Lỗi và nguyên tắc sửa lỗi viết câu trong văn bản cho học sinh dân tộc Khmer ở các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99  
LỖI VÀ NGUYÊN TẮC SỬA LỖI VIẾT CÂU TRONG VĂN BẢN  
CHO HỌC SINH DÂN TỘC KHMER Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC  
PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG  
Mai Thị Vân  
Trung tâm Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn,  
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 25/3/2021; Ngày nhận chỉnh sửa: 21/5/2021; Ngày duyệt đăng: 28/8/2021  
Tóm tắt  
Giáo dục tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số trong đó có học sinh dân tộc Khmer luôn là  
một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng. Tuy nhiên do một số nguyên nhân nên  
kết quả dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi, nhiều học  
sinh còn mắc lỗi trong quá trình sử dụng tiếng Việt. Đặc biệt là trong quá trình tạo lập văn bản số lượng  
học sinh mắc lỗi viết câu rất cao. Vì vậy bài viết sẽ tập trung làm rõ những lỗi viết câu mà học sinh dân tộc  
Khmer ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang mắc phải trong quá trình tạo lập văn  
bản thông qua kết quả khảo sát 183 bài kiểm tra. Kết quả khảo sát đã cho thấy trong quá trình tạo lập văn  
bản học sinh dân tộc Khmer mắc rất nhiều lỗi nhưng chủ yếu là 4 nhóm lỗi đó là lỗi dấu câu, lỗi cấu trúc,  
lỗi logic và lỗi phong cách. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, bài viết đã đưa ra 3 nguyên tắc sửa lỗi câu cho  
học sinh dân tộc Khmer đó là: Sửa lỗi câu phải nhằm khắc phục được các nguyên nhân chủ yếu của học  
sinh vùng song ngữ; Sửa lỗi câu phải giúp học sinh biết cách phát hiện lỗi, nhận biết nguyên nhân và cách  
sửa chữa và sửa câu phải chú ý đặt câu vào đoạn, bài và mục đích của người viết. Tuy bài viết mới chỉ dừng  
lại ở bước khởi đầu trong một phạm vi hẹp nhưng hy vọng trong một quá trình nghiên cứu khác, chúng tôi  
sẽ quay trở lại để tìm hiểu và mở rộng hơn vấn đề nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học tiếng  
Việt cho học sinh dân tộc Khmer.  
Từ khóa: An Giang, học sinh dân tộc Khmer, tiếng Việt.  
Trích dẫn: Mai Thị Vân. (2022). Lỗi và nguyên tắc sửa lỗi viết câu trong văn bản cho học sinh dân tộc Khmer ở các trường  
trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 11(1), 91-99.  
91  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
ERRORS AND ERROR CORRECTION  
IN WRITTEN DISCOURSE FOR HIGH SCHOOL  
KHMER ETHNIC STUDENTS IN AN GIANG PROVINCE  
Mai Thi Van  
Social Sciences and Humanities Research Center,  
An Giang University, Viet Nam National University, Ho Chi Minh City  
Article history  
Received: 25/3/2021; Received in revised form: 21/5/2021; Accepted: 28/8/2021  
Abstract  
Vietnamese language education for ethnic minority students, including Khmer students, is one of the  
issues considered particularly important by The Party and The Government. However, for some reasons, the  
results of teaching Vietnamese to Khmer students are not very good. Many students make mistakes in using  
Vietnamese, especially in creating texts. Therefore, the article focuses on clarifying mistakes made by Khmer  
students in high schools in An Giang Province on investigating 183 tests. The result shows that the Khmer  
students made many mistakes falling into 4 categories: punctuation, structural, logic, and text style. Under  
the current situation, the paper presents three principles for correcting sentences for Khmer ethnic students:  
correcting sentence mistakes in order to overcome the main causes of bilingual students; to detect errors,  
identifying causes and correction techniques; paying close attention to placing sentences into paragraphs,  
essay and purpose of the writer. This article is limited in both breadth and depth, so hopefully we will further  
explore the topic to improve the effectiveness of teaching Vietnamese to Khmer students.  
Keywords: An Giang, Khmer students, Vietnamese language.  
92  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99  
1. Đặt vấn đề  
câu được rải đều từ lớp 6 đến lớp 9 theo nguyên tắc  
tích hợp xen kẽ những nội dung về Văn và Làm văn.  
An Giang là một tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh  
sống như Kinh, Chăm, Hoa, Khmer. Trong đó, dân  
tộc Khmer có dân số đứng hàng thứ hai sau dân tộc  
Kinh với 90.271 người, chiếm 4% dân số của toàn tỉnh.  
Dân tộc Khmer An Giang sống tập trung chủ yếu ở hai  
huyện miền núi Tịnh Biên và Tri Tôn. Theo thống kê  
của Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tỉnh An Giang,  
tổng số học sinh (HS) dân tộc Khmer ở An Giang là  
17.319 HS. Cụ thể là ở bậc Tiểu học có 10.396 HS, ở  
bậc Trung học cơ sở có 5.611 HS và ở bậc Trung học  
phổ thông (THPT) có 1.312 HS, chiếm tỷ lệ 5,12%  
HS của toàn tỉnh. (Sở GD&ĐT tỉnh An Giang, 2020).  
Cụ thể là ở lớp 6, HS được học về “các thành phần  
chính của câu, câu trần thuật đơn, câu trần thuật đơn  
có từ là, câu trần thuật đơn không có từ là; chữa lỗi về  
chủ ngữ và vị ngữ, ôn tập về dấu câu (dấu chấm, dấu  
chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy” (Bộ GD&ĐT,  
2002). Lên lớp 7, HS được học “rút gọn câu, câu đặc  
biệt, thêm trạng ngữ cho câu, chuyển đổi câu chủ động  
thành câu bị động, dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu,  
dấu chấm lửng và dấu chấm phẩy, dấu gạch ngang”  
(Bộ GD&ĐT, 2003). Lên lớp 8, HS được học về “câu  
ghép, dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm, dấu ngoặc kép,  
câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần  
thuật, câu phủ định”(Bộ GD&ĐT, 2004). Đến lớp 9,  
HS được học về “liên kết câu và liên kết đoạn văn”  
(Bộ GD&ĐT, 2005).  
Đối với HS dân tộc Khmer, tiếng Khmer là  
tiếng mẹ đẻ, còn tiếng Việt được xem là ngôn ngữ  
thứ hai. Tiếng Khmer là phương tiện giao tiếp chính  
thức và tiêu chuẩn để đánh giá trình độ giáo lý, trình  
độ văn hóa của dân tộc Khmer. Do đó, đa số HS dân  
tộc Khmer đều sử dụng tiếng Khmer trong sinh hoạt  
gia đình và cộng đồng, còn tiếng Việt chủ yếu được  
sử dụng khi bước vào trường học. Vì vậy, trình độ  
tiếng Việt của HS dân tộc Khmer phụ thuộc vào mức  
độ các em tiếp xúc với tiếng Việt nhiều hay ít, sớm  
hay muộn và tùy vào năng lực trí tuệ, khả năng thích  
ứng của mỗi em.  
Nhìn chung, kiến thức về câu giữa chương trình  
Tiếng Việt ở bậc tiểu học và chương trình Tiếng Việt  
bậc trung học cơ sở có sự thống nhất. Các bài học về  
câu được biên soạn theo hướng tích hợp giữa cách  
phân loại câu theo cấu trúc cú pháp và cách phân  
loại câu theo mục đích giao tiếp, trong đó mục đích  
giao tiếp lấy làm nòng cốt. Các bài học về câu chủ  
yếu được dạy theo quan điểm giao tiếp, lấy việc thực  
hành làm trọng tâm.  
Ở cấp tiểu học, nhất là ở những lớp đầu cấp, HS  
dân tộc Khmer gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp  
và tiếp thu kiến thức vì vốn tiếng Việt của các em rất  
thiếu và yếu. Nhưng đến cấp THPT, trải qua hơn 10  
năm tiếp xúc và sử dụng tiếng Việt trong nhà trường  
thì HS dân tộc Khmer đã tương đối thành thạo tiếng  
Việt ở phạm vi giao tiếp (nói) nhưng trong quá trình  
viết các em bị mắc rất nhiều lỗi về câu. Do đó việc  
đưa ra các nguyên tắc sửa lỗi viết câu cho HS dân tộc  
Khmer nhằm giúp HS dân tộc Khmer ở các trường  
THPT trên địa bàn tỉnh An Giang nâng cao trình độ  
và khả năng sử dụng tiếng Việt là rất cần thiết.  
Nếu kiến thức về câu giữa chương trình Tiếng  
Việt ở bậc tiểu học và chương trình Tiếng Việt bậc  
trung học cơ sở có sự liên thông và tiếp nối khá tốt  
thì ưu điểm trên lại không được tiếp tục phát huy ở  
bậc THPT. Chương trình Ngữ văn ở THPT không có  
điều kiện để tiếp tục đi sâu và mở rộng thêm những  
kiến thức về câu ở các cấp học dưới mà chỉ có điều  
kiện nhắc lại khi cần thiết. Cụ thể là trong chương  
trình Ngữ văn 10 Ban cơ bản không có một tiết lý  
thuyết và thực hành nào dành riêng cho phần câu mà  
giáo viên chỉ hướng dẫn cho HS làm 3 bài tập thực  
hành về sửa lỗi câu nằm trong bài Những yêu cầu về  
sử dụng tiếng Việt. Tương tự như chương trình của  
Ban cơ bản, ở chương trình Tự chọn của Ngữ văn  
10, HS được thực hành làm một số bài tập lỗi về câu  
trong chủ đề: Những lỗi thường gặp trong sử dụng  
tiếng Việt - thực hành sửa lỗi (Bộ GD&ĐT, 2006).  
Sang lớp 11, những vấn đề lý thuyết về câu ở lớp dưới  
chỉ được gợi lại sơ lược trong tiết thực hành về câu  
đó là: Thực hành về sự lựa chọn trật tự các bộ phận  
trong câu; Thực hành về sử dụng một số kiểu câu  
trong văn bản; nghĩa của câu (Bộ GD&ĐT, 2007).  
Lên lớp 12, kiến thức về câu đã không được đề cập  
đến trong chương trình Ngữ văn.  
2. Nội dung  
2.1. Nội dung dạy học về câu trong chương  
trình sách giáo khoa  
Trong chương trình sách giáo khoa hiện hành,  
HS được thực hành viết câu ngay từ lớp 2. Quá trình  
thực hành viết câu trong điều kiện HS chưa được  
trang bị kiến thức về câu diễn ra liên tục từ lớp 2 đến  
lớp 3. Từ lớp 4 đến lớp 5, HS được học lý thuyết và  
làm các bài tập rèn luyện về các loại câu hỏi, câu trần  
thuật, câu cảm thán, câu cầu khiến và các dấu câu.  
Lên bậc trung học cơ sở, nội dung các bài học về  
93  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Nhìn lại chương trình Ngữ văn hiện hành, chúng năng vận dụng câu để tạo lập văn bản của HS người  
ta có thể thấy ưu điểm nổi bật nhất là phần lý thuyết dân tộc Khmer sẽ khó khăn hơn so với HS người  
về ngôn ngữ tiếng Việt ngắn gọn, dễ hiểu, làm cho  
môn học bớt đi tính nặng nề. Song điều bất cập nhất  
ở chương trình Ngữ văn hiện hành chính là phần lý  
thuyết về câu gần như bị bỏ qua, số tiết thực hành về  
câu tương đối ít, đồng thời việc dạy câu nằm trong  
văn bản cũng chưa được chú ý nhiều.  
Kinh dẫn tới việc mắc lỗi trong quá trình viết câu là  
không thể tránh khỏi.  
2.2. Thực trạng lỗi viết câu của HS dân tộc  
Khmer ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh  
An Giang  
Để đánh giá thực trạng lỗi viết câu của HS dân  
tộc Khmer ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh An  
Giang, chúng tôi đã tiến hành khảo sát lỗi trên 183  
bài kiểm tra viết đoạn văn của HS dân tộc Khmer  
ở các trường THPT trên địa bàn huyện Tri Tôn và  
Tịnh Biên.  
Trong chương trình Ngữ văn mới, ở cấp tiểu  
học kiến thức tiếng Việt tập trung vào một số hiểu  
biết đơn giản về ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp,  
hoạt động giao tiếp và biến thể ngôn ngữ (ngôn ngữ  
kết hợp với hình ảnh, số liệu); có khả năng nhận biết,  
bước đầu hiểu được các hiện tượng ngôn ngữ có liên  
quan và vận dụng trong giao tiếp. Ở trung học cơ sở,  
kiến thức tiếng Việt tập trung vào những hiểu biết  
cơ bản về từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp,  
sự phát triển ngôn ngữ và các biến thể ngôn ngữ (từ  
ngữ địa phương, biệt ngữ xã hội; ngôn ngữ kết hợp  
với hình ảnh, số liệu, biểu đồ, sơ đồ), giúp HS có  
khả năng hiểu các hiện tượng ngôn ngữ có liên quan  
và vận dụng trong giao tiếp. Ở cấp THPT, kiến thức  
tiếng Việt nâng cao theo hướng chú ý đến một số hiểu  
biết nâng cao về tiếng Việt giúp HS hiểu, phân tích  
và bước đầu biết đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ  
có liên quan, chú trọng những cách diễn đạt sáng tạo  
và sử dụng ngôn ngữ trong các báo cáo nghiên cứu  
và trong giao tiếp.  
Những bài kiểm tra chúng tôi thu được chủ yếu  
là các bài kiểm tra 15 phút và một tiết trên lớp. Chúng  
tôi đã tiến hành thống kê và phân loại lỗi trong các  
bài kiểm tra, kết quả trong số 183 bài kiểm tra có tới  
175 bài, chiếm 95,6% bị mắc lỗi viết câu. Những  
lỗi mà HS dân tộc Khmer mắc phải được chúng tôi  
quy về 4 nhóm lỗi chủ yếu đó là lỗi cấu trúc, lỗi dấu  
câu, lỗi logic ngữ pháp và lỗi phong cách (Mai Thị  
Vân, 2016).  
2.2.1. Lỗi cấu trúc  
Khi viết một câu văn, đoạn văn bằng tiếng Việt,  
HS dân tộc Khmer thường bị yếu tố ngôn ngữ tiếng  
mẹ đẻ chi phối rất nhiều về cấu trúc ngữ pháp, do đó  
lỗi này khá phổ biến ở HS dân tộc Khmer. Kết quả  
khảo sát các bài kiểm tra cho thấy, lỗi này tương đối  
phong phú và đa dạng khi các em viết đoạn văn, có  
những câu văn các em viết thiếu chủ ngữ, có những  
câu thiếu vị ngữ thậm chí có những câu thiếu cả chủ  
ngữ lẫn vị ngữ. Kết quả khảo sát cụ thể về lỗi cấu  
trúc trong các đoạn văn của HS dân tộc Khmer thể  
hiện rõ trong Bảng 1.  
Có thể nói, trên cơ sở chương trình Ngữ văn  
hiện hành, chương trình Ngữ văn mới đã có sự kế  
thừa và phát triển theo định hướng phát triển năng  
lực. Chương trình được thiết kế theo các mạch chính  
tương ứng với các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe của  
HS. Tuy nhiên do bị rào cản về ngôn ngữ nên dù ở  
chương trình hiện hành hay chương trình mới thì khả  
Bảng 1. Kết quả thống kê lỗi cấu trúc ngữ pháp của HS dân tộc Khmer  
Bài không mắc lỗi  
Số bài từ 1 đến 2 lỗi  
Số bài từ 3 lỗi trở lên  
Tổng số bài  
kiểm tra  
Lớp  
Lớp 10  
Số bài  
05  
%
5,3  
7,7  
13,9  
7,6  
Số bài  
32  
%
Số bài  
58  
%
95  
52  
33,7  
48,1  
66,7  
44,3  
61  
Lớp 11  
Lớp 12  
04  
25  
23  
44,2  
19,4  
48,1  
36  
05  
24  
07  
Tổng cộng  
183  
14  
81  
88  
Nguồn: Mai Thị Vân, 2016.  
Kết quả thống kê ở bảng trên đã cho thấy đa đương nhau nhưng số lượng và tần số mắc lỗi trong  
số HS dân tộc Khmer, chiếm 92,4% bị mắc lỗi cấu bài kiểm tra giữa các khối có sự khác nhau rất rõ.  
trúc khi viết đoạn văn, tỷ lệ HS không bị mắc lỗi Cụ thể là ở khối 10, tỷ lệ HS có số lượng bài kiểm  
cấu trúc chỉ chiếm có 7,6%. Tuy số lượng bài kiểm tra mắc lỗi cao nhất, 90 bài, chiếm 94,7%. Trong đó,  
tra không bị mắc lỗi cấu trúc của 3 khối gần tương số lượng bài kiểm tra bị mắc từ 2 đến 3 lỗi chiếm  
94  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99  
đến 61%. So với khối 10 thì HS của khối 11 có số  
2.2.2. Lỗi dấu câu  
lượng và tỷ lệ bài kiểm tra bị mắc lỗi cấu trúc thấp  
hơn. Đồng thời tần số mắc lỗi trong các bài kiểm  
tra của HS cũng có sự chênh lệch không đáng kể.  
Riêng khối 12, mặc dù tỷ lệ bài kiểm tra của HS  
bị mắc lỗi vẫn còn cao, chiếm 86,1% nhưng tần số  
mắc lỗi trong các bài kiểm tra đã ít hơn rất nhiều.  
Nếu các bài kiểm tra bị mắc từ 1 đến 2 lỗi chiếm  
66,7% thì các bài mắc từ 3 lỗi trở lên chỉ chiếm có  
19,4%. Điều này chứng tỏ, càng học lên cao, HS  
dân tộc Khmer càng nắm vững kiến thức về cấu  
trúc ngữ pháp nên trong quá trình tạo lập văn bản  
các em đã hạn chế được tần số mắc lỗi trong quá  
trình hành văn.  
Dấu câu có vai trò quan trọng trong việc biểu thị  
những ngữ điệu, ngữ pháp, ngữ nghĩa của câu. Khảo  
sát những đoạn văn của HS dân tộc Khmer, chúng  
tôi thấy hai loại dấu câu được HS dân tộc Khmer sử  
dụng thường xuyên và chủ yếu khi viết đoạn văn  
đó là dấu chấm và dấu phẩy. Mặc dù được sử dụng  
thường xuyên và liên tục nhưng hiện tượng dùng sai  
dấu câu vẫn rất phổ biến trong các bài kiểm tra của  
HS. Trong số 183 đoạn văn của HS viết, chúng tôi  
chỉ thống kê được 74 đoạn văn không bị mắc lỗi dấu  
câu, còn lại 109 đoạn văn bị mắc lỗi dấu câu. Kết  
quả thống kê lỗi dấu câu của HS dân tộc Khmer thể  
hiện trong Bảng 2.  
Bảng 2. Kết quả thống kê lỗi dấu câu của HS dân tộc Khmer  
Bài không mắc lỗi  
Số bài từ 1 đến 2 lỗi Số bài từ 3 lỗi trở lên  
Lớp  
Lớp 10  
Tổng số bài kiểm tra  
Số bài  
35  
%
Số bài  
40  
%
Số bài  
%
95  
52  
36,8  
42,3  
47,2  
40,4  
42,1  
44,2  
44,5  
43,2  
20  
7
21,1  
13,5  
8,3  
Lớp 11  
Lớp 12  
22  
23  
36  
17  
16  
3
Tổng cộng  
183  
74  
79  
30  
16,4  
Nguồn: Mai Thị Vân, 2016.  
Số liệu ở Bảng 2 đã chứng minh, tỷ lệ các đoạn  
văn bị mắc lỗi về dấu câu vẫn còn tương đối cao và  
tập trung nhiều nhất ở HS khối 10, kế đến là HS khối  
11, cuối cùng là HS khối 12. Trong đó, số lượng đoạn  
văn bị mắc từ 1 đến 2 lỗi của cả 3 khối đều cao hơn  
so với số lượng đoạn văn mắc từ 3 lỗi trở lên.  
2.2.3. Lỗi logic  
Lỗi logic là lỗi mà HS sắp xếp các ý không  
theo trật tự logic của các ý có trong văn bản, hoặc  
đảo trật tự kết cấu, không phân định rõ trật tự cần  
có của thành phần câu, vi phạm những quy luật sắp  
xếp của tư duy hoặc sai hiện thực. Lỗi này khá phổ  
Như vậy, tuy số lượng và tần số mắc lỗi về dấu câu biến trong các đoạn văn của HS dân tộc Khmer.  
của HS thấp hơn so với số lượng và tần số mắc lỗi về Biểu hiện của lỗi này là các câu trong đoạn văn rời  
cấu trúc nhưng việc sử dụng dấu câu trong các đoạn văn rạc, rối rắm, thiếu mạch lạc. Nguyên nhân chính là  
của nhiều HS dân tộc Khmer vẫn khá tùy tiện. Trong do đa số HS dân tộc Khmer có thói quen nghĩ sao  
một số đoạn văn, các em chưa biết phân biệt rõ khi nào viết vậy, tư duy logic yếu nên khi viết các em cũng  
dùng dấu chấm, khi nào dùng dấu phẩy, dấu chấm phẩy, nghĩ gì viết đó dẫn tới các câu trong đoạn bị rời rạc,  
cứ thấy nhiều thì chấm hoặc phẩy. Điều đó chứng tỏ các ý giữa các câu thiếu sự logic. Kết quả thống kê  
các em chưa nắm được mô hình hoàn chỉnh của câu, lỗi logic trong các đoạn văn ở bài kiểm tra thể hiện  
đoạn, chưa nắm vững kiến thức về các loại dấu câu.  
trong Bảng 3.  
Bảng 3. Kết quả thống kê lỗi logic trong các bài kiểm tra của HS  
Bài không mắc lỗi  
Số bài từ 1 đến 2 lỗi Số bài từ 3 lỗi trở lên  
Lớp  
Lớp 10  
Tổng số bài kiểm tra  
Số bài  
38  
%
40  
Số bài  
48  
%
Số bài  
%
9,5  
5,7  
5,5  
7,7  
95  
52  
50,5  
38,5  
41,7  
45,3  
9
3
Lớp 11  
Lớp 12  
29  
55,8  
52,8  
47  
20  
36  
19  
15  
2
Tổng cộng  
183  
86  
83  
14  
Nguồn: Mai Thị Vân, 2016.  
95  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Quan sát kết quả ở Bảng 3, ta thấy có 86 đoạn tộc Khmer còn hạn chế, phạm vi giao tiếp lại bó hẹp  
văn trên tổng số 183 đoạn, chiếm 47% không bị mắc chủ yếu ở trong phum sóc nên khi viết đoạn văn nhiều  
lỗi logic, còn lại 97 đoạn, chiếm 53% bị mắc phải lỗi em hay viết theo dòng suy nghĩ của bản thân nghĩa  
logic. Điều đó đồng nghĩa với số lượng bài không là thường theo thói quen của dân tộc Khmer, nghĩ gì  
mắc lỗi và số lượng bài bị mắc lỗi không có sự chênh viết đó không chú ý đến việc sắp xếp các ý sao cho  
lệch nhiều. Đồng thời, số lượng lỗi trong các đoạn hợp logic của cả đoạn.  
văn cũng không nhiều, đa phần các đoạn chỉ mắc từ  
1 đến 2 lỗi, số lượng đoạn mắc từ 3 lỗi logic trở lên  
chỉ chiếm có 7,7%.  
2.2.4. Lỗi phong cách  
Chúng ta biết mỗi văn bản có những đặc trưng  
phong cách nhất định và mỗi câu trong văn bản đều  
phải phù hợp với phong cách đó. Qua khảo sát các  
bài kiểm tra của HS, chúng tôi nhận thấy lỗi phong  
cách của HS dân tộc Khmer thể hiện chủ yếu qua việc  
dùng từ ngữ sai phong cách chức năng văn bản. Kết  
quả khảo sát lỗi phong cách của HS dân tộc Khmer  
trong các đoạn văn thể hiện trong Bảng 4.  
Mặc dù đã trải qua quá trình học và sử dụng tiếng  
Việt trong một khoảng thời gian dài, được rèn luyện  
kỹ năng viết đoạn văn khá nhiều ở từng lớp học, cấp  
học nhưng tỷ lệ HS dân tộc Khmer bị mắc lỗi logic  
khi viết đoạn văn vẫn còn tương đối nhiều. Điều này  
có thể xuất phát từ tư duy logic của một số HS dân  
Bảng 4. Kết quả thống kê lỗi phong cách của HS dân tộc Khmer  
Bài không mắc lỗi  
Số bài từ 1 đến 2 lỗi Số bài từ 3 lỗi trở lên  
Lớp  
Lớp 10  
Tổng số bài kiểm tra  
Số bài  
17  
%
Số bài  
41  
%
Số bài  
37  
%
95  
52  
17,9  
21,2  
19,4  
19,1  
43,2  
50  
38,9  
28,8  
25  
Lớp 11  
Lớp 12  
11  
26  
15  
36  
7
20  
55,6  
47,6  
9
Tổng cộng  
183  
35  
87  
61  
33,3  
Nguồn: Mai Thị Vân, 2016.  
2.3. Nguyên tắc sửa lỗi viết câu cho HS dân  
tộc Khmer  
2.3.1. Sửa lỗi câu phải nhằm khắc phục được các  
Qua bảng thống kê trên, chúng ta có thể khẳng  
định, tỷ lệ HS dân tộc Khmer mắc lỗi phong cách  
trong quá trình hành văn rất phổ biến. Cụ thể là trong  
số 183 đoạn văn của HS thì có đến 148 đoạn bị mắc lỗi  
phong cách, chỉ có 35 bài là không bị mắc lỗi phong  
cách. Đồng thời, số lượng lỗi trong các đoạn văn của  
cả 3 khối cũng có sự chênh lệch không đáng kể. Trong  
đó, lỗi phổ biến nhất là việc dùng các từ ngữ thuộc  
phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (khẩu ngữ) trong các  
văn bản chính luận, khoa học, nghệ thuật, hành chính  
công vụ. Nguyên nhân mắc lỗi phong cách chủ yếu  
là do HS dân tộc Khmer chưa nắm vững kiến thức  
về các kiểu loại văn bản, vốn từ ngữ lại hạn chế cộng  
với thói quen nghĩ gì viết đó, không có sự lựa chọn,  
chắt lọc từ ngữ cho phù hợp với từng loại văn bản.  
nguyên nhân chủ yếu của HS vùng song ngữ  
HS dân tộc Khmer đang theo học tại các trường  
phổ thông ở An Giang là những đối tượng song ngữ.  
Nghĩa là, ngoài việc sở hữu các kỹ năng cơ bản đến  
chuyên sâu về tiếng mẹ đẻ Khmer, các em còn có khả  
năng sử dụng được tiếng Việt với các mức độ khác  
nhau tùy từng đối tượng. Chính vì sở hữu được kỹ  
năng sử dụng ít nhất là hai ngôn ngữ trở lên (tiếng  
Khmer và tiếng Việt), nên trong quá trình sử dụng  
ngôn ngữ, các em có xu hướng lựa chọn ngôn ngữ  
cho phù hợp với từng đối tượng giao tiếp, từng hoàn  
cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp… Hiện tượng song  
ngữ của HS dân tộc Khmer cũng dẫn đến một hiện  
trạng khá phổ biến là “sự nhầm lẫn” giữa đặc điểm  
Nhìn chung, kết quả khảo sát lỗi viết câu trong  
các bài kiểm tra đã cho thấy tỷ lệ HS dân tộc Khmer  
mắc lỗi viết câu trong các đoạn văn khá nhiều. Trong tiếng mẹ đẻ Khmer với tiếng Việt trong quá trình sử  
đó, lỗi phổ biến nhất là lỗi cấu trúc và lỗi phong cách. dụng, từ đó dẫn đến việc các em thường mắc một số  
lỗi khi viết câu, viết đoạn mang tính phổ biến. Những  
lỗi này khác biệt hoàn toàn so với HS dân tộc Kinh  
và HS các dân tộc khác cùng cộng cư ở An Giang  
khi viết tiếng Việt.  
Lỗi dấu câu và lỗi logic tuy ít hơn lỗi cấu trúc và lỗi  
phong cách nhưng vẫn chiếm tỷ lệ trên 50%. Điều đó  
chứng tỏ nhiều HS dân tộc Khmer còn bị thiếu và yếu  
về năng lực viết câu trong quá trình tạo lập văn bản.  
96  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99  
Nghiên cứu cho thấy, tiếng Việt và tiếng Khmer  
Có thể thấy, các lỗi kết hợp từ ngữ trong tạo  
có cùng nguồn gốc, cùng loại hình đơn lập, do đó, câu của HS dân tộc Khmer là khá phức tạp, có tính  
chất khác biệt hầu như hoàn toàn so với các lỗi của  
HS dân tộc Kinh. Do vậy, khi định hướng, lựa chọn  
và áp dụng các phương pháp sửa lỗi viết câu trong  
quá trình xây dựng đoạn văn của HS dân tộc Khmer,  
chúng tôi rất lưu tâm đến nguyên tắc đảm bảo việc  
khắc phục được các nguyên nhân chủ yếu của HS  
vùng song ngữ.  
ở hai ngôn ngữ này có nhiều nét tương đồng về các  
phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tuy nhiên,  
như chúng tôi đã trình bày, vẫn có hai điểm khác biệt  
nổi bật mà chúng tôi đặc biệt lưu tâm: thứ nhất, tiếng  
Khmer không có thanh điệu trong khi tiếng Việt có  
hệ thống thanh điệu; thứ hai, cấu trúc danh ngữ tiếng  
Khmer và tiếng Việt có trật tự sắp xếp khác nhau.  
Theo đó, ở danh ngữ tiếng Khmer, phần trung tâm  
luôn nằm ở vị trí đầu tiên (bên trái), trong khi trung  
tâm danh ngữ tiếng Việt thường nằm ở giữa.  
2.3.2. Sửa lỗi câu phải giúp HS biết cách phát  
hiện lỗi, nhận biết nguyên nhân và cách sửa chữa  
Việc khắc phục lỗi viết câu trong quá trình xây  
dựng đoạn văn là một trong những yếu tố quan trọng  
góp phần nâng cao năng lực tiếng Việt, nâng cao chất  
lượng học tập cho HS dân tộc Khmer. Do vậy, trong  
quá trình dạy học môn Ngữ văn tại các trường có tỷ  
lệ HS dân tộc Khmer cao, vấn đề này càng phải được  
quan tâm thực hiện. Khi sửa lỗi viết câu, người giáo  
viên cần nắm rõ nguyên tắc, cần phải giúp HS biết  
cách tự phát hiện lỗi, tự nhận biết nguyên nhân và  
bước đầu tìm được những cách sửa phù hợp. Để làm  
được điều này, chúng ta cần cung cấp một cách đầy  
đủ những kiến thức ngữ pháp về câu, về đoạn cho  
các em. Phải cho các em biết thế nào là câu đúng, thế  
nào là câu sai khi đặt trong phạm vi một đoạn văn,  
một bài văn.  
Nắm được các đặc điểm của HS vùng song ngữ  
như đã nêu, trong quá trình nghiên cứu đưa ra các  
biện pháp sửa lỗi viết câu, chúng tôi đặc biệt quan  
tâm đến nguyên tắc “khắc phục các nguyên nhân chủ  
yếu của HS vùng song ngữ”.  
Điển hình như, đối với HS dân tộc Kinh, các em  
thường không/ hoặc rất ít khi mắc lỗi về sắp xếp trật  
tự từ khi tạo câu. Trong khi đó, HS dân tộc Khmer lại  
thường xuyên bị mắc lỗi này. Nguyên do là HS dân  
tộc Khmer nhầm lẫn giữa cách sắp xếp từ ngữ trong  
tiếng mẹ đẻ của mình (tiếng Khmer) và cách sắp xếp  
từ ngữ trong tiếng Việt.  
Ví dụ: Đối với câu “Ba HS nữ vừa đi ra quán  
mua nước uống.” thì HS dân tộc Kinh ít khi diễn đạt  
sai trật tự từ, vì tâm thức bản ngữ khiến các em có  
thể tri nhận đúng cấu trúc các thành phần trong câu  
để tạo ra một kết hợp chính xác.  
Trong tiếng Việt, một câu được xem là đúng khi  
đặt trong văn bản nếu nó đảm bảo được 5 yêu cầu sau:  
Thứ nhất, câu phải viết đúng quy tắc ngữ pháp  
tiếng Việt. Nghĩa là, câu phải đảm bảo đầy đủ các  
thành phần câu theo yêu cầu, phải tuân thủ các quy  
tắc kết hợp nhất định. Trong những trường hợp nhất  
định, có thể linh hoạt uyển chuyển vị trí các thành  
phần câu, có thể thêm bớt thành phần câu tùy theo  
dụng ý người viết. Tuy nhiên, đối với HS bậc phổ  
thông, chúng ta nên hướng các em đến việc viết câu  
chính xác về cấu trúc, sau đó mới tính đến phương án  
phát triển thành các cách diễn đạt sáng tạo.  
Học sinh dân tộc Kinh thường không/ hoặc ít khi  
diễn đạt câu trên thành “HS nữ ba quán nước uống  
vừa đi ra”. Bởi lẽ, tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ của  
HS dân tộc Kinh. Các quy tắc kết hợp, cấu trúc cú  
pháp và ý nghĩa miêu tả trong mỗi câu đều được HS  
dân tộc Kinh tri nhận, trừ khi quá bất cẩn hoặc nhầm  
lẫn trong vô thức các em mới mắc những lỗi “ngớ  
ngẩn” như thế.  
Trong khi đó, đối với HS dân tộc Khmer, khi  
yêu cầu diễn đạt thành một câu với các từ ngữ và nội  
dung tương tự như ví dụ trên, các em sẽ có các cách  
diễn đạt mắc lỗi khá phổ biến như sau:  
Thứ hai, câu phải đúng về nội dung ngữ nghĩa,  
tức là phản ánh một cách chính xác hiện thực khách  
quan và quan hệ ngữ nghĩa của các thành phần câu  
không được mâu thuẫn. Ví dụ, câu “Với tinh thần  
quyết chiến quyết thắng, bọn địch nhất định bị quân  
đội ta đánh bại” là một câu sai vì quan hệ giữa trạng  
ngữ và chủ ngữ không phù hợp, thiếu logic.  
(1) Học sinh nữ ba vừa đi ra quán mua nước uống.  
(2) Nữ HS ba vừa quán đi mua nước uống.  
(3) Học sinh nữ ba vừa uống nước ra quán mua.  
(4) Học sinh nữ ba vừa quán nước uống đi mua.  
(5) Nữ HS ba vừa quán nước uống đi mua.  
…
Thứ ba, câu phải được đánh dấu câu phù hợp.  
Thứ tư, câu phải liên hệ chặt chẽ với các câu khác  
trong văn bản và cùng hướng đến chủ đề chung của  
97  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
văn bản. Nếu các câu đúng về ngữ pháp, ngữ nghĩa, viết. Bởi lẽ trong thực tế, có những câu, nếu chúng  
về dấu câu nhưng không liên kết được với nhau thì  
văn bản sẽ vô nghĩa. Do đó, xét một câu đúng ta cần  
đặt trong phạm vi đoạn văn, văn bản.  
ta đặt riêng ra thì nó sẽ trở thành một câu sai. Nhưng  
khi ta đặt câu ấy vào ngữ cảnh, vào tình huống giao  
tiếp, vào đoạn văn hay bài văn cụ thể nó sẽ trở thành  
một câu đúng.  
Thứ năm, câu viết phải phù hợp với phong cách  
văn bản.  
Ví dụ, ta có câu: “Lụa Tân Châu.” (1) Nếu xét  
riêng, câu (1) là câu sai về cấu trúc, mắc lỗi thiếu  
thành phần vị ngữ, một trong hai thành phần bắt buộc  
của cấu trúc câu tiếng Việt. Tuy nhiên, đặt trong ngữ  
cảnh sau, câu (1) hoàn toàn chấp nhận được.  
Khi sửa lỗi viết câu, người dạy cần hướng dẫn  
cho HS viết các yêu cầu của một câu đúng như đã  
nêu, những câu không đảm bảo từ một yêu cầu trở  
lên được xem là câu sai. Tùy cách thức sai mà hướng  
đến phương pháp sửa chữa, khắc phục.  
Ví dụ: - Cái áo này may bằng vải gì mà đẹp  
quá vậy?  
Chẳng hạn, khi sửa câu cụ thể, chúng tôi sẽ yêu  
cầu HS tự phát hiện lỗi, thử chỉ ra các nguyên nhân  
dẫn đến mắc lỗi sau đó gợi ý các em tìm nhiều cách  
sửa và chọn cách sửa đúng nhất, hay nhất. Đối với  
HS dân tộc Kinh, dĩ nhiên các việc làm trên cũng cần  
thiết, nhưng đối với HS dân tộc Khmer thì thời gian  
cần nhiều hơn. Không những thế, người giáo viên cần  
phải đặt thêm nhiều câu hỏi mang tính diễn giải, gợi  
mở cho các em nhận ra mọi điều rõ ràng hơn.  
- Lụa Tân Châu.  
Ngoài ra, trong một số trường hợp, người viết  
có thể sử dụng những câu có cấu trúc đặc biệt nhằm  
nhấn mạnh một nội dung nào đấy, hoặc tạo ấn tượng  
mạnh cho người tiếp nhận. Lúc ấy, ta không thể nhận  
định đó là những câu sai.  
Ví dụ: “Hiền là chị tôi. Là chị (2). Tôi luôn nhớ  
điều này như in trong những kiến văn được lập trình  
sẵn cho lí trí. Có điều, trong những giấc mơ, tôi hay  
quên bẵng điều đó. Tôi thấy Hiền là bạn, là em, thậm  
chí là... mẹ tôi” (Y Nguyên, 2015, tr. 53).  
Ngoài ra, sau khi sửa một câu cụ thể, giáo viên  
phải dẫn ra các ví dụ tương đồng để giúp các em nhận  
thức tốt hơn về một số lỗi chung nào đó và lựa chọn,  
ghi nhớ cách sửa loại lỗi đó.  
Câu (2) ở ví dụ vừa dẫn nếu xét theo cấu trúc cú  
pháp thì đó là một câu lỗi, thiếu chủ ngữ. Tuy nhiên,  
đặt trong văn cảnh ấy, ta hoàn toàn có thể hiểu được  
điều tác giả muốn nói, hiểu được đối tượng nào đang  
được đề cập đến. Không chỉ vậy, nó còn cho thấy thái  
độ, dụng ý nghệ thuật mà người viết ký thác vào. Đó  
là sự nhấn mạnh cái ý thức cần phải nhớ nhân vật  
Hiền là “chị”, mặc dù cái ý thức này còn khá mơ hồ,  
hay bị chính nhân vật xưng “tôi” nhầm lẫn.  
Ví dụ, các câu sau đây thực chất là mắc cùng  
một lỗi, và biện pháp sửa lỗi ở các câu này cũng mang  
tính chất tương đồng.  
(1) Qua Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện  
một tinh thần nhân đạo sâu sắc. (Bài làm của HS)  
(2) Với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô  
Hoài đã lên án bọn thực dân và chúa đất trên vùng  
Tây Bắc thời bấy giờ. (Bài làm của HS)  
(3) Bằng tấm lòng nhân hậu của Thạch Lam đã  
thể hiện cái nhìn đầy nhân văn về hoàn cảnh, số phận  
của những người dân lầm lũi sống, héo hắt từng ngày  
ở cái phố huyện nghèo nàn, tẻ nhạt. (Bài làm của HS)  
Từ các phân tích trên, chúng ta nhận thấy muốn  
sửa lỗi câu, một trong những nguyên tắc cần phải  
được đảm bảo, đó là đặt câu vào đoạn văn, bài văn  
và mục đích người viết. Ngoài các nguyên tắc này,  
chúng ta còn phải đảm bảo những yêu cầu bắt buộc  
Với những câu này, giáo viên chỉ cần hướng dẫn  
chi tiết phương pháp sửa lỗi ở một câu mang tính điển khi sửa lỗi câu đó là:  
hình, sau đó gợi ý cho HS tự phân tích và sửa chữa  
các câu còn lại. Nếu cần, giáo viên đưa thêm nhiều  
ví dụ để HS nắm rõ thao tác, hiểu phương pháp và  
thực hiện việc sửa lỗi nhanh hơn, hay hơn.  
Thứ nhất, khi sửa lỗi câu cho HS dân tộc Khmer,  
người dạy cần ưu tiên khắc phục các lỗi phổ biến,  
riêng biệt của đối tượng này. Để đảm bảo được yêu  
cầu này, người dạy cần phải có sự thống kê, tổng  
hợp trong một thời gian dài, đồng thời phải biết cách  
phân loại các lỗi thành từng nhóm lớn, có tham chiếu  
giữa lỗi của HS dân tộc Khmer với HS dân tộc Kinh  
cùng địa bàn, cùng thụ hưởng các chương trình giáo  
dục như nhau.  
2.3.3. Sửa câu phải chú ý đặt câu vào đoạn, bài  
và mục đích của người viết  
Khi sửa lỗi câu cho HS, chúng ta cần đảm bảo  
nguyên tắc đặt câu trong mối tương quan với đoạn  
văn, bài văn và phải đảm bảo đúng mục đích người  
98  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99  
Thứ hai, khi hướng dẫn HS sửa lỗi viết câu,  
Để hạn chế lỗi viết câu cho HS dân tộc Khmer,  
người dạy cần đảm bảo yêu cầu sai lỗi nào sửa lỗi bài viết đã xây dựng nguyên tắc sửa lỗi viết câu cho  
đó, kể cả những lỗi phổ biến lẫn những lỗi mang HS dân tộc Khmer. Khi xây dựng các nguyên tắc  
tính cá biệt. Từ đó, chúng ta sẽ hướng HS đến biện khắc phục lỗi viết câu cho HS dân tộc Khmer ở các  
pháp khắc phục tối ưu. Thực tế cho thấy, có những trường THPT trên địa bàn tỉnh An Giang, tác giả bài  
lỗi rất phổ biến đối với HS dân tộc Khmer, nhưng có viết luôn cố gắng đưa ra các nguyên tắc phù hợp với  
những lỗi chỉ xuất hiện nhất thời do nhầm lẫn hoặc trình độ, đặc điểm, tình hình của HS dân tộc Khmer  
bất cẩn trong cách hành văn. Tuy có những lỗi không ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh An Giang. Song  
mang tính điển hình, ít xuất hiện đối với HS dân tộc người dạy cần phải tùy vào đối tượng, đặc điểm tình  
Khmer khi viết tiếng Việt nhưng người dạy cũng cần hình để có thể vận hoặc điều chỉnh sao cho phù hợp./  
quan tâm, hướng dẫn sửa chữa tất cả các lỗi câu mà  
HS mắc phải. Điều này sẽ khiến HS dân tộc Khmer  
hạn chế được việc tái mắc lỗi, tự rút kinh nghiệm để  
ngày càng hoàn thiện hơn khi diễn đạt bằng văn bản.  
Tài liệu tham khảo  
Bộ GD&ĐT. (2002). Ngữ văn 6 (tập 1-2). Hà Nội:  
NXB Giáo dục.  
Bộ GD&ĐT. (2003). Ngữ văn 7 (tập 1-2). Hà Nội:  
Thứ ba, đối với HS cấp THPT, nhất là với các  
em HS khá, giỏi, khi sửa lỗi viết câu, người dạy cần  
lưu tâm đến việc giúp các em không chỉ tạo lập được  
những câu đúng mà còn hướng đến việc tạo lập được  
những câu hay. Từ đó, khơi gợi hứng thú cho các em  
trong việc học tập phân môn Tiếng Việt nói riêng và  
môn Ngữ văn nói chung. Từ thực tế khảo sát, chúng  
tôi nhận thấy, không phải tất cả các HS dân tộc Khmer  
đều mắc lỗi khi hành văn bằng tiếng Việt. Tuy tỉ lệ  
HS mắc lỗi khá cao nhưng có một số lượng nhỏ HS  
ít khi mắc lỗi. Do vậy đối với những HS giỏi văn dân  
tộc Khmer thì ngoài việc hướng dẫn HS phát hiện lỗi  
và sửa lỗi theo các bước thông thường, người dạy cần  
gợi ý, hướng dẫn để các em có thể biến những câu  
sai thành những câu hay, góp phần nâng cao năng lực  
hành văn cho các em.  
NXB Giáo dục.  
Bộ GD&ĐT. (2004). Ngữ văn 8 (tập 1-2). Hà Nội:  
NXB Giáo dục.  
Bộ GD&ĐT. (2006). Ngữ văn 9 (tập 1-2). Hà Nội:  
NXB Giáo dục.  
Bộ GD&ĐT. (2006). Ngữ văn 10 (tập 1-2). Hà Nội:  
NXB Giáo dục.  
Bộ GD&ĐT. (2007). Ngữ văn 11 (tập 1-2). Hà Nội:  
NXB Giáo dục.  
Bộ GD&ĐT. (2008). Ngữ văn 12 (tập 1-2). Hà Nội:  
NXB Giáo dục.  
Cao Xuân Hạo (chủ biên), Lý Tùng Hiếu, Nguyễn  
Kiên Trường, Võ Xuân Trang, Trần Thị Tuyết  
Mai. (2002). Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục.  
Hà Nội. NXB Khoa học Xã hội.  
Thứ tư, ngoài các yêu cầu trên, khi sửa câu,  
chúng ta cần đảm bảo hướng dẫn các em sửa bằng  
nhiều con đường, nhiều hình thức. Mỗi câu sai thông  
thường sẽ có nhiều cách sửa khác nhau, người dạy  
cần hướng dẫn các em các cách sửa, từ đơn giản đến  
phức tạp. Đó là một trong những yếu tố quan trọng  
giúp các em có thể chọn lựa cách sửa phù hợp ở  
những lần tiếp theo.  
Lê A (Chủ biên), Nguyễn Quang Ninh và Bùi Minh  
Toán. (2001). Phương pháp dạy học tiếng Việt.  
Hà Nội: NXB Giáo dục.  
Mai Thị Vân. (2016). Biện pháp khắc phục lỗi viết  
câu trong xây dựng đoạn văn của HS dân tộc  
Khmer ở các trường THPT huyện Tịnh Biên,  
tỉnh An Giang”. Luận văn thạc sỹ, Đại học Sư  
phạm Huế.  
3. Kết luận  
Nguyễn Đức Dân. (2013). Từ câu sai đến câu hay.  
Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Trẻ Thành phố  
Hồ Chí Minh.  
Kết quả khảo sát 183 bài kiểm tra của HS dân  
tộc Khmer đã cho thấy tỷ lệ HS dân tộc Khmer mắc  
lỗi viết câu còn rất cao. Những lỗi viết câu trong các  
bài viết của HS dân tộc Khmer rất phong phú và đa  
dạng nhưng chủ yếu là tập trung vào 4 nhóm lỗi chủ  
yếu đó là: lỗi dấu câu, lỗi cấu trúc, lỗi logic và lỗi  
phong cách.  
Trương Dĩnh. (1997). Dạy học tiếng Việt ở trường  
HS dân tộc. Hà Nội: NXB Giáo dục.  
Y Nguyên. (2015). Phố núi mù sương. Hà Nội: NXB  
Hội Nhà văn.  
99  
pdf 9 trang baolam 26280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lỗi và nguyên tắc sửa lỗi viết câu trong văn bản cho học sinh dân tộc Khmer ở các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfloi_va_nguyen_tac_sua_loi_viet_cau_trong_van_ban_cho_hoc_sin.pdf