Giáo trình Tuabin thủy lực

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC BAÙCH KHOA ÑAØ NAÜNG  
GIÁO TRÌNH TUABIN THỦY LỰC  
Tháng 11-2010  
LỜI NÓI ĐẦU  
Để đáp ứng nhu cầu học tập Thuỷ điện của sinh viên khoa Xây dựng Thuỷ  
lợi - Thuỷ điện thuộc Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng trong giai đoạn mới,  
chúng tôi biên soạn giáo trình "Turbine thuỷ lực - các thiết bị thuỷ lực và Công  
trình trạm Thuỷ điện" (là giáo trình môn học Thuỷ điện 2). Giáo trình này được  
biên soạn theo nội dung "Đề cương môn học Thuỷ điện" đã được nhà trường phê  
duyệt năm 2005.  
Giáo trình Thuỷ điện 2 gồm 17 chương, được trình bày trong hai phần lớn:  
phần I (thiết bị thuỷ điện) và phần II (công trình Thuỷ điện):  
Phần I - "Turbine thuỷ lực - các thiết bị thuỷ lực" của trạm thuỷ điện, gồm  
8 chương (từ chương I đến chương VIII). Phần này dùng để giảng với 20 tiết trên  
lớp, nội dung tìm hiểu: turbine thuỷ lực, thiết bị điều tốc, các thiết bị phụ và các  
hệ thống thiết bị phụ thuỷ lực ... về cấu tạo, tính năng hoạt động cũng như lựa  
chọn, tính toán xác định các thông số cơ bản và kích thước của thiết bị đủ phục  
vụ cho thiết kế trạm thuỷ điện.  
Phần II - "Công trình trạm thuỷ điện", gồm 9 chương dùng để giảng 40  
tiết trên lớp, thuộc hai phần: Phần IIa -"Các công trình thuộc tuyến năng lượng"  
với 7 chương (từ chương IX đến chương XV), bao gồm các công trình thuộc  
tuyến năng lượng: cửa lấy nước, bể lắng cát, công trình dẫn nước, bể áp lực,  
đường ống turbine, buồng điều áp. Nội dung trình bày về cấu tạo cũng như tính  
toán xác định kích thước các công trình thông qua tính toán thuỷ lực và tính toán  
dòng không ổn định của chúng. Phần IIb - "Nhà máy thuỷ điện", gồm 2 chương  
XVI và XVII, nội dung trình bày các loại nhà máy thuỷ điện và một số thiết bị cơ  
điện của chúng, cách bố trí, xác định kích thước nhà máy, tính toán ổn định và  
tính kết cấu các phần dưới nước của nhà máy.  
Giáo trình này đề cập khá đầy đủ nội dung chuyên môn của môn học Thủy  
điện 2, đáp ứng 60 tiết giảng trên lớp và còn có thể dùng tham khảo thêm sau này  
khi sinh viên ra trường tham gia vào lĩnh vực thiết kế công trình thuỷ điện sẽ gặp  
phải.  
Trong quá trình biên soạn giáo trình, do khả năng có hạn do vậy không  
tránh khỏi thiếu sót, mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và  
bạn đọc để sửa chữa cho tốt hơn.  
Tháng 5 - 2006  
Tác giả  
1
2
Phần I  
TURBINE THỦY LỰC & CÁC THIẾT BỊ THỦY LỰC CỦA TTĐ  
Turbine thủy lực là loại động cơ chạy bằng sức nước, nó nhận năng lượng dòng  
nước để quay và kéo rô to máy phát điện quay theo để tạo ra dòng điện. Tổ hợp turbine  
thủy lực và máy phát điện gọi là "Tổ máy phát điện thủy lực". Ở phần này chúng ta chỉ  
nghiên cứu về turbine thủy lực, thiết bị điều tốc và giới thiệu một số hệ thống thiết bị  
thủy lực có liên quan .  
Chương I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TURBINE THỦY LỰC  
I. 1. PHÂN LOẠI TURBINE THỦY LỰC CỦA TRẠM THỦY ĐIỆN  
Trong quá trình đấu tranh sinh tồn và cải tạo thế giới tự nhiên, loài người đã sớm  
biết sử dụng các động cơ thủy lực: từ những bánh xe nước dùng vào việc kéo máy xay  
xát nông sản đến phát triển chúng lên thành những turbin thuỷ lực hiện đại kéo máy  
phát điện để sản xuất ra điện năng ngày nay. Để sử dụng một cách có hiệu quả năng  
lượng dòng nước đặc trưng bởi tổ hợp cột nước và lưu lượng khác nhau cần phải có đủ  
những loại turbine khác nhau về cấu tạo, kích thước cũng như quá trình làm việc của  
chúng.  
Dựa vào việc sử dụng dạng năng lượng trong cơ cấu bánh xe công tác (BXCT)  
của turbine người ta chia turbine thủy lực ra làm hai loại: turbine xung kích và turbine  
phản kích. Trong các loại lại chia ra các hệ và các kiểu turbine.  
Viết phương trình Becnully cho cửa vào (chỉ số1) cửa ra (chỉ số2) của bánh xe  
công tác turbine, ta có năng lượng viết cho một đơn vị trọng lượng nước như sau:  
2
2
p − p  
α V − α V  
1 1 2 2  
1
2
H = (Z1 - Z2) +  
+
γ
2g  
Z1-Z2 : là thành phần năng lượng do chênh lệch vị trí tạo ra, gọi là vị năng;  
p − p  
1
2
: là áp năng; gộp vị năng và áp năng thành thế năng ( T ).  
γ
2
2
α V − α V  
1 1  
2 2  
: là động năng ( Đ ).  
2g  
Từ những thành phần năng lượng trên ta có những loại turbine thuỷ lực sau:  
* Turbine chỉ sử dụng phần động năng để làm quay BXCT gọi là loại turbine xung  
kích. Loại này còn gọi là turbine dòng chảy không áp vì dòng chảy trong môi trường  
khí quyển nên chuyển động của dòng tia trên cánh BXCT là chuyển động không áp, áp  
suất ở cửa vào và cửa ra như nhau và bằng áp suất khí trời. Turbine xung kích đuợc chia  
ra các hệ sau:  
+ Hệ turbine xung kích gáo (turbine Penton);  
+ Hệ turbine xung kích kiểu phun xiên;  
+ Hệ turbine xung kích hai lần (turbine Banki).  
3
* Turbine sử dụng cả thế năng và động năng, trong đó phần thế năng là chủ yếu gọi là  
loại turbine phản kích . Loại này còn gọi là turbine dòng chảy có áp, áp lực dòng chảy  
ở cửa vào của BXCT luôn lớn hơn áp lực ở cửa ra của nó. Dòng chảy qua TB là dòng  
liên tục điền đầy nước trong toàn bộ máng cánh. Loại này được chia ra các hệ sau:  
+ Hệ TB xuyên tâm hướng trục ( gọi tắt là là turbine tâm trục, hay Franxis);  
+ Hệ TB hướng trục ( gồm turbine cánh quạt và turbine cánh quay );  
+ Hệ TB hướng chéo;  
+ Hệ TB dòng ( gồm turbine dòng nửa thẳng và turbine dòng thẳng );  
+ Hệ TB thuận nghịch ( làm việc theo hai chế độ: máy bơm và turbine).  
I . 2. TURBINE XUNG KÍCH  
Như trên đã nói, turbine xung kích là loại chỉ sử dụng phần động năng của dòng  
chảy. Ở loại turbine này, dòng nước sau khi ra khỏi vòi phun thì toàn bộ năng lượng  
dòng chảy đều biến thành động năng để đẩy bánh xe công tác. Vì chảy trong môi trường  
khí quyển nên chuyển động của dòng tia trên các cánh bánh xe công tác (BXCT) là  
chuyển động không áp hay còn gọi là dòng tia tự do. Sau đây chúng ta nghiên cứu cụ  
thể các hệ của turbine xung kích:  
I . 2 .1. Turbine xung kích gáo ( còn gọi là turbine Penton )  
Turbine này do người Mỹ tên là Penton đưa ra năm 1880 nên còn gọi là turbine  
Penton. Quá trình hoạt động của turbine gáo như sau (xem hình 1-1): nước từ thượng  
lưu theo ống áp lực 1 chảy qua vòi phun 2 (ở đây lưu lượng được điều chỉnh trước khi  
phóng vào cánh BXCT nhờ van kim 7), rồi phóng vào cánh dạng gáo 4 của turbine, làm  
quay BXCT kéo theo trục turbine 5 quay, nước đập vào cánh gáo bị bắn ra hai phía và  
được vỏ 6 của turbine gom lại dẫn về hầm xả để tháo về hạ lưu của nhà máy.  
Hình 1-1. Turbine xung kích gáo  
Sau đây chúng ta xem xét cấu tạo và tác dụng các bộ phận chính của turbine gáo  
(hình 1-2). Vòi phun 1 nhận nước từ ống áp lực biến toàn bộ năng lượng dòng nước  
thành động năng trước khi đưa vào BXCT và điều chỉnh lưu lượng vào turbine nhờ dịch  
4
chuyển qua lại của van kim 3 đặt bên trong (hình 1-2,a). Turbine gáo cột nước cao và  
ống áp lực dài còn có bộ phận tách dòng 5 để hướng một phần hay toàn bộ tia nước  
không cho vào BXCT để tránh hiện tượng nước va xảy ra quá lớn khi đóng nhanh van  
kim của nó. Bộ phận này chỉ làm việc khi cắt giảm phụ tải máy phát điện. Khi phụ tải  
giảm, van kim cần phải nhanh chóng đóng bớt độ mở để giảm lưu lượng thich hợp, tuy  
nhiên nếu van đóng quá nhanh trong vòi phun sẽ xuất hiện áp lực nước va quá lớn làm  
bể vòi phun. Để giảm trị số áp lực nước va, lúc này máy điều tốc sẽ nhanh chóng nhấc  
thiết bị tách dòng 5 lên ngắt bớt phần lưu lượng thừa ra khỏi cánh gáo. Nhờ vậy lưu  
lượng vào BXCT vẫn giảm ngay theo yêu cầu giảm tải mà van kim chỉ phải đóng từ từ.  
Sự phối hợp dịch chuyển van kim và thiết bị tách dòng liên hợp với nhau nhờ cơ cấu  
liên hợp trong máy điều tốc (xem chương VII -Thiết bị điều tốc của turbine thuỷ lực).  
Hình 1-2. Các bộ phận chính của turbine gáo  
Bánh xe công tác của turbine gáo ( hình 1-1 và 1-2b,c ) gồm có đĩa 1 trên chu vi  
đĩa có gắn các cánh dạng gáo 2 (nên gọi là gáo). Phụ thuộc vào cột nước mà số gáo có  
từ 14÷60 cánh. BXCT có thể là một khối liền khi các cánh gáo và đĩa được đúc thành  
một khối, và không phải là khối liền khi cánh gáo được đúc riêng và được gắn lên đĩa  
bằng bu lông hoặc hàn. Chính giữa cánh gáo có gân 3 chia gáo làm hai phần bằng nhau  
để chia tia nước tác động vào gáo thành hai phần đi về hai hướng bắn ra hai bên. Đuôi  
dưới của cánh gáo được khoét hõm 4 để cho tia nước xuyên qua hõm của cánh trước  
5
đập thẳng vào cánh gáo thẳng góc (theo chiều quay) làm tăng cánh tay đòn của mômen  
quay và tránh mômen ngược của tia nước vào phía sau gáo nằm phía trước.  
Vỏ turbine có nhiệm vụ không cho nước từ buồng BXCT bắn ra ngoài gian  
máy. Vỏ phải có kích thước và hình dáng thế nào để hứng nước từ gáo xuống hầm xả  
mà không rơi ngược trở lại phía sau gáo làm cản trở việc quay của BXCT. Điều này rất  
quan trọng đối với turbine gáo trục đứng có nhiều vòi phun.  
Hầm xả có nhiệm vụ tập trung nước sau khi đi khỏi BXCT lại để dẫn về hạ lưu.  
Mực nước trong hầm xả phải bảo đảm thấp hơn cao trình thấp nhất của BXCT một  
khoảng nào đó, thường là bằng đường kính D1 và đặt cao hơn mức nước trong hầm xả.  
Loại trục ngang thường có công suất bé và có từ một đến hai vòi phun cho mỗi  
BXCT (hình 1-1,b), số lượng bánh xe công tác trên một trục thường nhỏ hơn ba. Loại  
trục đứng có số vòi phun nhiều hơn, thường hai đến sáu vòi, được bố trí đều chung  
quanh BXCT. Hình 1-3 là biểu thị turbine gáo trục đứng có sáu vòi phun.  
Mặt bằng  
Mặt đứng  
Hình 1-3. Turbine gáo trục đứng nhiều vòi phun  
Turbine gáo sử dụng động năng để quay do vậy cần tạo nên vận tốc dòng phun  
lớn để tăng công suất turbine, măt khác kết cấu BXCT rất vững chắc do vậy turbine này  
được sử dụng với cột nước cao lưu lượng nhỏ. Turbine gáo loại lớn có phạm vi sử dụng  
cột nước từ 200÷2000m hoặc hơn nữa, turbine gáo loại nhỏ thì từ 40÷250m. Trục  
turbine gáo có thể đứng (hình 1-3) hoặc ngang. Trạm TĐ Bôgôta ở Côlombia đã đạt đến  
cột nước rất cao H = 2000m, công suất lắp máy N = 500 MW. Trạm Raisec ở Úc có cột  
nước H = 1767m. Nước ta có các trạm H = 500÷800m như Vĩnh Sơn và Đa Nhim, sử  
dụng hệ turbine xung kích gáo.  
I. 2. 2. Turbine xung kích hai lần ( turbine Banki )  
Turbine xung kích hai lần có phạm vi sử dụng cột nước từ 6÷150m, thường từ  
10÷60m. Kết cấu của nó rất đơn giản (hình1-4), dễ chế tạo nên được sử dụng rộng rãi ở  
các trạm thủy điện nhỏ có lưu lượng bé, cột nước vừa, trục thường nằm ngang.  
6
Hình 1-4. Turbine xung kích 2 lần  
Turbine gồm có vòi phun tiết diện hình chữ nhật 4 được nối liền với đoạn ống  
chuyển tiếp 8. Vòi có cơ cấu điều chỉnh lưu lượng gồm van phẳng 3 gắn với trục điều  
khiển 2 có tay quay vô lăng. Khi vô lăng quay, trục điều chỉnh sẽ tịnh tiến về phía trước  
hoặc phía sau làm cho tiết diện ra của vòi phun thay đổi, nên lưu lượng vào turbine cũng  
được thay đổi theo. Bánh xe công tác gồm các cánh cong 7 được gắn giữa các đĩa 6, số  
cánh từ 12÷48. Trục turbine xuyên qua giữa bánh xe công tác gắn chặt với các đĩa bằng  
then. Vỏ (buồng) 9 dùng để chắn không cho nước từ BXCT bắn ra ngoài. Hầm xả 5 có  
nhiệm vụ dẫn nước về hạ lưu.  
Hình dáng BXCT turbine xung kích hai lần gần giống lồng sóc. Dòng nước từ  
vòi phun tác dụng vào các cánh phía trên (nhận khoảng chừng 80% năng lượng của  
dòng nước) đẩy BXCT lần thứ nhất, xong lại đi vào khoảng trống giữa BXCT rồi lại tác  
dụng lần thứ hai vào cánh trước khi ra khỏi bánh xe công tác (nhận thêm 20÷30% phần  
năng lượng còn lại). Cũng chính vì thế ta gọi nó là turbine xung kích hai lần. Hiệu suất  
của loại turbine này tùy thuộc vào số cánh của BXCT và vào khoảng 80÷85%. Ưu điểm  
cơ bản của turbine xung kích hai lần là có thể chọn đường kính BXCT và số vòng quay  
turbine trong một phạm vi rộng mà không phụ thuộc vào lưu lượng, bởi vì lưu lượng  
không chỉ phụ thuộc vào đường kính mà còn phụ thuộc vào chiều rộng BXCT nữa. Như  
vậy có thể chế tạo turbine với đường kính bé để có vòng quay lớn, do vậy giảm giá  
thành chế tạo turbine và tổ máy thủy lực.  
I. 2. 3 Turbine xung kích phun xiên  
Turbine xung kích phun xiên (hình 1-5) có hình dạng giống turbine gáo chỉ khác  
ở kết cấu BXCT và hướng của tia nước vào BXCT. Tia nước bắn vào BXCT không  
trực giao với cánh mà làm với cánh một góc α, nhờ thế có thể làm vành ghép mép ngoài  
của BXCT nên đơn giản hóa được cách ghép cánh vào đĩa. Hình dạng cánh loại này  
cũng dễ chế tạo hơn. Nó cho phép gia công hàng loạt bằng cách đập. Turbine tia  
nghiêng ít được sử dụng rộng rãi, nó chỉ được sử dụng ở TTĐ nhỏ có cột nước vào  
khoảng H = 30÷400m.  
7
Hình 1-5. Turbine xung kích phun xiên  
I . 3. TURBINE PHẢN KÍCH  
Turbine phản kích là loại sử dụng phần thế năng và một phần động năng của  
dòng nước. Bánh xe công tác của nó làm việc trong môi trường chất lỏng liên tục và áp  
lực nước ở phía trước bánh xe công tác lớn hơn phía sau của nó. Khi chảy qua rãnh tạo  
bởi bề mặt cong của các cánh, dòng nước sẽ thay đổi hướng tác dụng lên cánh và làm  
quay BXCT. Dựa vào hướng của dòng nước ở cửa vào và cửa ra BXCT người ta chia  
turbine làm các hệ: tâm trục, hướng trục, cánh chéo, turbine dòng, thuận nghịch.  
Hình 1-6. Các bộ phận chính của turbine phản kích.  
Xét về mặt cấu tạo, bất cứ hệ turbine phản kích nào cũng gồm các bộ phận chính  
sau: buồng turbine 1, vòng bệ 2, cơ cấu hướng dòng 3, BXCT 4, buồng BXCT 5, ống xả  
6, trục và ổ trục 7 và các thiết bị phụ của chúng (hình 1-6).  
Sáu bộ phận đầu hình thành bộ phận qua nước của turbine, còn ổ trục và trục là  
bộ phận kết cấu có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền mô men quay từ BXCT đến rôto của  
8
máy phát điện. Trong các bộ phận qua nước thì BXCT là bộ phận trực tiếp biến đổi thủy  
năng thành cơ năng chuyển động quay. Bộ phận cơ cấu hướng nước có tác dụng thay  
đổi trị số lưu lượng và hướng dòng chảy trước khi đi vào BXCT, còn ống xả được dùng  
để tháo nước từ BXCT về hạ lưu.  
Sau đây chúng ta lần lượt xem xét các bộ phận của turbine phản kích, các hệ  
turbine khác nhau chủ yếu là bánh xe công tác còn các bộ phận khác nhìn chung giống  
nhau. Việc phân loại TB phản kích dựa vào hướng dòng nước đi vào và ra khỏi BXCT.  
I. 3. 1. Bánh xe công tác của turbine tâm trục (turbine Franxis )  
Turbine tâm trục (xem hình 1-7) là một trong những hệ TB phản kích được sử  
dụng rộng rãi nhất. Chất lỏng từ buồng 4 qua cánh hướng dòng 3 vào cửa vào cánh 1  
BXCT theo hướng xuyên tâm rồi chuyển chuyển hướng 900 và ra khỏi BXCT để vào  
ống xả theo hướng dọc trục. Do vậy gọi là turbine tâm trục. Turbine này do kỹ sư người  
Pháp tên là Franxis hoàn chỉnh năm 1849 nên còn gọi là turbine Franxis.  
Hình 1-7. Bánh xe công tác của turbine tâm trục  
BXCT của turbine tâm trục gồm có vành trên 14 và vành dưới 13, các cánh 1 có  
dạng cong không gian ba chiều gắn chặt vào hai vành. Số cánh từ 12 đến 22 cánh,  
thường là 14 đến 18 cánh. Thường BXCT được đúc liền thành một khối, trường hợp bị  
điều kiện vận chuyển hạn chế có thể chế tạo BXCT thành từng phần, khi lắp ráp sẽ dùng  
các bulông ghép vành trên và đai ghép nóng ở vành dưới của các phần đó lại hoặc hàn  
9
nối các rãnh phân chia. Đối với turbine nhỏ có thể dập cánh, sau đó định vị chúng rồi  
đúc liền vành trên và dưới để được BXCT liền khối vững chắc.  
Tùy theo cột nước sử dụng, đường kính lớn nhất cửa vào D1 (đường kính tiêu  
chuẩn) và đường kính lớn nhất cửa ra D2 mà người ta chia turbine tâm trục làm 3 dạng:  
- Dạng D1 < D2 gọi là turbine tỷ tốc cao loại này dùng với cột nước thấp (H< 80m) vì  
cấu tạo của chúng có khả năng chịu lực không cao (hình 1-7,b);  
- Dạng D 1 > D2 gọi là turbine tỷ tốc thấp (hình 1-7,c) loại này có cấu tạo vững chắc  
do vậy chúng được dùng với cột nước cao, đã có turbine làm việc với cột nước 550m;  
- Dạng D1 = D2 gọi là turbine tỷ tốc trung bình, nó là loại trung gian giữa 2 loại trên.  
Turbine tâm trục có phạm vi sử dụng cột nước thường từ vài mét đến 550m. Ở  
nước Nga, Trạm thủy điện Cracnoarck sử dụng loại này với công suất mỗi turbine là  
508MW, đường kính D1 = 7,5m. Ở nước ta, TTĐ sông Đà và Trị An đều dùng turbine  
tâm trục, TTĐ Hòa Bình dùng 8 turbine tâm trục, công suất mỗi turbine là 240MW, H =  
88m.  
I. 3. 2. Bánh xe công tác của turbine hướng trục  
Gọi là turbine hướng trục vì hướng chảy của dòng nước trong phạm vi BXCT  
theo hướng trục quay của turbine. Trên (hình 1-8) nước từ buồng xoắn chảy qua cột  
vòng bệ 10 vào cánh hướng nước 3 đổi hướng và chảy vào và ra khỏi cánh 11 của  
BXCT 1 theo chiều dọc trục và theo ống xả về hạ lưu nhà máy.  
Hình 1-8. Turbine hướng trục.  
BXCT gồm có bầu 1 được nối bích với trục turbine 2, xung quanh bầu bố trí các  
cánh hình vặn vỏ đổ để áp lực nước tác động lên cánh làm quay BXCT. Liên kết giữa  
cánh và bầu theo kết cấu côngxôn nên chịu áp lực thấp, số cánh thường ít do vậy khả  
năng tháo nước lớn. Trong hệ hướng trục dựa vào sự liên kết giữa cánh và bầu người ta  
chia hệ hướng trục ra hai dạng: turbine có cánh gắn cố định với bầu là turbine cánh  
quạt, còn turbine cánh có thể quay quanh trục của nó trên bầu là turbine cánh quay.  
10  
1. Turbine cánh quạt  
BXCT của turbine cánh quạt (hình 1-9) gồm có bầu, có gắn từ 3 đến 9 cánh,  
thông thường là 4 đến 8 cánh. Cánh có thể chế tạo liền với bầu tạo thành một khối thống  
nhất hoặc chế tạo riêng biệt sau đó gắn chặt vào bầu bằng bulông. Khi đi qua các mặt  
cong của cánh, dòng nước buộc phải đổi hướng chuyển động do đó tạo ra một áp lực tác  
Hình 1-9. BXCT của turbine cánh quạt  
dụng lên cánh làm quay BXCT. Nhược điểm của loại BXCT này là có đường đặc tính  
công tác dốc, do vậy khi lưu lượng, cột nước hoặc công suất thay đổi lệch với chế độ  
thiết kế thì hiệu suất turbine sẽ giảm đi rất nhanh. Đối turbine tỷ tốc cao chỉ cần lưu  
lượng giảm đến còn 45% lưu lượng tính toán thì hiệu suất và công suất có thể giảm đến  
không. Do vậy nên cho turbine cánh quạt đảm nhận công suất và cột nước ít thay đổi.  
Turbine cánh quạt được sử dụng ở Trạm thuỷ điện có cột nước H = 1,5÷40m, hiện nay  
thường dùng ở TTĐ nhỏ, tuy rằng đã có turbine dạng này đường kính đạt đến 9 m.  
2. Turbine cánh quay ( Kaplan )  
Turbine cánh quay (hình 1-10) là loại ra đời sau cánh quạt. Năm 1924 giáo sư  
người Tiệp tên là Kaplan đã cải tiến thành công turbine cánh cố định thành cánh quay  
được, nên turbine này còn được gọi là turbine Kaplan. Nhờ cánh có thể quay được xung  
quanh bầu, do vậy thích ứng được các chế độ làm việc khác chế độ thiết kế dẫn đến  
vùng làm việc của turbine với hiệu suất cao được mở rộng. Do vậy TB cánh quay có  
khả năng làm việc với công suất và cột nước thay đổi nhiều. BXCT của TB cánh quay  
gồm có: bầu, cánh, chóp thoát nước và bộ phận quay cánh xung quanh BXCT. Bầu phải  
có hình cầu để giảm bớt khe hở giữa cánh với bầu khi quay cánh. Chóp thoát nước có  
tác dụng làm cho nước chảy khỏi BXCT thuận dòng hơn và giảm được tác dụng mạch  
động. Khi làm việc, các cánh BXCT hướng trục chịu tác dụng áp lực nước ở dạng sơ đồ  
chịu lực kiểu dầm côngxôn do không có vành dưới, tại nơi tiếp giáp cánh với bầu chịu  
mômen uốn lớn nhất. Người ta đã đo được áp lực nước tác dụng lên một cánh có thể đạt  
tới 240 tấn. Do vậy phải sử dụng động cơ tiếp lực dầu cao áp mới quay được cánh .  
Bộ phận quay cánh gồm trục cánh 6 (hình 1-10,b), động cơ tiếp lực 4, hệ thống  
thanh truyền 7. Tay quay 8 được nối với trục cánh 6, còn thanh truyền có chốt nối liền  
11  
píttông 5 của động cơ tiếp lực với tay quay. Pittông 5 chia xi lanh của động cơ tiếp lực  
làm hai ngăn: trên và dưới. Dầu có áp từ thiết bị dầu áp lực qua hai ống dẫn đồng tâm  
lồng vào nhau nằm bên trong trục tổ máy. Khi dầu có áp vào một ngăn nào đó của xi  
lanh còn ở ngăn kia dầu thông với lỗ dầu xả thì pittông lẫn thanh truyền 7 sẽ dịch lên  
Hình 1-10. Turbine Kaplan  
hoặc xuống, do đó làm xoay các cánh theo các góc quay như nhau. So với turbine cánh  
quạt thì turbine cánh quay được dùng với cột nước thấp hơn do khả năng chịu lực của  
nó có yếu hơn. Cùng với turbine tâm trục, turbine cánh quay được sử dụng rất rộng rãi.  
Ngày nay thế giới đã có những turbine cánh quay cực lớn, như ở TTĐ Xaratôp ở Nga có  
đường kính tiêu chuẩn D1 = 10,3m, cột nước thiết kế H = 9,7m, với công suất N =  
59,3MW, vòng quay định mức n = 50 vòng/phút, trọng lượng 1229tấn. Turbine ở trạm  
TĐ Porto Primavera ở Brasil có D1 = 8,6m, N = 105MW, cột nước H = 22m.  
12  
I. 3. 3. Turbine cánh chéo  
Hình 1-11. Turbine cánh chéo  
Turbine cánh chéo (hình 1-11) được ra đời chậm hơn các loại turbine trên, nó là loại  
trung gian giữa tâm trục và hướng trục. Nó kết hợp được các ưu điểm của hai hệ turbine  
trên. Turbine cánh chéo được sử dụng ở các TTĐ có cột nước H = 30÷150m. Nó thuộc  
loại turbine cánh quay. BXCT gồm 10 đến 14 cánh được gắn vào bầu 3 hình chóp nhờ  
các trục cánh 2. Trục cánh làm với trục turbine một góc 300,450,600 nên dòng chảy trong  
BXCT chéo góc với trục. Cũng như turbine cánh quay, các cánh BXCT quay được  
quanh trục của nó, nhờ cơ cấu quay cánh gồm vành sao 5 và thanh truyền 4 nằm trong  
bầu nên hiệu suất bình quân của nó cao hơn turbine tâm trục ở hầu hết các chế độ làm  
việc. Mặt khác số cánh BXCT của turbine này nhiều hơn so với turbine cánh quay nên  
có thể làm việc với cột nước cao hơn mà vẫn không bị khí thực. Loại turbine này đã  
được chế tạo ở Nga dùng cho TTĐ Buctamin có công suất N = 77MW, cột nước H =  
61m, đường kính D1 = 4,35m, n =150 vòng/phút.  
Ngoài ra, TB cánh quay làm việc với cột nước thấp, muốn chịu được cột nước  
cao hơn thì phải tăng số lượng cánh BXCT của nó lên từ 6 đến 10 cánh. Như vậy bầu  
BXCT phải có đường kính lớn. Để có thể tăng số cánh mà không phải tăng đường kính  
thì tốt hơn hết là trên mỗi trục cánh lắp hai cánh kép (hình1-12). Loại này đã được lắp  
đặt ở nhà máy thủy điện Thác Bà với đường kính D1 = 4,5m, H = 32m.  
13  
Hình 1-12. Bánh xe công tác của turbine cánh kép  
I. 3. 4. Turbine dòng  
Turbine dòng gồm hai loại: dòng chảy thẳng và nửa thẳng. Turbine dòng thực  
chất là turbine cánh quay trục ngang, nên BXCT của nó hoàn toàn giống turbine cánh  
quay. Loại này dùng với cột nước rất thấp và lưu lượng rất lớn.  
1. Turbine dòng nửa thẳng (hình 1-13), turbine này còn gọi là turbine Capxun.  
Tổ máy có turbine trục ngang nối liền trục với trục máy phát điện đặt trong bọc kín  
bằng kim loại 1 (gọi là cáp xun) có dạng thuận dòng. Cáp xun chứa máy phát điện có  
thể nằm trước BXCT hoặc nằm sau BXCT trong ống hút thẳng 2. Các cánh hướng dòng  
3 thuộc loại hướng tâm hoặc hình chóp. Stator thuộc loại và cùng với các trụ tựa sẽ  
truyền tải trọng tổ máy lên móng máy. Liên hệ giữa các thiết bị đặt trong cáp xun với  
gian máy bằng các tháp 4. Turbine cap xun có hiệu suất cao hơn so với turbine phản  
kích khác đến 30% do khả năng tháo nước của nó. Turbine cap xun được sử dụng rộng  
rãi ở Nga, Nhật, Mỹ... ở các sông vùng đồng bằng hoặc ở các TTĐ thủy triều. Trạm TĐ  
Trereparec có công suất mỗi turbine N = 20MW, H = 14,9m. Trạm thuỷ điện có turbine  
cáp xun lớn nhất là Kiev có N = 320MW.  
14  
Hình 1-13. Tổ máy cáp xun  
2. Turbine dòng thẳng  
Ở turbine dòng thẳng (hình 1-14), dòng nước theo buồng turbine hình trụ thẳng  
đi qua Stator trước 1 vào bộ phận hướng dòng 2 và tác động vào BXCT 3 về hạ lưu theo  
dòng thẳng. Rôtor máy phát điện 4 được gắn vào mút cánh TB, do vậy khi BXCT quay  
Hình 1-14. Turbine dòng thẳng  
15  
thì cũng chính là rotor quay. Turbine dòng thẳng có cấu tạo phức tạp, đặc biệt là ở các  
vòng đệm chống thấm vòng quanh mà hiệu suất không cao hơn turbine hướng trục bình  
thường mấy, nên ít được sử dụng. Trạm thuỷ điện Ortatran ở Liên Xô cũ sử dụng  
turbine này với công suất turbine N = 6,3MW, cột nước H = 10,5m.  
I. 3. 5. Turbine thuận nghịch  
Turbine thuận nghịch được dùng trong " tổ máy hai máy" ở các TTĐ tích năng,  
có khả năng làm việc ở hai chế độ: bơm nước và phát điện. Tổ máy gồm có hai máy:  
turbine thuận nghịch và máy điện ( "máy phát điện - động cơ điện") làm việc ở 2 chế độ  
máy phát và động cơ. Tổ máy loại này thay cho các loại tổ máy làm việc ở các chế độ  
riêng biệt không kinh tế hoặc " tổ máy ba máy ". Nguyên lý làm việc của turbine và máy  
bơm trái ngược nhau, do vậy để làm việc ở một chế độ cụ thể phải chỉnh chiều quay  
cánh thích hợp với từng chế độ làm việc. Sau đây là một ví dụ về turbine Capxun thuận  
nghịch (hình 1-15). Turbine này gồm có các bộ phận chính sau: BXCT 1 là TB thuận  
nghịch có khả năng thay đổi góc nghiêng cánh theo hai chế độ bơm hoặc turbine; cơ cấu  
Hình 1-15. Turbine Capxun thuận nghịch  
hướng dòng (CCHD) 2 dạng hình côn thay đổi phù hợp với chế độ bơm hay turnine;  
"bóng đèn" (capxun) 4 kín nước, được gắn cố định vào bêtông nhà máy nhờ các cột 3.  
Bên trong cápxun 4 bố trí trục tổ máy trên ổ tựa 6 và ổ chặn 7 và "máy phát - động cơ"  
8. Giếng thông 5 được dùng để đặt cáp điện, đường ống dẫn dầu ..v.v...đến động cơ trợ  
động của BXCT và lên xuống gian máy phía trên. BXCT thuận nghịch có đường kính  
5,35m, bốn cánh quay xung quanh bầu với các góc từ -50 đến +350 so với vị trí tính  
toán. Với công suất 10 MW lưu lựơng bơm được là 105 m3/s khi H = 6m và 225 m3/s  
khi H = 1m; lưu lượng lớn nhất ở chế độ turnie là 230 m3/s . Vòng quay n = 97,75 v/p,  
máy phát - động cơ đồng bộ, có điện áp 3,5 kV.  
16  
Chương II. CÁC BỘ PHẬN CHÍNH CỦA TURBINE THUỶ LỰC  
Ở chương I chúng ta nghiên cứu khái quát về các loại turbine và tính năng ứng  
dụng của từng loại turbine. Chương II sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về cấu tạo, công dụng  
của các bộ phận chính của turbine và tìm hiểu các xác định kích thước của chúng. Ngoài  
BXCT, các bộ phận chính của turbine gồm: thiết bị dẫn nước (buồng turbine), thiết bị  
tháo nước (ống xả), phần tĩnh (stator), cơ cấu hướng dòng (CCHD) ..v.v..  
.
II. 1. VÒNG BỆ, CƠ CẤU HƯỚNG DÒNG, TRỤC CỦA TB. PHẢN KÍCH  
Như trên đã nói, ngoài BXCT, turbine phản kích còn có những bộ phận chính  
sau đây: vòng bệ của turbine, cơ cấu hướng dòng, trục và ổ trục của turbine  
II. 1. 1. Vòng bệ (Stator) của turbine:  
Vòng bệ của turbine (hình 1-6 và 2-1) là phần cố định của turbine, có tác dụng  
truyền xuống móng nhà máy các tải trọng gồm trọng lượng toàn bộ tổ máy, sàn và bệ  
máy phát điện, áp lực nước dọc trục tác dụng lên BXCT và khối bê tông phủ lên nó  
v.v... Stator bao gồm một số cột chống 2 với tiết diện ngang hình đường dòng, liên kết  
với vành đỡ trên 1 và dưới 3. Có hai kiểu stator : kiểu cột đỡ riêng rẽ và kiểu vòng (a).  
Phần lớn các turbine phản kích đều sử dụng kiểu vòng để tăng độ cứng, còn kiểu cột  
riêng rẽ chỉ sử dụng cho buồng xoắn bê tông cốt thép, ở đó ổ chặn không lắp trên nắp  
turbine. Số lượng cột stator bằng một nửa số cánh hướng nước.  
Hình 2-1. Vòng bệ và CCHD của turbine  
Để xác định kích thước buồng xoắn cần phải biết hình dạng và các kích thước của vòng  
bệ và cánh hướng dòng.Hình 2-1,b và bảng (2-1) xác định kích thước vòng bệ (stator)  
17  
của turbine. Trong bảng: Da, Db là đường kính ngoài và trong của vòng bệ, b0 là chiêu  
cao cánh hướng dòng (bảng 6-5 và 6-6 chương VI), Z0 là số lượng cánh hướng dòng.  
Bảng 2-1. Bảng kích thước vòng bệ ( đơn vị cm)  
D1  
D0  
Z0  
Cho buồng xoắn bê tông cốt thép  
Cho buồng xoắn kim loại  
Db Da D4  
cán Db Da  
h
D4  
R
h1  
h2  
R
H
180 220 16  
200 240 16  
225 275 16  
250 290 24  
280 325 24  
320 375 24  
360 420 24  
400 465 24  
450 525 24  
500 580 24  
550 640 24  
600 700 24  
260 305 330 20  
285 335 360 20  
320 375 400 20  
330 390 415 25  
372 438 463 25  
426 500 535 30  
480 555 590 35  
532 615 650 35  
600 695 735 40  
660 765 805 40  
730 845 885 50  
800 925 965 50  
21  
23  
23  
25  
25  
32  
35  
41  
41  
46  
46  
50  
340 390 400 28  
382 438 448 30  
437 500 510 30  
485 500 570 35  
542 620 630 35  
610 700 710 40  
675 777 780 40  
745 855 805 50  
875 935 945 50  
32  
35  
40  
40  
45  
45  
50  
50  
55  
23  
25  
30  
30  
35  
45  
40  
40  
45  
II. 1. 2. Cơ cấu hướng dòng (CCHD):  
Nước lần lượt từ buồng turbine 1 chảy vòng qua các cột stator 2, chảy qua khe  
hở giữa các cánh hướng dòng 3, ở đây lưu lượng được điều chỉnh do thay đổi khe hở  
giữa các cánh trước khi vào BXCT 4 (hình 1-6 và 2-2,a).Cơ cấu này có tác dụng sau:  
- Hình thành hướng dòng chảy nhất định ở trước BXCT;  
- Điều chỉnh lưu lượng nước vào turbine, do đó thay đổi công suất của turbine.  
Bộ phận CCHD gồm có hai thành phần chính: các cánh hướng dòng hình lưu tuyến và  
cơ cấu quay cánh. Mỗi cánh hướng nước có thân 3 và trục cánh 5. Đầu trên trục cánh  
được lồng vào các lổ khoét ở nắp TB, còn đầu dưới thì được lắp vào vành dưới, nhờ đó  
các cánh có thể quay được quanh trục của nó để thay đổi độ mở a0 của CCHD. Khi cánh  
hướng nước đóng hoàn toàn a0 = 0, để giảm rò nước cần có đệm chống rò bằng cao su.  
Bộ phận quay cánh hướng dòng gồm có các chi tiết: nắp turbine 6 chứa ổ trục trên của  
cánh, vòng dưới chứa ổ trục dưới của cánh, các cánh hướng 3 và cơ cấu tay quay 7. Độ  
mở a0 dược thay đổi như nhau cho các cánh nhờ vòng điều chỉnh 8 của CCHD. Nhờ  
chuyển động tịnh tiến hai cần 10 của hai động cơ tiếp lực 9 của máy điều tốc mà vòng  
điều chỉnh 8 xoay, kéo theo CCHD xoay để dẫn vào BXCT lưu lượng yêu cầu.  
Hình 2-2,b là sơ đồ đơn giản của CCHD dùng cho TB nhỏ trục đứng buồng hở.  
Nước từ buồng hở qua khe hở giữa các cánh 2 vào BXCT 11. Điều chỉnh độ mở a0 theo  
yêu cầu nhờ trục diều khiển 5 từ máy điều tốc quay kéo tay quay 6 và thanh kéo 7 làm  
quay vòng điều chỉnh 8 tác thay đổi trục 4 làm cánh hướng 2 xoay quanh trục 10 của nó.  
18  
Hình 2-2. Bộ phận xoay CCHD  
II. 1. 3. Ổ trục và trục turbine:  
Trục turbine được dùng để truyền mô men xoắn từ BXCT đến rôtor máy phát  
điện Trục turbine trục đứng bên trong rỗng để lắp các ống dẫn dầu (đối với cánh quay),  
dẫn khí xuống BXCT để phá chân không cho turbine tâm trục và đường dây điện ..v.v...  
Ổ trục định hướng để định tim trục, được bôi trơn bằng dầu hoặc bằng nước. Loại bôi  
trơn bằng nước thường được lắp ở trên nắp turbine. Loại bôi trơn bằng dầu khoáng thì  
tấm bạc của ổ trục làm bằng hợp kim babít.  
Hình 2-3 là đồ thị xác định đường kính trục turbine. Đường kính trục phụ thuộc  
vào mômen xoắn của dòng chảy Mkp = 97400.N/n ( kGcm).  
Trong đó N (kW) và n (vòng/phút). Có Mkp tra ra đường kích trục turbine DB (mm).  
Hình 2-3. Biểu đồ quan hệ đường kính trục và công suất turbine.  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 306 trang baolam 27180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tuabin thủy lực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_tuabin_thuy_luc.pdf