Hệ thống đề tài, chủ đề trong bộ phận văn chương chống thực dân của Nguyễn Đình Chiểu
HNUE JOURNAL OF SCIENCE
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0006
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 1, pp. 41-49
HỆ THỐNG ĐỀ TÀI, CHỦ ĐỀ TRONG BỘ PHẬN VĂN CHƯƠNG
CHỐNG THỰC DÂN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Hoàng Thị Cương
Khoa Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam, Học viện Khoa học Quân sự
Tóm tắt. Bài viết sử dụng phương pháp loại hình để khảo sát hệ thống đề tài, chủ đề trong
bộ phận văn chương chống chủ nghĩa thực dân của Nguyễn Đình Chiểu. Thơ văn chống
chủ nghĩa thực dân của Nguyễn Đình Chiểu vừa thể hiện các đặc điểm của văn chương nhà
nho chống chủ nghĩa thực dân nói chung, vừa mang những đặc điểm riêng in đậm dấu ấn cá
nhân và sắc thái vùng miền. Hệ thống chủ đề - đề tài trong sáng tác của Nguyễn Đình chiểu
xoay quanh mục tiêu “vệ đạo, bảo dân, trung quân, ái quốc”. Ông nhiệt tình bảo vệ Nho
giáo trước các tôn giáo khác, do sự hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin đã khiến ông
hiểu chưa đúng về bản chất của Thiên Chúa giáo. Đối với văn minh phương Tây, Nguyễn
Đình Chiểu giữ một thái độ ác cảm triệt để bởi ông nhìn nhận nó trong mối liên hệ với sự
xâm lược của thực dân; cũng giống như các nhà nho cùng thời, ông đã không đẩy nhận
thức của mình đi xa hơn để có thể nhìn ra tính hai mặt của chủ nghĩa thực dân.
Từ khóa: phương pháp loại hình, đề tài, chủ đề, văn học chống chủ nghĩa thực dân.
1. Mở đầu
Cho đến nay, những công trình nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu với tư cách như một đại
biểu có những đóng góp lớn lao vào bộ phận văn học chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế
quốc còn rất ít. Do đó, đây là một thách thức lớn đối với chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu
Nguyễn Đình Chiểu với tư cách là đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam trong bộ phận văn
học chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc của nhân loại. Tuy nhiên, trong quá trình
nghiên cứu này chúng tôi cũng thừa hưởng được nhiều những kết quả nghiên cứu quan trọng
của các thế hệ nhà nghiên cứu đi trước về tiểu sử, sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình
Chiểu trong tư cách một nhà ái quốc vĩ đại, từ đó có những cách nhìn nhận đa chiều hơn, sâu
hơn để làm nổi rõ vai trò của Nguyễn Đình Chiểu trong sự hình thành bộ phận văn học yêu
nước chống chủ nghĩa thực dân vào nửa sau thế kỉ XIX ở Việt Nam. Lịch sử nghiên cứu về
Nguyễn Đình Chiểu cho đến nay đã có một quá trình lâu dài, và quá trình đó đã được khảo sát
và đánh giá trong chuyên luận Lịch sử tiếp nhận Nguyễn Đình Chiểu do Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2017, bên cạnh đó là bài viết của chúng tôi Lịch sử nghiên cứu
Nguyễn Đình Chiểu nhìn lại và hướng đến [1].Trong quá trình nghiên cứu đó thì giai đoạn từ
sau 1975 đến nay là có nhiều thành tựu nhất so với các gia đoạn trước và giai đoạn này nổi bật
với các hướng tiếp cận như: văn học sử, văn bản học, thi pháp học và thể loại [xem thêm Hoàng
Thị Cương 2020, tr. 45]. Và theo quan sát của chúng tôi trong 10 năm trở lại đây hướng tiếp cận
Nguyễn Đình Chiểu từ góc nhìn văn hóa đã có những thành tựu đáng lưu ý với các nghiên cứu
của Trần Nho Thìn [2], Tạ Thị Thanh Huyền [3].
Ngày nhận bài: 2/10/2020. Ngày sửa bài: 29/10/2020. Ngày nhận đăng: 10/11/2020.
41
Hoàng Thị Cương
Theo sự khảo sát và bao quát trong khả năng của người viết thì cho đến hiện nay chưa có
công trình nào khảo sát trực diện về hệ thống chủ đề đề tài trong bộ phận văn chương chống chủ
nghĩa thực dân của Nguyễn Đình Chiểu và đó là lí do để chúng tôi tiến hành khảo sát và công
bố bài viết này. Đến giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, quan niệm của nhà nho Việt Nam về độc
lập, chủ quyền lãnh thổ đã có sự chuyển biến rõ nét ở 3 phương diện: độc lập dân tộc gắn liền
với toàn vẹn lãnh thổ; độc lập dân tộc gắn liền với tự cường dân tộc; độc lập dân tộc gắn liền
với độc lập về tư tưởng [4; 34].
Văn thơ của nhà nho giai đoạn này phản ánh rõ rệt và sâu sắc những vấn đề cấp bách nhức
nhối của thời đại và đất nước, những trăn trở của nhà nho trước vận mệnh dân tộc và sứ mệnh của
mình, những rạn nứt và giằng xé trong nhận thức và tư tưởng của những con người “hữu trách” ấy
trước sự đổi thay, sụp đổ của lí tưởng và thể chế mà họ hằng nghĩ rằng là bất di bất dịch.
2. Nội dung nghiên cứu
Theo Trần Ngọc Vương, “có thể tóm tắt những chủ đề cơ bản trong toàn bộ sáng tác của
Nguyễn Đình Chiểu theo hai tuyến chủ yếu, căn cứ vào hai thái độ cơ bản của ông, biểu hiện
một cách mạch lạc, mãnh liệt trong thơ văn ông - khẳng định và phủ định - là vệ đạo, bảo dân,
trung quân, ái quốc, và mặt bên kia là tất cả những gì chống lại những cái đó” [5; 316] và “tất
cả những chủ đề, đề tài mà Nguyễn Đình Chiểu thể hiện trong tác phẩm của mình là tiêu biểu, là
điển hình cho hệ thống chủ đề, đề tài của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX - cả trước khi Pháp
xâm lược lẫn sau đó […] Nhưng dòng chủ lưu của văn học thời kì này rõ ràng chảy trong sáng
tác của Nguyễn Đình Chiểu” [5; 324].
2.1. Bảo vệ Nho giáo trước Thiên Chúa giáo và các tôn giáo khác
Nếu như giai đoạn trước khi Pháp bắt đầu gây hấn ở cửa biển Đà Nẵng (1847), chủ đề tâm
đắc của Nguyễn Đình Chiểu là “thực hành Nho giáo” với sự ra đời của tác phẩm Lục Vân Tiên,
thì ở giai đoạn sau, mối quan tâm của nhà thơ lại là bảo vệ và khẳng định vị trí độc tôn của Nho
giáo trước mối đe dọa của Thiên Chúa giáo - và theo sau nó là chủ nghĩa thực dân. Tác phẩm
quan trọng nhất của chủ đề này chính là Dương Từ Hà Mậu.
Trong tác phẩm truyện Nôm dài 3456 câu thơ lục bát này, nhà thơ đã dành một dung lượng
khá lớn để mô tả, chất vấn và phê phán Thiên Chúa giáo. Bị mù từ khi còn rất trẻ, có lẽ những
hiểu biết của Nguyễn Đình Chiểu về Thiên Chúa giáo chỉ là qua những lời kể của người khác,
đặc biệt là những bạn bè trong giới nhà nho ở Nam Bộ. Chính vì vậy, sự hiểu của ông chỉ dừng
ở mức những lễ nghi thông thường hay những tín điều cơ bản nhất - dưới hình thức đã bị “tam
sao thất bản” - như chính ông mô tả qua lời của nhân vật Hà Mậu:
Chạnh lòng ta mới hỏi chàng
Xưa nay về đạo Hoa Lang thấy gì?
Mậu rằng: thấy bức tượng ghi,
Thấy cây thập ác, thấy kì đọc kinh.
Bảy ngày thấy bữa du minh,
Thấy nhà chung nhóm thấy hình cha tây.
Thường thường thấy phát bánh mì,
Thấy ban phước thánh thấy khi luận người.
Mậu rằng: lòng chẳng dám quên,
Một lời sau thác đặng lên thiên đàng.
Như vậy, trong hiểu biết của Nguyễn Đình Chiểu, người dân theo đạo sở dĩ bị mê hoặc là
bởi lời hứa hẹn về một chỗ trên thiên đàng sau khi họ chết đi. Chính từ sự hiểu như vậy, Nguyễn
Đình Chiểu đã quyết tâm dựng lên trong tác phẩm một thiên đàng khác hoàn toàn dựa trên cõi
42
Hệ thống đề tài, chủ đề trong bộ phận văn chương chống thực dân của Nguyễn Đình Chiểu
trời tưởng tượng của Đạo giáo với Ngọc Hoàng là vị chúa tể của cả chín tầng trời, vây quanh là
các đấng thần tiên, chỉ có hai nhân vật xuất thân người phàm và sau khi chết được phong thánh
là Khổng Tử và Quan Đế. Đó hoàn toàn không phải là thiên đường của đạo Gia-tô hay bất cứ
tôn giáo nào dụ hoặc con người ta bằng sự siêu thăng tới một chốn cực lạc sau khi chết: Đã
không thấy Phật từ bi/Cũng không thấy Chúa Du Di trên trời. Bên cạnh đó, từ góc nhìn Nho gia,
ông cũng đặt ra những chất vấn xoáy vào những điểm mà ông cho là phi lí của đạo Thiên Chúa:
Đã kêu rằng Đức Chúa trời,
Trời sao nỡ để các nơi tranh giành?
[…]
Chúa trời đã có đức hay,
Sao giăng thập ác chân tay đinh xiềng?
Chúa bà đã có đức hiền,
Sao đầu đội máu đít liền ngồi chông?
Không phải là ông phủ nhận sự tồn tại của đạo Thiên Chúa, mà cốt để nói rằng đó là thứ
đạo ngoại lai, xa lạ, phi lí và không phù hợp với xứ sở này. Nhưng, chưa dừng lại ở đó, Nguyễn
Đình Chiểu tiếp tục đẩy vấn đề đi xa hơn nữa nhằm tăng sức thuyết phục cho quan điểm của
mình về tôn giáo này bằng cách tưởng tượng ra những sự trừng phạt ghê rợn đối với kẻ theo
ngoại đạo ở thế giới âm phủ:
Cao tằng tổ khảo các hồn,
Bị con thiên cẩu đều chôn vào lòng.
Sau khi đã bác bỏ “thuyết thiên đường” của “đạo Trời” khiến lòng người bị mê hoặc, ông
khẳng định rằng chỉ “Đạo Nho là đạo trời cho” mà thôi, và khuyên người dân: Một lòng giữ mối
đạo hằng/Trau lời thánh giáo cầm dằn nhân luân. Và, có lẽ để hướng tới đối tượng độc giả đại
chúng vốn không thể hiểu những điều cao siêu, sách vở, ông giải thích về “đạo Nho” bằng
những hình ảnh, những vấn đề gần gũi với đời sống bình dân:
Đạo trời nào phải có đâu xa
Gội tấm lòng người há thấy ra.
Theo nghĩa ai đành làm phản nước,
Có nhân đâu nỡ phụ tình nhà.
Xưa nay đời chuộng đường trung hiếu,
Sách vở còn ghi lẽ chính tà.
Theo nhà thơ, thờ kính tổ tiên, thảo cha ngay chúa, giữ gìn nhân luân, không phản bội
mảnh đất đã sinh ra mình và cho mình cơm áo, đạo ấy mới thiết thực mà ai cũng nên thực hiện
và có thể thực hiện. Còn những kẻ “sống ở nước trung” mà “theo đạo nước ngoại” thì không thể
gọi là “có đạo”. Những kẻ đó “đừng mong khi chết đặng lên thiên đàng” theo lời mị hoặc của
đạo Gia-tô mà thực ra chỗ chờ sẵn lại là địa ngục với những hình phạt đáng sợ. Cách hình dung,
lí giải, phủ định của Nguyễn Đình Chiểu đối với Thiên Chúa giáo tuy khá ngây thơ và có nhiều
sai lạc so với hiểu biết của chúng ta ngày nay, nhưng cũng cần lưu ý rằng, trong hoàn cảnh đất
nước lúc bấy giờ, khả năng tiếp cận thông tin về những đối tượng ngoại lai của nhà nho là rất
hạn chế, thêm vào đó, tư tưởng kì thị “Hoa - Di” thâm căn cố đế đã ngăn cản họ tìm hiểu những
đối tượng này với tinh thần khoa học. Chính vì cách hiểu không đúng về bản chất cốt lõi của
Thiên Chúa giáo và lí do thực sự khiến đạo này chiêu mộ được tín đồ ngay trên đất của mình,
đồng thời mặc nhiên xem các chuẩn mực đạo đức của Nho giáo là lí tưởng không có gì phải bàn
cãi mà chỉ việc thực hành theo, những nhà nho như Nguyễn Đình Chiểu phản ứng và bài xích kịch
liệt thứ “tả đạo” này, đặc biệt là trong phong trào kháng chiến ở Nam Bộ và phong trào Cần
Vương, nhưng có vẻ như thiếu thuyết phục và ít hiệu quả. Sự thiếu hiểu biết về tôn giáo này cũng
43
Hoàng Thị Cương
như về phương Tây nói chung có cội nguồn sâu xa từ chính sách đối ngoại của triều Nguyễn từ
khi lập quốc, đó là chính sách “không phương Tây” như Đinh Thị Dung chỉ ra [6; 178].
2.2. Nhận thức và thái độ đối với văn minh phương Tây
Đối với văn minh phương Tây, Nguyễn Đình Chiểu cũng giữ một thái độ phủ nhận triệt để
như phần nhiều giới nhà nho. Điều đáng chú ý là ông nhìn nhận nó trong mối liên hệ chặt chẽ
với đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân: Dương di ở nước phía Tây/Ham đường giàu có
chuộng bề khéo khôn. Dùng câu cơ trá đa môn/Dùng muôn việc cũng máy khôn đua làm. Bốn
câu thơ trên phản ánh quan niệm của nhà nho: con người phải thuận theo mệnh trời, theo sự sắp
đặt của trời chứ không được phép cố gắng làm những việc mà chỉ có trời mới có quyền hạn.
Chính vì cho rằng người phương Tây đã làm trái ý trời, có ý định “vượt phận”, nên trời mới
giáng tai họa:
Lòng trời ghét thói gian tham,
Sai con thiên cẩu xuống phàm làm ương.
Liền năm theo nước Tây dương,
Ăn hồn cái lũ bội thường nghịch thiên.
Như vậy, theo giải thích của ông, “đạo Hoa Lang” nảy sinh từ tai họa mà nguồn cơn là do
con người đã “xúc phạm” tới trời. Sự phụng thờ ấy được Nguyễn Đình Chiểu hình dung dưới
dạng hình thức “cúng tế” mang màu sắc nguyên thủy: Một năm cho nộp một lần/Trăm năm hồn
hóa làm phần nhương tai. Và theo sự hình dung tưởng tượng của ông, đó chính là động cơ
khiến cho các nước phương Tây đi xâm lược thuộc địa là để “bắt hồn” của người dân các nước
bị xâm lược:
Vua Tây lo sợ lâu dài,
Hồn đâu cho đủ nộp hoài liền năm.
Cùng nhau toan chước lo thầm.
Khiến người các nước đều lầm nghe va.
Đặt lên làm chức nhà cha,
Cho đi dạy đạo gần xa phỉnh người.
Mặc dù cách hiểu về động cơ xâm lược thuộc địa cũng như mối liên hệ giữa đạo Thiên
Chúa và quân đội viễn chinh ở Nguyễn Đình Chiểu là hạn chế và sai lạc như vậy, nhưng điều
đáng chú ý là ý thức cảnh giác của ông về nguy cơ mất nước khi các lực lượng đó cấu kết ngoại
công - nội ứng: Dân người về đạo Tây rồi/Nước người Tây lấy mấy hồi nhọc lo. Lí lẽ để ông
chống lại kẻ xâm lược là: đất nào cũng có chủ, đã phân định rõ ràng từ xưa, không kẻ nào được
phép mưu toan làm trái lại điều đó: Xưa nay trong cuộc giang san/Vật còn có chủ ai toan chia
giành? Những lập luận này của Nguyễn Đình Chiểu gợi nhắc tới những câu thơ, câu văn hùng hồn
khẳng định chủ quyền đất nước của Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi hay Quang Trung thuở trước.
Đồng thời, với những người dân “u mê”, ông cũng răn dạy nhằm giúp họ tỉnh ngộ bằng
những đạo lí căn bản của người Việt: Cớ sao phận ở nước trung/Lòng theo nước ngoại còn
mong đạo gì? Nếu như thái độ “bài ngoại” ở phần trên xuất phát từ tầm nhìn đối với đại cục của
một nhà nho thì, từ góc độ cá nhân, ông công khai bày tỏ mối ác cảm với những kẻ ngoại nhân
bằng những lời lẽ miệt thị: ông gọi người phương Tây - mà cụ thể quân đội viễn chinh - là
“bạch quỷ”, thậm chí là các loài động vật dê, cừu hôi tanh:
Ôi! Trời buông nàn quỷ trắng mấy năm.
(Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh)
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm.
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
44
Hệ thống đề tài, chủ đề trong bộ phận văn chương chống thực dân của Nguyễn Đình Chiểu
Giống như rất nhiều các nhà nho khác, sự căm ghét đã khiến ông “quỷ hóa”, “động vật
hóa” những kẻ xâm lược. Ông căm ghét những dấu hiệu của văn minh phương tây, nhất là
những thứ đại diện cho sức mạnh quân sự của kẻ xâm lược: Bữa thấy bòng bong che trắng lốp,
muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ (Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc).Những nội dung trên của tác phẩm này đã cho thấy: “Nguyễn Đình Chiểu đã in đậm dấu
ấn Nam Bộ trong các tác phẩm với việc sử dụng các từ ngữ mang tính phương ngữ Nam Bộ và
làm toát lên được tính khí khái, thẳng thắng, yêu ghét phân minh, hào hiệp phóng khoáng.(…).
Nguyễn Đình Chiểu với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc… có thể được coi là một nhà văn thành
công bậc nhất ở thể loại này” [7; 43].
Ông kêu gọi người dân hãy tẩy chay mọi thứ liên quan đến người phương Tây, kể cả những
vật dụng hay món ăn: Sống làm chi ở lính Mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì thấy càng thêm hổ
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Bản thân ông, vốn là nhà nho theo quan điểm “tri hành hợp nhất”,
cũng hành động triệt để theo thái độ này: không dùng xà phòng của Tây, không đi đường Tây
làm, không cho con học chữ quốc ngữ (tức chữ phiên âm tiếng Việt theo bảng chữ cái La-tinh).
Tuy nhiên, đối với kẻ thù mà sự hiểu biết của ông còn quá hạn chế này, như Trần Ngọc Vương
nhận định, ông “cũng như toàn bộ đẳng cấp mình […] dừng lại ở sự bi quan và tâm lí thất bại
chủ nghĩa, thừa nhận một cách uất ức ưu thế lâm thời về trí xảo của chủ nghĩa thực dân, mà
không đẩy nhận thức của mình đi xa hơn, để nhìn ra tính hai mặt của chủ nghĩa thực dân […]
tên kẻ cướp mang trong mình nó sức mạnh của nền văn minh phát triển cao hơn, chênh lệch hẳn
với dân ta bị xâm lược một hình thái kinh tế xã hội” [5; 323-324].
2.3. Nỗi đau xót trước tình cảnh quê hương đất nước và thái độ chống thực dân
xâm lược tới cùng
Khi chiến cuộc bùng nổ ở Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu là một trong những sĩ phu hăng
hái và nhập cuộc nhanh chóng nhất để góp những tiếng nói tố cáo, đả kích những kẻ xâm lược
và cổ vũ, ngợi ca tinh thần “xả sinh thủ nghĩa” của những con người kháng chiến. Dưới ngòi bút
của ông, những diễn biến nóng hổi của tình hình cuộc chiến giữa quân xâm lược và các lực
lượng kháng chiến tại Nam Bộ được cập nhật liên tục: từ sự kiện đầu tiên khi Pháp nổ súng tấn
công Sài Gòn - Gia Định cho đến cuộc tấn công cảm tử của những nghĩa binh nông dân Cần
Giuộc, cuộc kháng chiến và sự hy sinh của Trương Định, sự hy sinh vì nghĩa của Phan Tòng, sự
kiện mất ba tỉnh rồi sáu tỉnh Nam Kỳ, phong trào “tị địa” và tình cảnh “dưa chia khăn xé” ở
Nam Bộ, việc Phan Thanh Giản tự vẫn sau khi giao thành cho quân Pháp.Nhà thơ bàng hoàng,
xót xa trước cảnh quê hương yên bình, trù phú bỗng dưng trở thành chiến địa tan hoang: Tan
chợ vừa nghe tiếng súng Tây/Một bàn cờ thế phút sa tay.
Với các phong trào kháng chiến ở Nam Bộ được Nguyễn Đình Chiểu nhiệt thành cổ vũ.
Ông ngợi ca những người lãnh đạo của các phong trào kháng chiến này là những đấng anh
hùng. Ông đặc biệt kính trọng và mến phục Trương Định. Nhưng hành động “kiểu chiếu đánh
Tây” của Trương Định không khỏi khiến ông băn khoăn, bởi dẫu sao nó cũng trái với quan niệm
“trung quân” truyền thống mà một nhà nho như Nguyễn Đình Chiểu đã thấm nhuần. Tuy nhiên,
trong mắt ông, với hoàn cảnh thực tế của Nam Bộ, tính chất chính nghĩa của phong trào đó có
thể xem như một lí do đúng đắn đủ để kháng lệnh triều đình khi mệnh lệnh đó đi ngược lại với
lợi ích chung của cả vùng đất. Chính vì lẽ đó mà Nguyễn Đình Chiểu viện dẫn cả quyền của
tướng ngoài biên ải lẫn chuyện “lòng chúng chẳng nghe Thiên tử chiếu” để biện hộ cho hành
động “nghịch đạo” của Trương Định. Ông ca ngợi Trương Định như “ngôi sao Võ Khúc” giáng
thế để thực hiện sứ mệnh cứu đời và xứng đáng có một vị trí trên “tấm bảng phong thần” sau
khi hy sinh vì nghĩa. Điều đáng chú ý là những cuộc nổi dậy tự phát tấn công quân Pháp của
người nông dân Nam Bộ để bảo vệ đất đai quê hương, xứ sở cũng được nhà thơ quan tâm sâu
sắc và, chính với đối tượng này, ông đã có những tác phẩm để đời. Chỉ một bài “Văn tế nghĩa sĩ
Cần Giuộc” của ông cũng đủ thổi bùng tinh thần kháng chiến và vì thế, được triều đình chỉ thị
45
Hoàng Thị Cương
cho lan truyền đi khắp nơi. Trong tác phẩm này, “hướng tiếp cận nhân dân với tư cách những
con người bình thường” [5; 320] và việc ông đã “phát hiện ra những phẩm chất cao cả mà trong
văn học trước đây chỉ được phát lộ ở những trang, những đấng, những bậc” để đưa họ trở thành
một trong những nhân vật trung tâm của sáng tác [5; 320]. Tuy vậy, do sự chi phối của góc nhìn
của nhà nho, ông đã “mang những giá trị tinh thần cao quý theo cách nhìn nhận của ông để lí
giải sự hy sinh của họ”. Ông gán cho họ ý thức: “ở đất vua sống chẳng quên ơn”, “đền nợ nước
thác coi như ngủ”, “tấc đất ngọn rau ơn chúa”, “nhớ phận áo cơm đất nước”, vốn là ý thức
của kẻ sĩ, của những người ăn lộc vua, chứ không phải là của đại đa số dân chúng. Ông coi
những cuộc đột kích như vậy là “trận nghĩa gửi binh tình” của người dân ở vùng đất biên viễn
đang trong cơn nước lửa hướng tới chốn kinh đô.
Tuy nhiên, dù cảm phục và ngợi ca những người kháng chiến đã “xả thân thủ nghĩa”, nhất
là những lãnh tụ nghĩa binh như Trương Định, Phan Tòng, như những người anh hùng, nhưng
thực tế thất bại liên tiếp của phong trào kháng chiến đã khiến ông không thể không ngậm ngùi
cảm thán: Nghĩ nỗi anh hùng nạn nước, bãi khô lâu nào mấy kẻ khóc than; tưởng câu danh lợi
tuồng đời, trường khổi lỗi mặc dầu ai náo nức (Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh).
Khi ba tỉnh, rồi sáu tỉnh đều rơi vào tay quân Pháp và chế độ mới bắt đầu được thiết lập,
ông bày tỏ nỗi niềm cay đắng của một nhà nho khi phải chứng kiến hệ giá trị mà ông đã dành
cả cuộc đời để bảo vệ bị gạt bỏ, chà đạp: Hạ Thương đường cũ gai bò lấp/Văn Vũ nền xưa lúa
trổ đầy.
Tuy nhiên, với quan điểm phân biệt rạch ròi “chính-tà”, “Hoa-Di”, Nguyễn Đình Chiểu và
nhiều văn thân sĩ phu và người dân Nam Bộ đã bày tỏ thái độ bất hợp tác triệt để với kẻ xâm
lược bằng phong trào “tị địa”: Vì câu danh nghĩa phải ra đi/Day mũi thuyền nan dạ xót xa.
2.4. Thái độ với triều đình và những kẻ hợp tác với Pháp
Từ khi Pháp nổ súng xâm lược, đối với vua và triều đình, thái độ của Nguyễn Đình Chiểu
có một sự chuyển biến đáng kể, tuy không đến mức phủ định và quay lưng hoàn toàn. Thời kì
đầu, tư tưởng trung quân vẫn là tư tưởng chủ đạo: Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ rành
rành, một chữ ấm đủ đền ơn đó (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ngay cả khi tham gia phong trào
“tị địa”, ông cũng xem hành động đó như là một biểu hiện của tấm lòng trung quân: Người dễ
muốn chi nương đất khách/Trời đà khiến vậy mến vua ta (Biệt cố nhơn).
Tuy nhiên, thực tế diễn ra ở Nam Bộ kể từ sau khi triều đình ký hòa ước nhượng đất và chỉ
thị cho những người tham gia phong trào kháng chiến buông vũ khí đã khiến Nguyễn Đình
Chiểu dần có nhận thức khác. Ông ví Nam Kỳ lục tỉnh với U, Yên - hai mảnh đất đã bị nước
Tống thua trận cắt cho nước Liêu, và ví vị vua đã để xảy ra việc cắt đất đó như Thạch Tấn -
người chịu trách nhiệm cho việc để mất U, Yên. Ông tiếp tục ủng hộ phong trào kháng chiến
của Trương Định, tìm cách biện hộ cho hành động “kiểu chiếu” của vị lãnh binh và liên tục
dùng khái niệm “trung nghĩa” thay vì “trung quân” đối với người anh hùng. Ông ca ngợi Phan
Tòng - một thầy giáo làng mộ quân để hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm -
là “ông hữu đạo” mà người dân nên theo vào thời buổi Nam Bộ đã không còn có vua và cương
thường đảo lộn: Xe ngựa lao xao giữa cõi trần/Biết ai thiên tử, biết ai thần (Tự thuật I). Trong
quan niệm của ông, khi vua bỏ rơi trách nhiệm chở che, bảo vệ thần dân thì nghĩa vụ trung với
vua của thần dân cũng không còn là bắt buộc. Như vậy, “trung quân” ở Nguyễn Đình Chiểu chỉ
là “tương đối”, “ái quốc” mới là “tuyệt đối” [5; 321].
Cách nhìn nhận của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phan Thanh Giản không quá khắt khe như
nhiều nhà nho khác cùng thời. Là một nhà nho Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu hiểu và ngưỡng
mộ nhân cách của Phan Thanh Giản. Tuy ông không tán thành chủ trương “hòa” với Pháp mà
Phan Thanh Giản đại diện, cũng như hiểu rõ vị đại thần này là người phải trực tiếp chịu trách
nhiệm về việc giao thành cho quân Pháp, nhưng đối với nhân cách của con người có số phận bi
46
Hệ thống đề tài, chủ đề trong bộ phận văn chương chống thực dân của Nguyễn Đình Chiểu
kịch ấy, ông vẫn kính trọng, và trước cái chết của Phan Thanh Giản, ông vẫn bày tỏ lòng thương
tiếc, ngậm ngùi. Còn Nguyễn Đình Chiểu viết thơ điếu ông:
Lịch sĩ tam triều độc khiết thân,
Vi công thùy tán nhất phương dân.
Long hồ uổng phụ thư sinh lão,
Phụng các không vi học sĩ thần.
Bỉnh tiết tần lao sinh Phú Bật,
Tận trung hà hận rủ Trương Tuần.
Hữu thiên Lục tỉnh tồn vong sự,
Nam đắc thung dung tựu nghĩa thần.
(Điếu Phan Thanh Giản).
Nguyễn Đình Chiểu biết rõ Phan Thanh Giản là một bậc tôi trung, một vị quan thanh liêm
và mẫn cán, một lòng vì nước vì dân, ví ông như Trương Tuần, Phú Bật. Sự còn mất của Nam
Kỳ không phải chỉ do mình ông mà quyết được. Chính vì vậy, Nguyễn Đình Chiểu vẫn cho rằng
linh hồn của ông xứng đáng “tựu nghĩa” cùng như con người đã hy sinh vì nghĩa cả khác. Tuy
nhiên, đánh giá của Nguyễn Đình Chiểu giữa Phan Thanh Giản với các lãnh tụ nghĩa binh như
Trương Định cũng có sự phân biệt thấy rõ. Ông dành riêng cho Trương Định một bài văn tế, 12
bài thơ điếu, cho Phan Tòng 10 bài thơ điếu. Còn với Phan Thanh Giản, ông chỉ dành cho hai
bài thơ điếu - một Hán một Nôm - và một câu văn trong bài “Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục
tỉnh”. Như vậy có thể thấy Nguyễn Đình Chiểu xem tinh thần chiến đấu tới cùng, “xả sinh thủ
nghĩa” của những người kháng chiến mới là lí tưởng.
Ông cũng có những bài, những câu đả kích đám người hợp tác và làm tay sai cho giặc để
cầu danh lợi, nhất là những thành phần thuộc giới sĩ phu: Muôn một cũng liều thân với nước/Cớ
sao mà chịu ấn nương nương? (Vương Lăng biếm Trần Bình). Với những kẻ đó, thủ pháp “vật
hóa” quen thuộc của Nguyễn Đình Chiểu là: Lũ kiến bất tài đòi chỗ bợ/Đấu bèo vô dụng kết bè
trôi. Ông thậm chí viết riêng một bài “Hịch đánh chuột” kêu gọi tấn công những kẻ như vậy.
Ông gọi chúng là “loài vô lễ vô nghi”, “trộm dầu bàn Phật”, “cắn sách kẻ nho”, “đành lòng mà
phá đạo”.
2.5. Lựa chọn ở ẩn và bất hợp tác với chính quyền thực dân
Khi toàn bộ Nam Kỳ đã rơi vào tay Pháp, ngay cả phong trào “tị địa” cũng không còn ý
nghĩa gì, Nguyễn Đình Chiểu lại viết Ngư Tiều vấn đáp y thuật Nho y diễn ca để nêu gương cho
giới sĩ phu về cách ứng xử của “kẻ có đạo sống trong đời loạn”: Xưa nay lẽ có thịnh suy/Gặp
sao chịu vậy hỏi chi sự đời.
Khi mọi nỗ lực hành động vì nghĩa đã thất bại, ông khuyên họ hãy biết bảo toàn sinh mệnh
và tiết tháo: Nhớ câu quân tử cố cùng/Đèn trăng quạt gió non sông phận đành.
Đồng thời giữ vững đạo cương thường - “trân bửu” của Nho gia - trong thời buổi đảo điên:
Nhà năm ba gánh cương thường,
Phần ai nấy giữ trọn giường thời thôi.
Đây cũng con đường “rút lui” truyền thống của nhà nho khi gặp hoàn cảnh không thuận lợi
cho việc hành đạo.
Mô hình ứng ứng xử mà ông cổ xúy mạnh mẽ trong giai đoạn này là mô hình ứng xử của
các “ẩn sĩ” đời xưa: Êm lòng Sào, Hứa chơi khe biếc/Mát mặt Di, Tề ngó núi xanh. Cực đoan
hơn nữa, Nguyễn Đình Chiểu còn sáng tạo ra hình ảnh một nhân vật Kỳ Nhân Sư tự xông mù
mắt mình để bày tỏ thái độ bất hợp tác triệt để và phủ nhận hoàn toàn những gì đang diễn ra
trong xã hội mới: Sự đời thà khuất đôi tròng thịt.
47
Hoàng Thị Cương
Nhưng điểm khác biệt có lẽ chỉ có ở nhân vật ẩn sĩ của Nguyễn Đình Chiểu, đó là lí tưởng
và hành động “cứu đời” không hoàn toàn bị từ bỏ mà chỉ chuyển sang hình thức khác: không
thể “kinh bang tế thế” thì nhà nho đem một phẩn vốn tri thức của mình ra giúp những người dân
trong cảnh khốn khó. Như vậy, ẩn sĩ của Nguyễn Đình Chiểu không hề quay lưng lại với đời mà
chỉ quay lưng với thực thể thống trị “vô đạo”.
3. Kết luận
Hệ thống chủ đề đề tài xuyên suốt trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là vệ đạo
bảo dân trung quân ái quốc. Đó cũng là hệ thống chủ đề đề tài tiêu biểu của văn học Việt Nam
cuối thế kỉ 19 cả trước và sau khi Pháp xâm lược Việt Nam.Trong bài viết này chúng tôi tập
trung khảo sát các nội dung như: bảo vệ Nho giáo trước các tôn giáo khác, đặc biệt là Thiên
Chúa giáo, nhận thức và thái độ đối với văn minh phương Tây, quan điểm chống thực dân xâm
lược tới cùng, thái độ với triều đình và những kẻ hợp tác, làm tay sai cho Pháp, xót xa trước
cảnh nước mất nhà tan và tiếc nuối, hoài vọng “nước cũ”, “ngôi cũ”, lựa chọn ở ẩn để bảo toàn
tiết tháo và làm thuốc cứu người.
Thơ văn chống chủ nghĩa thực dân của Nguyễn Đình Chiểu vừa thể hiện các đặc điểm của
văn chương nhà nho chống chủ nghĩa thực dân nói chung, vừa mang những đặc điểm riêng in
đậm dấu ấn cá nhân và sắc thái vùng miền. Hệ thống chủ đề - đề tài trong sáng tác của Nguyễn
Đình chiểu xoay quanh mục tiêu “vệ đạo, bảo dân, trung quân, ái quốc”. Ông nhiệt tình bảo vệ
Nho giáo trước các tôn giáo khác, đặc biệt là Thiên Chúa giáo, mặc sự do sự hạn chế về khả
năng tiếp cận thông tin đã khiến ông hiểu chưa đúng về bản chất của Thiên chúa giáo. Đối với
văn minh phương Tây, Nguyễn Đình Chiểu giữ một thái độ ác cảm triệt để bởi ông nhìn nhận
nó trong mối liên hệ với sự xâm lược của thực dân. Cũng giống như các nhà nho cùng thời,
ông đã không đẩy nhận thức của mình đi xa hơn để có thể nhìn ra tính hai mặt của chủ nghĩa
thực dân. Ông là một trong những nhà nho tiên phong cổ vũ phong trào kháng chiến. Khi
phong trào thất bại, triều đình buộc phải nhượng Nam Kỳ cho Pháp, ông đã tổ chức phong
trào “tị địa” để bày tỏ thái độ bất hợp tác với kẻ xâm lược. Các sáng tác cuối đời của ông, đặc
biệt là tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp, phản ánh cách ứng xử truyền thống của Nho gia
thời buổi đạo cùng: ở ẩn để bảo toàn tiết tháo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hoàng Thị Cương, 2020. “Lịch sử nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu- nhìn lại và hướng
đến”. Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, số (2), tr.43-50.
[2] Trần Nho Thìn (2012), Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam, Hà Nội.
[3] Tạ Thị Thanh Huyền, 2019. Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ. Luận
án tiến sĩ Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội.
[4] Phan Thị Thu Hằng, 2019. “Quan niệm của nhà nho Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX về độc
lập, chủ quyền lãnh thổ”. Tạp chí Triết học, Viện Triết học, số (12), tr.34-42.
[5] Trần Ngọc Vương, 2018. Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung. tái bản, Nxb
Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
[6] Đinh Thị Dung, 2019.Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX. Nxb Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
[7] Dương Tuấn Anh, 2020. “Nghệ thuật biền văn trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Tạp chí
Nghiên cứu Văn học, số (2), tr.32-43.
48
Hệ thống đề tài, chủ đề trong bộ phận văn chương chống thực dân của Nguyễn Đình Chiểu
ABSTRACT
System of topics and themes in Nguyen Dinh Chieu’s anti-colonial literary style
Hoang Thi Cuong
Faculty of Vietnamese and Culture Vietnam, Military Sience Academy
This paper uses typology methodology to examine the system of topics and themes in anti-
colonial works written by Nguyen Dinh Chieu. Thepaper contends that in general Chieu’s anti-
colonial prose and versepresent styles of Confucian scholars struggling against colonialism; and
in particular, they bear the characteristics identifyingindividual Nguyen Dinh Chieu as well as
the distinct features ofregional South Vietnam. The system of topics and themes in Nguyen
Dinh Chieu’s literary works are centered on the very purpose of “observingethics, protecting
people, showing loyalty to King and love to country”. Chieu enthusiastically defended
Confucianism against other religions. He failed to well understand the nature of Christianity as a
reason of limited access to information. The author had adeep-seated aversion to Western
civilization for he recognized it in a connection with the invasion of colonials. Like other
Confucianscholars of his time, Chieu unsuccessfully pushed his perception further so that he
could notice the duality of colonialism.
Keywords: Typology methodology, topics, themes, anti-colonial literature.
49
Bạn đang xem tài liệu "Hệ thống đề tài, chủ đề trong bộ phận văn chương chống thực dân của Nguyễn Đình Chiểu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
he_thong_de_tai_chu_de_trong_bo_phan_van_chuong_chong_thuc_d.pdf

