Lợi ích cảm nhận của thương mại di động đối với khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tiếp cận với khái niệm đa chiều

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 42, 2019  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƯƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG  
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
BÙI THÀNH KHOA1, NGUYỄN MINH TUẤN1  
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
Tóm tắt. Số lƣợng ngƣời dùng các thiết bị di động ngày càng tăng, cùng với sự phát triển của công nghệ  
mạng không dây đã tạo ra sự bùng nổ thƣơng mại di động di động từ năm 2015 tại Việt Nam nói chung  
và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Mặc dù là một loại hình nhiều tiềm năng, nhƣng mức độ phát triển  
của các doanh nghiệp kinh doanh qua thiết bị di động đang có xu hƣớng giảm trong những năm gần đây,  
và khách hàng cũng kém hào hứng với hình thức giao dịch này. Do đó, doanh nghiệp phải cung cấp nhiều  
lợi ích cho khách hàng để thu hút khách hàng mới, cũng nhƣ giữ chân khách hàng cũ. Nghiên cứu nhằm  
khám phá và đánh giá những lợi ích cảm nhận của thƣơng mại di động mang đến cho khách hàng tại thị  
trƣờng trực tuyến Việt Nam, cụ thể tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu định tính và định  
lƣợng đã chỉ ra bốn lợi ích chính của thƣơng mại di động đối với khách hàng bao gồm sự thuận tiện, sự  
lựa chọn, mua sắm tiêu khiển, và tính dễ truy cập. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất các hàm ý quản trị  
cho các doanh nghiệp kinh doanh thông qua các ứng dụng trên thiết bị di động.  
Từ khóa. Lợi ích cảm nhận, Sự thuận tiện, Sự lựa chọn, Mua sắm tiêu khiển, Tính dễ truy cập, Thƣơng  
mại di động  
PERCEIVED BENEFIT OF MOBILE COMMERCE TO THE CUSTOMERS IN  
HO CHI MINH CITY: THE MULTI-DIMENSION CONCEPT APPROACH  
Abstract. The increase in the number of mobile device users, along with the development of wireless  
network technology, that have created a boom in mobile commerce since 2015 in Vietnam in general, and  
in Ho Chi Minh City in particular. Despite being a potential transaction type, the growth of mobile  
commerce has been declining in recent years, and customers are less interested in this type of transaction.  
Therefore, the businesses have to provide many benefits to the customers to not only attract the new  
customer, but retain the existing customers. The study explores and assesses the perceived benefits of  
mobile commerce toward the customers in the Vietnamese market generally, and Ho Chi Minh City  
particularly. The results of qualitative and quantitative research have shown four main benefits of mobile  
commerce, including convenience, selection, hedonic shopping, and ease of access. At the same time, the  
research proposes implications for businesses that are trading through applications in mobile devices.  
Key word. Perceived Benefit, Convenience, Selection, Hedonic shopping, Ease of access, Mobile  
commerce  
1. GIỚI THIỆU  
Thƣơng mại di động đề cập đến việc tiến hành các hoạt động giao dịch trực tuyến bằng cách sử dụng các  
thiết bị di động và mạng không dây [50, 68]. Các hoạt động của thƣơng mại di động bao gồm doanh  
nghiệp đến ngƣời tiêu dùng (B2C), doanh nghiệp đến doanh nghiệp (B2B), chính phủ di động, trao đổi  
thông tin, và giao dịch chuyển tiền. Thƣơng mại di động là một giao dịch điện tử đƣợc thực hiện bằng  
cách sử dụng các thiết bị di động thông qua Internet, mạng nội bộ của công ty, đƣờng truyền riêng, hoặc  
các mạng không dây khác để thực hiện giao dịch [72].  
Theo báo cáo của Cục Thƣơng mại điện tử và kinh tế số (2018), 85% khách hàng tìm kiếm thông tin qua  
thiết bị di động (máy tính bảng và điện thoại thông minh) khi có nhu cầu mua sắm trực tuyến [12]. Trong  
các phƣơng tiện điện tử thƣờng đƣợc sử dụng khi đặt hàng trực tuyến, 75% khách hàng sử dụng điện  
thoại di động và 13% khách hàng sử dụng máy tính bảng; 41% giao dịch trực tuyến đƣợc thực hiện qua  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
39  
ứng dụng di động [12]. Năm 2015 đánh dấu sự bùng nổ mạnh mẽ của xu hƣớng thƣơng mại di động. Cùng  
với sự phát triển của hạ tầng di động, các doanh nghiệp đã đầu tƣ nhiều hơn vào hoạt động kinh doanh trên  
nền tảng mới này, từ việc nâng cấp website tƣơng thích với thiết bị di động đến việc phát triển các ứng dụng  
di động (mobile apps). Mặc dù là một loại hình nhiều tiềm năng, xu hƣớng này đang có dấu hiệu chững lại  
v2 đi xuống ở năm gần đây với tỉ lệ các website có phiên bản di động giảm từ 26% năm 2015 xuống còn  
19% ở năm 2016 và 17% ở năm 2017 [24]. Tƣơng tự website phiên bản di động, tỉ lệ doanh nghiệp có ứng  
dụng bán hàng trên thiết bị di động năm 2017 cũng là 15% và bằng với năm 2016, giảm so với năm 2015 là  
18% [24]. Nhiều doanh nghiệp chƣa thực sự thấy đƣợc hiệu quả từ nền tảng di động, và nhu cầu mua sắm  
trên nền tảng di động chỉ phù hợp với những thành phố phát triển nhƣ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh,  
còn xét về tổng thể cả nƣớc thì mức độ phát triển chƣa đồng đều [24]. Do đó, doanh nghiệp phải cung cấp  
nhiều lợi ích cho khách hàng để thu hút khách hàng mới tải ứng dụng và giao dịch, cũng nhƣ giữ chân khách  
hàng cũ đang sử dụng dịch vụ trên thiết bị cầm tay cá nhân của họ [49].  
Các nghiên cứu về lợi ích của thƣơng mại điện tử nói chung đã đƣợc thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu  
[19, 47]. Tuy nhiên, các nghiên cứu cụ thể về lợi ích cảm nhận của thƣơng mại di động vẫn chƣa nhận đƣợc  
nhiều sự quan tâm từ các học giả. Chỉ cần các thiết bị di động của khách hàng có thể kết nối mạng không  
dây, thƣơng mại di động cho phép khách hàng có thể mua sắm bất cứ thời điểm nào và bất cứ ở đâu. Sự  
thuận tiện do khách hàng luôn mang theo chiếc điện thoại thông minh, sự tƣơng tác dễ dàng và nhanh chóng  
qua tin nhắn hoặc các mạng xã hội là những đặc tính lợi ích không thể chối cãi mà thƣơng mai đi động  
mang lại cho khách hàng [72]. Ngoài ra, đặc tính dễ truy cập, dễ kết nối, dễ dàng trong lựa chọn cũng đƣợc  
xem nhƣ các lợi thế mà thƣơng mại di động mang lại cho ngƣời tiêu dùng [53]. Bên cạnh những giá trị thực  
dụng, mua sắm tiêu khiển cũng là một lợi ích mà thƣơng mại di động mang lại [51, 55]. Các nghiên cứu về  
lợi ích cảm nhận của thƣơng mại di động chủ yếu nghiên cứu các lợi ích riêng lẻ và gắn với các yếu tố khác  
nhƣ lòng tin, rủi ro cảm nhận. Trong khi đó, nghiên cứu lợi ích cảm nhận của thƣơng mại di động đối với  
khách hàng dƣới quan điểm một khái niệm đa chiều vẫn chƣa đƣợc thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh  
thƣơng mại di động tại Việt Nam nói chung, và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Do đó, nghiên cứu này  
thông qua nghiên cứu định tính và định lƣợng nhằm tổng hợp, khám phá các lợi ích của thƣơng mại di động  
dƣới cảm nhận của khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ gợi ý một số  
hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp kinh doanh thông qua các ứng dụng trên thiết bị di động để gia tăng lợi  
ích cho khách hàng nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp.  
Nội dung tiếp theo của nghiên cứu bao gồm: Phần tiếp theo trình bày tổng hợp lý thuyết cho từng biến  
nghiên cứu. Tiếp theo là xác định mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu để xây dựng mô hình nghiên  
cứu. Phần tiếp theo chi tiết các phƣơng pháp nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, thảo  
luận về kết quả cùng với việc định hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai.  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1. Lợi ích cảm nhận (Perceived benefit)  
Lợi ích là niềm tin của ngƣời tiêu dùng khi họ cảm thấy giao dịch trực tuyến này là tốt hơn nhiều so với  
các giao dịch trực tuyến khác [57]. Lợi ích cảm nhận khi mua sắm trên Internet liên quan đáng kể với thái  
độ đối với mua sắm trực tuyến và ý định mua sắm trực tuyến [30]. Trong thực tế, lợi ích cảm nhận của  
ngƣời tiêu dùng đƣợc tạo ra từ những lợi thế mua sắm trực tuyến [15]. Tổng lợi ích của khách hàng bao  
gồm các thành phần lợi ích kinh tế, chức năng và tâm lý mà khách hàng mong đợi từ một ngƣời bán nhất  
định dựa trên sản phẩm, dịch vụ, con ngƣời và hình ảnh đƣợc cung cấp [39]. Turner và Gellman (2013)  
cho rằng lợi ích cảm nhận liên quan đến nhận thức về các kết quả tích cực là do một hành động cụ thể  
[73]. Theo Forsythe và cộng sự (2006), trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử, lợi ích cảm nhận chỉ ra những  
gì khách hàng thu đƣợc từ mua sắm trực tuyến [19].  
Trong hoạt động mua sắm của khách hàng cá nhân bị ảnh hƣởng bởi các động lực chức năng và phi chức  
năng [67]. Động lực chức năng bao gồm sự tiện lợi, đa dạng sản phẩm và chất lƣợng hàng hóa và giá cả,  
trong khi động cơ phi chức năng liên quan đến nhu cầu xã hội và cảm xúc để thƣởng thức, kinh nghiệm  
mua sắm hấp dẫn [19, 50]. Tất cả những động lực này là những yếu tố lợi ích cho ngƣời tiêu dùng mua  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
40  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
hàng trực tuyến. Lợi ích cảm nhận khi mua sắm thông qua các thiết bị di động có thể đƣợc đo từ mức độ  
hài lòng từ lợi ích của việc mua sắm trực tuyến qua thiết bị di động.  
Thƣơng mại di động đã mang lại rất nhiều lợi ích cho khách hàng so với thƣơng mại truyền thống [47].  
Nhiều nhà nghiên cứu đã thảo luận về những lợi ích nhƣ tính thuận tiện khi mua hàng, sự dễ dàng trong  
sự chọn lựa sản phẩm, tính dễ dùng trong việc thao tác cũng nhƣ quy trình mua hàng trực tuyến hay sự  
tiêu khiển khách hàng khi thực hiện giao dịch trực tuyến [1, 26, 59]. Ngƣời mua đƣợc hƣởng lợi từ mua  
sắm thƣơng mại điện tử nhƣ siêu tốc độ, hiệu quả mua sắm, chi phí thấp hơn và phục vụ 24/7 và hỗ trợ  
thƣờng xuyên [41]. Lợi ích cảm nhận ảnh hƣởng tích cực đến hành vi ứng phó với các mối đe dọa bao  
gồm các mối đe dọa, rủi ro trong thực tế và trong cảm nhận [4, 33, 48]. Ngoài ra, Li và cộng sự (2006) đã  
nghiên cứu lại một số quan điểm trƣớc đó, và cuối cùng thừa nhận ba lợi ích lớn liên quan đến hành vi  
mua hàng trực tuyến: (1) Lợi ích về giá; (2) lợi ích thuận tiện; và (3) lợi ích giải trí [43]. Tsai và cộng sự  
(2011) sử dụng nhận thức hữu ích thông qua mua hàng trực tuyến theo nhóm; lợi ích của ngƣời tiêu dùng  
có thể có đƣợc, nhƣ là yếu tố quyết định ý định mua nhóm trực tuyến [71].  
Nhƣ vậy, nghiên cứu về lợi ích cảm nhận của thƣơng mai di động có thể thực hiện bao gồm bốn cấu trúc cơ  
bản nhƣ Hình 1, bao gồm sự thuận tiện, sự lựa chọn, sự mua sắm tiêu khiển và tính dễ dàng trong truy cập.  
Sự thuận tiện  
Sự lựa chọn  
Lợi ích cảm nhận  
trong thƣơng mại di  
Mua sắm tiêu khiển  
động  
Dễ dàng truy cập  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu  
2.2. Sự thuận tiện (Convenience - CON)  
Gehrt và cộng sự (1996) đã giải thích rằng thuận tiện có thể đƣợc định nghĩa là những lợi ích định hƣớng  
theo thời gian, mặc dù có một số nghiên cứu cho rằng cũng bao hàm cả không gian và mức độ nỗ lực  
[20]. Xây dựng định hƣớng thời gian liên quan đến thời gian ngƣời tiêu dùng mua sản phẩm từ nhà bán  
hàng trực tuyến; bao gồm, các trang mua sắm trực tuyến qua thiết bị di động luôn có sẵn 24/7, ngƣời tiêu  
dùng có thể mua sắm tại nhà, cơ quan thậm chí trên đƣờng đến công sở bất cứ khi nào họ muốn, hoặc sau  
khi cửa hàng đóng cửa. Otto và Chung (2000) tin rằng với việc mua sắm trực tuyến, ngƣời tiêu dùng có  
thể tìm kiếm và thanh toán cho các sản phẩm và dịch vụ trực tuyến, và sản phẩm sẽ đƣợc chuyển đến địa  
điểm giao hàng theo yêu cầu của ngƣời mua [56]. Mua sắm trực tuyến không yêu cầu ngƣời tiêu dùng rời  
khỏi nơi của họ và đi đến cửa hàng thực tế để tiến hành các giao dịch. Đối với nhiều ngƣời tiêu dùng, điều  
này cho thấy một sự tiện lợi đáng kể. Hơn nữa, Williams và cộng sự (1978), Nickols và Fox (1983) đã  
giải thích từ "thuận tiện" về tiết kiệm thời gian và nỗ lực bao gồm cả nỗ lực thể chất và tinh thần [52, 76].  
Ngoài ra, Gillett (1970) cho biết sự tiện lợi, đặc biệt là thời gian mua sắm và giảm nỗ lực, đƣợc coi là yếu  
tố quyết định việc mua sắm tiêu dùng ở nhà qua thiết bị di động [22]. Gillett (1976) củng cố rằng trong  
thói quen hàng ngày, ngƣời tiêu dùng ở nhà thƣờng cảm nhận sự thuận tiện khi mua sắm trực tuyến [21].  
Mua sắm thông qua các thiết bị di động tạo ra một môi trƣờng thoải mái khi khách hàng có thể mua sắm  
sản phẩm ở mọi nơi, và bất cứ lúc nào [72]. Thƣơng mại di động tạo ra sự thuận tiện để có thể mua sắm  
tất cả các sản phẩm mà khách hàng cần chỉ với hành động duyệt trên các ứng dụng di động. Việc trình  
bày sản phẩm theo các danh mục trên các ứng dụng di động đã định hƣớng rất nhiều về sự tiện lợi và tiết  
kiệm thời gian trong mua sắm [37].  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
41  
2.3. Sự lựa chọn (Selection - SEL)  
Lynch và cộng sự (1988) chỉ ra rằng khi phải đối mặt với sự lựa chọn quá nhiều, ngƣời tiêu dùng luôn gặp  
phải tình trạng khó khăn để đƣa ra quyết định chính xác [44]. Bất cứ khi nào quyết định mua sản phẩm  
hay sử dụng dịch vụ, ngƣời tiêu dùng thƣờng trong tình trạng cân nhắc khi lựa chọn sản phẩm/dịch vụ do  
thiếu hụt thông tin, cũng nhƣ không có nhiều sản phẩm hay thƣơng hiệu để lựa chọn. Do đó, một số ngƣời  
mua có xu hƣớng tìm kiếm thông tin chi tiết về sản phẩm bằng cách tham khảo các bài đánh giá khác  
trƣớc quyết định chọn sản phẩm này hoặc một sản phẩm khác. Khi tìm kiếm thông tin trong môi trƣờng  
bên ngoài, ngƣời tiêu dùng tập trung vào những đặc điểm có liên quan sẵn có và đƣợc công nhận bởi các  
chuyên gia hay khách hàng khác [16]. Kỳ vọng xảy ra trƣớc khi ngƣời tiêu dùng trải nghiệm sản phẩm và  
có thể bị ảnh hƣởng bởi các đánh giá của ngƣời tiêu dùng khác. Nếu các thuộc tính có thể đáp ứng đƣợc  
kỳ vọng, lợi ích dự kiến sẽ xảy ra và ngƣời tiêu dùng sẽ đƣa ra quyết định mua hàng. Một định nghĩa khác  
về sự lựa chọn mua sắm trong thƣơng mại di động là môi trƣờng mua sắm di động cung cấp một danh  
sách sản phẩm, thƣơng hiệu phong phú; việc lựa chọn thông quan các ứng dụng di động sẽ tốt hơn, và  
cung cấp nhiều thông tin sản phẩm, thƣơng hiệu tốt hơn cửa hàng ngoại tuyến. Internet mang lại sự giới  
thiệu, đề xuất nhiều sự lựa chọn, chứ không là giới hạn nhƣ các cửa hàng bán lẻ ngoại tuyến. Cụ thể hơn,  
thay vì lái xe đến nhiều nơi khác nhau để tìm kiếm và mua sản phẩm, Internet cung cấp phần lớn các lựa  
chọn, kích thƣớc, màu sắc, đánh giá sử dụng. Từ đó, ngƣời tiêu dùng so sánh và chọn sản phẩm phù hợp  
nhất với nhu cầu bản thân.  
Sự lựa chọn của ngƣời tiêu dùng trong lĩnh vực bán lẻ đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu trong nhiều  
bối cảnh bao gồm: kinh doanh truyền thống nhƣ trung tâm thƣơng mại [3, 61]; cửa hàng bán lẻ [61, 65];  
mail và điện thoại [11, 38] và kênh phổ biến nhất hiện nay là Internet [10, 64, 66]. Ngoài ra, sự đa dạng  
trong lựa chọn là động cơ ban đầu mà ngƣời tiêu dùng trực tuyến mong muốn khi lựa chọn các cửa hàng  
trực tuyến [1]. Hơn nữa, các thiết bị di động kết nối Internet tạo ra lợi thế trong lựa chọn sản phẩm, cũng  
nhƣ không tạo nên áp lực cho khách hàng khi phải đến trực tiếp tại cửa hàng.  
2.4. Mua sắm tiêu khiển (Hedonic Shopping - HED)  
Theo từ điển Oxford, sự tiêu khiển đƣợc xem xét dƣới hình thức ấn tƣợng, thú vị. Rõ ràng, việc mua sắm  
tạo cho ngƣời mua những cảm giác dễ chịu, đôi khi nó liên quan đến việc mua sắm giải trí hơn là chất  
lƣợng của sản phẩm. Khái niệm sự tiêu khiển từ một sự nhận thức của khách hàng [25]. Họ tin rằng sự  
tiêu khiển liên quan đến hành vi tiêu dùng trong việc tìm kiếm hạnh phúc, đánh thức, cảm giác, và hƣởng  
thụ. Động cơ tâm lý mà ngƣời tiêu dùng hiện đại mong muốn là thƣởng thức quá trình mua sắm chứ  
không phải là hoàn thành mục tiêu thể chất hoặc cố gắng hoàn thành vai trò của ngƣời tiêu dùng. Nói  
cách khác, nghiên cứu về động cơ tiêu khiển là nghiên cứu về khía cạnh của thƣởng thức hoạt động mua  
sắm.  
Trong các nghiên cứu trƣớc đây, một số tác giả đã phân loại giá trị tiêu khiển của việc mua sắm trực  
tuyến bao gồm khám phá, xã hội, ý tƣởng, giá trị, thoải mái, và vai trò [2, 75]. Trên thực tế, việc mua sắm  
trên các thiết bị di động khá khó khăn để đạt đƣợc cảm giác hài lòng do thiếu môi trƣờng mua sắm thực  
tế. Arnold và Reynolds (2003) tin rằng sự tiêu khiển có thể thúc đẩy ngƣời tiêu dùng mua sắm trực tuyến  
bất chấp việc không “thấy tận mắt, và sờ tận tay” [2]. Ngƣời tiêu dùng trực tuyến, những ngƣời đƣợc thúc  
đẩy bởi những lợi ích thực dụng hoặc lợi ích tiêu khiển, sẽ bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố khác nhau của ứng  
dụng di động, chẳng hạn nhƣ số lƣợng và chất lƣợng thông tin sản phẩm, tính năng của website, giá trị  
giải trí, thực hiện đơn đặt hàng hoặc dịch vụ tiêu dùng, mua sắm cùng với ngƣời thân, mua sắm cho bạn  
bè, cập nhật xu hƣớng tiêu dùng.  
Hơn nữa, Sheth (1981) nói rằng các nhân tố cá nhân của việc mua sắm bị ảnh hƣởng bởi động cơ chức  
năng và phi chức năng [67] . Động cơ chức năng bao gồm sự tiện lợi, đa dạng và chất lƣợng sản phẩm, và  
chi phí. Trong khi nhu cầu xã hội và cảm xúc để thƣởng thức, những trải nghiệm mua sắm hấp dẫn là  
động cơ phi chức năng, còn đƣợc gọi là sự tiêu khiển khi mua sắm [19]. Thật vậy, một phần của việc tối  
ƣu tiêu khiển là sự trải nghiệm các hàng hóa thông qua thị hiếu, âm thanh, mùi hƣơng, ấn tƣợng vật chất  
và hình ảnh thị giác [25]. Nếu thƣởng thức xảy ra khi ngƣời mua thỏa mãn với giao dịch thông qua các  
giác quan này thì kết quả là họ sẽ lặp lại hành vi mua sắm của họ. Mặc dù một vài ngƣời mua có thể mua  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
42  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
sắm chủ yếu cho các mục đích có lợi, những ngƣời khác có thể đạt đƣợc các mục tiêu cụ thể hơn [28].  
Hơn nữa, cảm giác tiêu khiển đƣợc cho là làm với niềm vui và năng lƣợng có kinh nghiệm bằng cách cố  
gắng cuộc gặp gỡ mới. Và điều này chỉ có thể xảy ra dễ dàng khi khách hàng mua hàng trực tuyến trên  
các thiết bị di động [6, 58, 77]  
2.5. Sự dễ dàng truy cập (Ease of Access-EOA)  
Dễ mua sắm là cấp độ mà một ngƣời tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ lực [14].  
Việc khách hàng sử dụng các thiết bị di động truy cập Internet tin tƣởng rằng việc mua hàng trực tuyến dễ  
dàng và thuận tiện phụ thuộc rất nhiều vào thiết kế giao diện, chƣơng trình hƣớng dẫn sử dụng, ngôn ngữ  
thể hiện, phần mềm hay ứng dụng cài đặt. Khái niệm nhận thức tính dễ sử dụng theo mô hình công nghệ  
TAM của Davis Jr (1986); UTAUT của Venkatesh và cộng sự (2003) đề cập đến việc ngƣời sử dụng tin  
rằng việc sử dụng hệ thống, sản phẩm công nghệ thông tin không đòi hỏi nhiều sự nỗ lực và họ sẽ cảm  
thấy dễ dàng khi sử dụng sản phẩm [14, 74]. Trong nghiên cứu này, nhận thức tính dễ sử dụng thể hiện ở  
chỗ ngƣời sử dụng cảm thấy dễ dàng khi làm quen, sử dụng dịch vụ mua hàng trên ứng dụng di động và  
sẽ dễ dàng để trở thành một ngƣời truy cập dễ dàng vào một ứng dụng di động. Với sự phát triển của công  
nghệ không dây (Wi-Fi, 3G, 4G) cũng nhƣ các thiết bị di động (điện thoại thông minh, máy tính bảng,  
laptop), sự dễ dàng truy cập hay dễ sử dụng là một yếu tố không thể thiếu để tạo lòng tin trực tuyến cho  
khách hàng khi mua hàng trong thƣơng mại di động. Nhận thức dễ truy cập đề cập đến mức độ mà khách  
hàng tin rằng việc truy cập các ứng dụng bán hàng qua điện thoại di động sẽ tốn ít công sức. Một số  
nghiên cứu cho thấy rằng ngƣời dùng nhận thức về việc dễ sử dụng ảnh hƣởng đáng kể đến động lực nội  
tại của họ [27]. Dễ truy cập và sử dụng đã đƣợc chứng minh là đóng một vai trò quan trọng trong việc xác  
định hành vi cũng nhƣ thái độ của khách hàng [45, 60].  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Phƣơng pháp nghiên cứu hỗn hợp bao gồm phƣơng pháp nghiên cứu định tính và phƣơng pháp nghiên  
cứu định lƣợng đƣợc sử dụng để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu đề ra. Nghiên cứu hiện tƣợng học  
(phenomenological research) là phƣơng pháp nghiên cứu định tính. Dữ liệu trong nghiên cứu định tính đƣợc  
thu thập thông qua thảo luận nhóm tập trung [62, 69]. Đối tƣợng tham gia thảo luận bao gồm 8 khách hàng  
đƣợc chọn bằng phƣơng pháp phát triển mầm. Các chuyên gia đƣợc phỏng vấn đều có những vị trí quan  
trọng (Phó hiệu trƣởng, trƣởng phó khoa, giám đốc marketing, giám đốc điều hành, trƣởng phòng kinh  
doanh) tại đơn vị công tác trong các lĩnh vực nhƣ giáo dục-đào tạo (các trƣờng đại học, cao đẳng, trƣờng  
đào tạo marketing trực tuyến), các doanh nghiệp chuyên kinh doanh thƣơng mại điện tử (Lazada, Sendo,  
Nhadat.net,…) và các đơn vị truyền thông trực tuyến. Cuộc thảo luận nhóm đƣợc tiến hành tại trƣờng đại  
học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, kéo dài trong 120 phút và đƣợc điều hành bởi nhà nghiên cứu  
với dàn bài thảo luận đƣợc chuẩn bị trƣớc. Nội dung cuộc thảo luận đƣợc ghi âm và đƣợc phân tích. Thảo  
luận nhóm đã khẳng định các lợi ích trong thƣơng mại di động bao gồm sự thuận tiện do tính di động (8 ý  
kiến), sự lựa chọn dễ dàng do có thể truy cập và tìm kiếm thông tin về sản phẩm từ thiết bị di động (7),  
tính tiêu khiển trong quá trình mua sắm từ thiết bị di động (6), và cuối cùng là việc có thể truy cập dễ  
dàng mọi lúc mọi nơi cũng nhƣ công sức bỏ ra để có thể mua hàng (8). Đặc biệt, do thƣơng mại di động  
là một loại hình của thƣơng mại điện tử nên nhiều chỉ mục đo lƣờng đƣợc phỏng theo các nghiên cứu về  
lợi ích trong thƣơng mại điện tử. Do đó, các chuyên gia trong nghiên cứu định tính cũng góp phần điều  
chỉnh thang đo nhƣ “thƣơng mại điện tử” thành “thƣơng mại di động”, “sử dụng website thƣơng mại điện  
tử” thành “sử dụng ứng dụng di động”/“sử dụng thiết bị di động”.  
Thang đo của tất cả các khái niệm nghiên cứu trong bài đƣợc dựa trên các nghiên cứu trƣớc đây, kết quả  
nghiên cứu định tính, đƣợc điều chỉnh qua nghiên cứu sơ bộ và thể hiện dƣới dạng các phát biểu. Các  
thang đo sử dụng thang đo Likert với 5 mức độ từ (1) Hoàn toàn không đồng ý đến (5) Hoàn toàn đồng ý.  
Thang đo sự thuận tiện gồm 05 chỉ mục quan sát [31, 42]; thang đo sự lựa chọn gồm 04 chỉ mục quan sát  
[19]; thang đo mua sắm tiêu khiển gồm 06 chỉ mục quan sát [2]; thang đo dễ dàng truy cập gồm 04 chỉ  
mục quan sát [40].Cụ thể nghiên cứu sẽ đo lƣờng khái niệm lợi ích cảm nhận của khách hàng do thƣơng  
mại điện tử mang lại qua bốn cấu trúc với tổng cộng 19 chỉ mục quan sát theo Bảng 1.  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
43  
Bảng 1: Tổng hợp thang đo các cấu trúc nghiên cứu  
Cấu  
Nội dung biến quan sát  
Nguồn  
trúc Mã hóa  
CON1 Thƣơng mại di động cung cấp dịch vụ 24/7  
CON2 Tôi có thể mua sắm trên khi đang trên đƣờng đến lớp hoặc đi làm  
Jih [31]  
Lee and  
Sự  
thuận  
tiện  
Phân loại danh mục sản phẩm trên ứng dụng di động dễ hiểu để mua  
sắm  
CON3  
CON4 Thƣơng mại di động giúp tôi có thể mua tất cả những gì tôi muốn  
CON5 Thƣơng mại di động giúp cho mua sắm dễ dàng  
Chung [38]  
EOA1 Tôi học cách sử dụng thiết bị di động để mua sắm một cách dễ dàng  
EOA2 Tƣơng tác khi mua hàng trên thiết bị di động rất rõ ràng và dễ hiểu  
EOA3 Thật dễ dàng để sử dụng các thiết bị di động khi giao dịch trực tuyến  
Dễ  
dàng  
truy  
cập  
Koufaris  
[40]  
Không quá nhiều nỗ lực để truy cập ứng dụng bán hàng trên thiết bị di  
EOA4  
động  
HED1 Mua sắm trên thiết bị di động tạo cảm giác kích thích, phiêu lƣu.  
HED2 Sự thích thú khi mua sắm trên thiết bị di động với bạn bè và gia đình.  
HED3 Mua sắm trên thiết bị di động để giảm căng thẳng.  
Mua  
sắm  
tiêu  
Arnold and  
HED4 Tôi cảm thấy niềm vui khi tìm đƣợc món quà hoàn hảo cho ngƣời khác Reynolds [2]  
khiển HED5 Thƣơng mai di động giúp tôi theo kịp các xu hƣớng mới  
HED6 Thƣơng mại di động giúp tôi tìm kiếm các sản phẩm giảm giá và giá rẻ  
SEL1 Thƣơng mai di động giúp tôi trong việc tiếp cận với nhiều mặt hàng  
Forsythe,  
Liu, Shannon  
and Gardner  
[19]  
Sự  
SEL2 Thƣơng mai di động giúp tôi trong việc tiếp cận với nhiều thƣơng hiệu  
lựa  
chọn  
SEL3 Thƣơng mại di động giúp tôi mua sản phẩm từ khắp mọi nơi  
Tôi có thể nhận thông tin sản phẩm trực tuyến tốt để hỗ trợ quá trình  
SEL4  
lựa chọn  
Dữ liệu định lƣợng thu thập thông qua khảo sát bằng bản câu hỏi. Tác giả chọn phƣơng pháp chọn mẫu phi  
xác suất có đánh giá để có thể chọn lọc đúng đối tƣợng am hiểu về việc mua sắm qua thiết bị di động [46].  
Tabachnick và Fidell (2007) cho rằng kích thƣớc mẫu 50,100, 200, 300, 500, 1000 sẽ cho kết quả nghiên  
cứu tƣơng ứng rất kém, kém, khá tốt, tốt, rất tốt, và tuyệt vời [70]. Do đó, tổng số lƣợng bản khảo sát đƣợc  
phát ra là 580, thu về và hợp lệ là 577. Phân bố đối tƣợng khảo sát theo Bảng 2 thể hiện kết quả thống kế số  
lƣợng và phần trăm về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và học vấn, những yếu tố này phù hợp và đáp ứng  
đƣợc mục tiêu nghiên cứu, căn cứ trên báo cáo thƣơng mại điện tử 2018 của Bộ Công Thƣơng [29].  
Bảng 2: Thông tin về mẫu nghiên cứu  
Tiêu thức Phân loại Số lượng  
%
Tiêu thức  
Phân loại  
Học sinh – sinh viên  
Giảng viên  
Số lượng  
%
8,7  
Nam  
Nữ  
290 50,3  
287 49,7  
160 27,7  
120 20,8  
128 22,2  
169 29,3  
50  
Giới tính  
96 16,6  
153 26,5  
57 9,90  
98 17,0  
57 9,90  
66 11,4  
174 30,2  
119 20,6  
111 19,2  
173 30,0  
Dƣới 3  
3 – 5  
Nhân viên văn phòng  
Thu nhập  
(triệu đồng) 5 – 10  
Nghề nghiệp Nội trợ  
Buôn bán  
Công chức  
Công nhân  
Trên 10  
Trung học  
Trung cấp – Cao đẳng  
Học vấn  
Đại học  
Sau Đại học  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
44  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
Để phân tích thống kê các mô hình đo lƣờng kết quả, nghiên cứu này đã sử dụng phần mềm SmartPLS  
cho kỹ thuật mô hình đƣờng dẫn bình phƣơng tối thiểu riêng phần (PLS-SEM) [63]. Mô hình lý thuyết  
của nghiên cứu đã đo lƣờng đến mối liên kết giữa các biến tiềm ẩn thuộc về lợi ích cảm nhận khi mua  
sắm trong thƣơng mại di động [7]. Không giống nhƣ AMOS và LISREL là các phƣơng pháp dựa trên  
hiệp phƣơng sai, Smart PLS là một kỹ thuật dựa trên hồi quy bắt nguồn từ phân tích đƣờng dẫn. Smart  
PLS đã nổi lên nhƣ một cách tiếp cận mạnh mẽ để nghiên cứu các mô hình đo lƣờng kết quả liên quan  
đến nhiều cấu trúc với nhiều chỉ số [8]. PLS SEM một phƣơng pháp dựa trên thành phần, có khả năng mô  
hình hóa các cấu trúc tiềm ẩn không bị ảnh hƣởng bởi lỗi đo lƣờng trong các điều kiện không quy tắc.  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Mô hình đo lƣờng lợi ích cảm ích cảm nhận khi mua sắm trong thƣơng mại di động bao gồm bốn thành  
phần nghiên cứu tiềm ẩn (Sự thuận tiện – CON, sự lựa chọn – SEL, mua sắm tiêu khiển – HED, sự dễ  
dàng truy cập – EOA). Nghiên cứu kiểm định thang đo của từng thành phần nghiên cứu. Theo Bảng 3, tất  
cả các thang đo đều đạt độ tin cậy, hệ số tin cậy nằm trong khoảng 0,870 đến 0,891, đều lớn hơn 0,70  
[54]. Mức độ tin cậy của thang đo cũng đƣợc kiểm tra qua việc tính toán hệ số tin cậy tổng hợp (CR) và  
tổng phƣơng sai trích (AVE). Tất cả thang đo đều đạt yêu cầu (CR > 0,6, AVE > 0,5), thể hiện sự hội tụ  
của cấu trúc nghiên cứu [18]. Nhƣ vậy, các thang đo đều đạt mức độ tin cậy và giá trị hội tụ.  
Bảng 3: Độ tin cậy của các thang đo trong nghiên cứu  
Cronbach's Alpha  
CR  
AVE  
CO  
N
0,891  
0,884  
0,884  
0,870  
0,920  
0,920  
0,912  
0,911  
0,697  
0,742  
0,635  
0,720  
EOA  
HED  
SEL  
Với mô hình này, nghiên cứu cần ƣớc lƣợng mối quan hệ giữa biến tiềm ẩn kết quả và các chỉ mục quan  
sát của nó, điều này sẽ đƣợc kiểm tra thông qua hệ số tải ngoài (outer loadings). Theo kết quả Bảng 4, tất  
cả các chỉ số tải ngoài của các khái niệm CON, EOA, HED, SEL đều cao hơn giá trị cho phép là 0,708  
[23]. Trong đó, biến quan sát HED4 có hệ số tải ngoài thấp nhất là 0,718 và biến quan sát EOA3 có hệ số  
tải ngoài cao nhất là 0,910. Đồng thời, kiểm định t của các hệ số tải ngoài đều lớn hơn 1,96 (độ tin cậy  
99%). Nhƣ vậy, bốn cấu trúc đều có mối quan hệ với các chỉ mục quan sát đo lƣờng.  
Bảng 4: Hệ số tải ngoài của các cấu trúc nghiên cứu  
Hệ số tải ngoài Thống kê t  
Hệ số tải ngoài Thống kê t  
CON1 <- CON  
CON2 <- CON  
CON3 <- CON  
CON4 <- CON  
CON5 <- CON  
EOA1 <- EOA  
EOA2 <- EOA  
EOA3 <- EOA  
EOA4 <- EOA  
0,852  
0,786  
0,816  
0,882  
0,835  
0,845  
0,829  
0,910  
0,860  
61,692  
29,005  
48,854  
65,575  
55,399  
60,171  
49,040  
119,096  
80,232  
HED1 <- HED  
HED2 <- HED  
HED3 <- HED  
HED4 <- HED  
HED5 <- HED  
HED6 <- HED  
SEL1 <- SEL  
SEL2 <- SEL  
SEL3 <- SEL  
SEL4 <- SEL  
0,815  
0,819  
0,783  
0,718  
0,822  
0,819  
0,863  
0,863  
0,811  
0,856  
51,316  
51,319  
44,505  
33,68  
47,605  
52,994  
74,334  
72,312  
38,108  
76,022  
Nghiên cứu của Hair và cộng sự (2016) chỉ ra rằng tiêu chí HTMT đáng tin cậy để kiểm tra giá trị phân  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
45  
biệt giữa các cấu trúc trong nghiên cứu. Bảng 5 thể hiện giá trị HTMT cho tất cả các cặp biến trong  
nghiên cứu. Có thể nhận thấy tất cả các giá trị HTMT đều nhỏ hơn so với ngƣỡng 0,85 [23]  
Bảng 5: Giá trị HTMT  
CON  
EOA  
HED  
SEL  
CON  
EOA  
HED  
SEL  
0,773  
0,728  
0,809  
0,718  
0,788  
0,733  
Hơn nữa, để xác định tỉ lệ HTMT, nghiên cứu kiểm định “các giá trị HTMT có khác 1” có ý nghĩa thống  
kê hay không. Yêu cầu này đƣợc thực hiện thông qua đánh giá khoảng tin cậy bằng phƣơng pháp  
Bootstrapping với sự phóng đại mẫu lên 5000 [23]. Kết quả Bảng 6 cho thấy, ngƣỡng giới hạn thấp  
(2,5%) và cao (97,5%) đều không bao gồm số 1. Đồng thời, giá trị t trong kiểm định đều lớn hơn 1,96, do  
đó kết quả kiểm định đạt độ tin cậy 99%.  
Bảng 6: Khoảng tin cậy cho HTMT  
2.50%  
0,699  
0,642  
0,653  
0,741  
0,732  
0,670  
97.50%  
0,839  
0,804  
0,780  
0,865  
0,835  
0,785  
Giá trị t  
21,786  
17,480  
22,261  
25,652  
30,218  
24,798  
EOA -> CON  
HED -> CON  
HED -> EOA  
SEL -> CON  
SEL -> EOA  
SEL -> HED  
Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã đánh giá cá trọng số tải ngoài (outer weights) của các chỉ mục quan sát  
trong từng cấu trúc lợi ích để tìm hiểu mức độ ảnh hƣởng đối với mỗi cấu trúc. Kết quả Bảng 7 đã chỉ ra  
CON5, EOA3, HED6, SEL1 có trọng số tải ngoài cao nhất ở mỗi cấu trúc. Đồng thời, toàn bộ các chỉ  
mục đo lƣờng của mỗi cấu trúc đều có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 99% (t > 1,96).  
Bảng 7: Trọng số tải ngoài của các cấu trúc nghiên cứu  
Trọng số  
tải ngoài  
0,250  
0,248  
0,246  
Trọng số  
tải ngoài  
0,221  
0,216  
0,208  
Thống kê t  
38,625  
44,011  
38,260  
35,667  
30,226  
50,900  
47,259  
41,649  
43,850  
Thống kê t  
35,579  
35,145  
32,027  
31,917  
39,487  
28,614  
40,365  
44,030  
42,220  
44,087  
CON5 <- CON  
CON4 <- CON  
CON1 <- CON  
CON3 <- CON  
CON2 <- CON  
EOA3 <- EOA  
EOA4 <- EOA  
EOA1 <- EOA  
EOA2 <- EOA  
HED6 <- HED  
HED1 <- HED  
HED3 <- HED  
HED5 <- HED  
HED2 <- HED  
HED4 <- HED  
SEL1 <- SEL  
SEL4 <- SEL  
SEL2 <- SEL  
SEL3 <- SEL  
0,229  
0,224  
0,208  
0,203  
0,312  
0,305  
0,275  
0,267  
0,199  
0,316  
0,299  
0,293  
0,270  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
46  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
Mô hình cấu trúc (đã chuẩn hóa) đã chỉ ra mức độ đóng góp của các thành phần tiện lợi, lựa chọn, tiêu  
khiển, và dễ truy cập trong lợi ích cảm nhận của khách hàng khi sử dụng các thiết bị di động để mua sắm  
trực tuyến. Theo kết quả nghiên cứu ở Bảng 8 cho thấy các giá trị kiểm định t đều lớn hơn 1,96 (độ tin  
cậy 99%) nên các biến nghiên cứu đều phù hợp và có ý nghĩa trong mô hình kết quả lợi ích cảm nhận  
trong thƣơng mại di động đối với khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh.  
Bảng 8: Kết quả Bootstrapping mô hình cấu trúc  
Trọng số trung bình  
Trọng số gốc  
Độ lệch chuẩn Thống kê t P Values  
Bootstrapping  
0,884  
PB -> CON  
PB -> EOA  
PB -> HED  
PB -> SEL  
0,884  
0,860  
0,857  
0,869  
0,020  
0,014  
0,015  
0,010  
45,295  
60,093  
57,920  
87,433  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,860  
0,857  
0,870  
5. THẢO LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ  
Nghiên cứu đã áp dụng các thang đo lợi ích của thƣơng mại điện tử cho kênh mua sắm di động. Từ đó,  
nghiên cứu góp phần tạo ra lợi ích cảm nhận trong thƣơng mại di động, một khái niệm đa chiều bao gồm  
sự thuận tiện, sự lựa chọn, mua sắm tiêu khiển, và dễ dàng truy cập. Tính đa chiều của lợi ích mua sắm  
trên thiết bị di động là những yếu tố quyết định quan trọng trong việc giải thích lý do tại sao ngƣời tiêu  
dùng sẽ sử dụng kênh mua sắm di động ngày càng nhiều. Cụ thể, ngƣời mua sắm trên thiết bị di động là  
những ngƣời mua sắm thông thái và tích cực vì họ tận dụng những lợi thế của kênh mua sắm trên thiết bị  
di động để tìm kiếm sự thuận tiện, sản phẩm hay thông tin về sản phẩm, sự tiêu khiển, và sự nhanh chóng  
cũng nhƣ dễ dàng khi mua hàng cũng nhƣ sử dụng thiết bị. Kết quả nghiên cứu đã cấu trúc lợi ích cảm  
nhận nhƣ một khái niệm đa chiều trong bối cảnh nghiên cứu thƣơng mại di động. Kết quả nghiên cứu chỉ  
ra rằng sự thuận lợi đƣợc xem là lợi ích đƣợc quan tâm nhất (= 0,884, t = 45,295), tiếp theo là sự lựa  
chọn dễ dàng trong mua sắm thông qua các thiết bị di động (= 0,869, t = 87,433), lợi ích xếp thứ ba là  
tính dễ truy cập của thƣơng mại di động đối với khách hàng (= 0,860, t = 60,093), lợi ích mua sắm tiêu  
khiển đƣợc xếp cuối trong các lợi ích cảm nhận khi mua sắm thông qua thiết bị di động (= 0,857, t =  
57,920). Tất cả hệ số đều đạt độ tin cậy 99% (t > 1,96).  
Sự thuận tiện đƣợc xem nhƣ một lợi ích không thể chối cãi từ khi xuất hiện thƣơng mại điện tử, đặc biệt  
lợi ích đó càng đƣợc gia tăng từ khi ngƣời tiêu dùng có thể sử dụng những thiết bị di động để mua sắm  
trực tuyến [5, 42]. Sự thuận lợi đƣợc khách hàng đánh giá cao nhất là việc mua sắm dễ dàng (CON5),  
cũng nhƣ giúp khách hàng có thể mua những sản phẩm họ mong muốn (CON4). Đồng thời, việc mua sắm  
qua các thiết bị di động cũng cho phép khách hàng có thể mua bất cứ thời điểm nào khách hàng có nhu  
cầu (CON1).Do đó, để gia tăng sự thuận tiện cho khách hàng trong thƣơng mại di động, các doanh nghiệp  
kinh doanh trực tuyến nên điều chỉnh lại hệ thống băng thông hoặc tăng cƣờng xây dựng hệ thống máy  
chủ độc lập nhằm tránh làm gián đoạn quá trình mua sắm của khách hàng, hạn chế quảng cáo trên các ứng  
dụng nhằm giúp quá trình mua sắm của khách hàng nhanh hơn. Ngoài ra, nên xây dựng hệ thống liên kết  
giữa nhiều ngƣời bán với nhau nhằm đảm bảo tăng cƣờng tốc độ bán hàng, đảm bảo đa dạng chủng loại  
sản phẩm. Xây dựng danh mục sản phẩm rõ ràng trên các thiết bị di động (CON3), đặc biệt tăng cƣờng  
khả năng tùy biến trang bán hàng hay hình ảnh sản phẩm theo màn hình (responsive) cũng là một điều các  
doanh nghiệp cần quan tâm.  
Sự lựa chọn dễ dàng sản phẩm, dịch vụ tạo nên lợi ích cảm nhận của khách hàng. Thƣơng mại điện tử nói  
chung, và thƣơng mại di động nói riêng đã tạo ra nhiều cơ hội cho khách hàng tiếp cận với nhiều mặt  
hàng, nhiều thƣơng hiệu quốc tế [17, 19]. Khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận mua các sản phẩm họ muốn  
từ bất cứ nhà bán hàng nào trên thế giới (SEL1), bằng cách cài đặt ứng dụng của ngƣời bán hàng vào thiết  
bị di động cá nhân. Một yếu tố khác không thể bỏ qua đó chính là hệ thống các tin báo (notification) từ  
các ứng dụng di động (SEL4), đây là các yếu tố cung cấp thông tin hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
47  
khách hàng, đặc biệt khi khách hàng cung cấp thông tin cá nhân cho ngƣời bán để nhận đƣợc các đề xuất  
phù hợp với đặc tính cá nhân của mỗi khách hàng [35]. Việc gia tăng số lƣợng hàng hóa, đa dạng hóa  
nhãn hiệu (SEL2), hoặc mở rộng kinh doanh quốc tế bằng cách xây dựng ứng dụng đa ngôn ngữ trong  
bán hàng sẽ mang lại cho các doanh nghiệp lợi thế trong kinh doanh cho các doanh nghiệp kinh doanh  
doanh qua kênh thƣơng mại di động.  
Tính dễ truy cập xuất phát từ khái niệm dễ sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ của Davis [13], sau đó  
đƣợc phát triển bởi các nhà nghiên cứu khác theo bối cảnh nghiên cứu nhƣ thƣơng mại điện tử [32, 40],  
thƣơng mại xã hội [36]. Khách hàng đánh giá cao lợi ích dễ sử dụng (EOA3) và không tốn nhiều công sức  
(EOA4) khi sử dụng các thiết bị di động cá nhân để giao dịch trực tuyến. Để tăng các lợi ích này, doanh  
nghiệp cần thiết kế giao diện dễ hiểu, rõ ràng để khách hàng dễ dàng truy cập và sử dụng phƣơng thức  
giao dịch qua thiết bị di động. Doanh nghiệp cần có những video hƣớng dẫn ngƣời dùng sử dụng ứng  
dụng mua sắm, đặt hàng và thanh toán rõ ràng trên trang mạng xã hội, kênh Youtube.com, và website của  
doanh nghiệp để gia tăng khả năng tự học cách thức giao dịch của khách hàng (EOA1). Hiện nay, việc sử  
dụng hệ điều hành Android và IOS là tƣơng đƣơng nhau, các ứng dụng bán hàng nên thiết kế cho cả hai  
hệ điều hành để khách hàng dễ dàng trong việc cài đặt cũng nhƣ sử dụng.  
Cuối cùng nhƣng không kém quan trọng, đó là lợi ích tiêu khiển mà thƣơng mại di động mang lại. Các  
đặc tính lợi ích nhƣ cảm giác phiêu lƣu, xã hội, làm cho thoải mái, vai trò, ý tƣởng mua sắm, và giá trị  
đƣợc tạo ra của thƣơng mại điện tử nói chung; cũng nhƣ, thƣơng mại di động nói chung vô cùng quan  
trọng trong đánh giá lợi ích cảm nhận của khách hàng [2, 9, 48]. Tạo ra cảm giác thú vị trong quá trình  
mua sắm bằng các hoạt động trực tiếp từ ứng dụng nhƣ quay số, đoán hình sẽ tạo ra giá trị phiêu lƣu cho  
khách hàng; cũng nhƣ, xây dựng quy trình mua sắm đơn giản, hiệu quả, mang tính giải trí để có thể giải  
quyết vấn đề lo lắng, căng thẳng của khách hàng trong cuộc sống. Hơn nữa, việc tạo các kênh giúp khách  
hàng hiểu biết, chia sẻ với bạn bè ngƣời thân bằng ứng dụng của doanh nghiệp sẽ tạo ra lợi ích cho cả  
khách hàng và doanh nghiệp trong hoặc động truyền miệng nhƣ quảng bá, cung cấp thông tin cho khách  
hàng khác. Hoạt động mua hàng theo nhóm cũng là một giải pháp thiết thực nhằm gia tăng tính tiêu khiển  
của mua sắm và tạo ra lòng trung thành cho khách hàng, điều đã đƣợc thực hiện thông qua thƣơng mại  
điện tử trƣớc đây [34].  
KẾT LUẬN  
Thƣơng mại di động đang dẩn trở thành hình thức mua sắm phổ biến đối với các khách hàng Việt Nam.  
Nghiên cứu định tính thông qua phƣơng pháp nghiên cứu hiện tƣợng học (phenomenological research)  
bằng cách thảo luận nhóm đã xác nhận các cấu trúc lợi ích cảm nhận trong thƣơng mại di động tại Việt  
Nam; cũng nhƣ, điều chỉnh các thang đo trong nghiên cứu. Nghiên cứu định lƣợng đƣợc thực hiện thông  
qua dữ liệu thu thập từ 577 khách hàng từng mua hàng trực tuyến thông qua thiết bị di động, dữ liệu đƣợc  
xử lý bằng phần mềm SmartPLS 3.2.7 đã chứng minh đƣợc độ tin cậy nhất quán nội tại, độ tin cậy của  
biến quan sát, giá trị hội tụ, và giá trị phân biệt của các cấu trúc trong nghiên cứu. Nghiên cứu đã chỉ ra  
lợi ích cảm nhận của thƣơng mại di động bao gồm các thành phần sự thuận lợi, sự lựa chọn, sự tiêu khiển  
mua sắm, và dễ dàng truy cập. Các giải pháp đƣợc đề xuất liên quan đến việc đầu tƣ hệ thống, ứng dụng  
bán hàng, hƣớng dẫn quy trình mua sắm, và tạo ra giá trị tiêu khiển trong mua sắm cho khách hàng.  
Cũng nhƣ các nghiên cứu khác, mặt dù đã nỗ lực trong việc hạn chế các thiếu sót nhƣng nghiên cứu vẫn  
còn một số hạn chế. Tuy nhiên, đây là cơ hội để mở ra cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo. Đầu tiên, về  
cỡ mẫu (577 quan sát) và phƣơng pháp chọn mẫu (phi xác suất – đánh giá) cũng cần phải đƣợc cải thiện.  
Phƣơng pháp chọn mẫu xác suất và kích thƣớc mẫu lớn hơn sẽ tạo độ tin cậy cao hơn cho các nghiên cứu  
trong tƣơng lai. Việc mở rộng các yếu tố nghiên cứu nhƣ lòng trung thành, ý định mua hàng cũng là một  
hƣớng nghiên cứu sâu và rộng hơn về lợi ích cảm nhận trong bối cảnh thƣơng mại di động.  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
48  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
J. Alba, J. Lynch, B. Weitz, C. Janiszewski, R. Lutz, A. Sawyer, and S. Wood, “Interactive home shopping:  
consumer, retailer, and manufacturer incentives to participate in electronic marketplaces,” The Journal of Marketing,  
pp. 38-53, 1997.  
[2]  
M. J. Arnold, and K. E. Reynolds, “Hedonic shopping motivations,” Journal of retailing, vol. 79, no. 2, pp.  
77-95, 2003.  
[3]  
N. L. Cassill, N. C. Williamson, M. McEnally, and J. Thomas, “Department store cross-shoppers,” Journal  
of Applied Business Research, vol. 10, no. 4, pp. 88, 1994.  
[4]  
effectiveness,” Journal of marketing, vol. 64, no. 4, pp. 65-81, 2000.  
[5] Y.-F. Chen, and Y.-C. Lan, "An empirical study of the factors affecting mobile shopping in Taiwan,"  
Mobile Commerce: Concepts, Methodologies, Tools, and Applications, pp. 1329-1340: IGI Global, 2018.  
[6] T. L. Childers, C. L. Carr, J. Peck, and S. Carson, “Hedonic and utilitarian motivations for online retail  
shopping behavior,” Journal of retailing, vol. 77, no. 4, pp. 511-535, 2002.  
[7] W. W. Chin, and P. R. Newsted, “Structural equation modeling analysis with small samples using partial  
least squares,” Statistical strategies for small sample research, vol. 1, no. 1, pp. 307-341, 1999.  
[8] R. Chinomona, and J. Surujlal, “The influence of student internship work experience on their self-  
P. Chandon, B. Wansink, and G. Laurent, “A benefit congruency framework of sales promotion  
improvement and professionalism in Sport Management: sport management,” African Journal for Physical Health  
Education, Recreation and Dance, vol. 18, no. Issue-4_2, pp. 885-899, 2012.  
[9]  
C. M. Chiu, E. T. Wang, Y. H. Fang, and H. Y. Huang, “Understanding customers' repeat purchase  
intentions in B2C e‐ commerce: the roles of utilitarian value, hedonic value and perceived risk,” Information  
Systems Journal, vol. 24, no. 1, pp. 85-114, 2014.  
[10]  
of Interactive Marketing, vol. 12, no. 2, pp. 49-62, 1998.  
[11] D. Cox, and S. Rich, “Perceived risk and consumer decision-making: The case of telephone shopping,”  
Journal of marketing research, pp. 32-39, 1964.  
J. M. Comer, R. Mehta, and T. L. Holmes, “Information technology: Retail users versus nonusers,” Journal  
[12]  
Cục Thƣơng mại điện tử và kinh tế số, Sách trắng Thƣơng mại điện tử Việt Nam 2018, www.idea.gov.vn,  
2018.  
[13]  
F. D. Davis, “Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology,”  
MIS quarterly, pp. 319-340, 1989.  
[14]  
F. D. Davis Jr, “A technology acceptance model for empirically testing new end-user information systems:  
Theory and results,” Massachusetts Institute of Technology, 1986.  
[15]  
Malaysia,” African Journal of Business Management, vol. 5, no. 7, pp. 2837, 2011.  
[16] A. Dick, D. Chakravarti, and G. Biehal, “Memory-based inferences during consumer choice,” Journal of  
Consumer Research, vol. 17, no. 1, pp. 82-93, 1990.  
[17] M. A. Eastlick, and R. A. Feinberg, “Shopping motives for mail catalog shopping,” Journal of Business  
N. Delafrooz, L. H. Paim, and A. Khatibi, “Understanding consumer's internet purchase intention in  
Research, vol. 45, no. 3, pp. 281-290, 1999.  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
49  
[18]  
measurement error,” Journal of marketing research, vol. 18, no. 1, pp. 39-50, 1981.  
[19] S. Forsythe, C. Liu, D. Shannon, and L. C. Gardner, “Development of a scale to measure the perceived  
benefits and risks of online shopping,” Journal of interactive marketing, vol. 20, no. 2, pp. 55-75, 2006.  
[20] K. C. Gehrt, L. J. Yale, and D. A. Lawson, “The convenience of catalog shopping: Is there more to it than  
time?,” Journal of Direct Marketing, vol. 10, no. 4, pp. 19-28, 1996.  
C. Fornell, and D. F. Larcker, “Evaluating structural equation models with unobservable variables and  
[21]  
[22]  
[23]  
P. L. Gillett, “In-home shoppers. An overview,” The Journal of Marketing, pp. 81-88, 1976.  
P. L. Gillett, “A profile of urban in-home shoppers,” The Journal of Marketing, pp. 40-45, 1970.  
J. F. Hair, G. T. M. Hult, C. Ringle, and M. Sarstedt, A primer on partial least squares structural equation  
modeling (PLS-SEM), London: Sage publications, 2016.  
[24]  
[25]  
Hiệp hội Thƣơng mại điện tử Việt Nam, Chỉ số thƣơng mại điện tử Việt Nam 2018, www.vecom.vn, 2018.  
E. C. Hirschman, and M. B. Holbrook, “Hedonic consumption: emerging concepts, methods and  
propositions,” The Journal of Marketing, pp. 92-101, 1982.  
[26] D. L. Hoffman, T. P. Novak, and P. Chatterjee, “Commercial scenarios for the web: opportunities and  
challenges,” Journal of Computer‐ Mediated Communication, vol. 1, no. 3, pp. 0-0, 1995.  
[27] C.-L. Hsu, and H.-P. Lu, “Consumer behavior in online game communities: A motivational factor  
perspective,” Computers in Human Behavior, vol. 23, no. 3, pp. 1642-1659, 2007.  
[28] C. Huffman, and M. J. Houston, “Goal-oriented experiences and the development of knowledge,” Journal  
of Consumer Research, vol. 20, no. 2, pp. 190-207, 1993.  
[29]  
[30]  
IDEA., Thƣơng mại điện tử Việt Nam năm 2018, Cục thƣơng mại điện tử và kinh tế số, Hà Nội, 2019.  
S. L. Jarvenpaa, and P. A. Todd, “Consumer reactions to electronic shopping on the World Wide Web,”  
International journal of electronic commerce, vol. 1, no. 2, pp. 59-88, 1996.  
[31] W.-J. Jih, “Effects of consumer-perceived convenience on shopping intention in mobile commerce: an  
empirical study,” International Journal of E-Business Research (IJEBR), vol. 3, no. 4, pp. 33-48, 2007.  
[32] B. T. Khoa, “Ảnh hƣởng của mạng xã hội đến lòng trung thành của khách hàng: Ứng dụng trƣờng hợp của  
Facebook,” Tạp chí Khoa học - Công nghệ, vol. 18, no. 1, pp. 86-97, 2015.  
[33] B. T. Khoa, “Ảnh hƣởng của rủi ro cảm nhận đến ý định mua hàng trực tuyến của khách hàng tại TP. Hồ  
Chí Minh,” Tap chí Khoa học và Công nghệ, vol. 34, no. 04, pp. 87-97, 2018.  
[34] B. T. Khoa, “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến lòng trung thành của khách hàng mua hàng theo nhóm  
trên Internet,” Tạp chí Khoa học - Công nghệ, vol. 20, no. 3, pp. 99-111, 2015.  
[35] B. T. Khoa, “Nghiên cứu nhận thức bảo vệ thông tin riêng tƣ của ngƣời mua hàng trực tuyến tại TP.HCM,”  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ, vol. 2, no. 26, pp. 66-76, 2017.  
[36] B. T. Khoa, and T. Khánh, “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến lòng tin trực tuyến của khách hàng Việt  
Nam: Trƣờng hợp thƣơng mại xã hội,” Tap chí Công Thƣơng, vol. 5, no. 4/2019, pp. 198-204, 2019.  
[37] P. K. Korgaonkar, “Shopping orientations of catalog showroom patrons,” Journal of Retailing, vol. 57, no.  
1, pp. 78-90, 1981.  
[38]  
P. K. Korgaonkar, and D. Bellenger, “Nonstore retailers and consumer characteristics,” Akron Business  
and Economic Review, vol. 14, no. 4, pp. 29-34, 1983.  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
50  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
[39]  
P. Kotler, K. L. Keller, M. Goodman, M. Brady, and T. Hansen, Marketing management, Harlow: Pearson  
Education Limited, 2019.  
[40]  
M. Koufaris, “Applying the technology acceptance model and flow theory to online consumer behavior,”  
Information systems research, vol. 13, no. 2, pp. 205-223, 2002.  
[41]  
browsers and online purchasers,” Journal of Hospitality & Tourism Research, vol. 30, no. 3, pp. 295-312, 2006.  
[42] K. C. Lee, and N. Chung, “Empirical analysis of consumer reaction to the virtual reality shopping mall,”  
Computers in Human Behavior, vol. 24, no. 1, pp. 88-104, 2008.  
[43] D. Li, G. J. Browne, and J. C. Wetherbe, “Why do internet users stick with a specific web site? A  
relationship perspective,” International journal of electronic commerce, vol. 10, no. 4, pp. 105-141, 2006.  
[44] J. G. Lynch Jr, H. Marmorstein, and M. F. Weigold, “Choices from sets including remembered brands: Use  
R. Law, and C. H. Hsu, “Importance of hotel website dimensions and attributes: perceptions of online  
of recalled attributes and prior overall evaluations,” Journal of Consumer Research, vol. 15, no. 2, pp. 169-184,  
1988.  
[45]  
E. Mao, M. Srite, J. Bennett Thatcher, and O. Yaprak, “A research model for mobile phone service  
behaviors: empirical validation in the US and Turkey,” Journal of Global Information Technology Management,  
vol. 8, no. 4, pp. 7-28, 2005.  
[46]  
W. L. Neuman, Social research methods: Qualitative and quantitative approaches, 7th ed., Harlow, United  
Kingdom: Pearson education, 2013.  
[47]  
H. M. Nguyen, and B. T. Khoa, “Perceived Mental Benefit in Electronic Commerce: Development and  
Validation,” Sustainability, vol. 11, no. 23, pp. 6587-6608, 2019.  
[48]  
H. M. Nguyen, and B. T. Khoa, “The Relationship between the Perceived Mental Benefits, Online Trust,  
and Personal Information Disclosure in Online Shopping,” The Journal of Asian Finance, Economics and Business,  
vol. 6, no. 4, pp. 261-270, 11/30, 2019.  
[49]  
M. H. Nguyen, and B. T. Khoa, “Customer Electronic Loyalty towards Online Business: The role of Online  
Trust, Perceived Mental Benefits and Hedonic Value,” Journal of Distribution Science, vol. 17, no. 12, pp. 81-93,  
2019.  
[50]  
Mobile Commerce in Vietnam,” Journal of Applied Economic Sciences, vol. 14, no. 1, pp. 269-280, 2019.  
[51] M. H. Nguyễn, and B. T. Khoa, “Lợi ích tinh thần cảm nhận khi mua hàng trực tuyến,” Tạp chí khoa học  
Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, vol. 14, no. 1, pp. 3-17, 2019.  
[52] S. Y. Nickols, and K. D. Fox, “Buying time and saving time: Strategies for managing household  
production,” Journal of Consumer Research, vol. 10, no. 2, pp. 197-208, 1983.  
[53] M. Niranjanamurthy, N. Kavyashree, S. Jagannath, and D. Chahar, “Analysis of e-commerce and m-  
M. H. Nguyen, and B. T. Khoa, “A Study on the Chain of Cost - Values-Online Trust: Applications in  
commerce: advantages, limitations and security issues,” International Journal of Advanced Research in Computer  
and Communication Engineering, vol. 2, no. 6, pp. 2360-2370, 2013.  
[54]  
J. C. Nunnally, and I. Bernstein, “The assessment of reliability,” Psychometric theory, vol. 3, no. 1, pp.  
248-292, 1994.  
[55]  
S. Okazaki, “New perspectives on m-commerce research,” Journal of Electronic Commerce Research, vol.  
6, no. 3, pp. 160, 2005.  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
51  
[56]  
with brick-and-mortar retailing,” Electronic Markets, vol. 10, no. 3, pp. 185-191, 2000.  
[57] C. Park, and Y. Kim, “The effect of information satisfaction and relational benefit on consumer’s online  
shopping site commitment,” Web Technologies for Commerce and Services Online, vol. 1, pp. 149, 2008.  
[58] A. G. Parsons, “Non-functional motives for online shoppers: why we click,” Journal of Consumer  
Marketing, vol. 19, no. 5, pp. 380-392, 2002.  
[59] R. A. Peterson, S. Balasubramanian, and B. J. Bronnenberg, “Exploring the implications of the Internet for  
consumer marketing,” Journal of the Academy of Marketing science, vol. 25, no. 4, pp. 329-346, 1997.  
[60] G. G. Pijpers, and K. van Montfort, “An investigation of factors that influence senior executives to accept  
innovations in information technology,” International Journal of Management, vol. 22, no. 4, pp. 542, 2005.  
[61] V. K. Prasad, “Socioeconomic product risk and patronage preferences of retail shoppers,” The Journal of  
Marketing, pp. 42-47, 1975.  
J. R. Otto, and Q. Chung, “A framework for cyber-enhanced retailing: Integrating e-commerce retailing  
[62]  
F. Rabiee, “Focus-group interview and data analysis,” Proceedings of the nutrition society, vol. 63, no. 04,  
pp. 655-660, 2004.  
[63]  
C. Ringle, S. Wende, and A. Will, “SmartPLS version 2.0 M2,” Hamburg, Germany: Institute for  
Operations Management and Organization at the University of Hamburg, 2005.  
[64]  
Management, vol. 24, no. 3, pp. 26-37, 1996.  
[65] R. A. Schmidt, R. Segal, and C. Cartwright, “Two-stop shopping or polarization: whither UK grocery  
shopping?,” International Journal of Retail & Distribution Management, vol. 22, no. 1, pp. 12-19, 1994.  
[66] P. N. Shamdasani, and O. G. Yeow, “An exploratory study of in-home shoppers in a concentrated retail  
market: the case of Singapore,” Journal of Retailing and consumer Services, vol. 2, no. 1, pp. 15-23, 1995.  
[67] J. N. Sheth, An integrative theory of patronage preference and behavior: College of Commerce and  
J. Rowley, “Retailing and shopping on the Internet,” International Journal of Retail & Distribution  
Business Administration, Bureau of Economic and Business Research, University of Illinois, Urbana-Champaign,  
1981.  
[68]  
K. Siau, E.-P. Lim, and Z. Shen, “Mobile commerce: Promises, challenges and research agenda,” Journal  
of Database Management (JDM), vol. 12, no. 3, pp. 4-13, 2001.  
[69]  
[70]  
D. Silverman, Qualitative research, London: Sage, 2016.  
B. Tabachnick, and L. Fidell, “Multivariate analysis of variance and covariance,” Using multivariate  
statistics, vol. 3, pp. 402-407, 2007.  
[71]  
M.-T. Tsai, N.-C. Cheng, and K.-S. Chen, “Understanding online group buying intention: the roles of sense  
of virtual community and technology acceptance factors,” Total Quality Management & Business Excellence, vol.  
22, no. 10, pp. 1091-1104, 2011.  
[72]  
E. Turban, J. Outland, D. King, J. K. Lee, T.-P. Liang, and D. C. Turban, Electronic Commerce 2018: A  
Managerial and Social Networks Perspective, Cham, Switzerland: Springer, 2017.  
[73]  
[74]  
J. R. Turner, and M. Gellman, Encyclopedia of Behavioral Medicine, New York, NY: Springer, 2013.  
V. Venkatesh, M. G. Morris, G. B. Davis, and F. D. Davis, “User acceptance of information technology:  
Toward a unified view,” MIS quarterly, pp. 425-478, 2003.  
[75]  
R. A. Westbrook, and W. C. Black, “A motivation-based shopper typology,” Journal of retailing, 1985.  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
52  
LỢI ÍCH CẢM NHẬN CỦA THƢƠNG MẠI DI ĐỘNG ĐỐI VỚI  
KHÁCH HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: TIẾP CẬN VỚI KHÁI NIỆM ĐA CHIỀU  
[76]  
R. H. Williams, J. J. Painter, and H. R. Nicholas, “Policy-oriented typology of grocery shoppers,” Journal  
of Retailing, vol. 54, no. 1, pp. 27-42, 1978.  
[77] M. Wolfinbarger, and M. C. Gilly, “Shopping online for freedom, control, and fun,” California  
Management Review, vol. 43, no. 2, pp. 34-55, 2001.  
Ngày nhận bài: 12/09/2019  
Ngày chấp nhận đăng: 25/02/2020  
© 2019 Trƣờng Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
pdf 15 trang baolam 26140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lợi ích cảm nhận của thương mại di động đối với khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tiếp cận với khái niệm đa chiều", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfloi_ich_cam_nhan_cua_thuong_mai_di_dong_doi_voi_khach_hang_t.pdf