái mục đích làm quen tỏ ý  
muốn giúp đỡ họ và đề nghị sự ủng hộ của bà con.  
Ở các lần tiếp xúc tiếp theo nên chào hỏi xã giao, nêu mục đích và  
nội dung chuyến viếng tham rồi trao đổi với bà con.  
1.4. Những nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng tiếp nhận khoa học kỹ thuật  
của nông ngƣ dân  
21  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 61 trang baolam 24921 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Khuyến ngư và phát triển nông thôn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_khuyen_ngu_va_phat_trien_nong_thon.pdf