Hình ảnh con lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt (từ góc nhìn văn hóa nông nghiệp)
62
Hoàng Thị Yến
Hình ảnh con lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt
(từ góc nhìn văn hóa nông nghiệp)
Hoàng Thị Yến
Đại học Quốc gia Hà Nội
Email liên hệ: [email protected]
Tóm tắt: Bài viết phác họa hình ảnh của con lợn từ góc nhìn của văn hóa nông nghiệp
trong tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt. Cụ thể, chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả, phân
tích định tính và so sánh để làm ro đặc điểm hình thức và đặc tính, giá trị kinh tế của con lợn,
kinh nghiệm chăn nuôi lợn của người Hàn và người Việt. Kết quả phân tích cho thấy, có nhiều
điểm tương đồng giữa hai dân tộc trong kĩ thuật chăn nuôi, kiến thức về vật nuôi hay những
kiêng kị của dân gian khi chăm sóc lợn. Một số điểm khác biệt thể hiện ở việc người Hàn đặc
biệt chú trọng đến chuồng trại, việc phòng chữa bệnh trong khi người Việt chú ý nhiều đến
đặc tính, các món ăn và giá trị kinh tế của lợn. Điều này phản ảnh những net chung và net đặc
trưng trong văn hóa nông nghiệp lúa nước và cách nhìn thế giới, quan niệm về giá trị của hai
dân tộc.
Từ khóa: hình ảnh con lợn, văn hóa nông nghiệp, tục ngữ, tiếng Hàn, tiếng Việt
The image of pigs in Korean and Vietnamese proverbs
(from an agricultural perspective)
Abstract: The article outlines the image of pigs in Korean andVietnamese proverbs from
an agricultural perspective. Specifically, theauthors utilizevarious methods such as descriptive
research, qualitative analysis, and comparison to clarify pigs‘ features, characteristics, their
economic benefits as well as Korean and Vietnamese experience in pig farming. The results
indicate that there are numerous similarities between the two countries in terms of breeding
techniques, knowledge of pigs or folk taboo in pig husbandry. Several differences are recorded
in the fact that Koreans pay special attention to barns, disease prevention and treatment for
pigs, whileVietnamese people pay much attention to their characteristics, food and economic
values. This comparison demonstrates the two nations‘ common features, characteristics in
wet rice culture, their world view, as well as their concepts of values.
Keywords: pigs, agricultural culture, proverbs, Korean, Vietnamese
Ngày nhận bài: 21/10/2020
Ngày duyệt đăng: 10/04/2021
1. Đặt vấn đề
Hàn Quốc và Việt Nam đều là những quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa chữ Hán và
có nền văn hóa lúa nước lâu đời, vì thế, có nhiều net tương đồng về đặc trưng văn hóa. Chẳng
hạn như, cả hai dân tộc đều chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo, phong tục tập
quán mang nhiều đặc trưng của văn hóa nông nghiệp lúa nước... Trong bối cảnh quan hệ hợp
tác, giao lưu giữa hai nước Hàn - Việt đang phát triển mạnh mẽ, nhu cầu về nguồn nhân lực
63
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
tiếng Hàn, giao tiếp liên văn hóa Hàn - Việt ngày càng tăng, đồng nghĩa với việc cần có thêm
nhiều công trình nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ và văn hóa của hai dân tộc.
Một bộ phận không nhỏ của kho tàng kinh nghiệm của nhân loại nói chung và của hai
dân tộc Hàn - Việt nói riêng được đúc kết và phản ảnh qua tục ngữ và thành ngữ. Các nhà
ngôn ngữ học đều nhất trí cho rằng, tục ngữ là biểu thức có kết cấu câu ngắn gọn, có vần điệu
và cấu trúc ổn định, chuyển tải thông điệp nghệ thuật, chứa đựng nhiều “trầm tích văn hóa”
của mỗi dân tộc.
Cho đến nay, các nghiên cứu đối chiếu về tục ngữ nói chung và tục ngữ có yếu tố chỉ con
giáp nói riêng trong tiếng Hàn đã nhận được sự quan tâm thích đáng và đạt nhiều thành tựu.
Trong đó, có thể kể đến các công trình như: Lê Thị Hương (2015), Son SunYeong (2015), Hoàng
Thị Yến, Nguyễn Thùy Dương (2016); Hoàng Thị Yến, Lâm Thị Hòa Bình, Bae Yang Soo (2020)...
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều khoảng trống chưa được khai thác, đặc biệt thiếu vắng các
nghiên cứu phân tích hình ảnh con giáp từ nhiều góc độ. Gần đây có công trình của Hoàng
Thị Yến, Bae Yang Soo (2019) phân tích hình ảnh con chó trong tục ngữ tiếng Hàn (liên hệ với
tiếng Việt); Hoàng Thị Yến, Bùi Thị Thúy Nga (2020) phân tích hình ảnh con trâu/bò trong tục
ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt (từ góc độ văn hóa nông nghiệp)...
Tiếp nối các nghiên cứu về hình ảnh các con giáp trong tục ngữ, trong phạm vi bài viết
này, chúng tôi phân tích hình ảnh con lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt nhìn từ góc độ
của văn hóa nông nghiệp. Cụ thể, bài viết nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau: 1)
Đặc điểm hình thức và đặc tính của con lợn qua ngữ liệu tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt; 2) Giá
trị kinh tế của con lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt; 3) Kinh nghiệm chăn nuôi lợn của
người Hàn, người Việt qua tục ngữ.
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, bài viết dựa trên ngữ liệu là các đơn vị tục ngữ
tiếng Hàn và tiếng Việt có yếu tố chỉ con lợn. Nguồn ngữ liệu tục ngữ tiếng Hàn có yếu tố chỉ
con lợn gồm khoảng 550 đơn vị được chúng tôi rút ra từ công trình của Song Jae Seun (1997).
Thuật ngữ ”
tục đàm” trong tiếng Hàn thường được chiếu tương ứng với khái niệm
«tục ngữ» trong tiếng Việt. Tuy nhiên, trong thực tế nó cũng bao gồm cả các đơn vị có hình
thức là một câu nhưng biểu đạt ý nghĩa tương đương với một số đơn vị thành ngữ trong tiếng
Việt, ví như:
như cám lơn... Vì thế, nguồn ngữ liệu tục ngữ tiếng Việt được chúng
tôi mở rộng, liên hệ với ngữ liệu thành ngữ và tục ngữ có yếu tố chỉ con lợn, tiêu biểu là các
công trình của các tác giả Hoàng Văn Hành (2003), Vũ Ngọc Phan (2008), Vũ Dung, Vũ Thúy
Anh, Vũ Quang Hào (2008), Nguyễn Đức Dương (2015), Nguyễn Lân (2016)... với khoảng 100
đơn vị. Phương pháp chủ yếu được chúng tôi lựa chọn sử dụng là miêu tả, phân tích định tính,
phân tích thành tố nghĩa kết hợp dịch văn học và các thao tác nhận diện, phân loại... Đặc biệt,
với thủ pháp so sánh, liên hệ với tiếng Việt, bài viết tách ra những điểm tương đồng và khác
biệt trong tri nhận của người Hàn và người Việt. Qua đó, phác họa hình ảnh con lợn với các đặc
điểm phong phú, từ hình thức, đặc tính cho đến giá trị kinh tế và kinh nghiệm chăn nuôi qua
ngữ liệu tục ngữ tiếng Hàn và tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt.
2. Hình thức và đặc tính của con lợn qua tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt
2.1. Đặc điểm hình thức của lợn qua tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt
Có thể thấy hình ảnh con lợn được phản ánh khá ro trong tục ngữ tiếng Hàn. Trong
phạm vi các từ ngữ chỉ gọi con lợn hoặc bộ phận cơ thể con lợn, có thể phác họa một vài đặc
điểm về hình thức của vật nuôi này như sau:
64
Hoàng Thị Yến
Về đặc điểm giới tính và huyết thống, ngữ liệu xuất hiện hai cặp cân bằng hai vế: i) đực
- cái:
lợn đực và
lợn cái; ii) mẹ - con:
lợn mẹ và
lợn con... Về
đặc điểm hình thể và màu sắc, xuất hiện các ô trống trong các cặp từ ngữ tương ứng, ví dụ
như: i) gầy - x (x là ô trống của béo), ngữ liệu chỉ có
xanh xao; ii) đen - x (x là ô trống của trắng), ngữ liệu chỉ có
lợn toàn thân màu đen...
lợn gầy,
lợn đen,
lợn gầy gò,
Về các bộ phận cơ thể, trong ngữ liệu tục ngữ xuất hiện các từ ngữ thuộc hai tiểu nhóm
sau: i) các bộ phận ở phần đầu có các từ ngữ như: tai lợn, mặt lợn,
mom lợn, mũi lợn...; ii) các bộ phận khác có các từ ngữ như:
đuôi lợn, chân lợn, móng chân lợn,
thịt lợn... Câu tục ngữ mũi lơn sống tốt trong tiếng Hàn phản ánh
bầu
dái lợn,
vú lợn,
văn hóa Phương Đông, theo nhân tướng học, mũi chủ về tài lộc nên cả dân tộc Hàn và Việt đều
tin rằng người có tướng mũi lợn sẽ giàu có.
Bên cạnh đó, trong tiếng Việt, một số đặc điểm hình thức của lợn như: hình thể (mập),
mắt (trắng), móng chân (xoạc)... được người Việt liên tưởng như sau: 1) Mập như heo: chế giễu
người beo mập; 2) Mắt (như mắt) lơn luộc: chỉ mắt trắng, đờ đẫn hoặc người độc ác; 3) Chạy
xoạc móng heo: móng lợn không chụm mà toe ra để bấm đất, ý chỉ người vất vả, luôn tất tả
ngược xuôi.
2.2. Đặc tính sinh học của con lợn qua tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt
2.2.1. Nết ăn và ơ của lơn trong tục ngư tiếng Hàn và tiếng Việt
Lơn là vật nuôi ăn nhiều, đặc điểm này thể hiện qua các đơn vị tục ngư tiếng Hàn sau:
lơn hay ăn mới béo,
ăn như
lơn, làm như trâu bò. Lợn cũng là loài ăn tạp. Câu
như cám lơn chỉ nồi cám lợn
thường là hỗn hợp của đồ ăn thừa cùng với các loại rau củ quả, các loại thực phẩm bị loại bỏ
như đầu/ruột cá... Chính vì nết ăn này mà lợn được so sánh với con người hoặc phẩm chất tiêu
cực như trong các câu tục ngữ:
tham như lơn,
lòng tham của
lơn. Người Việt cũng dùng câu Ăn như lơn để phê phán người ăn tham, ăn tạp. Bên cạnh đó,
trong tục ngữ tiếng Hàn có xuất hiện một số loại thức ăn tốt cho sự tăng trưởng của lợn như:
chuột, kiều mạch, rắn, đậu..., ví dụ:
cho lơn ăn rắn sẽ mau
ngày làm đậu là sinh nhật của lơn...
Lợn ăn tạp nên cũng ăn bẩn. Nết ăn này thể hiện qua các câu tục ngữ sau:
lớn;
lơn thích nước đục,
ở của vật nuôi này cũng không tốt:
lơn béo nhờ nước bẩn... Vì thế, nết
lơn không biết chuồng lơn
bẩn. Tương tự, người Việt thường chê những người ở bẩn hoặc ăn bẩn là: Bẩn như lơn; chê gian
phòng hoặc căn nhà bừa bộn, mất vệ sinh là Như chuồng lơn...
2.2.2. Tập tính của lơn trong tục ngư tiếng Hàn, tiếng Việt
Bên cạnh nết ăn, ở của lợn, qua ngữ liệu tục ngữ tiếng Hàn có yếu tố chỉ con lợn, có thể
thấy một số tập tính điển hình về môi trường sống, cách thức di chuyển, kiếm ăn của loài vật
nuôi này như sau:
Lợn có thể sống trong chuồng hoặc nuôi thả. Tập tính này có thể thấy trong các câu tục
ngữ sau: 1) nuôi trong chuồng:
nếu lơn ra khỏi
chuồng chơi, gió sẽ nổi,
lơn quây ổ
rơm trong chuồng là trời trơ lạnh (hai hành động của lợn dự báo sự thay đổi thời tiết); 2) nuôi
65
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
thả:
chăn thả lơn ơ nơi nhiều đá sẽ dễ bị chết
(cần lưu ý khi chăn nuôi lơn);
nghi, phep tắc)
như lơn thả rông (chỉ người hỗn, không có lễ
Nếu như gà dùng chân bới đất thì lợn lại dùng mom dũi đất tìm thức ăn. Tục ngữ tiếng
Hàn miêu tả ro hướng của các hành động này như sau:
lơn dũi đất về phía trước, gà bới đất về phía sau. Người Hàn cho rằng: 1)
lơn đào gần ống khói sẽ có cái ăn: vì gần với bếp, nơi để đồ ăn,
nơi nấu ăn; 2)
nếu lơn dũi đất trời sẽ mưa: hành động
có tính chất dự báo sự thay đổi thời tiết. Ngoài ra, ta có thể thấy một số đặc điểm khác của lợn
cũng được phản ánh qua ngữ liệu tục ngữ, ví dụ: 1) hướng di chuyển của lợn là về phía trước:
lơn chỉ đi về phía trước; 2) lợn hay nằm và ngồi:
lơn nằm nói xấu lơn ngồi ...
Tục ngư tiếng Việt có yếu tố chỉ con lơn cho thấy người Việt quan tâm nhiều đến tập tính ăn
uống của con giáp này, ví dụ: 1) Ăn như heo: chỉ người tham ăn, tục uống; 2) Cám treo heo/lơn nhịn
đói: lợn không leo treo được nên không lấy được đồ ăn để chỗ cao: ý nói có đồ ngon mà không
ăn được; 3) Cấn ăn cấn đi, sề ăn sề mắc: có đồ lợn thiến ăn được nhưng lợn sề ăn lại không tốt:
ý nói đối với từng người, từng sự vật phải khác nhau tuỳ đặc trưng; 4) Nuôi heo thì phải vớt bèo:
beo là loại rau lợn thường ăn, được nấu với cám, gạo hoặc ngô, khoai, sắn thành cám lợn; Rẻ
như bèo nhiều heo cũng hết: ý nói của không con nhà nhiều con cũng hết; 5) Lơn ăn xong lơn
nằm lơn béo hay lơn ăn xong lơn réo lơn gầy: lợn thuần tính, dễ nết thì beo và ngược lại. Ngoài
ra, ngữ liệu tục ngữ tiếng Việt còn cho thấy lợn có đặc tính sau: 1) hay cào chuồng: Lơn không
cào, chó nào sủa; 2) nuôi nhốt thì tốt: Lơn thả, gà nhốt...; 3) không thông minh, ngu dốt: Ngu
như lơn, Đồ con lơn, Dốt như con lơn... Đối với mỗi loài vật nuôi, người Việt lại có cách riêng để
chế ngự, kinh nghiệm bắt lợn được truyền lại là: Bắt lơn tóm giò (bắt bò tóm mũi). Tương tự như
vậy, trong quan hệ đối nhân xử thế, đối với mỗi người khác nhau, người Việt khuyên cần có
cách ứng xử, đối phó khác nhau, ví dụ: Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy....
Trong tục ngữ, hình ảnh của lợn thể hiện qua các đặc điểm về hình thức và tập tính ăn
uống, ở, di chuyển, kiếm ăn... của lợn được phác họa khá sinh động và chân thực. Lợn là gia
súc được nuôi lấy thịt nên thường beo, ăn nhiều, ăn tạp, ở bẩn, có thể nuôi nhốt hoặc chăn thả,
không thông minh, hay dũi đất, hay nằm... Có thể thấy những đặc trưng quen thuộc và điển
hình của con giáp này được hai dân tộc đưa vào tục ngữ rất tự nhiên và được biểu trưng hóa,
tạo thành tầng nghĩa biểu trưng hay hình ảnh biểu trưng.
3. Giá trị kinh tế của lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt
Giá trị kinh tế thể hiện ở giá trị và công dụng của vật nuôi. Dựa trên cứ liệu tục ngữ tiếng
Hàn có yếu tố chỉ con lợn, chúng tôi phân tích quan điểm về giá trị của người Hàn và người
Việt qua những biểu hiện được xếp vào nhóm giá trị cao và nhóm giá trị thấp. Quan điểm về
công dụng của vật nuôi của hai dân tộc có thể xet ở các khía cạnh ít nhiều có sự khác biệt do
đặc trưng của con vật. Với lợn, công dụng chủ yếu thể hiện qua ngữ liệu tục ngữ là cung cấp
nguồn thực phẩm, thuốc chữa bệnh hay nhân giống sinh sản.
3.1. Giá trị của lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt
3.1.1. Giá trị thấp của lơn trong tục ngư tiếng Hàn, tiếng Việt
Trong tục ngữ tiếng Hàn, giá trị thấp của lợn được thể hiện ở các yếu tố sau: i) giá tiền
thấp, tức là số tiền ít ỏi thu được khi bán lợn; ii) món ăn được chế biến từ thịt lợn không ngon;
66
iii) sự kết hợp các thực phẩm chế biến không hợp hoặc có thể gây bệnh... Cụ thể như sau:
Hoàng Thị Yến
1) lợn nhỏ, giá re:
nhỏ bằng cái đuôi lơn 7 xu. Câu tục ngữ
giá lơn bẩy xu, giá cây ba tiền tương ứng với câu tục
ngữ tiếng Việt: Một tiền gà ba tiền thóc: ý nói chi phí cao hơn giá sản phẩm...; 2) món ăn nhạt
nhẽo, gây bệnh:
nước canh trần qua thịt lơn;
luộc thai lơn ăn dễ mắc viêm cầu lơn; 3) kinh nghiệm khi ăn thịt lợn khó tiêu:
ăn thịt lơn bị đầy bụng, ăn mắm tôm
sẽ tiêu...
Giá trị thấp của lợn được thể hiện trong tục ngữ tiếng Việt khi so sánh với nghề nuôi
tằm: Chăn lợn ba năm không bằng chăn tằm một lứa. Nuôi tằm có hiệu quả kinh tế cao hơn
nuôi lợn (gấp nhiều lần, thời gian lại ngắn), bên cạnh đó, cái lợi của nghề nuôi tằm so với nuôi
lợn còn là: Nuôi lơn ăn cơm không, nuôi tằm ăn cơm nhộng. Tuy nhiên, trong tiếng Việt cũng có
câu: Nuôi lơn (ăn) cơm nằm, nuôi tằm (ăn) cơm đứng: nuôi tằm vất vả hơn nuôi lợn, phải chăm
sóc không kể ngày đêm... Giá trị của lợn trong so sánh với các động vật khác thể hiện qua câu:
Rao mật gấu bán mật heo (Treo đầu dê bán thịt chó): phê phán sự lừa dối của người buôn bán,
tráo đồ có giá trị cao với đồ có giá trị thấp.
3.1.2. Giá trị cao của lơn trong tục ngư tiếng Hàn, tiếng Việt
Giá trị cao của lợn thể hiện ro ở sự coi trọng, đồng nhất hình ảnh lợn với điềm lành, tài
lộc của dân tộc Hàn. Điều này được thể hiện khá ro trong tục ngữ có yếu tố chỉ con giáp là gia
súc này. Trước hết, lợn tượng trưng cho tài lộc. Người Hàn tin rằng, mơ thấy lợn là điềm tốt -
liên quan đến tiền:
mơ thấy lơn sẽ có tài lộc,
mơ ăn thịt lơn hôm sau nhận thương lớn. Lợn cũng tượng
trưng cho sự may mắn, cát tường: i) mơ thấy lợn:
mơ thấy lơn thành đàn đi vào nhà thì cát tường, đi ra là điềm
lơn đen toàn thân để đức cho
chủ: ý nói ăn thịt lợn đen sẽ may mắn. Vì lí do này, người Hàn cho rằng, người tuổi Hợi tốt số:
tuổi hơi có phúc ăn, tuổi hơi sống tốt... Bên cạnh đó,
xấu; ii) lợn đen tốt:
giá trị quan mang tính hiện sinh của người Hàn cũng thể hiện qua tục ngữ với quyết định lựa
chọn vật có thể sở hữu chắc chắn, không trông đợi nhiều vào mối lợi lớn hơn nhưng không chắc
chắn:
chân lơn chơ này tốt hơn chân bò chơ sau.
Tục ngữ tiếng Việt có các đơn vị thể hiện giá trị cao của lợn như sau: 1) Cá cả, lợn lớn:
thịt lợn là thực phẩm ngon, đáng tiền; 2) Bán cám thì ngon canh, nuôi lợn thì lành áo: nếu chịu
khó chăn nuôi lợn hoặc kinh doanh thức ăn cho lợn thì thu nhập sẽ ổn định, cuộc sống no đủ...
Có thể thấy, cả người Hàn và người Việt đều cho rằng, lợn là vật nuôi có giá trị, có thể
mang lại tài lộc và may mắn, dựa vào việc chăn nuôi lợn, con người có thể tạo dựng nền tảng
kinh tế vững chắc cho gia đình.
3.2. Công dụng của lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt
Giá trị của lợn thể hiện cụ thể và ro hơn ở công dụng đa dạng của nó trong đời sống sinh
hoạt của hai dân tộc qua ngữ liệu tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt. Đó là: i) nguồn thực phẩm
chế biến các món ăn bổ dưỡng, làm thuốc để chữa bệnh; ii) làm vật phẩm cúng tế; iii) làm kinh
tế bằng nuôi lợn giống, lợn thịt.
3.2.1. Thực phẩm chế biến món ăn bổ dưỡng, chưa bệnh
Với giá thành hợp lí (do lợn ăn tạp, con người có thể tận dụng nguồn thức ăn sẵn có nên
chi phí sản xuất không cao) và chất lượng thịt ngon nên thịt lợn được người Hàn và người Việt
67
coi là nguồn thực phẩm chính để chế biến các món ăn đa dạng. Trong tục ngữ, mục đích nuôi
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
lợn của người Hàn là:
người Việt, người Hàn cho rằng:
lơn con thì nuôi rồi giết thịt. Cũng như
phụ nư mất
sưa nếu ăn chân giò lơn sẽ tốt. Lợn là gia súc có kích thước và trọng lượng khá lớn nên thường
được mổ thịt trong những dịp giỗ chạp, lễ hội cho nhiều người ăn:
như làng mổ lơn ăn chung ...
Ngữ liệu tục ngữ tiếng Việt cũng thể hiện khá ro vai trò của lợn trong cuộc sống sinh
hoạt của con người. Dấu hiệu để lựa chọn thịt lợn ngon được người Việt truyền lại như sau:
Con lơn có béo cỗ lòng mới ngon: ý nói ve ngoài có tươi đẹp, mỡ màng thì bên trong mới tốt,
mới hay. Các bộ phận của lợn có chất lượng thịt tốt và ngon thể hiện trong các đơn vị như: i)
trong so sánh ngang bằng có: Lơn giò, bò bắp và Đầu gà, má lơn...; ii) trong so sánh hơn có: Ruột
heo hơn phèo trâu: thứ hạng thấp của loại giá trị vẫn tốt hơn thứ hạng cao của loại kem giá trị
hơn: thịt lợn ngon hơn thịt trâu. Đầu lợn cũng là bộ phận ngon, bổ: i) Thủ thỉ ăn thủ lơn: ý nói
người điềm tĩnh, thong thả thì thành công, hưởng lợi lộc; ii) Mươn đầu heo nấu cháo: chỉ sự lợi
dụng một cách tinh vi. Kinh nghiệm nấu ăn của người Việt được khá tinh tế với các gia vị đặc
trưng cho mỗi loại thực phẩm qua câu ca dao: Con gà cục tác lá chanh, con lơn ủn ỉn mua hành
cho tôi, con chó khóc đứng khóc ngồi, bà ơi đi chơ mua tôi đồng giềng.
Ngoài việc cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng, một số bộ phận cơ thể của lợn còn
được dân tộc Hàn sử dụng như các loại thuốc dân gian có công dụng đa dạng. Theo đó, máu/
tiết lợn có tác dụng tiêu độc, ví dụ: 1) dùng để chữa mụn nhọt/chàm:
bôi máu tươi lơn lên tờ giấy, dán vào mụn nhọt sẽ khỏi,
máu lơn khô chưa chàm và mụn nhọt; 2) dùng
để giải độc thủy ngân:
máu lơn dùng để giải trúng
độc thủy ngân. Người Việt thường luộc tiết với lá xương sông (ngừa bệnh thiếu sắt, bệnh tim
mạch) hoặc đánh tiết canh hay làm dồi lợn luộc...
Thịt lợn là phần cơ thể chiếm tỉ trọng lớn của con lợn, công dụng chữa bệnh của nó thể
hiện qua các câu tục ngữ sau:
ăn hồng chát đầy
bụng thì thịt lơn là thuốc. Thậm chí, người Hàn tin rằng:
thịt của con lơn ngủ hướng đông là thuốc chưa vạn bệnh... Ngoài
ra, một số bộ phận khác (như gan, móng, mỡ) với công dụng chữa bệnh cũng được người Hàn
truyền lại trong tục ngữ, ví dụ: 1)
dán gan lơn sống
móng lơn là thuốc bổ dương; 3)
mỡ con lơn thịt vào ngày hơi là thuốc tốt cho vết
thương dài ngày. Đặc biệt, người Hàn cho rằng, bào thai lợn con có hiệu quả trong việc chữa trị
bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: bào thai lơn
lên mụn nhọt sẽ khỏi; 2)
con hai tháng tuổi là thuốc đặc hiệu cho bệnh đậu mùa. Người Hàn cũng lưu ý thời điểm uống
thuốc khi bữa ăn có thịt lợn. Họ cho rằng:
uống thuốc mà ăn thịt lơn, thuốc mất tác dụng.
Qua ngữ liệu tục ngữ, có thể thấy người Việt xưa coi trọng mỡ lợn: Nuôi heo lấy mỡ, nuôi
con đỡ chân tay. Có lẽ bởi vì mỡ lợn được người Việt dùng với nhiều công dụng, đặc biệt để
xào rán khi chế biến các món ăn... Người Việt cũng cảnh báo một vài điểm liên quan khi ăn
thịt lợn: 1) Thứ nhất phạm phòng, thứ nhì lòng lợn: việc sinh hoạt tình dục quá độ hay ăn lòng
lợn mất vệ sinh đều ảnh hưởng xấu đến sức khỏe; 2) Thương con thì cho con ăn tiết, giết con
68
Hoàng Thị Yến
thì cho con ăn gan: gan là cơ quan nội tạng có chức năng lọc và đào thải các chất độc, vì thế
không nên ăn quá nhiều gan, đặc biệt là với tre nhỏ.
Lợn là gia súc có chất lượng thịt tốt lại có kích thước, trọng lượng khá lớn. Vì vậy, ngoài
việc cung cấp thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày, nó còn thường được dùng để làm vật cúng
tế trong những dịp lễ trọng. Tục ngữ tiếng Hàn có câu: i)
lơn để cúng đám cưới, cúng giỗ, tế lễ là lơn 2 năm thì tốt, ii)
thân phận lơn ngày làm lễ cầu mưa. Với người Hàn, khi chọn lợn làm vật phẩm
cúng, cần chú ý những điều sau: 1)
đầu
lợn cúng phải dùng mặt cười: mặt lợn sau khi luộc phải có biểu cảm tươi sáng mới tốt; 2)
lơn để cúng tế lớn không dùng lơn đen
sẽ chịu họa: lễ lớn cần có vật phẩm tương xứng, nếu không thần linh sẽ trách tội.
Tương tự, lợn cũng là gia súc được người Việt dùng làm đồ lễ các ngày quan trọng như:
1) khi cúng tế: Trơ như thủ lơn nhìn thầy cúng: chỉ người đang nhìn trừng trừng, không chớp
mắt và không bộc lộ cảm xúc; 2) khi có giỗ: Giỗ chưa làm, lơn còn đó: việc chưa làm, đồ chưa
dùng vẫn còn đó; 3) khi dựng vợ gả chồng: Cưới vợ không cheo, mười heo cũng mất: ý nói khi
chưa đủ thủ tục thì dù tốn kem cũng không được việc.
3.2.2. Làm kinh tế bằng nuôi lơn thịt, lơn giống
Giá trị kinh tế của lợn thể hiện ở hai mặt: sinh sản và nuôi lấy thịt. Nếu là lợn đực, ngoài
việc giữ lại một số rất ít con đực khỏe mạnh, tốt giống để đi phối giống, người Hàn Quốc
thường thiến lợn đực để nuôi bán thịt. Tuy nhiên, việc thiến lợn cũng cần xem ngày cẩn thận,
người Hàn cảnh báo:
ngày gocho(1) nếu thiến lơn sẽ chết.
Khi nuôi lợn nái, phải chọn những cá thể tốt, ví dụ như phải có các đặc điểm sau:
chân lơn ngắn thì mắn đẻ... Người Hàn cũng cho rằng, lợn ăn rắn nên:
nhà nuôi lơn thì rắn không vào ....
Với người Việt, chăn nuôi lợn đem lại nhều lợi ích kinh tế, đặc biệt là nuôi lợn nái, ví dụ:
1) Giàu lơn nái, lãi gà con: nuôi lợn nái lãi nhiều nên sẽ giàu; 2) Lợn bột thì ăn thịt ngon, lợn nái
thì đe lợn con cũng lời: nuôi lợn bột lấy thịt, nuôi lợn cái thì bán lợn con làm giống; 3) Lợi nuôi
lợn nái, hại nuôi bồ câu: nuôi lợn nái lãi nhất, nuôi chim bồ câu ít lãi nhất. Tuy nhiên, vì việc
nuôi lợn nói chung và nuôi lợn nái nói riêng cần nhiều vốn nên người Việt khuyên: Giàu nuôi
lợn nái, khó nuôi chó cái gà con: người ngheo ít vốn, chỉ có thể nuôi chó cái, gà mái để gây
giống, bán chó con, gà con. Ơ khía cạnh khác, trong tục ngữ tiếng Việt lại có câu: 1) Giàu nuôi
chó, khó nuôi heo: nuôi lợn mang lại kinh tế cao nên người ngheo nên nuôi lợn thay vì nuôi
chó; ii) Giàu nuôi lợn đực, khó nuôi lợn nái: vì nuôi lợn nái tuy lợi nhiều nhưng rất vất vả, nếu
kinh tế dư dả thì nuôi lợn đực cho nhàn... Bên cạnh việc chăn nuôi lợn mang lại lợi ích kinh tế,
giúp cải thiện đời sống, việc kinh doanh cung cấp thức ăn chăn nuôi cũng theo đó phát triển:
Bán cám thì ngon canh, nuôi lợn thì lành áo... Vì thế, người Tày khuyên: Đói chớ ăn thóc giống,
túng chớ bán lợn mẹ: dù khó khăn đến đâu, nếu có thể, phải cố gắng giữ nguồn sinh lợi kinh
tế nhằm đảm bảo đời sống.
Lợn là vật nuôi có giá trị kinh tế cao vì kinh phí đầu tư không nhiều, dễ nuôi, chóng lớn..
nên mang lại hiệu quả kinh tế cao. Lợn có công dụng đa dạng và được sử dụng trong phạm vi
rộng, đặc biệt nó là nguồn thực phẩm bậc trung lại có giá trị dinh dưỡng cao, có thể chế biến
1
khô tiêu nhật : ngày gieo hạt thì hạt khô quắt, không nảy mầm được
69
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
như những vị thuốc, tốt cho sức khỏe con người. Cũng vì thế mà về mặt tâm linh, nó là một
trong số ít các con giáp được coi là biểu trưng của tài lộc, sung túc, phú quí.
4. Kinh nghiệm chăn nuôi lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt
4.1. Kinh nghiệm chọn giống lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt
4.1.1. Đặc điểm giống lơn tốt trong tục ngư tiếng Hàn, tiếng Việt
Qua tục ngữ, người Hàn cho rằng, giống lợn tốt là thuần nết, hay ăn, khỏe mạnh, sống
lâu và có các đặc điểm về hình thức như sau: 1) tai to và rủ:
tai lơn to và rủ thì tính ôn thuận, tai trâu bò phẳng
rộng tính mới lành hiền...; hoặc vừa tai to vừa có đuôi dài hoặc lông dài:
lơn tai to, đuôi dài thì trường thọ;
lơn có tai rủ, lông dài thì tốt: lợn hay ăn chóng lớn...; 2) kêu to:
khi tóm đuôi, lơn kêu càng to thì càng khỏe; 3) mom
ngắn:
mõm lơn ngắn thì mới béo. Trong tục ngữ, lợn
chân lơn ngắn thì
nái mắn đe có các đặc điểm sau: 1) chân ngắn:
mắn đẻ; 2) thân gầy:
lơn gầy đẻ mắn... Lợn màu đen được
cho là không những cho thịt ngon mà còn mang lại may mắn cho chủ nhà:
lơn đen toàn thân để đức cho chủ...
Kinh nghiệm lựa chọn giống lợn của người Việt được đúc kết trong tục ngữ như sau:
Một là, nên lựa chọn cá thể lợn có nguồn gốc/giống tốt: 1) dựa vào đặc điểm đời cha mẹ: Mua
heo chọn nái, lấy gái chọn dòng; 2) lựa chọn địa điểm mua lợn giống phù hợp: Lơn nhà, gà chơ:
mua lợn tại nhà được giống lợn tốt, mua gà tại chợ thì được chọn thoải mái. Hai là, cần quan
sát và chọn lợn có đặc điểm hình thức bề ngoài tốt, ví dụ chọn các cá thể có các đặc điểm sau:
1) Chấm trán nhọ đuôi (không nuôi cũng tiếc); 2) Đực sệ sề chõm hay Lơn đực chuộng phệ, lơn sề
chuộng chõm: lợn đực to lớn giống tốt, lợn cái mình dài thon, vú lớn, không quết đất; 3) Lơn
đầu, cau cuối: lợn lứa đầu là lợn tốt, cau cuối vụ là cau ngon... Người Việt cũng lưu ý đời sau về
cách nhìn nhận đánh giá con người và sự vật, có thể cùng một đặc điểm hình thức nhưng với
mỗi loài, cá thể lại mang đặc trưng, phẩm chất khác nhau, ví như: Lơn kia trắng mắt thì nuôi,
người kia trắng mắt là người bỏ đi: mắt trắng là tướng người bội bạc, bất nhân.
4.1.2. Đặc điểm lơn kém trong tục ngư tiếng Hàn, tiếng Việt
Người Hàn khuyên không nên chọn cá thể lợn có những đặc điểm được cho là có thể
cản trở quá trình phát triển hay sinh sản của vật nuôi, ví dụ như: 1)
khoảng cách vú lơn hẹp thì ít sưa; 2)
lơn nhọn thì lơn không béo (ken ăn)... Bên cạnh đó, cần chú ý tuyệt đối không bắt lợn nhiễm
bệnh làm giống: nếu bắt lơn ơ nhà bị đậu
mùa sẽ bị nốt đậu mùa... Ngoài ra, khi bắt lợn nhập chuồng, người Hàn tin rằng, có kiêng có
mõm
lành, nếu chọn ngày tốt thì nuôi lợn mau lớn:
mua lơn phải chọn ngày tốt;
thì tốt.
ngày
ngày mua lơn là ngày hơi
Qua ngữ liệu thành ngữ, tục ngữ, có thể thấy người Việt không chọn các cá thê lợn có
đặc tính sau: 1) Con heo kén ăn khó nuôi: người khó tính khó chiều, không được quý mến, ưa
chuộng; 2) (Lơn ăn xong lơn nằm lơn béo), lơn ăn xong lơn réo lơn gầy... Bên cạnh đó, thời điểm
bắt lợn thích hợp được người Việt khuyên làm là: Lơn nước mạ, cá nước rươi: mua lợn con tháng
đổ nước ruộng mạ, mua cá giống mùa nước rươi - tháng 9...
70
Hoàng Thị Yến
Kinh nghiệm chọn giống lợn của hai dân tộc Việt - Hàn được thể hiện khá phong phú
trong kho tàng tục ngữ. Có thể thấy nhiều net tương đồng trong quan điểm coi trọng dòng
giống, đánh giá tính nết của lợn qua đặc điểm các bộ phận cơ thể (mũi, mom, lưng, chân, tai...)
của hai dân tộc. Thời điểm mua lợn, nhập chuồng lợn giống cũng là một trong những điều
kiện quan trọng được người nông dân của hai dân tộc chú ý và cẩn thận làm theo.
4.2. Kinh nghiệm chăm sóc lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt
4.2.1. Kinh nghiệm nuôi dưỡng lơn trong tục ngư tiếng Hàn, tiếng Việt
Trong chăn nuôi gia súc thì việc chăm cho lợn ăn uống là rất quan trọng. Để lợn nhanh
lên cân, trong tục ngữ, người Hàn khuyên cho lợn ăn các thức ăn khá đa dạng, ví dụ: 1) kiều
mạch:
cho lơn gầy ăn kiều mạch sẽ nhanh béo...;
2) chuột:
cho lơn gầy ăn chuột sẽ béo; 3) rắn:
cho lơn ăn rắn sẽ mau lớn; 4) rau rừng:
cho lơn ăn rau rừng sẽ mau béo, lên cân; 5) vỏ dưa lê vàng (chamwe):
cho lơn ăn vỏ dưa lê vàng sẽ tiêu mỡ. Người Hàn cũng
cảnh báo
lơn ăn nhiều muối sẽ chết và nhắc nhơ:
lơn đực 3, 4 tháng tuổi phải thiến (để nuôi beo lấy thịt).
Ngữ liệu tiếng Việt chỉ xuất hiện hai loại thức ăn của lợn như sau: 1) beo: Nuôi heo thì
phải vớt beo, Re như beo nhiều heo cũng hết (tương tự như câu: Của không ngon nhà nhiều
con cũng hết); 2) cám: Cám treo lợn nhịn đói: lợn không lấy được đồ trên cao. Người Việt nhấn
mạnh tầm quan trọng của bữa ăn đối với lợn như sau: Lợn đói một bữa bằng người đói cả
năm: nuôi lợn mà để lợn đói thì chóng sút cân...
Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, việc tạo dựng môi trường sống phù hợp và thuận lợi
cho vật nuôi là yếu tố cần thiết và không thể tùy tiện. Môi trường sống chủ yếu của lợn chính
là chuồng trại, vì lợn là gia súc chủ yếu được nuôi nhốt chứ không nuôi thả ra cánh đồng như
trâu/bò và ngựa. Có thể thấy, qua tục ngữ, việc xây dựng chuồng trại cho lợn được người Hàn
coi trọng và cũng cần chú ý đến yếu tố phong thủy như khi chúng ta xây nhà.
Theo kinh nghiệm của người Hàn, chuồng trại đảm bảo các tiêu chí sau là phù hợp và tốt
cho quá trình sinh trưởng, phát triển của lợn: 1) về vị trí và phương hướng:
chuồng lơn xây phía đông nhà thì tốt;
cửa chuồng hướng bắc lơn chóng lớn; 2) về thiết kế bên trong:
chuồng thông gió, lơn béo... Nếu muốn lợn đe một lứa nhiều con, đe
dày lứa, chuồng lợn cần có đặc điểm sau đây: 1) làm chung với chuồng gà:
xây chuồng lơn dưới chuồng gà thì lơn sinh sản tốt; 2) cửa
chuồng hướng đông nam:
chuồng xây
hướng đông nam thì lơn đẻ nhiều con; 3) có độ ẩm cao:
chuồng có độ ẩm cao thì lơn đẻ mắn. Chuồng lợn xây không có những điều kiện
như trên có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và năng suất sinh sản của lợn:
Việc chăn nuôi lợn không quá phức tạp và vất vả, tuy nhiên, không phải ai và cũng
không phải lúc nào lợn đều sinh trưởng tốt. Các thông tin về nguyên nhân khiến cho lợn chậm
lớn hoặc vỗ beo mãi vẫn gầy được chuyển tải trong ngữ liệu tục ngữ tiếng Hàn như sau: 1) vị trí
chuồng:
nếu xây chuồng sau nhà thì lơn
chậm lớn; 2) vật liệu xây chuồng:
làm chuồng bằng đá thì lơn chậm lớn;
nếu làm
71
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
chuồng bằng gỗ cây dẻ thì lơn gầy; 3) nuôi kết hợp với gia súc khác:
nếu nuôi lơn và trâu bò cùng một chuồng thì lơn béo,
trâu bò gầy... Hiệu quả kinh tế sẽ chịu nhiều thiệt hại khi lợn bị ốm bệnh. Tục ngữ tiếng Hàn cho
thấy, lợn sinh bệnh hoặc bị chết có thể vì các lí do sau: 1) chuồng có độ ẩm thấp:
chuồng lơn khô, lơn sẽ sinh bệnh; 2) sử dụng vật liệu xây dựng là đá:
bao quanh chuồng bằng đá, lơn sẽ mắc
bệnh; hoặc môi trường nuôi thả lợn có đá:
chăn thả lơn ơ nơi nhiều đá sẽ dễ bị chết... Ngoài ra, khi muốn tận dụng đất nền chuồng lợn cũ
vào mục đích xây dựng các công trình khác cần chú ý:
xây chuồng bò ơ chỗ chuồng lơn thì tốt (ý nói: có thể xây chuồng trâu/bò nhưng không
nên xây nhà trên nền chuồng lợn).
Lợn nái mang lại nguồn lợi kinh tế cao, vì nó cung cấp lợn giống cho chăn nuôi, phát
triển đàn lợn. Vì thế, việc chăm lợn khi sinh đe luôn được người Hàn chú trọng và họ đã truyền
lại nhiều kinh nghiệm quí báu trong tục ngữ. Theo đó, để lợn nái đe nhiều con, khi chăm lợn
nái nên thực hiện những việc sau: 1)
nếu cho lơn mẹ ăn thai lơn sẽ đẻ nhiều con; 2)
trước khi lấy giống lơn, rải rơm dính phân người vào chuồng,
lơn sẽ sinh nhiều con; 3)
khi lấy giống cho lơn cái, cho ăn cơm nắm sẽ sinh nhiều con. Để lợn mẹ dễ đe và sinh nở an toàn,
có thể làm theo các chỉ dẫn sau: 1)
khi
lơn đẻ, để chậu nước trước chuồng (mong dễ đe); 2)
khi lơn đẻ, để tro cây lên bàn sẽ thuận sản...
Bên cạnh đó, để lợn cái hết động đực, người Hàn có kinh nghiệm cho chúng ăn các thức
ăn sau: 1) kiều mạch:
đực, nếu cho ăn kiều mạch sẽ hết; 2)
khi lơn cái động
khi
lơn cái động đực, nếu cho ăn đỗ sẽ hết... Trong quá trình cho lơn giao phối, người Hàn khuyên:
khi lấy giống cho
lơn cái, nếu để rìu vào trong chuồng sẽ sinh nhiều lơn đực: chú ý không để rìu, vì lợn cái có giá trị
kinh tế cao hơn.
Vào thời điểm quan trọng khi lơn gần đến ngày sinh đẻ, người Hàn cho rằng:
tháng
sinh nơcủa lơn và bà chủ nhà giống nhau thì phải chuyển lơn sang nhà khác kẻo làm hại đến chủ...
Đặc biệt, người Hàn khuyến cáo cần giữ yên tĩnh khi lợn đe, cụ thể phải chú ý những điều sau:
1)
khi lơn đẻ, nếu thả lơn
khi
đực vào sẽ cắn chết lơn con; 2)
lơn đẻ, nếu trải rơm sẽ khó đẻ (phải trải rơm từ trước đó);
trong mười ngày đầu lơn sinh, nếu thay rơm trải nền
chuồng thì lơn con sẽ bị bệnh (vì thế, dù bẩn cũng không nên thay đổi ổ rơm); 3)
khi lơn đẻ, có nhiều người xem, lơn mẹ sẽ cắn
chết lơn con (nên hạn chế người tò mò đến xem).
Người Việt cho rằng, khi chăn nuôi thì nên kết hợp nuôi nhiều loại gia súc gia cầm,
không nên chỉ nuôi một loại: 1) Làm ruộng đừng bỏ rẫy, nuôi lợn chớ quên gà: giống như
người Hàn, có thể tận dụng không gian chuồng trại để cùng lúc nuôi cả gà và lợn; 2) Ai nuôi
72
Hoàng Thị Yến
chó một nhà, ai nuôi gà một sân: câu này có hai nghĩa: i) nên chăn nuôi kết hợp; ii) nuôi gà và
chó ở nông thôn không tránh khỏi sang nhà hay sang vườn nhà khác, vì thế, cần rộng lượng
thấu hiểu và thông cảm cho nhau...
4.2.2. Kinh nghiệm phòng chưa bệnh cho lơn
Trong chăn nuôi, nếu không cẩn thận, để xảy ra dịch bệnh sẽ khiến vật nuôi chết hàng
loạt, thiệt hại kinh tế khi đó sẽ không nhỏ. Để lợn không mắc bệnh hoặc mắc bệnh mau khỏi
và nhanh chóng hồi phục, trong tục ngữ, người Hàn truyền lại một số kinh nghiệm như sau:
1)
bệnh của lơn nếu dán giấy
có dấu nhà quan ơ chuồng lơn thì tốt; 2)
ngày lập xuân, viết dòng chư„nhiễu động đại cát“ dán ơchuồng, lơn sẽ không
bệnh và mau lớn; 3)
lơn ốm thì treo gậy gỗ bạch dương và gạo gói trong giấy trắng ơ chuồng lơn là khỏi;
4)
lơn ốm, lấy ngũ
cốc gói vào giấy treo trên trần chuồng lơn là khỏi... Ngoài các biện pháp mang màu sắc tâm linh
nêu trên, trong tục ngữ còn xuất hiện một vài cách chữa bệnh dân gian đơn giản mà hiệu quả
như sau: 1)
lơn bệnh làm giác hơi ngải cứu
trên trán sẽ khỏi; 2)
lơn ốm dùng châm
chích lấy máu ơ tai và đuôi là khỏi...
Có thể thấy, người Hàn chú ý nhiều đến việc tạo dựng môi trường sống với phong thủy
tốt, quan tâm đến việc chăm sóc lợn đe và phòng chữa bệnh cho lợn. Họ cũng kết hợp giữa
các phương pháp dân gian mang yếu tố tâm linh (dùng bùa...) với cách phòng chữa bệnh của
y học cổ truyền (châm cứu, giác hơi) để chữa bệnh cho lợn. Chúng tôi không phát hiện nội
dung tương ứng trong ngữ liệu tục ngữ (kể cả thành ngữ) tiếng Việt.
5. Kết luận
Qua góc nhìn của văn hóa nông nghiệp, có thể thấy ro những đặc điểm về hình thức và
đặc tính sinh học, giá trị kinh tế của con lợn cũng như kinh nghiệm chăn nuôi lợn của hai dân
tộc Hàn - Việt. Với hình thể và trọng lượng trung bình, thịt ngon, ăn tạp, đe mắn... lợn là loài
gia súc dễ nuôi và mang lại giá trị kinh tế cao, có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt
của con người. Hai dân tộc có nhiều điểm tương đồng trong quan niệm về giá trị kinh tế, kinh
nghiệm chọn giống và nuôi dưỡng, chăm sóc lợn. Một số ít những khác biệt thể hiện ở việc
người Hàn đặc biệt chú trọng đến chuồng trại, việc phòng và chữa bệnh trong khi người Việt
lại chú ý nhiều đến đặc tính, các món ăn và giá trị kinh tế của lợn. Điều này phản ảnh những
chung mang tính phổ quát và những net riêng mang tính đặc trưng trong cách nhìn thế giới
và quan niệm về giá trị cũng như ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp trong đời sống của hai
dân tộc Việt - Hàn.
Tài liệu tham khảo
Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào. (2008). Từ điển thành ngư và tục ngư Việt Nam.
Nxb Văn học.
Hoàng Thị Yến, Bùi Thị Thúy Nga. (2021). Hình ảnh so trong tục ngữ tiếng Hàn và con
trâu, con bò trong tục ngữ tiếng Việt (từ góc nhìn của văn hóa nông nghiệp). Tạp chí Ngôn ngư
và đời sống. số 1/2021. tr.96-105
73
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
Yến, H. T., Bình, L. T. H., & Yang-soo, B. (2020). Cultural components in Korean sokdam
using the lexical element of “dog” in comparison with Vietnamese and English
equivalents.
18(1), 55-107.
(1997).
.
Nguyễn Đức Dương. (2010). Từ điển tục ngư Việt. Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh.
Hoàng Văn Hành. (2003). Thành ngư học tiếng Việt. Hà Nội. Nxb Khoa học xã hội.
Lê Thị Hương. (2015). Thành ngư, tục ngư Hàn Quốc nói về động vật và thực vật (một vài
so sánh với Việt Nam). Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Lân. (2016). Từ điển thành ngư và tục ngư Việt Nam. Nxb Đà Nẵng.
Vũ Ngọc Phan. (2008). Tục ngư, ca dao, dân ca Việt Nam. Nxb Văn học.
Son Sun Yeong. (2015). So sánh biểu trưng của 12 con giáp trong tục ngư Việt Nam và Hàn
Quốc. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Hoàng Thị Yến, Nguyễn Thùy Dương. (2016). Nghiên cứu tục ngữ tiếng Hàn có yếu tố chỉ
con hổ. Tạp chí Hàn Quốc, 01(15), tr. 61-76.
Hoàng Thị Yến, Bae Yang Soo. (2019). Hình ảnh con chó trong tục ngữ tiếng Hàn (liên
hệ với tiếng Việt). Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam A, 3(29), tr 131-164. Hoàng Thị Yến, Bae Yang
Soo (2019).
Bạn đang xem tài liệu "Hình ảnh con lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt (từ góc nhìn văn hóa nông nghiệp)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hinh_anh_con_lon_trong_tuc_ngu_tieng_han_tieng_viet_tu_goc_n.pdf

