Tiềm năng, thách thức, xu hướng và giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
TIỀM NĂNG, THÁCH THỨC, XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN  
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM  
POTENTIAL, CHALLENGES, TRENDS AND SOLUTIONS FOR  
E-COMMERCE DEVELOPMENT IN VIETNAM  
ThS. Tạ Trần Trọng  
Trường Đại học Văn Hiến  
Tóm tắt  
Thương mại điện tử (TMĐT) là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doamh nghiệp  
(DN), gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng  
máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Nhân loại bước vào cách mạng 4.0 số hóa, phát triển TMĐT  
là xu thế tất yếu của toàn cầu, trong đó có Việt Nam… Phát triển kinh tế và phát triển TMĐT quan hệ biện  
chứng với nhau. Bài viết, Tác giả khái quát một số nét về TMĐT; phân tích tiềm năng và thách thức phát triển  
TMĐT ở Việt Nam; xu hướng phát triển TMĐT ở thế giới và ở Việt Nam; phân tích các khuyến nghị với Nhà  
nước, đề xuất giải pháp đối với DN để phát triển TMĐT ở Việt Nam… từ đó đưa ra kết luận. Tác giả kế thừa  
một số luận điểm phù hợp của các bài viết trước, đồng thời phát hiện và phân tích một số vấn đề mới về TMĐT.  
Từ khóa: Doanh nghiệp; Khuyến nghị; Giải pháp; Thương mại điện tử; Tiềm năng và thách thức.  
Abstract  
E-commerce is the purchase and exchange of goods or services between enterprises, families,  
individuals and private organizations by electronic transactions via the Internet or intermediate computer  
networks (online communication). Mankind has stepped into the 4.0 revolution of digitization, developing e-  
commerce is the inevitable trend of the global, including Vietnam... Economic development and e-commerce  
development have dialectical relationship together (promote each other to develop) . The author outlines some  
aspects of e-commerce. Analyzing the potential and challenges of e-commerce development in Vietnam; the  
trend of e-commerce development in the world and in Vietnam; analysis of recommendations to the State,  
proposed solutions for enterprises to develop e-commerce in Vietnam ... from which to draw conclusions. The  
author inherits some relevant arguments of previous articles, simultaneously discovering and analyzing some  
new issues in e-commerce.  
Keywords: Business; Recommendations; Solutions; E-commerce; Potential and challenges.  
1. Đặt vấn đề  
Phát triển Thương mại điện tử (TMĐT) đang là vấn đề đặt ra cho nước ta khi tham gia Tổ chức  
thương mại thế giới WTO. TMĐT vừa là cơ hội, vừa là công cụ hữu hiệu bảo đảm sự bình đẳng và bứt  
phá của DN Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy mới xuất hiện và chỉ chiếm một tỷ  
trọng nhỏ trong thương mại, song TMĐT đã mang lại những lợi ích to lớn cho DN, Chính phủ, người  
tiêu dùng và xã hội. TMĐT đã vượt ra khỏi lĩnh vực thương mại, ngày càng tác động đến các lĩnh vực  
khác và hứa hẹn mang lại những thay đổi to lớn và sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội. TMĐT ngày càng  
được quan tâm và đang trở thành một công cụ hữu hiệu trong quá trình toàn cầu hoá và trong xây dựng  
nền kinh tế số… Hoạt động TMĐT, trong phạm vi nghiên cứu, bài viết giải trình các câu hỏi chủ yếu:  
TMĐT là gì? Các loại hình TMĐT? Tiềm năng, thách thức và xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam?  
Giải pháp nào để phát triển tối ưu TMĐT ở Việt Nam trong tiến trình hổi nhập kinh tế toàn cầu?...  
Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và trao đổi trực tiếp với các Doanh nhân am hiểu  
TMĐT; Tác giả kế thừa các luận điểm phù hợp của các bài viết trước, đồng thời bài viết phân tích một  
số luận điểm mới như: (1) thị trường vô hữu hình; thị trường hữu hình; (2) thời đại ngày nay, kinh tế  
ngày càng phát triển cao thì thị trường vô hình xu hướng tăng cả về tương đối và tuyệt đối; thị trường  
hữu hình gỉam tương đối và tuyệt đối; (3) nhiều người bình thường am hiểu TMĐT hơn một số chủ  
793  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
DN; đó là một nghịch lý nhưng là sự thật; (4) DN nhỏ có ưu thế trong mối quan hệ: Họ vừa là người  
sản xuất có thể là người trực tiếp giao hàng, nắm sát tâm lý thị hiếu ngừơi tiêu dùng từ đó nhanh nhạy  
cải tiến mẫu mã hàng; lợi thế cạnh tranh này hiệu quả kinh tế không nhỏ…  
2. Khái quát về thương mại điện tử  
2.1. Khái niệm TMĐT  
Khái niệm Thương mại điện tử (TMĐT) được các tổ chức uy tín thế giới quan niệm như sau:  
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và  
phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách  
hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet"[6].  
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương  
(APEC) định nghĩa: "TMĐT liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa  
các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet"  
[7]. Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là email, EDI, Internet và Extranet có thể được dùng để hỗ  
trợ thương mại điện tử.  
Theo Ủy ban châu Âu: “TMĐT có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay  
dịch vụ giữa các DN, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng  
Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thuật ngữ bao gồm việc đặt  
hàng và dịch vụ thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ  
cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công" [8].  
Tóm lại, TMĐT chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng Internet và các phương tiện điện  
tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử [9]. Ngoài  
ra, theo nghiên cứu tại đại học Texas, các học giả cho rằng TMĐT và kinh doanh điện tử đều bị bao  
hàm bởi nền kinh tế Internet [10].  
Hiểu đơn giản (theo Tác giả): Thị trường TMĐT chính là thị trường “Vô hình” (quá trình đàm  
phán mua bán, người mua nói chung chỉ thấy hình ảnh của hàng định mua qua mạng…); thị trường  
truyền thống (bán mua ở chợ, cửa hàng ở phố…) là thị trường “Hữu hình”. Những thập niên gần đây,  
nhất là khi diễn ra hội nhập kinh tế toàn cầu; nền kinh tế các nước càng phát triển thì thị trường vô  
hình tăng tương đối và tuyệt đối nhìn vào tỷ trọng giữa thị trường vô hình và thị trường hữu hình có  
thể nhận định trình độ kinh tế thị trường ở nước đó ở mức nào.  
2.2. Các hình thức TMĐT  
TMĐT ngày nay liên quan đến tất cả mọi thứ từ đặt hàng nội dung “kỹ thuật số" cho đến tiêu  
dùng trực tuyến tức thời [11], để đặt hàng và dịch vụ thông thường, các dịch vụ "meta" đều tạo điều  
kiện thuận lợi cho các dạng khác của TMĐT. Ở cấp độ tổ chức, các tập đoàn lớn và các tổ chức tài  
chính sử dụng Internet để trao đổi dữ liệu tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh trong  
nước và quốc tế. Tính toàn vẹn dữ liệu và tính an ninh là các vấn đề rất nóng gây bức xúc trong thương  
mại điện tử. Hiện nay có nhiều tranh cãi về các hình thức tham gia cũng như cách phân chia các hình  
thức này trong TMĐT. Nếu phân chia theo đối tượng tham gia thì có 3 đối tượng chính bao gồm:  
Chính phủ (G - Government), Doanh nghiệp (B - Business) và Khách hàng (C - Customer hay  
Consumer). Nếu kết hợp đôi một trong 3 đối tượng này sẽ có 9 hình thức theo đối tượng tham gia:  
B2C, B2B, B2G, G2B, G2G, G2C, C2G, C2B, C2C. Trong đó, các dạng hình thức chính của TMĐT  
bao gồm [12]:  
DN với DN nghiệp (B2B); DN với Khách hàng (B2C); DN với Nhân viên (B2E); DN với  
Chính phủ (B2G); Chính phủ với DN (G2B); Chính phủ với Chính phủ (G2G); Chính phủ với Công  
dân (G2C); Khách hàng với Khách hàng (C2C); Khách hàng với DN (C2B);Ngoài ra, TMĐT còn được  
phân chia theo các hình thức: online-to-offline (O2O).  
794  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Các nhà kinh tế học cho rằng TMĐT sẽ dẫn đến việc cạnh tranh giá cả sản phẩm. Thực vậy,  
TMĐT giúp người tiêu dùng thu thập nhanh chóng và dễ dàng thông tin đa dạng về sản phẩm, giá cả  
và người bán. Ngày nay đã xuất hiện nhiều website chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá về sản phẩm và  
nhà cung cấp, so sánh giá cả giữa các website bán hàng. Hơn nữa, người tiêu dùng có thể trực tiếp đưa  
ra các đánh giá của mình về nhiều khía cạnh liên quan tới giao dịch mua sắm, giúp cho những người  
khác có nhiều cơ hội chọn lựa sản phẩm phù hợp nhất, hoặc chọn được người bán cung cấp dịch vụ tốt  
nhất, hoặc mua được sản phẩm với giá rẻ nhất… Các DN lớn hơn có cơ hội để giảm chi phí so với  
những DN nhỏ hơn do các doanh nghiệp lớn có lợi thế về quy mô kinh tế nên đưa ra mức giá thấp hơn  
[17]. Tuy nhiên DN nhỏ có ưu thế trong mối quan hệ: Họ vừa là người sản xuất có thể là người trực  
tiếp giao hàng, nắm sát tâm lý thị hiếu người tiêu dùng từ đó nhanh nhạy cải tiến mẫu mã hàng; lợi thế  
cạnh tranh này hiệu quả kinh tế không nhỏ.  
3. Tiềm năng và thách thức phát triển TMĐT ở Việt Nam  
3.1. Tiềm năng  
TMĐT VIệt Nam là thị trường mới, còn nhiều tiềm năng. Theo trang web Statista.com, doanh  
thu ngành TMĐT Việt Nam năm 2017 vào khoảng 2,2 tỷ USD, (theo số liệu Tổng cục thống kê 2,5 tỷ  
USD). Con số này còn khá thấp so với giá trị 118 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng 10% của thị trường  
bán lẻ Việt Nam. Năm 2018, doanh thu ngành TMĐT Việt Nam được ước tính khoảng 2,6 tỷ USD với  
tốc độ tăng trưởng hàng năm là 13,7% cho giai đoạn 2018 – 2022. Con số này ở Thái Lan là khoảng  
3,5 tỷ USD và 13,2%; Hàn Quốc là 50,5 tỷ USD với tốc độ tăng 7%; Singapore 3.74 tỷ USD với tốc  
độ tăng trưởng khoảng 10,1%; Malaysia 1,3 tỷ USD với tốc độ tăng khoảng 17%. So với các nước có  
nền TMĐT phát triển hàng đầu trên thế giới, doanh thu ngành TMĐT của Việt Nam còn khá thấp.  
Chẳng hạn, doanh thu dự đoán năm 2018 của Mỹ khoảng 474 tỷ USD, Trung Quốc 596 tỷ USD, Nhật  
Bản 105 tỷ USD và Đức 69 tỷ USD. Sự chênh lệch này phản ánh tiềm năng tăng trưởng của ngành  
TMĐT Việt Nam vẫn còn rất lớn. Điều đó được thể hiện qua việc hàng loạt các start-up TMĐT liên  
tục gia nhập thị trường.  
Tham gia sớm vào lĩnh vực này phải kể đến FPT. Năm 2012, tập đoàn công nghệ này cho ra  
mắt trang thương mại điện tử Sen đỏ (Sendo.com), đến giữa năm 2014, FPT bổ sung thêm trang  
123mua.vn qua mua lại từ Vinagame (VNG). Tháng 08/2015, Vingroup góp mặt với trang TMĐT A  
đây rồi (Adayroi.com). Đến tháng 01/2017, hãng bán lẻ Thế giới di động cũng chính thức cho ra mắt  
trang thương mại điện tử Vuivui.com tập trung vào phân khúc bán lẻ di động và điện máy. Bên cạnh  
đó, nhiều công ty nước ngoài cũng lần lượt gia nhập thị trường Việt Nam, điển hình là các công ty  
Trung Quốc. Vào tháng 4/2016, Tập đoàn Alibaba của tỷ phú Jack Ma đã chi 1 tỷ USD để mua lại  
51% cổ phần tại Lazada. Tháng 06/2017, Alibaba tiếp tục rót thêm 1 tỷ USD để nâng tỷ lệ sở hữu cổ  
phần lên 83% tại start-up được định giá 3,15 tỷ USD này.Tháng 11/2017, Tập đoàn thương mại điện tử  
JD.com – đối thủ của Alibaba tại thị trường Trung Quốc – cũng đã đầu tư 44 triệu USD vào Tiki – một  
công ty liên kết của VNG với tỷ lệ sở hữu cổ phần tính đến 30/09/2017 là 38%. Một doanh nghiệp nữa  
có ảnh hưởng gián tiếp từ Trung Quốc là Shopee – công ty con của SEA có trụ sở tại Singapore. Tháng  
10/2017 vừa qua, SEA trở thành công ty công nghệ đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á chào bán cổ  
phiếu trên sàn NYSE, thương vụ IPO đã thu về cho SEA 884 triệu USD…  
Ngày 14 tháng 3 năm 2018, Amazon chính thức đánh dấu sự hiện diện của mình tại Việt Nam  
bằng việc tham gia vào Diễn đàn Toàn cảnh Thương mại điện tử Việt Nam (VOBF 2018) diễn ra tại  
Hà Nội. Tại diễn đàn, tập đoàn thương mại điện tử hàng đầu của Mỹ sẽ công bố các chiến lược cụ thể  
tại thị trường Việt Nam. Sự góp mặt của Amazon đã thu hút được nhiều sự chú ý và được cho là sẽ  
khiến thị trường TMĐT vốn đầy tiềm năng của Việt Nam sẽ càng trở nên sôi động.  
Tại Diễn đàn Toàn cảnh Thương mại điện tử Việt Nam (VOBF) 2017, bà Đặng Thủy Hà -  
Trưởng đại diện công ty nghiên cứu thị trường Nielsen Hà Nội cho biết, dân số Việt Nam khoảng 95  
triệu người,trong đó 50% dân số Việt Nam hiện nay đã tiếp cận với Internet. Đáng chú ý là tỷ lệ dân  
số tiếp cận Internet tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh còn cao hơn rất nhiều.  
795  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Điều này tạo điều kiện phát triển cho ngành TMĐT tại Việt Nam. Báo cáo từ Nielsen dẫn kết quả khảo  
sát năm 2015 cho thấy mỗi người sử dụng Internet tại Việt Nam bỏ ra số tiền trung bình lên tới 160  
USD/năm cho TMĐT. Nhờ vậy, tốc độ tăng trưởng thị trường hàng năm của TMĐT Việt Nam đã đạt  
tới 28%. Với sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành TMĐT tại Việt Nam hiện nay, ông Trần Trọng  
Tuyến - Tổng thư ký Hiệp hội TMĐT Việt Nam cho rằng tốc độ tăng trưởng còn tăng mạnh, có thể lên  
tới 30 - 50%/năm. Theo ông Tuyến, quy mô thị trường TMĐT Việt Nam có thể đạt 10 tỷ USD trong 5  
năm năm tới. Theo nghiên cứu của Trung tâm kinh doanh toàn cầu của Đại học Tufts (Mỹ), hiện Việt  
Nam xếp hạng 48/60 quốc gia có tốc độ chuyển đổi kinh tế số hóa nhanh trên thế giới, đồng thời xếp  
hạng 22 về tốc độ phát triển số hóa. Điều đó chứng tỏ Việt Nam đang trong nền kinh tế số hóa và lĩnh  
vực TMĐT có triển vọng tiến xa hơn.  
Năm 2017, Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á về tỷ lệ chuyển đổi - số phần trăm của số lượt  
truy cập website có thể dẫn đến mua sắm thành công. Các DN TMĐT tại Việt Nam có tỷ lệ chuyển đổi  
lên đến 65%, cao nhất trong khu vực. Singapore sở hữu tỷ lệ chuyển đổi cao thứ hai và Indonesia bám  
sát ở vị trí thứ 3.  
Hội DN hàng Việt Nam chất lượng cao đánh giá, những năm gần đây, với sự ra đời của hàng  
loạt các website thương mại điện tử như Lazada, Tiki, Shopee, Sendo, Adayroi… Việc mua sắm online  
đã không còn xa lạ với người người tiêu dùng Việt. Thị trường mua sắm trực tuyến trở nên sôi động  
hơn khi người tiêu dùng trẻ tham gia vào việc mua bán trên mạng xã hội ngày càng nhiều. Tuy nhiên  
có một nghịch lý là nhiều người bình thường lại am hiểu TMĐT hơn một số chủ DN (Tác giả trao đổi  
trực tiếp với một số chủ DN).  
Gần đây, trong một báo cáo nghiên cứu của Công ty TNHH CBRE Việt Nam, (CBRE: Công ty  
bất động sản; đây là công ty có uy tín cao) được thực hiện thông qua ghi nhận ý kiến khoảng 1.000  
người tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, cho biết, 25% người tiêu dùng được khảo sát dự định sẽ  
giảm tần suất mua sắm tại cửa hàng thực tế. Trong khi đó, 45-50% cho rằng, sẽ mua sắm trực tuyến  
thông qua máy tính để bàn/máy tính xách tay hay điện thoại thông minh/máy tính bảng, thường xuyên  
hơn trong tương lai. Kết quả khảo sát năm 2018 của Hội DN hàng Việt Nam chất lượng cao cho thấy,  
số người tiêu dùng chọn mua online đã tăng gấp ba lần (2,7%) so với năm 2017 (0,9%). Ngoài ra, kết  
quả khảo sát còn ghi nhận, tất cả các sản phẩm tiêu dùng ít nhiều đều được người tiêu dùng mua  
online. Giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ… vẫn sẽ là một yếu tố quan trọng thu hút người dùng  
mua hàng trực tuyến. Đồng thời, một khi càng nhiều người tiêu dùng biết về TMĐT thì thương hiệu,  
cung cách phục vụ, nền tảng công nghệ, các dịch vụ gia tăng như vận chuyển, thanh toán, hậu mãi, sẽ  
phải càng hoàn thiện hơn.  
* Khái quát: Tiềm năng phát triển TMĐT ở Việt Nam cao, vì các lý do sau:  
- Việt Nam là nước xuất khẩu nhiều mặt hàng, TMĐT giúp doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng  
trên toàn thế giới.  
- Việt Nam có thể “xuất khẩu” dịch vụ, sản phẩm thông tin, sản phẩm tri thức bằng cách bán  
qua mạng Internet.  
- Du lịch Việt Nam cần tận dụng TMĐT để quảng bá, cho đặt dịch vụ qua mạng, thanh toán  
qua mạng, hỗ trợ du khách qua mạng...  
- Nhà nước chủ trương thúc đẩy TMĐT phát triển.  
- Công nghệ thông tin, Internet ở Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phát triển nhanh.  
- Chính những khả năng, lợi ích TMĐT mang lại cho DN, nhà đầu tư... là động cơ lớn thúc đẩy  
doanh nghiệp tham gia TMĐT.  
- Nhân lực Việt Nam tiếp thu công nghệ mới nhanh, đặc biệt là công nghệ thông tin …  
796  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
3.2. Thách thức  
Bên cạnh những tiềm năng, ngành thương mại điện tử Việt Nam cũng đối mặt không ít thách  
thức.  
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng công nghệ và luật pháp ở Việt Nam chưa hoàn thiện. Để TMĐT phát  
triển thì hoạt động sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt cũng cần phát triển mạnh. Theo một khảo  
sát của Ngân hàng Thế giới (WB), số lượng giao dịch phi tiền mặt bình quân đầu người của Việt Nam  
là 5%, thấp hơn nhiều so với mức 60% của Thái Lan, 89% của Malaysia và tỷ lệ 26% của Trung Quốc.  
Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp sẽ khiến cho số người dùng sẵn sàng tham gia mua hàng  
online không cao. TMĐT đang trong giai đoạn phát triển, hệ thống luật pháp hiện hành của Việt Nam  
còn chưa theo kịp với sự phát triển đó. Chẳng hạn, vẫn còn thiếu những quy định pháp lý liên quan đến  
trách nhiệm của các bên trong giao dịch điện tử hoặc những quy định về thuế, phí trong ngành này.  
Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại điện tử đang chịu áp lực cạnh tranh  
và hao tổn chi phí rất lớn đến từ các chương trình khuyến mãi giảm giá sản phẩm cũng như miễn phí  
giao hàng… Những điều này đã “ăn mòn” lợi nhuận và khiến hoạt động của các trang TMĐT đang  
không mấy hiệu quả.  
Thứ hai, nhóm đối tượng khách hàng của TMĐT trong giai đoạn hiện nay chủ yếu là giới trẻ –  
những người sớm tiếp cận với công nghệ. Trong khi nhóm những người có thu nhập cao chủ yếu là  
những người trung niên vẫn quen với phương thức mua hàng truyền thống hơn. Họ là nhóm người khó  
thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ mới.  
Thứ ba, mức độ khả tín trong xã hội là điều khiến nhiều người lo lắng. Rủi ro đối với khách  
hàng là hàng hóa mua về không đúng như chất lượng được công bố trên trang web bán hàng khiến  
nhiều người còn ngần ngại khi mua hàng online. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp TMĐT cũng gặp  
không ít khó khăn trong vấn đề quản lý bởi ngành này còn khá mới. Theo một số nhà cung cấp hoạt  
động trong lĩnh vực TMĐT, chi phí bán hàng qua kênh này chưa hẳn là rẻ hơn so với phương thức bán  
hàng truyền thống.  
Thứ tư, người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là thế hệ người tiêu dùng trẻ hiện khá ưa chuộng  
mua hàng qua các website thương mại điện tử của nước ngoài như Amazon, eBay… Lý do của hiện  
tượng này được Hiệp hội TMĐT chỉ ra do hàng hóa của nước ngoài phong phú, đa dạng và phù hợp  
với người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ thành thị. Bên cạnh đó, các nhà bán hàng trực tuyến toàn cầu  
có uy tín cao. Ngoài ra, chi phí hoàn tất đơn hàng đối với các hợp đồng mua hàng trực tuyến từ nước  
ngoài thấp hơn…  
Thứ năm, VECOM phân tích: “Phần lớn DN Việt, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ chưa đầu tư  
đúng mức cho hoạt động nghiên cứu tìm hiểu thị hiếu khách hàng nước ngoài để bán hàng trực tiếp,  
không qua các nhà phân phối trung gian”. Xét về mức độ uy tín, các nhà bán hàng trực tuyến trong  
nước cũng vẫn “đuối” hơn so với nhiều nhà bán hàng trực tuyến toàn cầu. Và một yếu tố khác là nhiều  
khi chất lượng, mẫu mã sản phẩm quốc nội vẫn lép vế so với sản phẩm tương tự của nhiều nước khác.  
Thứ sáu, một vấn đề cũng đang là thách thức với các nhà bán hàng trực tuyến Việt Nam là cơ  
sở hạ tầng công nghệ. Chia sẻ của ông Phạm Thông, Giám đốc tiếp thị Lazada tại VOBF 2017 cho  
thấy là trong dịp cáp quang AAG bị đứt vào 2,3 tuần, doanh thu của Lazada đã mất tới 30% doanh thu  
trung bình trong một ngày. Không chỉ Lazada mà nhiều DN TMĐT và cá nhân kinh doanh online cũng  
chật vật trong thời điểm cáp quang bị đứt…  
Tuy nhiên, nhìn tổng thể, nhiều chuyên gia trong và ngòai nước nhìn nhận mặc dù vẫn còn  
những thách thức, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của công nghệ cho phép DN  
Việt Nam dễ dàng bán hàng trực tuyến ở nước khác, TMĐT Việt Nam vẫn là một mảnh đất tiềm năng  
cho các DN trong nước, trong đó có cả các DN khởi nghiệp.  
797  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
4. Xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam  
4.1. Xu hướng phát triển TMĐT ở thế giới  
* Khuynh hướng toàn cầu  
Mô hình kinh doanh trên toàn cầu tiếp tục thay đổi đáng kể với sự ra đời của TMĐT. Nhiều  
quốc gia trên thế giới cũng đã đóng góp vào sự phát triển của TMĐT: Ví dụ, nước Anh có chợ TMĐT  
lớn nhất toàn cầu khi đo bằng chỉ số chi tiêu bình quân đầu người, con số này cao hơn cả Mỹ. Kinh tế  
Internet ở Anh có thể tăng 10% từ năm 2010 đến năm 2015. Điều này tạo ra động lực thay đổi cho  
ngành công nghiệp quảng cáo [13]. Trong số các nền kinh tế mới nổi, sự hiện diện của TMĐT ở Trung  
Quốc tiếp tục được mở rộng. Với 384 triệu người sử dụng Internet, doanh số bán lẻ của cửa hàng trực  
tuyến ở Trung Quốc đã tăng 36,6 tỉ USD năm 2009 và một trong những lý do đằng sau sự tăng trưởng  
kinh ngạc là cải thiện độ tin cậy của khách hàng. Các công ty bán lẻ Trung Quốc đã giúp người tiêu  
dùng cảm thấy thoải mái hơn khi mua hàng trực tuyến [14]. TMĐT cũng được mở rộng trên khắp  
Trung Đông. Với sự ghi nhận là khu vực có tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong việc sử dụng  
Internet từ năm 2000 đến năm 2009, hiện thời khu vực có hơn 60 triệu người sử dụng Internet. Bán lẻ,  
du lịch và chơi game là các phần trong TMĐT hàng đầu ở khu vực, mặc dù có các khó khăn như thiếu  
khuôn khổ pháp lý toàn khu vực và các vấn đề hậu cần trong giao thông vận tải qua biên giới [15].  
TMĐT đã trở thành một công cụ quan trọng cho thương mại quốc tế không chỉ bán sản phẩm mà còn  
quan hệ với khách hàng [16]. Sự sáng tạo và công nghệ mới đang dần thay đổi bức tranh TMĐT toàn  
cầu. Tăng cường công nghệ tương tác thực tế ảo, trợ lý ảo giọng nói, nâng cao trải nghiệm khách hàng  
và cá nhân hóa hay bùng nổ thanh toán di động sẽ là những xu hướng chính của TMĐT tử năm 2018.  
Năm 2017 đã chứng kiến làn sóng FMĐT phát triển bùng nổ trên toàn cầu với những hoạt động về  
thâu tóm và mở rộng thị trường của những tập đoàn lớn như Amazon và Walmart của Mỹ, Alibaba và  
JD của Trung Quốc, Flipkart của Ấn Độ, Rakuten của Nhật Bản, Lazada và Sea của Singapore.  
Sự lên ngôi củaTMĐT đã đặt ngành bán lẻ truyền thống với hình ảnh đại diện là các cửa hàng  
trên đường phố gặp nhiều rào cản hơn. Ngày nay, TMĐT và số hóa tác động đến 56% doanh thu của cửa  
hàng truyền thống. Dựa vào các số liệu thống kê cũng như kết quả phân tích về TMĐT của các thương  
hiệu và nhà bán lẻ trên toàn cầu, công ty quảng cáo số hóa Absolunet đã đưa ra dự báo một số xu hướng  
nổi bật cho năm 2018, cụ thể: TMĐT trên nền tảng di động và TMĐT định vị sẽ tiếp tục là xu thế chủ  
đạo trên thế giới, chiếm khoảng 25% tổng mức bán lẻ toàn cầu. Theo dự báo, năm 2018 sẽ là thời điểm  
của TMĐT khi người dân hầu như đã rất quen thuộc với mua sắm trực tuyến. Giá cả, chất lượng sản  
phẩm, dịch vụ… vẫn sẽ là một yếu tố quan trọng thu hút người dùng mua hàng trực tuyến. Đồng thời,  
một khi càng nhiều người tiêu dùng biết về TMĐT thì thương hiệu, cung cách phục vụ, nền tảng công  
nghệ, các dịch vụ gia tăng như vận chuyển, thanh toán, hậu mãi, sẽ phải càng hoàn thiện hơn.  
* Khái quát xu thế TMĐT toàn cầu sẽ diễn ra theo các kênh:  
Thứ nhất, tăng cường công nghệ tương tác thực tế ảo. Công nghệ thực tế ảo tăng cường  
(Augmented Reality – AR) sẽ trở thành xu hướng chủ đạo năm 2018 khi giúp thương mại điện tử trở  
nên sống động như thật. Các thương hiệu sẽ đẩy mạnh cung cấp ứng dụng trên thiết bị di động cho  
phép người dùng trải nghiệm các sản phẩm dưới hình dạng 3D trong không gian ảo. Với mọi sản  
phẩm, người mua hàng sẽ có thể nhìn thấy chính xác vật thể trong bất kỳ không gian nào và xem nó  
phù hợp hay không trước khi quyết định mua hàng.  
Thứ hai, thanh toán di động lên ngôi. Thương mại di động và mạng xã hội có ảnh hưởng đặc  
biệt quan trọng tới TMĐT. Khi tỷ lệ người dùng và mua sắm thông qua smartphone tăng cao thì sự  
dịch chuyển từ “desktop” sang nền tảng “mobile” là xu hướng tất yếu. Thanh toán trên di động dự báo  
đạt 70% trong tổng giao dịch thương mại điện tử vào cuối năm 2018.  
Thứ ba, mua hàng với trợ lý ảo giọng nói. Năm 2018, xu hướng mua sắm trực tuyến bằng  
giọng nói nhờ sự hỗ trợ của trợ lý ảo giọng nói sẽ lên ngôi. Hiện nay các sản phẩm loa thông minh như  
Google Home hay Amazon Echo với sự hỗ trợ của các trợ lý ảo giọng nói Google Assistant hay  
798  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Amazon Alexa đã cho phép người tiêu dùng dễ dàng thực hiện điều này. Một nghiên cứu của công ty  
phân tích thị trường ComScore dự báo đến năm 2020, ít nhất 50% tổng số lượt tìm kiếm trên các trang  
web sẽ được thực hiện bằng giọng nói.  
Thứ tư, mua sắm bằng hình ảnh. Tìm kiếm sản phẩm bằng hình ảnh sẽ là một xu hướng nổi bật  
trong năm 2018, về cơ bản nó làm thay đổi bản chất thực sự của khái niệm tìm kiếm trên Internet vốn  
dựa vào các từ khóa. Thay vì gõ từ khóa về sản phẩm, người tiêu dùng sẽ đưa hình ảnh sản phẩm vào  
thanh tìm kiếm trên các trang web hay ứng dụng mua sắm rồi nhấn Enter để tìm các sản phẩm tương tự.  
Thứ năm, trải nghiệm khách hàng và cá nhân hóa. Nhờ sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI),  
sự trải nghiệm mua sắm trực tuyến sẽ được tối ưu hóa và cá nhân hóa đối với mỗi khách hàng. Khi các  
thương hiệu và các nhà bán lẻ tận dụng tốt hơn dữ liệu và thói quen mua sắm của khách hàng, họ có  
thể triển khai các sáng kiến nhắm đến một nhóm đối tượng khách cụ thể nào đó. Xu hướng cá nhân  
hóa sẽ là chìa khóa để giành và giữ khách hàng trong những năm tới.  
Thứ sáu, áp dụng công cụ đo lường hiệu quả ứng dụng số hóa. Hiện nay, nhiều khách hàng có  
xu hướng khảo sát sản phẩm trực tuyến rồi đến cửa hàng để mua trực tiếp. Do vậy, tỷ lệ lượt xem hàng  
trên mạng sau đó đến cửa hàng trên phố để mua hàng sẽ là thước đo mới đối với mức độ thành công  
của các nhà bán lẻ trong chiến lược số hóa.  
TMĐT với các kênh trên tác động đến ngành ngân hàng. Ngành ngân hàng phải là một trong  
những lĩnh vực tiên phong ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh nên không thể  
nằm ngoài xu hướng, thể hiện ở sự đẩy mạnh chuyển đổi sang công nghệ số và đa dạng hóa các sản  
phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử.  
4.2. Xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam  
* Quy định của Việt Nam  
Tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Giao dịch điện tử.[20] Tháng 6 năm 2006  
Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về thương mại điện tử.[21]Đầu năm 2007, Chính  
phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 "Về giao dịch điện tử trong  
hoạt động tài chính" [22], số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 "Quy định chi tiết thi hành Luật Giao  
dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số" [23], số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007  
"Về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng" [24]. Nội dung chủ yếu của Nghị định về thương  
mại điện tử năm 2006 là thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại,  
ngoài ra có một số quy định cụ thể khác. Cho tới cuối năm 2012 TMĐT ở Việt Nam phát triển nhanh  
và đa dạng, đồng thời cũng xuất hiện những mô hình mang danh nghĩa TMĐT thu hút rất đông người  
tham gia nhưng gây tác động xấu tới xã hội. Ngày 16 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị  
định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT thay thế cho Nghị định năm 2006. Nghị định mới đã quy định  
những hành vi bị cấm TMĐT, quy định chặt chẽ trách nhiệm của các thương nhân cung cấp các dịch  
vụ bán hàng trực tuyến, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về TMĐT. Một trong những mục  
tiêu quan trọng của Nghị định mới là tạo môi trường thuận lợi hơn cho TMĐT nâng cao lòng tin của  
người tiêu dùng khi tham gia mua sắm trực tuyến [25]. Gần đây: Các đại biểu Quốc hội đã ấn nút biểu  
quyết thông qua dự án Luật An ninh mạng vào sáng ngày 12 tháng 6 năm 2018 với tỷ lệ 86,86% tổng  
số đại biểu tán thành [26].  
Hiện nay TMĐT ở Việt Nam được tận dụng phục vụ việc marketing, bán hàng cho DN là  
chính. Ngoài ra, một số website sàn giao dịch B2B, siêu thị điện tử B2C, website C2C như rao vặt, đấu  
giá..., website thông tin (tin tức là chính)... đã được xây dựng và đưa vào hoạt động. Thanh toán qua  
mạng trong và ngoài nước vẫn còn rất ít ỏi và bất tiện. Doanh số từ mô hình B2B vẫn hầu như chưa có,  
trong khi ở các nước phát triển, doanh số B2B xấp xỉ 80% tổng giá trị giao dịch TMĐT trên toàn cầu.  
*Khái quát xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam đi theo 3 nhóm  
- Các DN tận dụng TMĐT phục vụ marketing, bán hàng, hỗ trợ khách hàng, mở rộng thị  
trường, xuất khẩu...  
799  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
- Các DN kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT với những website TMĐT, kinh doanh trên mạng.  
- Các DN bắt đầu tận dụng TMĐT trong B2B để mua sắm nguyên vật liệu phục vụ việc kinh  
doanh sản xuất một cách tự động hoặc bán tự động.  
5. Khuyến nghị và giải pháp chủ yếu để phát triển TMĐT ở Việt Nam  
5.1. Khuyến nghị với Nhà nước  
Thứ nhất, hoàn thiện môi trường pháp lý. Để TMĐT phát triển cần phải hoàn thiện môi trường  
pháp lý, thông qua việc ban hành và thực thi các đạo luật và các văn kiện dưới luật điều chỉnh các hoạt  
động thương mại, thích ứng với pháp lý và tập quán quốc tế về giao dịch thương mại điện tử. Cần tiếp  
tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới chính sách, khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách cho  
phát triển thanh toán điện tử nhằm tăng cường lòng tin của người sử dụng và giới DN vào hệ thống  
thanh toán điện tử. Tăng cường điều phối, hợp tác chính sách phát triển dịch vụ thanh toán điện tử  
trong nước và quốc tế, liên quốc gia, liên ngành. Bên cạnh đó, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam  
và DN hoạt động trong lĩnh vực TMĐT cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi các chính sách quy định  
không còn phù hợp với sự phát TMĐT…  
Thứ hai, Nhà nước cần đầu tư trực tiếp và có chính sách tiếp tục khuyến khích và thu hút đầu  
tư của xã hội, đầu tư tư nhân nhằm phát triển hạ tầng kỹ thuật cho thanh toán điện tử. Đồng thời, đẩy  
mạnh phát triển các dịch vụ công phục vụ cho TMĐT. Các cơ quan nhà nước phải ứng dụng TMĐT  
trong mua sắm công, đấu thầu; gắn với cải cách hành chính, minh bạch hóa, nâng cao hiệu lực nền  
hành chính quốc gia, và xây dựng chính phủ điện tử. Ngân hàng Nhà nước cần tích cực triển khai đề án  
thanh toán không dùng tiền mặt và tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến thanh toán điện tử;  
đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công như hải quan điện tử; kê khai thuế và nộp thuế, làm các thủ tục  
xuất, nhập khẩu điện tử…  
Thứ ba, đảm bảo an toàn cho các giao dịch TMĐT. TMĐT có nhiều tác động tích cực nhưng  
cũng dễ bị tin tặc phát tán virus, tấn công vào các website; phát tán thư điện tử, tin nhắn rác; đánh cắp  
tiền từ các thẻ ATM… Mặt khác, qua internet cũng xuất hiện những giao dịch xấu như: ma túy, buôn  
lậu, bán hàng giả… Do vậy, cần có cơ chế kiểm soát các hoạt động vi phạm. Trong đó, cần yêu cầu  
các sàn giao dịch TMĐT tăng cường quy trình kiểm soát chất lượng sản phẩm, có biện pháp ngăn  
chặn, xử phạt với các DN bán hàng giả, hàng nhái… Đối với các DN và các sàn TMĐT cần tăng  
cường an ninh mạng, bảo mật, an toàn thông tin thanh toán điện tử. Nếu có nền tảng công nghệ chắc  
chắn và ổn định, người dùng dễ tiếp cận hơn thì chắc chắn rảo cản TMĐT sẽ được thu hẹp.  
Thứ tư, cần nâng cao khả năng quản trị DN thông qua hợp tác và tăng sức cạnh tranh. Các DN  
cần nghĩ đến phương án xây dựng mối quan hệ cộng sinh cho riêng mình, hợp tác để đáp ứng từng  
phần trong quy trình TMĐT, tránh tự trói chính mình trong sợi dây áp lực “tự thực hiện”.  
Thứ năm, đẩy mạnh đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Muốn phát triển TMĐT ngoài việc  
đòi hỏi phải có một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các thành tựu công nghệ  
thông tin mới phát sinh, có khả năng thiết kế các phần mềm đáp ứng các nhu cầu của kinh tế số hóa,  
cũng đòi hỏi mỗi người tham gia TMĐT phải có khả năng sử dụng máy tính, có thể trao đổi thông tin  
một cách thành thạo trên mạng, có những hiểu biết cần thiết về thương mại, luật pháp… Cần đào tạo  
các chuyên gia tin học và phổ cập kiến thức về TMĐT không những cho các DN, các cán bộ quản lý  
của Nhà nước mà cho cả mọi người dân.  
Thứ sáu, chủ động hợp tác về TMĐT với các quốc gia và các tổ chức quốc tế thúc đẩy TMĐT  
xuyên biên giới và thương mại phi giấy tờ...  
5.2. Giải pháp đối với DN  
Các DN bán hàng qua mạng, bên cạnh việc tiếp cận công nghệ hiện đại cần nâng cao chất  
lượng và bảo đảm thương hiệu của DN để sản phẩm, dịch vụ tạo được sự tin tưởng của khách hàng đối  
với DN… Để đạt tối ưu phát triển TMĐT, các DN cần có các giải pháp:  
800  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Thứ nhất, chuyển hóa khách hàng triển vọng thành khách hàng hiện tại. Lượng khách hàng truy  
cập vào trang web của DN không có nhiều ý nghĩa, điều quan trọng hơn là có bao nhiêu khách hàng  
trong số ấy mua hàng của DN. Khi cải thiện được tỷ lệ chuyển hóa khách hàng DN sẽ tăng trưởng  
được doanh thu. Không ít DN hoạt động trong lĩnh vực TMĐT cho rằng cách duy nhất để tăng doanh  
số bán hàng là tăng lượng truy cập. Đây cũng có thể là một lựa chọn, nhưng nếu tăng được tỷ lệ  
chuyển hóa khách hàng thì DN sẽ có thể tăng trưởng doanh thu mạnh hơn nhiều.  
Thứ hai, DN thu thập địa chỉ thư điện tử của khách hàng. Tiếp thị bằng thư điện tử (email) vẫn  
là một trong những cách tốt nhất để tăng trưởng kinh doanh. Nếu một khách hàng nào đó chưa mua  
hàng của DN, nhưng DN vẫn thu thập được địa chỉ email của họ thì DN xem như đã “thắng” thương  
vụ bước đầu. Dĩ nhiên, nếu một khách hàng vừa mua hàng, vừa để lại địa chỉ email thì DN sẽ “lợi cả  
đôi đường”.  
Thứ ba, tạo các trang nhật ký điện tử (blog). Mục tiêu chính của DN khi tham gia TMĐT là để  
bán hàng và tăng trưởng doanh thu. Nhật ký điện tử đang được xem là một công cụ đắc lực giúp DN  
đạt được mục tiêu này vì nó mang đến những lợi ích sau đây: (i) Cải thiện vị trí xếp hạng của DN trong  
các kết quả tìm kiếm từ các trang tìm kiếm thông tin. (ii) Là một kênh tư vấn và hướng dẫn hiệu quả  
cho khách hàng hiện tại và tương lai. (iii) Tạo ra một nơi để DN chia sẻ các thông tin về công ty hay  
sản phẩm mới. DN có thể viết một bài viết về các sản phẩm hàng đầu trong lĩnh vực của mình, liên kết  
với những người mua hàng. Đây là một chiến lược “bán hàng mềm dẻo” (soft selling) rất hiệu quả đối  
với TMĐT.  
Thứ tư, làm bạn với truyền thông xã hội. Truyền thông xã hội không phải là một kênh tiếp thị  
hiệu quả đối với tất cả các DN TMĐT. Tuy nhiên, đối với một số DN hoạt động trong một số ngành  
đặc thù, đây là kênh tốt nhất để tiếp cận và phát triển khách hàng.  
Thứ năm, thiết kế lại cửa hàng trực tuyến. Với áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, việc thiết kế  
lại trang web nhằm tạo ra sự khác biệt sẽ giúp DN tăng khả năng thành công. Dù cho tự xây dựng cửa  
hàng trực tuyến của mình từ đầu hoặc đang sử dụng những phần mềm TMĐT của các nhà cung cấp  
giải pháp TMĐT hàng đầu trên thị trường.  
Thứ sáu, cải thiện chất lượng hình ảnh trên cửa hàng trực tuyến. Một cửa hàng trực tuyến kinh  
doanh các sản phẩm vật chất sẽ có sức thu hút khách hàng hơn nhờ những hình ảnh chất lượng cao.  
Nên nhớ, khi mua hàng trực tuyến, người mua không thể nhìn thấy hàng trực tiếp và họ cũng không  
thể cảm nhận chúng bằng tay, bằng mắt như bên ngoài. Họ hoàn toàn phải dựa vào hình ảnh và mô tả  
sản phẩm do DN cung cấp trên trang web để ra quyết định mua hàng.  
Thứ bảy, chú trọng chất lượng dịch vụ khách hàng. Các dịch vụ khách hàng mà DN cung cấp  
sẽ là một công cụ đắc lực giúp DN phát triển, duy trì quan hệ với khách hàng và phát triển TMĐT. Một  
khách hàng hài lòng sẽ chia sẻ những trải nghiệm tích cực của mình đối với cửa hàng trực tuyến của  
DN với nhiều khách hàng khác, nhưng những khách hàng không hài lòng còn có thể “truyền miệng”  
những trải nghiệm tiêu cực của họ đi xa và rộng hơn gấp nhiều lần.  
6. Kết luận  
Với một quốc gia có đến 50% dân số sử dụng internet và gần 50 triệu thuê bao sử dụng  
smartphone, thị trường TMĐT ở Việt Nam được dự đoán sẽ bùng nổ trong thời gian tới. Thực tế thời  
gian qua cũng cho thấy, tiềm năng tăng trưởng của lĩnh vực TMĐT của Việt Nam rất lớn.  
Nằm trong khu vực được đánh giá là phát triển năng động nhất về TMĐT trên thế giới, Việt  
Nam có cả những thuận lợi và thách thức. Các xu hướng phát triển của TMĐT Việt Nam thời gian tới  
sẽ không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới, cụ thể như: Các công nghệ đặc trưng của Cách  
mạng công nghiệp 4.0 (dữ liệu lớn, internet của vạn vật...) sẽ khởi nguồn những hình thái ứng dụng  
TMĐT mới trong thời gian tới; các mô hình kinh tế chia sẻ phát triển mạnh; phương thức bán hàng đa  
kênh được ứng dụng rộng rãi trong DN; TMĐT xuyên biên giới, phát triển nhanh; TMĐT trên di động  
và thanh toán di động trở nên phổ biến…  
801  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Tăng trưởng TMĐT góp phần tăng trưởng kinh tế; tăng trưởng của TMĐT xuyên biên giới,  
đóng góp tích cực cho liên kết thương mại và kinh tế khu vực, Việt Nam phối hợp với các thành viên  
APEC hoàn thiện và hài hòa khung pháp lý TMĐT của các nền kinh tế APEC để tạo thuận lợi cho  
TMĐT xuyên biên giới trong khu vực. Việt Nam tăng cường xây dựng năng lực để các nền kinh tế  
APEC có thể hỗ trợ các DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ nước ta tham gia vào thị trường TMĐT xuyên biên  
giới trong khu vực và trên toàn thế giới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bùi văn Sâm (2016) thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp;  
2. Công Lý (2017), Thương mại điện tử Việt Nam: Tiềm năng và thách thức, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp;  
3. Hương Xuân (2017), thương mại điện tử Việt Nam cần làm gì để phát triển nhanh hơn?, Tạp chí The Leader;  
4. Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam (2018), Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam năm 2018;  
5. ThS. Phạm Thanh Bình (2017), Phát triển thương mại điện tử Việt Nam trong quá trình hội nhập AEC, Tạp  
chí Tài chính tháng 6/2017;  
6. “Electronic commerce”. WTO;  
7. “Definition: E-Commerce”. APEC;  
8. “Glossary: E-commerce”. Euro Commission;  
9. Treasury White Paper, supra note 1, at 8;  
10. Based on Center for Research in Electronic Commerce, University of Texas, "Measuring the Internet  
Economy", ngày 6 tháng 6 năm 2000;  
11. Daniel Schutzer (tháng 4 năm 1996). “A Need For A Common Infrastructure: Digital Libraries and  
Electronic Commerce”. D-Lib Magazine;  
12. Zorayda Ruth Andam, e-Commerce and e-Business, trang 9, tháng 5/2003;  
13. Robinson, James (ngày 28 tháng 10 năm 2010). “news”. London: Guardian.co.uk;  
14. Olsen, Robert (ngày 18 tháng 1 năm 2010). “China's migration to eCommerce”. Forbes.com;  
15. “Now a Digital Mall Boom in the Middle East | Thomas White International”. Thomaswhite.com^  
Eisingerich, Andreas B.; Kretschmer, Tobias (2008);  
16. “In E-Commerce, More is More”. Harvard Business Review. 86 (March): 20–21;  
17. “Economics focus: The click and the dead”. The Economist. July 3–9, 2010. tr. 78;  
18. “Bundesrecht konsolidiert: Gesamte Rechtsvorschrift für E-Commerce-Gesetz, Fassung vom 07.05.2012”.  
Bundeskanzleramt Österreich;  
19. “Bürgerliches Gesetzbuch (BGB)”;  
20. “Electronic Resource Guide”. The American Society of International Law. Ngày 21 tháng 6 năm 2011;  
21. “Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11”, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam;  
22. Chính phủ, “Nghị định về thương mại điện tử năm 2006”. Bộ Công thương. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm  
2012;  
23. “Nghị định: Về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính”. Chính phủ Việt Nam;  
24. “Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số”. Chính  
phủ Việt Nam;  
25. “Về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính”. Chính phủ Việt Nam;  
802  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
27. Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử, Hệ thống văn bản Pháp luật. http://enternews.vn/thuong-  
mai-dien-tu-viet-nam-tiem-nang-va-thach-thuc-107099.html, tham khảo ngày 6 tháng 1 năm 2012;  
o-viet-nam-1893.web;  
30.  
kinh-te-so-138944.html;  
31.  
kinh-te-so-138944.html...  
803  
pdf 11 trang baolam 16600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiềm năng, thách thức, xu hướng và giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftiem_nang_thach_thuc_xu_huong_va_giai_phap_phat_trien_thuong.pdf