Tài liệu học tập Thương mại điện tử (Phần 2)

CHƯƠNG 4  
RỦI RO VÀ PHÒNG TRÁNH RỦI RO TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ  
MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG  
Sau khi học xong chương này, sinh viên cần nắm được:  
- Vai trò của việc đảm bảo an toàn và phòng tránh các rủi ro trong thương mại  
điện tử  
- Các dạng rủi ro trong thương mại điện tử  
- Xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh thương mại điện tử  
- Nắm được mốt số biện pháp cơ bản để đảm bảo an ninh thương mại điện tử  
NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG  
4.1. TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN VÀ PHÒNG TRÁNH RỦI RO TRONG TMĐT  
4.1.1. Vai trò của an toàn và phòng tránh rủi ro trong thương mại điện tử  
Ngày nay, vấn đề an ninh cho thương mại điện tử đã không còn là vấn đề mới mẻ.  
Các bằng chứng thu thập được từ hàng loạt các cuộc điều tra cho thấy những vụ tấn công  
qua mạng hoặc tội phạm mạng trong thế giới thương mại điện tử đang gia tăng nhanh  
từng ngày. Theo báo cáo của Viện An ninh Máy tính (CSI) và FBI (Mỹ) về thực trạng  
các vụ tấn công vào hoạt động thương mại điện tử năm 2002 cho biết:  
- Các tổ chức tiếp tục phải chịu những cuộc tấn công qua mạng từ cả bên trong lẫn  
bên ngoài tổ chức. Trong những tổ chức được điều tra, khoảng 90% cho rằng họ đã thấy  
có sự xâm phạm an ninh trong vòng 12 tháng gần nhất.  
- Các hình thức tấn công qua mạng mà các tổ chức phải chịu rất khác nhau: 85%  
bị virus tấn công, 78% bị sử dụng trái phép mạng internet, 40% là nạn nhân của tấn công  
từ chối dịch vụ (DoS).  
- Thiệt hại về tài chính qua các vụ tấn công qua mạng là rất lớn: 80% các tổ chức  
được điều tra trả lời rằng họ đã phải chịu thiệt hại về tài chính do hàng loạt các kiểu tấn  
công khác nhau qua mạng. Tổng thiệt hại của những tổ chức này khoảng 455 triệu đôla  
Mỹ.  
- Cần phải sử dụng nhiều biện pháp đồng thời để nâng cao khả năng phòng chống  
các vụ tấn công qua mạng. Hầu hết các tổ chức được điều tra đều trả lời rằng họ đã sử  
dụng các thiết bị bảo vệ an ninh, tường lửa, quản lý việc truy cập hệ thống. Tuy nhiên,  
không có tổ chức nào tin rằng hệ thống thương mại điện tử của mình tuyệt đối an toàn.  
Tại Việt Nam cũng đã thành lập Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam  
(VnCERT- Vietnam Computer Emergency Response Teams) vào tháng 12/2005 theo  
quyết định số 13/2006/QĐ-BBCVT. Trung tâm VNCERT sẽ là đầu mối trao đổi thông tin  
với các trung tâm an toàn mạng quốc tế của Việt Nam và hợp tác với các tổ chức CERT  
trên thế giới. Theo ông Đỗ Duy Trác, phụ trách CERT, thì trong những năm gần đây, tội  
162  
phạm tin học gia tăng cả về phạm vi và mức độ chuyên nghiệp. Ban đầu là lấy cắp mật  
khẩu thể tín dụng để mua sách và phần mềm qua mạng, tiếp đến là làm thẻ tín dụng giả  
để lấy cắp tiền từ máy ATM, thiết lập các mạng máy tính giả để gửi thư rác, thư quảng  
cáo, hay tấn công từ chối dịch vụ, thậm chí ngang nhiên hơn nữa là đe dọa tấn công, tống  
tiền hay bảo kê các website thương mại điện tử  
4.1.2. Rủi ro trong thương mại điện tử tại Việt Nam  
Tại Việt Nam, thị trường thương mại điện tử còn non trẻ nhưng có tốc độ phát  
triển nhanh chóng, theo báo cáo mới nhất thì tốc độ tăng trưởng của Việt Nam gấp đôi  
Nhật bản (37% so với 15%). Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa có con số thống kê  
chính thức về tình hình an toàn thông tin trong lĩnh vực thương mại điện tử. Các đơn vị  
kinh doanh dựa trên thương mại điện tử cũng không cung cấp thông tin chính thức về mất  
mát dữ liệu nếu có. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa kinh doanh thương mại điện tử ở  
Việt Nam an toàn. Hoạt động nhiều năm trong lĩnh vực an toàn thông tin, Công ty cổ  
phần An ninh mạng Việt Nam đã nhận được nhiều yêu cầu hỗ trợ từ các tổ chức kinh  
doanh thương mại điện tử. Yêu cầu hỗ trợ phổ biến nhất là hạn chế tấn công DOS/DDOS,  
loại hình tấn công này không làm mất dữ liệu người dùng nhưng khiến cho công việc  
kinh doanh bị thiệt hại do ngưng trệ hệ thống và không thể phục vụ khách hàng. Các  
công ty cung cấp dịch vụ trực tuyến 24/7 thường gặp tấn công này như: bán vé trực  
tuyến, đặt chỗ khách sạn,… Các tìm hiểu chuyên sâu hơn cho thấy nhiều rủi ro nghiêm  
trọng về thương mại điện tử tồn tại từ lâu và rất có thể đã bị kẻ xấu lợi dụng.  
Ngay trong năm 2016, ví dụ nổi bật về sự nguy hiểm của tấn công mạng đó là vụ  
việc mạng lưới của Cảng Hàng Không và Vietnam Airlines bị tấn công. Kẻ tấn công đã  
thực hiện nhiều cách thức khai thác lỗ hổng, cài mã độc vào trong hệ thống thông tin từ  
rất lâu trước khi bùng nổ (theo số liệu chính thức là từ năm 2014) thay đổi giao diện, lấy  
cắp dữ liệu khách hàng. Mặc dù sự cố này không liên hệ trực tiếp tới lĩnh vực thương mại  
điện tử nhưng cũng cho thấy sự nguy hiểm của tấn công mạng khi kẻ xấu đã âm thầm lợi  
dụng các lỗ hổng bảo mật để trục lợi mà doanh nghiệp không hề hay biết. Sự cố khác gần  
gũi hơn là đầu tháng 11 năm 2016, một hệ thống con của VietnamWorks.com đã bị tấn  
công dẫn tới thông tin hàng nghìn tài khoản bị lộ. Nhiều tài khoản ở đây được người  
dùng sử dụng chung với các dịch vụ khác, dẫn đến một số ngân hàng đã phải gửi cảnh  
báo đến toàn bộ khách hàng về việc đổi mật khẩu tài khoản.  
4.1.3. Vai trò của chính sách và quy trình bảo đảm an toàn đối với TMĐT  
Xây dựng chính sách về an ninh an toàn mạng và yêu cầu mọi người phải chấp  
hành có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng ý thức và thể chế hóa hoạt động bảo vệ  
an ninh cho thương mại điện tử. Chính sách này thường bao gồm các nội dung sau:  
- Quyền truy cập: xác định ai được quyền truy cập vào hệ thống, mức độ truy cập  
và ai giao quyền truy cập  
- Bảo trì hệ thống: ai có trách nhiệm bảo trì hệ thống như việc sao lưu dữ liệu,  
kiểm tra an toàn định kỳ, kiểm tra tính hiệu quả các biện pháp an toàn,…  
163  
- Bảo trì nội dung và nâng cấp dữ liệu: ai có trách nhiệm với nội dung đăng tải trên  
mạng intranet, internet và mức độ thường xuyên phải kiểm tra và cập nhật những nội  
dung này  
- Cập nhật chính sách an ninh thương mại điện tử: mức độ thường xuyên và ai  
chịu trách nhiệm cập nhật chính sách an ninh mạng và các biện pháp đảm bảo việc thực  
thi chính sách đó.  
4.2. RỦI RO CHÍNH TRONG TMĐT  
4.2.1. Một số rủi ro chính doanh nghiệp có thể gặp phải trong thương mại điện tử  
Rủi ro trong thương mại điện tử có thể chia thành bốn nhóm cơ bản sau:  
Nhóm rủi ro dữ liệu  
Nhóm rủi ro về công nghệ  
Nhóm rủi ro về thủ tục quy trình giao dịch của tổ chức  
Nhóm rủi ro về luật pháp và các tiêu chuẩn công nghiệp  
Các nhóm rủi ro này không hoàn toàn độc lập với nhau mà đôi khi chúng đồng  
thời cùng xảy đến và không xác định tách bạch rõ ràng được. Nếu các rủi ro này đồng  
thời xảy ra, thiệt hại đối với tổ chức có thể rất lớn cả về uy tín, thời gian và chi phí đầu tư  
để khôi phục hoạt động trở lại bình thường.  
4.2.2. Một số dạng tấn công chính vào các website thương mại điện tử  
Trong thương mại điện tử, ngoài những rủi ro về phần cứng do bị mất cắp hay bị  
phá hủy các thiết bị (máy tính, máy chủ, thiết bị mạng...), các doanh nghiệp có thể phải  
chịu những rủi ro về mặt công nghệ phổ biến như sau:  
- Virus  
Virus tấn công vào thương mại điện tử thường gồm 3 loại chính: virus ảnh hưởng  
tới các tệp (file) chương trình (gắn liền với những file chương trình, thường là .COM  
hoặc .EXE), virus ảnh hưởng tới hệ thống (đĩa cứng hoặc đĩa khởi động), và virus macro.  
Virus macro là loại virus phổ biến nhất, chiếm từ 75% đến 80% trong tổng số các virus  
được phát hiện. Đây là loại virus đặc biệt chỉ nhiễm vào các tệp ứng dụng soạn thảo,  
chẳng hạn như các tệp ứng dụng của MS Word, Excel và Power Point . Khi người sử  
dụng mở các tài liệu bị nhiễm virus trong các chương trình ứng dụng, virus này sẽ tự tạo  
ra các bản sao và nhiễm vào các tệp chứa đựng các khuôn mẫu của ứng dụng, để từ đó  
lây sang các tài liệu khác.  
Các loại virus có thể gây ra những tác hại nghiêm trọng, đe dọa tính toàn vẹn và  
khả năng hoạt động liên tục, thay đổi các chức năng, thay đổi các nội dung dữ liệu hoặc  
đôi khi làm ngưng trệ toàn bộ hoạt động của nhiều hệ thống trong đó có các website  
thương mại điện tử. Nó được đánh giá là mối đe dọa lớn nhất đối với an toàn của các giao  
dịch thương mại điện tử hiện nay.  
- Tin tặc (hacker) và các chương trình phá hoại (cybervandalism)  
164  
Tin tặc hay tội phạm máy tính là thuật ngữ dùng để chỉ những người truy cập trái  
phép vào một website, một cơ sở dữ liệu hay hệ thống thông tin. Thực chất mục tiêu của  
các hacker rất đa dạng. Có thể là hệ thống dữ liệu của các website thương mại điện tử,  
hoặc với ý đồ nguy hiểm hơn chúng có thể sử dụng các chương trình phá hoại  
(cybervandalism) nhằm gây ra các sự cố, làm mất uy tín hoặc phá huỷ website trên phạm  
vi toàn cầu.  
- Rủi ro về gian lận thẻ tín dụng  
Trong thương mại điện tử, các hành vi gian lận thẻ tín dụng xảy ra đa dạng và  
phức tạp hơn nhiều so với thương mại truyền thống. Nếu như trong thương mại truyền  
thống, việc mất thẻ hoặc thẻ bị đánh cắp là mối đe doạ lớn nhất đối với khách hàng thì  
trong thương mại điện tử mối đe doạ lớn nhất là bị “mất” (hay bị lộ) các thông tin liên  
quan đến thẻ tín dụng hoặc các thông tin giao dịch sử dụng thẻ tín dụng trong quá trình  
thực hiện các giao dịch mua sắm qua mạng và các thiết bị điện tử. Các tệp chứa dữ liệu  
thẻ tín dụng của khách hàng thường là những mục tiêu hấp dẫn đối với tin tặc khi tấn  
công vào website thương mại điện tử. Hơn thế, những tên tội phạm có thể đột nhập vào  
các cơ sở dữ liệu của website thương mại điện tử để lấy cắp các thông tin của khách  
hàng như tên, địa chỉ, điện thoại… với những thông tin này chúng có thể mạo danh khách  
hàng thiết lập các khoản tín dụng mới nhằm phục vụ những mục đích phi pháp.  
- Tấn công từ chối dịch vụ  
Tấn công từ chối dịch vụ (DOS - Denial Of Service attack, DDOS – Distributed  
DOS hay DR DOS) là kiểu tấn công khiến một hệ thống máy tính hoặc một mạng bị quá  
tải, dẫn tới không thể cung cấp dịch vụ hoặc phải dừng hoạt động. Sơ khai nhất là hình  
thức DoS (Denial of Service), lợi dụng sự yếu kém của giao thức TCP, tiếp đến là DDoS  
(Distributed Denial of Service) - tấn công từ chối dịch vụ phân tán, và gần đây là DRDoS  
- tấn công theo phương pháp phản xạ phân tán (Distributed Reflection Denial of Service).  
Những cuộc tấn công DoS có thể là nguyên nhân khiến cho mạng máy tính ngừng  
hoạt động và trong thời gian đó, người sử dụng sẽ không thể truy cập vào các website  
thương mại điện tử. Những tấn công này cũng đồng nghĩa với những khoản chi phí rất  
lớn vì trong thời gian website ngừng hoạt động, khách hàng không thể thực hiện các giao  
dịch mua bán. Đồng thời, sự gián đoạn hoạt động này sẽ ảnh hưởng đến uy tín và tiếng  
tăm của doanh nghiệp, những điều không dễ dàng gì lấy lại được. Mặc dù những cuộc tấn  
công này không phá huỷ thông tin hay truy cập vào những vùng cấm của máy chủ nhưng  
tạo ra phiền toái, gây trở ngại cho hoạt động của nhiều doanh nghiệp.  
- Kẻ trộm trên mạng (sniffer)  
Kẻ trộm trên mạng (sniffer) là một dạng của chương trình theo dõi, nghe trộm,  
giám sát sự di chuyển của thông tin trên mạng. Khi sử dụng vào những mục đích hợp  
pháp, nó có thể giúp phát hiện ra những yếu điểm của mạng, nhưng ngược lại, nếu sử  
dụng vào các mục đích phi pháp, các phần mềm ứng dụng này sẽ trở thành các mối hiểm  
hoạ lớn và rất khó có thể phát hiện. Kẻ trộm sử dụng các phần mềm này nhằm lấy cắp các  
165  
thông tin có giá trị như thư điện tử, dữ liệu kinh doanh của các doanh nghiệp, các báo cáo  
mật…từ bất cứ nơi nào trên mạng.  
Xem lén thư điện tử là một dạng mới của hành vi trộm cắp trên mạng. Kỹ thuật  
xem lén thư điện tử là sử dụng một đoạn mã (ẩn) bí mật gắn vào thông điệp thư điện tử,  
cho phép người nào đó có thể giám sát toàn bộ các thông điệp chuyển tiếp được gửi đi  
cùng với thông điệp ban đầu. Chẳng hạn một nhân viên phát hiện thấy lỗi kỹ thuật trong  
khâu sản xuất, anh ta lập tức gửi một báo cáo thông báo cho cấp trên về phát hiện của  
mình. Người này sau đó sẽ tiếp tục gửi thông báo đến tất cả các bộ phận có liên quan  
trong doanh nghiệp. Một kẻ nào đó sử dụng kỹ thuật xem lén thư điện tử có thể theo dõi  
và biết được toàn bộ thông tin trong bức thư điện tử gửi tiếp sau đó bàn về vấn đề này.  
- Phishing – “ kẻ giả mạo”  
Phishing là một loại tội phạm công nghệ cao sử dụng email, tin nhắn pop-up hay  
trang web để lừa người dùng cung cấp các thông tin cá nhân nhạy cảm như thẻ tín dụng,  
mật khẩu, số tài khoản ngân hàng. Thông thường các tin tặc thường giả mạo là các công  
ty nổi tiếng yêu cầu khách hàng cung cấp những thông tin nhạy cảm này. Các website  
thường xuyên bị giả mạo đó là Paypal, Ebay, MSN, BestBuy, American Online….Kẻ giả  
mạo thường hướng tới phishing những khách hàng của ngân hàng và người tiêu dùng  
thường mua sắm trực tuyến. Những thông tin ăn cắp được sẽ được kẻ giả mạo dùng để  
truy cập với mục đích xấu, nếu là thông tin về tài khoản thanh toán thì sẽ dùng vào mục  
đích mua hàng hoặc rút tiền. Bất cứ ai cũng có thể phishing được vì phần mềm phishing  
là có nhiều trên mạng với hướng dẫn chi tiết cùng với danh sách địa chỉ email. Công nghệ  
phishing là đã có từ những năm 1987, tuy nhiên nó chỉ thực sự biết đến rộng rãi vào năm  
1996. AOL là công ty đầu tiên đã bị kẻ giả mạo tấn công ăn cắp thông tin của khách  
hàng.  
- Ngoài ra, tội phạm TMĐT được thực hiện dưới nhiều hình thức sau: phát triển  
các mạng máy tính ma (bots network) để tấn công DOS, gửi thư rác, gửi thư rác với quy  
mô lớn (dịch vu thư rác), thuê hacker phá hoại website của đối thủ cạnh tranh, thu thập  
thông tin người sử dụng bằng spyware.  
4.3. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH AN NINH CHO TMĐT  
Việc xây dựng kế hoạch an ninh thương mại điện tử cho doanh nghiệp bao gồm 4  
giai đoạn sau:  
- Giai đoạn đánh giá: Giai đoạn này xác định những tài sản doanh nghiệp có, bao  
gồm cả tài sản hữu hình và vô hình. Giá trị tài sản phải được định rõ, cả về mặt tài chính  
và phi tài chính và định rõ tầm quan trọng của từng tài sản đối với doanh nghiệp và từ đó  
đánh giá khả năng bị tấn công của từng tài sản. Việc đánh giá gồm các nội dung sau:  
+ Xác định các mối đe dọa: đa số những vụ xâm phạm an ninh trái phép là do sự  
can thiệp trực tiếp hay gián tíếp của con người các hệ thống và những người có quyền  
166  
truy cập tới tài sản phải được định rõ như giám đốc IT, nhân viên, các nhà tư vấn,… Khả  
năng mối đe dọa trở thành hiện thực cũng cần được đánh giá.  
+ Xác định hình thức thiệt hại: ví dụ các thông tin quan trọng có thể bị sửa đổi  
hoặc đánh cắp bởi các cá nhân, hoặc có thể bị phá hủy do bị tấn công.  
- Giai đoạn lên kế hoạch: Xác định rõ ràng đe dọa nào cần phải chống đỡ và giải  
pháp tương ứng cần được tiến hành, thời gian cụ thể và người chịu trách nhiệm triển khai.  
Đánh giá và lựa chọn các giải pháp phù hợp.  
- Giai đoạn thực thi: Các công nghệ đặc thù có thể được chọn để chống đỡ với  
các nguy cơ dễ xảy ra nhất. Việc lựa chọn công nghệ dựa vào những định hướng đã được  
nêu ra ở giai đoạn Lập kế hoạch. Ngoài những công nghệ đặc thù, các phần mềm an ninh  
từ những nhà cung cấp khác cũng có thể được lựa chọn.  
- Giai đoạn giám sát: Xác định những biện pháp nào mang lại thành công, những  
biện pháp nào không hiệu quả cần thay đổi, liệu có những mối đe dọa mới xuất hiện hay  
có những cải tiến hoặc thay đổi gì trong công nghệ, hoặc có những tài sản nào khác của  
doanh nghiệp cần bảo đảm an ninh.  
4.3.1. Những biện pháp cơ bản nào đảm bảo an toàn cho giao dịch TMĐT  
Biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay trong việc đảm bảo tính xác thực là sử dụng hạ  
tầng khóa công khai (PKI – Public Key Infrastructure) trong đó có sử dụng các thiết bị kỹ  
thuật, hạ tầng và quy trình để ứng dụng việc mã hóa, chữ kỹ số và chứng chỉ số. Các kỹ  
thuật sử dụng trong Hạ tầng khóa công khai có thể hiểu như sau:  
- Sử dụng kỹ thuật mã hoá thông tin:  
Mã hoá thông tin là quá trình chuyển các văn bản hay các tài liệu gốc thành các  
văn bản dưới dạng mật mã bằng cách sử dụng một thuật mã hóa. Giải mã là quá trình văn  
bản dạng mật mã được chuyển sang văn bản gốc dựa trên mã khóa. Mục đích của kỹ  
thuật mã hoá nhằm đảm bảo an toàn cho các thông tin được lưu giữ và đảm bảo an toàn  
cho thông tin khi truyền phát.  
Mã hoá thông tin là một kỹ thuật được sử dụng rất sớm kể từ khi loài người bắt đầu giao  
tiếp với nhau và thuật mã hóa cũng phát triển từ những thuật toán rất sơ khai trước đây  
tới các công nghệ mã hóa phức tạp hiện nay. Một phần mềm mã hóa sẽ thực hiện hai  
công đoạn: thứ nhất là tạo ra một chìa khóa và thứ hai là sử dụng chìa khóa đó cùng thuật  
mã hóa để mã hóa văn bản hoặc giải mã.  
Có hai kỹ thuật cơ bản thường được sử dụng để mã hoá thông tin là mã hoá “khoá  
đơn” sử dụng một “khoá bí mật” và mã hoá kép sử dụng hai khóa gồm “khoá công khai”  
và ”khóa bí mật”.  
+ Kỹ thuật mã hóa đơn sử dụng một khoá khoá bí mật:  
Mã hoá khoá bí mật, còn gọi là mã hoá đối xứng hay mã hoá khoá riêng, là việc sử  
dụng một khoá chung, giống nhau cho cả quá trình mã hoá và quá trình giải mã. Quá  
trình mã hoá khoá bí mật được thực hiện như minh họa trong hình 4.1.  
167  
Khóa người nhận  
Khóa người gửi = (Khóa người nhận  
)
Thông điệp  
gốc  
Thông điệp  
được mã hóa  
Thông điệp  
được mã hóa  
Thông điệp  
gốc  
INTERNET  
Người gửi  
Người nhận  
Hình 4.1: Phương pháp mã hoá khoá riêng  
Tuy nhiên, tính bảo mật trong phương pháp mã hóa bí mật phụ thuộc rất lớn vào  
chìa khóa bí mật. Ngoài ra, sử dụng phương pháp mã hoá khoá bí mật, một doanh nghiệp  
rất khó có thể thực hiện việc phân phối an toàn các mã khoá bí mật với hàng ngàn khách  
hàng trực tuyến của mình trên những mạng thông tin rộng lớn. Và doanh nghiệp sẽ phải  
bỏ ra những chi phí không nhỏ cho việc tạo một mã khoá riêng và chuyển mã khoá đó tới  
một khách hàng bất kỳ trên mạng Internet khi họ có nhu cầu giao dịch với doanh nghiệp.  
Ví dụ, một trong các hình thức đơn giản của khóa bí mật là password để khóa và mở khóa  
các văn bản word, excel hay power point.  
+ Kỹ thuật mã hóa kép sử dụng khoá công khai và khóa bí mật  
Kỹ thuật mã hoá này sử dụng hai khoá khác nhau trong quá trình mã hoá và giải  
mã: một khoá dùng để mã hoá thông điệp và một khoá khác dùng để giải mã. Hai mã  
khoá này có quan hệ với nhau về mặt thuật toán sao cho dữ liệu được mã hoá bằng khoá  
này sẽ được giải mã bằng khoá kia. Khoá công cộng là phần mềm có thể công khai cho  
nhiều người biết, còn khoá riêng được giữ bí mật và chỉ mình chủ nhân của nó được biết  
và có quyền sử dụng.  
Khóa riêng người nhận  
Khóa công cộng người nhận  
Thông điệp  
gốc  
Thông điệp  
được mã hóa  
Thông điệp  
được mã hóa  
Thông điệp  
INTERNET  
gốc  
Người gửi  
Người nhận  
Hình 4.2: Phương pháp mã hoá khoá công cộng  
Như vậy, kỹ thuật mã hóa này đảm bảo tính riêng tư và bảo mật, vì chỉ có người  
nhận thông điệp mã hóa được gửi đến mới có thể giải mã được. Ngoài ra kỹ thuật này  
cũng đảm bảo tính toàn vẹn, vì một khi thông điệp mã hóa bị xâm phạm, quá trình giải  
mã sẽ không thực hiện được.  
Trong quá trình sử dụng, có một số đặc điểm cần lưu ý đối với hai kỹ thuật mã hóa  
trên.  
168  
Đặc điểm  
Số khoá  
Mã hoá khoá riêng  
Một khoá đơn  
Mã hoá khoá công cộng  
Một cặp khoá  
Loại khoá  
Khoá bí mật  
Một khóa bí mật và một khóa công khai  
Đơn giản, nhưng khó quản lý Yêu cầu các chứng nhận điện tử và bên tin  
cậy thứ ba  
Quản lý khoá  
Tốc độ giao Nhanh  
dịch  
Chậm  
Sử dụng để mã hoá những dữ Sử dụng đối với những ứng dụng có nhu  
Sử dụng  
liệu lớn (hàng loạt)  
cầu mã hoá nhỏ hơn như mã hoá các tài  
liệu nhỏ hoặc để ký các thông điệp  
Bảng 4.1: So sánh phương pháp mã hoá khóa riêng và mã hoá khoá công cộng  
- Chữ ký số (Digital signature)  
Về mặt công nghệ, chữ ký số là một thông điệp dữ liệu đã được mã hóa gắn kèm  
theo một thông điệp dữ liệu khác nhằm xác thực người gửi thông điệp đó. Quá trình ký  
và xác nhận chữ ký số như sau: Người gửi muốn gửi thông điệp cho bên khác thì sẽ dùng  
một phần mềm rút gọn thông điệp dữ liệu điện tử, xử lý chuyển thông điệp dữ liệu điện  
tử thành một “thông điệp tóm tắt” (Message Digest), thuật toán này được gọi là thuật toán  
rút gọn (hash function). Người gửi mã hoá bản tóm tắt thông điệp bằng khóa bí mật của  
mình (sử dụng phần mềm bí mật được cơ quan chứng thực cấp) để tạo thành một chữ ký  
điện tử. Sau đó, người gửi tiếp tục gắn kèm chữ ký điện tử này với thông điệp dữ liệu ban  
đầu. Sau đó gửi thông điệp đã kèm với chữ ký điện tử một cách an toàn qua mạng cho  
người nhận. Sau khi nhận được, người nhận sẽ dùng khoá công khai của người gửi để  
giải mã chữ ký điện tử thành bản tóm tắt thông điệp. Người nhận cũng dùng rút gọn  
thông điệp dữ liệu giống hệt như người gửi đã làm đối với thông điệp nhận được để biến  
đổi thông điệp nhận được thành một bản tóm tắt thông điệp. Người nhận so sánh hai bản  
tóm tắt thông điệp này. Nếu chúng giống nhau tức là chữ ký điện tử đó là xác thực và  
thông điệp đã không bị thay đổi trên đường truyền đi.  
Ngoài ra, chữ ký số có thể được gắn thêm một “nhãn” thời gian: sau một thời gian  
nhất định quy định bởi nhãn đó, chữ ký số gốc sẽ không còn hiệu lực, đồng thời nhãn thời  
gian cũng là công cụ để xác định thời điểm ký.  
- Phong bì số (Digital Envelope)  
Tạo lập một phong bì số là một quá trình mã hoá sử dụng khoá công khai của  
người nhận (phần mềm công khai của người nhận, phần mềm này cũng do cơ quan chứng  
thực cấp cho người nhận, và được người nhận thông báo cho các đối tác biết để sử dụng  
khi họ muốn gửi thông điệp cho mình). Khóa bí mật này được dùng để mã hoá toàn bộ  
thông tin mà người gửi muốn gửi cho người nhận, khóa này đảm bảo chỉ có duy nhất  
người nhận là người mở được thông điệp để đọc. Vì duy nhất người nhận là người nắm  
169  
giữ khóa tương ứng để giải mã (phần mềm bí mật hay khóa bí mật, khóa này cũng do cơ  
quan chứng thực cấp cho người nhận).  
- Chứng thư số hóa (Digital Certificate):  
Nếu một bên có mã khóa công khai của bên thứ 2 để có thể tiến hành mã hóa và  
gửi thông điệp cho bên đó, mã khóa công khai này sẽ được lấy ở đâu và liệu bên này có  
thể đảm bảo định danh chính xác của bên thứ 2 không? Chứng thư điện tử xác minh rằng  
người cầm giữ mã khóa công cộng hoặc mã khóa bí mật chính là người chủ của mã khóa  
đó. Bên thứ ba, Cơ quan chứng thực, sẽ phát hành chứng thư điện tử cho các bên tham  
gia. Nội dung Chứng thư điện tử bao gồm: tên, mã khoá công khai, số thứ tự của chứng  
thực điện tử, thời hạn hiệu lực, chữ ký của cơ quan chứng nhận (tên của cơ quan chứng  
nhận có thể được mã hoá bằng mã khoá riêng của cơ quan chứng nhận) và các thông tin  
nhận dạng khác. Các chứng thư này được sử dụng để xác minh tính chân thực của  
website (website certificate), của cá nhân (personal certificate) và của các công ty phần  
mềm (software publisher certificate).  
3.2. Các biện pháp cơ bản nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống TMĐT  
Một số công nghệ được phát triển nhằm đảm bảo rằng trong nội bộ mạng của một doanh  
nghiệp, các hoạt động sẽ được đảm bảo an toàn khỏi các vụ tấn công hoặc xâm phạm từ  
bên ngoài, đồng thời có chức năng cảnh báo các hoạt động tấn công từ bên ngoài vào hệ  
thống mạng.  
- Tường lửa:  
Tường lửa là một thành phần của mạng, gồm phần mềm hoặc phần cứng hoặc kết  
hợp cả phần mềm và phần cứng, cho phép những người sử dụng mạng máy tính của một  
tổ chức có thể truy cập tài nguyên của các mạng khác (ví dụ, mạng Internet), nhưng đồng  
thời ngăn cấm những người sử dụng khác, không được phép từ bên ngoài truy cập vào  
mạng máy tính của tổ chức. Một bức tường lửa có những đặc điểm sau:  
- Tất cả các luồng thông tin từ bên trong mạng máy tính của tổ chức đi ra ngoài và  
ngược lại đều phải đi qua thiết bị hay phần mềm này;  
- Chỉ các luồng thông tin được phép và tuân thủ đúng quy định về an toàn mạng  
máy tính của tổ chức, mới được phép đi qua;  
Về cơ bản, tường lửa cho phép những người sử dụng mạng máy tính bên trong  
tường lửa được bảo vệ nhưng vẫn có khả năng truy cập toàn bộ các dịch vụ bên ngoài  
mạng ; đồng thời ngăn chặn và chỉ cho phép một số các truy cập từ bên ngoài vào mạng  
trên cơ sở đã kiểm tra tên và mật khẩu của người sử dụng, địa chỉ IP hoặc tên miền  
(domain name) … Ví dụ, một nhà sản xuất chỉ cho phép những người sử dụng có tên  
miền thuộc các công ty đối tác là khách hàng lâu năm, truy cập vào website của họ để  
mua hàng. Như vậy, công việc của bức tường lửa là thiết lập một rào chắn giữa trong và  
ngoài mạng máy tính của tổ chức. Tường lửa bảo vệ mạng máy tính của tổ chức tránh  
khỏi những tổn thương do những tin tặc, những người tò mò từ bên ngoài tấn công. Tất  
170  
cả mọi thông điệp được gửi đến và gửi đi đều được tường lửa kiểm tra đối chiếu với  
những quy định về an toàn do tổ chức xác lập. Các tường lửa phổ biến hiện nay gồm:  
Windows XP Personal firewall, Microsoft ISA server (đa chức năng), Checkpoint.  
- Mạng riêng ảo (VPN)  
Khi công ty muốn tạo ra một ứng dụng B2B, cung cấp cho các nhà cung cấp, đối  
tác và những đối tượng khác quyền truy cập không chỉ với dữ liệu đặt trên trang web của  
họ, mà còn cả quyền truy cập đối với dữ liệu chứa trong các tệp khác (như tệp Word,  
Excel, file đồ họa, file âm thanh, hình ảnh...). Theo cách truyền thống, liên lạc với công  
ty có thể thực hiện thông qua một đường truyền riêng hoặc thông qua một đường quay số  
tới modem hoặc tới một máy chủ truy cập từ xa (RAS – Remote Access Server) mà máy  
chủ này cho phép kết nối trực tiếp tới mạng LAN của công ty.  
Ưu điểm của việc thuê đường truyền riêng là giảm thiểu khả năng bị hacker nghe  
trộm các liên lạc, tuy nhiên chi phí lại cao. Do đó, doanh nghiệp có thể tham khảo một  
giải pháp kinh tế hơn đó là sử dụng mạng riêng ảo. Mạng riêng ảo sử dụng mạng internet  
để truyền tải thông tin nhưng vẫn duy trì sự bí mật bằng cách sử dụng thuật mã khóa (để  
mã giao dịch, xác minh tính chân thực để đảm bảo rằng thông tin không bị truy xuất trái  
phép và thông tin đến từ những nguồn tin cậy) và quản lý quyền truy cập để xác định  
danh tính của bất kỳ ai sử dụng mạng này. Hơn nữa, một mạng riêng ảo cũng có thể được  
sử dụng để hỗ trợ những liên lạc giữa các chi nhánh và trụ sở công ty và những liên lạc  
giữa các công nhân lưu động với trụ sở làm việc của họ.  
4.3.3. Một số biện pháp khác nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống TMĐT  
- Sử dụng password đủ mạnh  
Để đảm bảo bí mật cho mật khẩu, khi thiết lập nên xem xét các tiêu chí như:  
+ Mật khẩu có số ký tự đủ lớn, tối thiểu 8 ký tự và có sự kết hợp giữa chữ hoa, chữ  
thường, chữ số và biểu tượng. Như vậy sẽ mất rất nhiều thời gian mới có thể tìm ra và  
phá mật khẩu, mà tới thời gian đó mật khẩu đã có thể đã được thay đổi. Mật khẩu cũng  
nên thường xuyên thay đổi (thường từ 30-60 ngày) và không nên sử dụng lại mật khẩu  
cũ.  
+ Kích hoạt tự động việc khóa không cho truy cập hệ thống nếu sau từ 3-5 lần  
nhập mật khẩu vẫn không đúng.  
+ Không sử dụng chức năng tự động điền (auto complete) của một số phần mềm  
ứng dụng như Microsoft Explorer để lưu mật khẩu và số tài khoản  
- Phòng chống virus  
Theo thống kê, trung bình mỗi tháng có hơn 500 virus ra đời, do đó doanh nghiệp  
nên sử dụng các phần mềm chống virus để kiểm tra tất cả các dữ liệu hoặc được truyền  
qua cổng máy chủ ở mạng hoặc truyền giữa các cổng nội bộ. Các phần mềm chống virus  
cũng nên được cập nhật thường xuyên (hàng ngày, hàng tuần). Thông thường, các công  
171  
ty phần mềm virus uy tín thường gửi email tới khách hàng thông báo về việc xuất hiện  
những virus mới và cung cấp công cụ update tự động cho khách hàng.  
Định dạng cổng email để khóa các tệp có đuôi dạng VBS, SHS, EXE, SCR, CHM  
và BAT hoặc những tệp có hai phần mở rộng dạng như .txt.vbs hoặc .jpg.vbs vì những  
tệp dạng này thường do virus tạo ra.  
Phố biến kiến thức cho người sử dụng, ví dụ, không mở những email lạ có tệp  
đính kèm, thậm chí từ người gửi có tên trong sổ địa chỉ; không tải về những tệp từ những  
nguồn không rõ ràng; thường xuyên quét virus; cập nhật phần mềm quét virus thường  
xuyên; không gửi những cảnh báo về virus hoặc các thư dây chuyền cho những người sử  
dụng khác.  
- Giải pháp an ninh nguồn nhân lực  
Các doanh nghiệp cần lưu ý mọi nhân viên trong doanh nghiệp mình ý thức về vấn  
đề an ninh mạng và những nguy cơ tấn công doanh nghiệp có thể chịu trong trường hợp  
thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu sự lưu tâm đúng mức từ phía các nhân viên. Nhân viên  
cũng cần được lưu ý về các giải pháp an toàn mạng nên áp dụng như việc chọn mật khẩu,  
thay đổi mật khẩu, quét virus thường xuyên hay xóa bỏ những email lạ.  
- Giải pháp về trang thiết bị an ninh mạng  
Sử dụng các thiết bị kiểm soát việc ra vào trụ sở làm việc như : các thẻ từ, mã điện  
tử, thẻ thông minh hoặc các thiết bị nhận dạng nhân trắc như kiểm tra vân tay, võng mạc  
hoặc giọng nói. Các biện pháp khác có thể là sao lưu dữ liệu vào những nơi an toàn, đánh  
dấu nhận dạng tia cực tím, các hệ thống phát hiện xâm phạm như camera và chuông báo  
động.  
4.4 BÀI TẬP TÌNH HUỐNG  
4.4.1. Đối phó với các vụ tấn công vào website thương mại điện tử  
Vụ tấn công vào Chodientu.com  
Ngày 19/9/2006. công ty Giải pháp phần mềm Hòa Bình chính thức (Peacesoft)  
sang một trang web với nội dung bôi nhọ giám đốc công ty.  
Ngày 27/9/2006, đại diện Chợ điện tử đã chính thức làm việc với Trung tâm An  
ninh mạng (BKIS) và các cơ quan chức năng để nhanh chóng truy tìm thủ phạm. Tuy  
nhiên, với hình thức tấn công vào tên miền, thủ phạm sẽ khó có thể bị phát hiện do cơ chế  
tấn công không liên tục như tấn công từ chối dịch vụ (DOS).  
172  
Virus lây lan qua YM, “Tháng 9 kinh hoàng”, hơn 20.000 máy tính bị nhiễm và đã  
phải cầu cứu đến BKAV khi người sử dụng tò mò kích vào những đường link “mời mọc”  
hay “kích động” được gửi đến thông qua YM.  
4.4.2 Phòng chống lừa đảo qua mạng (phishing)  
Vấn đề  
Ngày 17 tháng 11 năm 2003, một số khách hàng của eBay được thông báo bằng  
email rằng tài khoản của họ trên eBay đang được cập nhật và tăng cường mức độ an toàn.  
Thông báo cũng kèm theo một đường link đến một trang web của eBay tại đó khách hàng  
có thể đăng ký để chấp nhận các dịch vụ này. Tất cả các thông tin khách hàng cần cung  
cấp để nhận được dịch vụ này là cung cấp số thẻ tín dụng, số bảo hiểm xã hội, ngày sinh,  
tên bí mật, số pin thẻ ATM. Vấn đề duy nhất là thực tế eBay chưa từng bao giờ gửi đi các  
thông điệp như thế này cả và trang web mà khách hàng được link tới cũng không thuộc  
sự quản lý của eBay. Mặc dù trang web giả trông rất giống trang web thực của eBay,  
cũng có logo của eBay, giao diện tương tự, trang web này thực chất được tạo ra với mục  
đích lừa đảo. Những khách hàng “ngây thơ” điền thông tin được yêu cầu vào trang web  
này đã ngay lập tức trở thành nạn nhân của vụ lừa đảo trên mạng được biết đến với thuật  
ngữ “phishing”. Phishing là kỹ thuật lừa đảo sử dụng thư điện tử, pop-up, trang web để  
dụ dỗ người dùng cung cấp các thông tin nhạy cảm như thẻ tín dụng, tài khoản ngân  
hàng, mật khẩu…  
Giải pháp  
Bản chất kỹ thuật lừa đảo này không mới, tuy nhiên “công nghệ” được sử dụng lại  
mới và có nhiều người sử dụng bị mắc bẫy. Trước đây, công nghệ được ưa chuộng cho  
kiểu lừa này là điện thoại. Ngày nay, những kẻ chủ mưu sử dụng thư điện tử, thông điệp  
pop-up, trang web giả để người sử dụng tưởng lầm họ đang giao dịch với các doanh  
nghiệp chính thức. Các thông điệp này thường dẫn dắt người sử dụng đến một website  
khác, tại đó, người sử dụng sẽ được yêu cầu cung cấp hoặc cập nhật thông tin mới cho tài  
khoản của họ. Mặc dù các website này trông hoàn toàn giống như website thật, đó là  
website giả mạo. Tổ chức phòng chống kiểu lừa đảo này có tên gọi Anti-Phishing  
Working Group (APWG, antiphishing.org). Tháng 7 năm 2004, số vụ lừa đảo kiểu này  
được thông báo đến APWG lên đến 1.974 vụ, tăng 39% so với tháng 6 cùng năm. Ngành  
chịu tấn công nhiều nhất là dịch vụ tài chính (1.649 trong tổng số 1.974 vụ tấn công).  
Thương hiệu bị tấn công nhiều nhất là Citibank, U.S. Bank, eBay và PayPal (1.191 trong  
tổng số 1.974). Những website giả mạo được lưu trữ nhiều nhất tại Hoa Kỳ (35%) tiếp  
đến là Hàn Quốc, Trung Quốc và Nga. Để tránh bị điều tra, các website giả mạo thường  
hoạt động trong một thời gian ngắn, trung bình khoảng 6 ngày.  
Các công ty chuyên về an ninh trên mạng như VeriSign (verisign.com) và Name  
Protect (nameprotect.com) đang phối hợp triển khai để ngăn chặn hình thức tấn công này.  
Cả hai công ty này đều chủ động nghiên cứu các website (tên miền, tên máy chủ, các  
trang, nhóm tin tức, chatroom…) để phát hiện các dấu hiệu phishing. Những dịch vụ này  
173  
được các công ty như MasterCard, các công ty bán lẻ và tổ chức tài chính hỗ trợ. Khi  
phát hiện các dấu hiệu lừa đảo, những thông tin này được chuyển đến các tổ chức hỗ trợ  
và các cơ quan quản lý liên quan. Tuy nhiên, các dịch vụ này không được thông báo trực  
tiếp đến các khách hàng dù là tổ chức hay cá nhân. Do đó, khách hàng vẫn cần chủ động  
phòng tránh những vụ lừa đảo kiểu này. Ủy ban Thương mại Liên bang (FDC-Federal  
Trade Commision) khuyến cáo:  
- Tránh trả lời các thư điện tử hay thông điệp pop-up yêu cầu cung cấp thông tin  
cá nhân  
- Tránh gửi các thông tin cá nhân hay tài chính dưới bất kỳ hình thức nào  
- Kiểm tra kỹ các thông tin tài khoản và chi tiết mua sắm thẻ tín dụng hàng tháng  
- Sử dụng và cập nhật các phần mềm diệt virus thường xuyên  
- Cẩn trọng khi mở bất kỳ thông điệp dữ liệu gắn kèm theo thư điện tử  
- Gửi các thông báo đến FTC về các thông điệp bị nghi ngờ  
Kết quả  
Theo điều tra của Tổ chức Chống lừa đảo qua mạng (APWG), ước tính khoảng  
5% người sử dụng mắc phải bẫy phishing. Tổng thiệt hại không được thống kê chi tiết,  
tuy nhiên đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể xử lý các kẻ chủ mưu của những vụ lừa  
đảo dạng phishing.  
Bài học kinh nghiệm  
Các mô hình thương mại điện tử đều có điểm chung là nhiều bên tham gia, sử  
dụng nhiều mạng khác nhau, nhiều ứng dụng và nhiều cơ sở dữ liệu… do đó đảm bảo an  
toàn trong thương mại điện tử rất khó khăn. Kẻ tấn công chỉ cần phát hiện ra một điểm  
yếu trong toàn bộ hệ thống là có khả năng thành công. Một số vụ tấn công đòi hỏi công  
nghệ và kỹ năng cao. Tuy nhiên, hầu hết các vụ tấn công như phishing chỉ cần sử dụng  
những công nghệ rất đơn giản để đánh vào điểm yếu của con người và các tập quán an  
ninh mạng mới đang hình thành. Do đa số các vụ tấn công không tinh vi và phức tạp,  
những quy định rõ ràng về phòng tránh rủi ro trong thương mại điện tử sẽ giúp giảm  
thiểu đáng kể nguy cơ và thiệt hại.  
4.4.3. Giải pháp giảm rủi ro trong thương mại điện tử của iPremier  
Giới thiệu về iPremier  
Do hai sinh viên từ trường UFT đã có nhiều thành công lớn trong thương mại điện  
tử thành lập năm 1994 với tên gọi iPremier. Đến nay công ty đã là một trong hai nhà bán  
lẻ hàng đầu về những mặt hàng sang trọng, quý hiếm trên mạng. Công ty có trụ sở tại  
Seattle, Washington. Công ty có tốc độ tăng trưởng rất nhanh khoảng 50% mỗi năm, đến  
năm 1999, lợi nhuận đạt 2.1 triệu USD trên doanh số 32 triệu USD.  
Từ khi cổ phần hoá năm 1998, giá cổ phiếu tăng gần ba lần. Sau cuộc khủng  
hoảng năm 2000, iPremier là một trọng số rất ít các công ty thương mại điện tử B2C sống  
sót và tiếp tục phát triển. Trong con mắt các nhà phân tích, đây là một mô hình thành  
công điển hình trong kinh doanh thương mại điện tử.  
174  
Hầu hết các mặt hàng công ty kinh doanh có giá từ 50 đến vài trăm USD, tuy  
nhiên một số có giá hàng nghìn USD. Công ty áp dụng chính sách trả lại hàng rất linh  
hoạt theo đó cho phép khách hàng kiểm tra kỹ lưỡng hàng hoá trước khi quyết định có  
nên mua hay không. Khách hàng của công ty thường có thu nhập rất cao và vì thế vấn đề  
về giới hạn tín dụng dường như chưa bao giờ gặp phải cho dù đối với những mặt hàng có  
giá trị rất cao.  
Cơ cấu tổ chức kỹ thuật  
Công ty thuê ngoài các dịch vụ Internet từ một nhà cung cấp nhiều kinh nghiệm là  
Qdata. Qdata cung cấp dịch vụ về máy chủ, đường truyền internet, các dịch vụ quản lý  
như theo dõi website cho các khách hàng thông quan Network Operations Center (NOC)  
và một số dịch vụ bảo mật khác. Tuy nhiên, Qdata chậm trong việc đầu tư vào các hệ  
thống máy chủ mới nhất cũng như nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên.  
iPremier đã có kế hoạch chuyển sang nhà cung cấp dịch vụ khác nhưng có một số  
lý do khiến việc chuyển đổi bị trễ lại. Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng nhanh khiến công ty  
luôn bận rộn và việc chuyển đổi không được coi là ưu tiên số một. Thứ hai, chi phí cho  
một hệ thống hiện đại hơn luôn có chi phí cao gấp hai đến ba lần hệ thống hiện tại. Thứ  
ba, việc chuyển đổi hệ thống có thể gây gián đoạn công việc kinh doanh, đặc biệt ảnh  
hưởng đến các khách hàng qua mạng. Hơn nữa, kế hoạch triển khai lắp đặt mới tại nhà  
cung cấp khác cũng chưa bao giờ được bàn cụ thể. Lý do cuối cùng là một thành viên  
trong ban lãnh đạo iPremier có quan hệ cá nhân mật thiết với Qdata vì vậy Qdata sẵn  
sàng thương lượng lại hợp đồng trong thời gian tới.  
Cuộc tấn công vào iPremier  
4:31 sáng, ngày 12 tháng 1 năm 2001  
Giám đốc của iPremier được một nhân viên trong công ty thông báo về việc  
website của công ty đã bị tấn công. Website công ty đã bị khoá. Nhân viên công ty đã thử  
ba phần mềm duyệt web nhưng không thể mở nó ra được. Khách hàng của công ty cũng  
không thể mở được. Dịch vụ hỗ trợ khách hàng đang ngập tràn trong điện thoại và mỗi  
giây công ty lại nhận được một e-mail với nội dung chỉ có từ “ Ha”. Các e-mail liên tiếp  
tạo thành Ha ha ha...Hầu hết các email bắt nguồn từ Châu Á và Châu Âu. Chính vì vậy để  
lần ra ai là người đã tiến hành tấn công vào website của công ty sẽ phải mất rất nhiều thời  
gian. Theo nhận định của nhân viên công ty có thể mất khoảng 18 tháng mới tìm ra người  
khởi tạo email. Nếu email được gửi từ một nơi công cộng thì thời gian để tìm ra sẽ còn  
lâu hơn nữa.  
Ngay sau khi vụ tấn công diễn ra nhân viên kỹ thuật của công ty đã kết hợp với  
Qdata để tìm ra lý do sinh sôi các email này. Cuối cùng họ phát hiện ra rằng kẻ chủ mưu  
vụ tấn công đã sử dụng virus zombies có tên “ Bình minh của cái chết” để tấn công vào  
hệ thống cơ sở dữ liệu của công ty. Mỗi lần công ty cố shutdown một IP truy cập vào thì  
mấy con virus sẽ tự động khởi động tấn công từ hai IP khác. Tuy nhiên vụ tấn công bằng  
virus này vẫn còn non chưa thể vượt qua bức tường lửa do hệ thống kỹ thuật xây lên;  
chính vì vậy cuộc tấn công nhanh chóng chấm dứt vào lúc 5:46 sáng. Kẻ tấn công vẫn  
chưa hack được vào trong hệ thống của công ty.  
175  
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4  
1. Hãy cho biết một số rủi ro thường gặp trong thương mại điện tử  
2. Hãy cho biệt một số vấn đề về an ninh mà các doanh nghiệp gặp phải khi tiến hành  
hoạt động thương mại điện tử.  
3. Phishing là gì? Hãy cho biết một vài ví dụ về phishing trên thế giới và tại Việt Nam  
4. DDoS là gì? Hãy cho biết một vài ví dụ về DDoS trên thế giới và tại Việt Nam trong  
một vài năm gần đây.  
5. Hãy cho biết một số biện pháp doanh nghiệp thường tiến hành để đảm bảo an toàn cho  
các giao dịch thương mại điện tử.  
BÀI TẬP ỨNG DỤNG CHƯƠNG  
Chỉsaumộtđêmmấtsạch17triệuđồng  
Sáng ngày 16/8/2018, anh Vũ Thành Phương (quận 9, TP HCM) là chủ tài khoản:  
00710xxxxxxxx thức dậy và kiểm tra điện thoại, thấy có 14 tin nhắn báo về việc  
thẻ Master Card Debit của anh bị quẹt ở TOKYO DISNEY RESORT CHIBA JPN,  
MARRIOTT HTL và BOOKHAVEN NY (ảnh). Trong số đó, có tất cả 5 giao dịch  
chuyển tiền thành công và tổng số tiền anh Vũ Thành Phương bị mất trong một đêm là  
khoảng 17 triệu đồng.  
Trao đổi với PV, anh Phương cho biết: “Những lệnh thanh toán cuối trong thẻ  
không thành công, vì tiền trong tài khoản đã bị lấy sạch, không còn đủ thanh toán theo  
yêu cầu. Khoảng 5h53’ ngày 16/8, tôi gọi cho trung tâm hỗ trợ khách hàng Vietcombank  
để khóa thẻ.  
Đầu giờ sáng, lúc 8h10’ cùng ngày, tôi liên hệ với Vietcombank chi nhánh Thủ  
Đức để trình báo và yêu cầu rà soát. Tại chi nhánh Vietcombank, tôi đã làm bản tường  
trình, nộp lại thẻ Master Card cho ngân hàng. Sau đó 1 ngày, phía ngân hàng báo đã chặn  
bước 1, tức là Vietcombank thông báo với Mastercard.  
Tuy nhiên tôi sẽ phải chờ 30 - 45 ngày nhận sao kê để biết tiền của tôi đi về đâu,  
có lấy được không.  
Anh Phương chia sẻ: “Khi tôi đặt câu hỏi tiền của tôi đã ra khỏi Vietcombank  
chưa thì nhân viên Vietcombank không trả lời được. Giờ tôi chỉ biết chờ đợi thôi. Nhân  
viên Vietcombank nói với tôi rằng, trong trường hợp phía Mastercard đã in sao kê, đã lên  
lệnh thanh toán cho hacker thì đại diện Vietcombank nói sẽ phải tiến hành bước 2. Còn  
bước 2 cụ thể là thế nào thì họ cũng không nói cho tôi biết”.  
Câu hỏi:  
1. Đây là dạng rủi ro nào trong thương mại điện tử? Phân tích.  
2. Hãy chỉ ra một số biện pháp khắc phục rủi ro trên với danh nghĩa là một nhà quản trị  
của ngân hàng Vietcombank.  
176  
CHƯƠNG 5:  
ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP  
MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG  
Sau khi học xong chương này, sinh viên cần nắm được:  
- Các bước xây dựng và triển khai dự án thương mại điện tử  
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị quan hệ khách hàng, quản trị chuỗi  
cung ứng và quản trị nguồn lực doanh nghiệp.  
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh TMĐT và quản lý website  
NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG  
5.1. XÂY DỰNG HỆ THỐNG TMĐT TRONG DOANH NGHIỆP  
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ  
kỹ thuật hiện đại để sản xuất và truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin  
số. (Khoản 1 – Điều 4 – Luật Công nghệ thông tin năm 2006).  
Hệ thống thông tin hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp và kết hợp của các phần cứng,  
phần mềm và các hệ mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tạo và tái  
tạo, phân phối và chia sẻ thông tin nhằm phục vụ các mục tiêu của tổ chức.)  
Hình 5.1: Các thành phần của HTTT  
Nguồn: Foundations of Information System, D.S.Yadas  
Chức năng của hệ thống thông tin  
- Nhập dữ liệu: thu thập và nhận dữ liệu để xử lý  
- Xử lý dữ liệu: chuyển đổi dữ liệu thành thông tin có nghĩa với người sử dụng  
177  
- Xuất thông tin: phân phối thông tin đến những người hoặc hoạt động cần sử dụng  
thông tin đó  
- Lưu trữ thông tin  
- Cung cấp thông tin phản hồi: nhằm hỗ trợ quá trình kiểm tra, đánh giá lại và  
hoàn thiện hệ thống.  
5.1.1. Lưu trữ wesbite thương mại điện tử  
Bản chất của website là tập hợp các trang web (webpages) dưới dạng các trang  
web sẵn có (các trang tĩnh) hoặc các trang web được tạo ra từ các tài nguyên và cơ sở dữ  
liệu (các trang động). Lưu trữ website là một trong các vấn đề quan trọng nhất của  
thương mại điện tử, tương tự như tổng hợp các việc lưu trữ công văn, giấy tờ, sổ sách kế  
toán, kho hàng, cửa hàng… trong thương mại truyền thống.s  
Việc lưu trữ website thương mại điện tử bao gồm cả lưu trữ dữ liệu (thông tin về  
doanh nghiệp, sản xuất, kinh doanh, khách hàng…), hệ thống phần mềm xử lý các giao  
dịch điện tử (mua bán trực tuyến, quản lý hóa đơn, dịch vụ khách hàng…) và những nội  
dung khác trên website (catalogue điện tử, báo cáo, tài nguyên số…). Tùy theo quy mô  
của hệ thống thương mại điện tử mà số lượng, cấu hình của hệ thống máy chủ cần sử  
dụng để lưu trữ các website thương mại điện tử sẽ khác nhau.  
Hiện nay, có một số phương pháp cơ bản để lưu trữ các website thương mại điện  
tử như sau:  
- Tự đầu tư mua các máy chủ về lắp đặt tại cơ sở của doanh nghiệp, thuê chuyên  
gia thiết kế và xây dựng hệ thống mạng cũng như cài đặt các phần mềm cần thiết để quản  
trị hệ thống máy chủ của doanh nghiệp.  
+ Nhược điểm: Chi phí đầu tư xây dựng hệ thống máy chủ của riêng doanh nghiệp  
rất lớn, về cơ sở hạ tầng, về máy móc, thiết bị, chi phí thuê thiết kế hệ thống và quản trị  
hệ thống sau này. Để giảm thiểu chi phí hạ tầng, doanh nghiệp có thể vẫn đầu tư máy chủ  
nhưng thuê chỗ để đặt máy chủ tại các nhà cung cấp dịch vụ này. Như vậy, tránh đầu tư  
xây dựng các phòng máy chủ vốn có tiêu chuẩn kỹ thuật rất cao và tránh thuê đường  
truyền riêng để kết nối đến các máy chủ của mình. Cách làm này vẫn đảm bảo được bí  
mật thông tin của doanh nghiệp do các máy chủ được lưu giữ tại các phòng được bảo mật  
cao. Hiện nay, tại Việt Nam, hệ thống máy chủ của các ngân hàng, trường đại học, hải  
quan, thuế… thường được tự xây dựng và vận hành bên trong tổ chức.  
+ Ưu điểm: Mức độ an toàn của thông tin và chủ động trong vận hành hệ thống  
cũng như nâng cấp, mở rộng sau này. Bên cạnh đó, khả năng tự xây dựng, quản trị hệ  
thống máy chủ thương mại điện tử cũng là một năng lực cạnh tranh quan trọng của các  
doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh điện tử.  
- Thuê máy chủ của các nhà cung cấp dịch vụ (thuê chỗ trên một máy chủ hoặc  
thuê một số máy chủ). Theo đó, các doanh nghiệp trả phí để có thể sử dụng một phần  
dung lượng ổ cứng trên máy chủ để lưu trữ website hoặc thuê một số máy chủ của nhà  
178  
cung cấp dịch vụ để sử dụng. Có thể sử dụng kết hợp hình thức này với hình thức trên.  
Thậm chí những doanh nghiệp hàng đầu trong thương mại điện tử như Google cũng thuê  
ngoài dịch vụ lưu trữ website  
+ Ưu điểm: Các chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, lắp đặt đường truyền, duy trì và  
quản trị các máy chủ do nhà cung cấp dịch vụ thực hiện. Doanh nghiệp chỉ phải trả phí  
thuê dịch vụ hàng tháng. Doanh nghiệp tận dụng được đường truyền tốc độ cao của nhà  
cung cấp dịch vụ.  
+ Nhược điểm: Mức độ bảo mật thông tin không được bảo đảm do doanh nghiệp  
không kiểm soát hoàn toàn những máy chủ lưu trữ thông tin của mình. Do đó, phương  
pháp này thường phù hợp với các hệ thống thương mại điện tử nhỏ, các website chỉ có  
chức năng giới thiệu, quảng bá sản phẩm, dịch vụ... chưa có chức năng thanh toán trực  
tuyến và các chức năng cao cấp khác như xử lý dữ liệu (data mining) hay chia sẻ thông  
tin giữa các đối tác (B2B integration)  
5.1.1.1. Đường Internet thuê riêng (leased line Internet) cho các máy chủ  
Khi doanh nghiệp muốn xây dựng hệ thống máy chủ của riêng mình và hệ thống  
này đặt tại trung tâm lưu trữ dữ liệu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ phải thuê  
đường truyền Internet riêng để kết nối vào các máy chủ này. Thông qua đường kết nối  
này, các máy tính khác có thể truy cập tới máy chủ của doanh nghiệp để thực hiện các  
giao dịch điện tử như tra cứu thông tin, thực hiện giao dịch mua bán, ký kết hợp đồng…  
Đường truyền Internet thuê riêng là một dạng kết nối Internet cao cấp nhất hiện nay của  
các doanh nghiệp. Bên cạnh đó còn hai dạng phổ biến khác để kết nối Internet là Dial-up  
và ADSL. Trong năm 2008, tại Việt Nam FPT bắt đầu cung cấp đường cáp quan kết nối  
trực tiếp đến từng tổ chức, doanh nghiệp và hộ gia đình. Về cơ bản, các loại hình kết nối  
Internet này có một số đặc điểm như sau:  
- Kết nối quay số (Dial-up): Với dịch vụ này, người sử dụng kết nối Internet sử  
dụng đường dây điện thoại, sau đó có thể đăng ký một tài khoản quay số của nhà cung  
cấp dịch vụ internet, hoặc qua một hệ thống quay số chung như vnn1269,…. Loại kết nối  
này đơn giản, không phải đầu tư nhiều về mặt thiết bị chỉ cần một modem kết nối Dial-up  
và đường điện thoại cố định. Tuy nhiên tốc độ của loại này rất chậm (theo lý thuyết chỉ  
đạt tối đa khoảng 56 kbps). Loại đường truyền này không thể sử dụng để kết nối máy chủ  
vào Internet do tốc độ quá chậm và không có địa chỉ IP tĩnh (địa chỉ của máy chủ để các  
máy tính khác có thể truy cập vào đó). Đến nay, loại kết nối này đã lỗi thời, hầu như rất ít  
người còn sử dụng loại hình này.  
- ISDN - Integrated Services Digital Network (Mạng số tích hợp đa dịch vụ):  
ISDN ra đời năm 1976 với mục đích thống nhất truyền dữ liệu và âm thanh. Nhược điểm  
của công nghệ là chỉ truyền dịch vụ thoại và chuyển mạch gói tốc độ thấp. Nó không  
thích hợp cho chuyển mạch gói tốc độ cao và thời gian chiếm giữ lâu dài. Chính điều này  
là đặc điểm của mạng Internet hiện nay. Do đó, ISDN không được áp dụng rộng rãi mà  
chỉ áp dụng cho các gia đình hoặc doanh nghiệp nhỏ. Tuy nhiên, với những người sử  
179  
dụng ISDN tại Mỹ thì cũng khó quên được các lợi ích mà ISDN đem lại khi mà ISDN là  
công nghệ mở đầu cho tất cả các loại dịch vụ tích hợp. IDSL - ISDN digital subscriber  
line – được đảm bảo tốc độ 144Kbps trên cả kênh B và D.  
- ADSL - Asymmetrical DSL: ADSL chính là một nhánh của công nghệ xDSL.  
ADSL cung cấp một băng thông bất đối xứng trên đường dây điện thoại có sẵn. Thuật  
ngữ bất đối xứng ở đây để chỉ sự không cân bằng trong dòng dữ liệu tải xuống  
(download) và tải lên (upload). Dòng dữ liệu tải xuống có băng thông lớn hơn băng  
thông dòng dữ liệu tải lên. ADSL ra đời vào năm 1989. ADSL1 cung cấp 1,5 Mbps cho  
đường dữ liệu tải xuống và 16 kbps cho đường đường dữ tải lên, hỗ trợ chuẩn MPEG-1.  
ADSL2 có thể cung cấp băng thông tới 3 Mbps cho đường xuống và 16 kbps cho đường  
lên, hỗ trợ 2 dòng MPEG-1. ADSL 3 có thể cung cấp 6 Mbps cho đường xuống và ít nhất  
64 kbps cho đường lên, hỗ trợ chuẩn MPEG-2. Dịch vụ ADSL mà chúng ta hay sử dụng  
hiện nay theo lý thuyết có cung cấp 8 Mbps cho đường truyền tải xuống và 2 Mbps cho  
đường truyền tải lên, tuy nhiên vì nhiều lý do từ phía các nhà cung cấp dịch vụ nên chất  
lượng dịch vụ sử dụng ADSL tại các đầu cuối của chúng ta thường không đạt được như  
lý thuyết. Phổ biến hiện nay, các nhà cung cấp dịch vụ đưa ra có tốc độ tải xuống là  
2Mbps và tốc độ tải lên là 640kbps.  
Doanh nghiệp nếu đăng ký và được cấp địa chỉ IP tĩnh thì có thể sử dụng kết nối  
ADSL này để tự duy trì các máy chủ dịch vụ như ftp, mail, web, DNS… tương tự như sử  
dụng kết nối leased-line. Tuy nhiên hiện nay, để tiết kiệm không gian địa chỉ IP, không  
chỉ với dạng kết nối dial-up mà với cả dịch vụ ADSL, các nhà cung cấp cũng sử dụng  
phương thức cấp địa chỉ động. Điều này khiến cho những khách hàng sử dụng dịch vụ tốc  
độ cao ADSL hiện nay chỉ có thể cải thiện tốc độ truy cập Internet chứ vẫn chưa thể tự  
mình duy trì máy chủ dịch vụ như mail, ftp, web như những đối tượng thuê kết nối trực  
tiếp leased-line.  
+ Ưu điểm sử dụng ADSL: Giá thành rẻ và tốc độ cao với thời gian downtime  
chấp nhận được. So với dịch vụ kênh thuê riêng, dịch vụ này có tốc độ cao và cũng tương  
đối ổn định.  
+ Nhược điểm sử dụng ADSL: Mức độ ổn định của kết nối Internet bằng đường  
truyền ADSL vẫn là cản trở lớn khi sử dụng kết nối các máy chủ vào Internet.  
- Kết nối Internet bằng kênh thuê riêng (leased line)  
Nhà cung cấp đồng thời sẽ cung cấp cho doanh nghiệp tối thiểu 1 dải IP gồm 8 địa  
chỉ. Doanh nghiệp sẽ sử dụng 6 trong 8 địa chỉ này cho các máy chủ của mình. Hai địa  
chỉ không sử dụng là địa chỉ IP đầu tiên (địa chỉ mạng con) và địa chỉ IP cuối cùng (địa  
chỉ quảng bá trong mạng con). Vì đây là một đường kết nối riêng từ doanh nghiệp đến  
nhà cung cấp dịch vụ Internet, tốc độ kết nối vào Internet sẽ ổn định và có thể tăng cao  
thấp tùy nhu cầu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó tốc độ upload và download là bằng  
nhau, ổn định liên tục 24/24. Tuy nhiên, phí dịch vụ sử dụng loại của đường truyền này  
còn cao, chưa phù hợp với phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay.  
180  
STT  
Tên công ty  
VDC  
Website  
home.vnn.vn  
1
2
3
4
FPT  
Vietel  
NetNam  
Bảng 5.1: Danh sách các nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn tại Việt nam  
5.1.1.2. Máy chủ web  
Các máy chủ web nói chung thường có nhiều bộ nhớ, ổ cứng lớn, chạy nhanh, và  
bộ vi xử lý có tốc độ cao hơn các máy tính cá nhân thông thường. Nhiều máy chủ web sử  
dụng nhiều bộ vi xử lý, trong khi rất ít máy tính cá nhân có nhiều hơn một bộ vi xử lý.  
Yêu cầu cơ bản đối với các máy chủ là khả năng hoạt động liên tục 24/7 và xử lý đồng  
thời nhiều thông tin khi nhiều người dùng cùng truy cập đưa ra. Vì vậy, các máy chủ web  
sử dụng nhiều phần cứng nên chúng thường có giá đắt hơn các máy trạm thông thường.  
Các máy tính cá nhân tốt hiện nay, thông thường giá chỉ khoảng USD 1,000 – USD 3,000  
trong khi đó các máy chủ web thường có giá từ USD 6,000 đến USD 400.000. Các công  
ty bán máy chủ web như Dell, Gateway, Hewlett Packard và Sun, tất cả các công ty này  
đều có công cụ hỗ trợ cấu hình trên trang web của họ để khách hàng có thể xem và lựa  
chọn cấu hình máy chủ cho phù hợp.  
5.1.1.3 Dịch vụ hosting cho các website thương mại điện tử  
Để lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ hosting, trước hết doanh nghiệp cần tính đến uy  
tín của nhà cung cấp và khách hàng mà doanh nghiệp hướng tới. Ví dụ, nếu doanh nghiệp  
xuất khẩu muốn quảng bá ra thị trường nước ngoài, doanh nghiệp nên tìm một nhà cung  
cấp dịch vụ hosting gần với khách hàng nhất có thể được để tăng tốc độ truy nhập  
website của khách hàng. Trong trường hợp doanh nghiệp muốn xây dựng một hệ thống  
website thương mại điện tử để giới thiệu các sản phẩm với khách hàng trong nước thì  
doanh nghiệp nên đăng ký dịch vụ hosting với một nhà cung cấp dịch vụ nội địa.  
Ưu điểm của việc hosting ở nước ngoài là các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài  
thường có cơ sở hạ tầng mạng, cũng như đội ngũ kỹ thuật tốt, điều đó sẽ có lợi trong việc  
duy trì hoạt động ổn định của hệ thống. Tuy nhiên, trong trường hợp gặp sự cố (có thể do  
bị hacker tấn công) thì đó là một trở ngại để thương lượng với nhà cung cấp lấy lại quyền  
của hệ thống, do đó khi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ hosting nước ngoài chúng ta cần  
phải thận trọng xem xét về uy tín của công ty đó. Trong khi đó, nếu lựa chọn nhà cung  
cấp dịch vụ hosting trong nước thì thị trường, cũng như cơ sở hạ tầng mạng không tốt  
bằng của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, tuy nhiên nó có lợi thế về mặt bảo mật và  
tên miền khi bị tấn công. Một yếu tố khác cần xem xét là giá thành thuê dịch vụ hosting  
của các nhà cung cấp dịch vụ hosting nước ngoài thường có giá rẻ hơn rất nhiều so với  
181  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 92 trang baolam 24660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu học tập Thương mại điện tử (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_hoc_tap_thuong_mai_dien_tu_phan_2.pdf