Lỗi và nguyên tắc sửa lỗi viết câu trong văn bản cho học sinh dân tộc Khmer ở các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99
LỖI VÀ NGUYÊN TẮC SỬA LỖI VIẾT CÂU TRONG VĂN BẢN
CHO HỌC SINH DÂN TỘC KHMER Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
Mai Thị Vân
Trung tâm Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn,
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Lịch sử bài báo
Ngày nhận: 25/3/2021; Ngày nhận chỉnh sửa: 21/5/2021; Ngày duyệt đăng: 28/8/2021
Tóm tắt
Giáo dục tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số trong đó có học sinh dân tộc Khmer luôn là
một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng. Tuy nhiên do một số nguyên nhân nên
kết quả dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi, nhiều học
sinh còn mắc lỗi trong quá trình sử dụng tiếng Việt. Đặc biệt là trong quá trình tạo lập văn bản số lượng
học sinh mắc lỗi viết câu rất cao. Vì vậy bài viết sẽ tập trung làm rõ những lỗi viết câu mà học sinh dân tộc
Khmer ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang mắc phải trong quá trình tạo lập văn
bản thông qua kết quả khảo sát 183 bài kiểm tra. Kết quả khảo sát đã cho thấy trong quá trình tạo lập văn
bản học sinh dân tộc Khmer mắc rất nhiều lỗi nhưng chủ yếu là 4 nhóm lỗi đó là lỗi dấu câu, lỗi cấu trúc,
lỗi logic và lỗi phong cách. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, bài viết đã đưa ra 3 nguyên tắc sửa lỗi câu cho
học sinh dân tộc Khmer đó là: Sửa lỗi câu phải nhằm khắc phục được các nguyên nhân chủ yếu của học
sinh vùng song ngữ; Sửa lỗi câu phải giúp học sinh biết cách phát hiện lỗi, nhận biết nguyên nhân và cách
sửa chữa và sửa câu phải chú ý đặt câu vào đoạn, bài và mục đích của người viết. Tuy bài viết mới chỉ dừng
lại ở bước khởi đầu trong một phạm vi hẹp nhưng hy vọng trong một quá trình nghiên cứu khác, chúng tôi
sẽ quay trở lại để tìm hiểu và mở rộng hơn vấn đề nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học tiếng
Việt cho học sinh dân tộc Khmer.
Từ khóa: An Giang, học sinh dân tộc Khmer, tiếng Việt.
Trích dẫn: Mai Thị Vân. (2022). Lỗi và nguyên tắc sửa lỗi viết câu trong văn bản cho học sinh dân tộc Khmer ở các trường
trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 11(1), 91-99.
91
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
ERRORS AND ERROR CORRECTION
IN WRITTEN DISCOURSE FOR HIGH SCHOOL
KHMER ETHNIC STUDENTS IN AN GIANG PROVINCE
Mai Thi Van
Social Sciences and Humanities Research Center,
An Giang University, Viet Nam National University, Ho Chi Minh City
Email: [email protected]
Article history
Received: 25/3/2021; Received in revised form: 21/5/2021; Accepted: 28/8/2021
Abstract
Vietnamese language education for ethnic minority students, including Khmer students, is one of the
issues considered particularly important by The Party and The Government. However, for some reasons, the
results of teaching Vietnamese to Khmer students are not very good. Many students make mistakes in using
Vietnamese, especially in creating texts. Therefore, the article focuses on clarifying mistakes made by Khmer
students in high schools in An Giang Province on investigating 183 tests. The result shows that the Khmer
students made many mistakes falling into 4 categories: punctuation, structural, logic, and text style. Under
the current situation, the paper presents three principles for correcting sentences for Khmer ethnic students:
correcting sentence mistakes in order to overcome the main causes of bilingual students; to detect errors,
identifying causes and correction techniques; paying close attention to placing sentences into paragraphs,
essay and purpose of the writer. This article is limited in both breadth and depth, so hopefully we will further
explore the topic to improve the effectiveness of teaching Vietnamese to Khmer students.
Keywords: An Giang, Khmer students, Vietnamese language.
92
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99
1. Đặt vấn đề
câu được rải đều từ lớp 6 đến lớp 9 theo nguyên tắc
tích hợp xen kẽ những nội dung về Văn và Làm văn.
An Giang là một tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh
sống như Kinh, Chăm, Hoa, Khmer. Trong đó, dân
tộc Khmer có dân số đứng hàng thứ hai sau dân tộc
Kinh với 90.271 người, chiếm 4% dân số của toàn tỉnh.
Dân tộc Khmer An Giang sống tập trung chủ yếu ở hai
huyện miền núi Tịnh Biên và Tri Tôn. Theo thống kê
của Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tỉnh An Giang,
tổng số học sinh (HS) dân tộc Khmer ở An Giang là
17.319 HS. Cụ thể là ở bậc Tiểu học có 10.396 HS, ở
bậc Trung học cơ sở có 5.611 HS và ở bậc Trung học
phổ thông (THPT) có 1.312 HS, chiếm tỷ lệ 5,12%
HS của toàn tỉnh. (Sở GD&ĐT tỉnh An Giang, 2020).
Cụ thể là ở lớp 6, HS được học về “các thành phần
chính của câu, câu trần thuật đơn, câu trần thuật đơn
có từ là, câu trần thuật đơn không có từ là; chữa lỗi về
chủ ngữ và vị ngữ, ôn tập về dấu câu (dấu chấm, dấu
chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy” (Bộ GD&ĐT,
2002). Lên lớp 7, HS được học “rút gọn câu, câu đặc
biệt, thêm trạng ngữ cho câu, chuyển đổi câu chủ động
thành câu bị động, dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu,
dấu chấm lửng và dấu chấm phẩy, dấu gạch ngang”
(Bộ GD&ĐT, 2003). Lên lớp 8, HS được học về “câu
ghép, dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm, dấu ngoặc kép,
câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần
thuật, câu phủ định”(Bộ GD&ĐT, 2004). Đến lớp 9,
HS được học về “liên kết câu và liên kết đoạn văn”
(Bộ GD&ĐT, 2005).
Đối với HS dân tộc Khmer, tiếng Khmer là
tiếng mẹ đẻ, còn tiếng Việt được xem là ngôn ngữ
thứ hai. Tiếng Khmer là phương tiện giao tiếp chính
thức và tiêu chuẩn để đánh giá trình độ giáo lý, trình
độ văn hóa của dân tộc Khmer. Do đó, đa số HS dân
tộc Khmer đều sử dụng tiếng Khmer trong sinh hoạt
gia đình và cộng đồng, còn tiếng Việt chủ yếu được
sử dụng khi bước vào trường học. Vì vậy, trình độ
tiếng Việt của HS dân tộc Khmer phụ thuộc vào mức
độ các em tiếp xúc với tiếng Việt nhiều hay ít, sớm
hay muộn và tùy vào năng lực trí tuệ, khả năng thích
ứng của mỗi em.
Nhìn chung, kiến thức về câu giữa chương trình
Tiếng Việt ở bậc tiểu học và chương trình Tiếng Việt
bậc trung học cơ sở có sự thống nhất. Các bài học về
câu được biên soạn theo hướng tích hợp giữa cách
phân loại câu theo cấu trúc cú pháp và cách phân
loại câu theo mục đích giao tiếp, trong đó mục đích
giao tiếp lấy làm nòng cốt. Các bài học về câu chủ
yếu được dạy theo quan điểm giao tiếp, lấy việc thực
hành làm trọng tâm.
Ở cấp tiểu học, nhất là ở những lớp đầu cấp, HS
dân tộc Khmer gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp
và tiếp thu kiến thức vì vốn tiếng Việt của các em rất
thiếu và yếu. Nhưng đến cấp THPT, trải qua hơn 10
năm tiếp xúc và sử dụng tiếng Việt trong nhà trường
thì HS dân tộc Khmer đã tương đối thành thạo tiếng
Việt ở phạm vi giao tiếp (nói) nhưng trong quá trình
viết các em bị mắc rất nhiều lỗi về câu. Do đó việc
đưa ra các nguyên tắc sửa lỗi viết câu cho HS dân tộc
Khmer nhằm giúp HS dân tộc Khmer ở các trường
THPT trên địa bàn tỉnh An Giang nâng cao trình độ
và khả năng sử dụng tiếng Việt là rất cần thiết.
Nếu kiến thức về câu giữa chương trình Tiếng
Việt ở bậc tiểu học và chương trình Tiếng Việt bậc
trung học cơ sở có sự liên thông và tiếp nối khá tốt
thì ưu điểm trên lại không được tiếp tục phát huy ở
bậc THPT. Chương trình Ngữ văn ở THPT không có
điều kiện để tiếp tục đi sâu và mở rộng thêm những
kiến thức về câu ở các cấp học dưới mà chỉ có điều
kiện nhắc lại khi cần thiết. Cụ thể là trong chương
trình Ngữ văn 10 Ban cơ bản không có một tiết lý
thuyết và thực hành nào dành riêng cho phần câu mà
giáo viên chỉ hướng dẫn cho HS làm 3 bài tập thực
hành về sửa lỗi câu nằm trong bài Những yêu cầu về
sử dụng tiếng Việt. Tương tự như chương trình của
Ban cơ bản, ở chương trình Tự chọn của Ngữ văn
10, HS được thực hành làm một số bài tập lỗi về câu
trong chủ đề: Những lỗi thường gặp trong sử dụng
tiếng Việt - thực hành sửa lỗi (Bộ GD&ĐT, 2006).
Sang lớp 11, những vấn đề lý thuyết về câu ở lớp dưới
chỉ được gợi lại sơ lược trong tiết thực hành về câu
đó là: Thực hành về sự lựa chọn trật tự các bộ phận
trong câu; Thực hành về sử dụng một số kiểu câu
trong văn bản; nghĩa của câu (Bộ GD&ĐT, 2007).
Lên lớp 12, kiến thức về câu đã không được đề cập
đến trong chương trình Ngữ văn.
2. Nội dung
2.1. Nội dung dạy học về câu trong chương
trình sách giáo khoa
Trong chương trình sách giáo khoa hiện hành,
HS được thực hành viết câu ngay từ lớp 2. Quá trình
thực hành viết câu trong điều kiện HS chưa được
trang bị kiến thức về câu diễn ra liên tục từ lớp 2 đến
lớp 3. Từ lớp 4 đến lớp 5, HS được học lý thuyết và
làm các bài tập rèn luyện về các loại câu hỏi, câu trần
thuật, câu cảm thán, câu cầu khiến và các dấu câu.
Lên bậc trung học cơ sở, nội dung các bài học về
93
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Nhìn lại chương trình Ngữ văn hiện hành, chúng năng vận dụng câu để tạo lập văn bản của HS người
ta có thể thấy ưu điểm nổi bật nhất là phần lý thuyết dân tộc Khmer sẽ khó khăn hơn so với HS người
về ngôn ngữ tiếng Việt ngắn gọn, dễ hiểu, làm cho
môn học bớt đi tính nặng nề. Song điều bất cập nhất
ở chương trình Ngữ văn hiện hành chính là phần lý
thuyết về câu gần như bị bỏ qua, số tiết thực hành về
câu tương đối ít, đồng thời việc dạy câu nằm trong
văn bản cũng chưa được chú ý nhiều.
Kinh dẫn tới việc mắc lỗi trong quá trình viết câu là
không thể tránh khỏi.
2.2. Thực trạng lỗi viết câu của HS dân tộc
Khmer ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh
An Giang
Để đánh giá thực trạng lỗi viết câu của HS dân
tộc Khmer ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh An
Giang, chúng tôi đã tiến hành khảo sát lỗi trên 183
bài kiểm tra viết đoạn văn của HS dân tộc Khmer
ở các trường THPT trên địa bàn huyện Tri Tôn và
Tịnh Biên.
Trong chương trình Ngữ văn mới, ở cấp tiểu
học kiến thức tiếng Việt tập trung vào một số hiểu
biết đơn giản về ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp,
hoạt động giao tiếp và biến thể ngôn ngữ (ngôn ngữ
kết hợp với hình ảnh, số liệu); có khả năng nhận biết,
bước đầu hiểu được các hiện tượng ngôn ngữ có liên
quan và vận dụng trong giao tiếp. Ở trung học cơ sở,
kiến thức tiếng Việt tập trung vào những hiểu biết
cơ bản về từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp,
sự phát triển ngôn ngữ và các biến thể ngôn ngữ (từ
ngữ địa phương, biệt ngữ xã hội; ngôn ngữ kết hợp
với hình ảnh, số liệu, biểu đồ, sơ đồ), giúp HS có
khả năng hiểu các hiện tượng ngôn ngữ có liên quan
và vận dụng trong giao tiếp. Ở cấp THPT, kiến thức
tiếng Việt nâng cao theo hướng chú ý đến một số hiểu
biết nâng cao về tiếng Việt giúp HS hiểu, phân tích
và bước đầu biết đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ
có liên quan, chú trọng những cách diễn đạt sáng tạo
và sử dụng ngôn ngữ trong các báo cáo nghiên cứu
và trong giao tiếp.
Những bài kiểm tra chúng tôi thu được chủ yếu
là các bài kiểm tra 15 phút và một tiết trên lớp. Chúng
tôi đã tiến hành thống kê và phân loại lỗi trong các
bài kiểm tra, kết quả trong số 183 bài kiểm tra có tới
175 bài, chiếm 95,6% bị mắc lỗi viết câu. Những
lỗi mà HS dân tộc Khmer mắc phải được chúng tôi
quy về 4 nhóm lỗi chủ yếu đó là lỗi cấu trúc, lỗi dấu
câu, lỗi logic ngữ pháp và lỗi phong cách (Mai Thị
Vân, 2016).
2.2.1. Lỗi cấu trúc
Khi viết một câu văn, đoạn văn bằng tiếng Việt,
HS dân tộc Khmer thường bị yếu tố ngôn ngữ tiếng
mẹ đẻ chi phối rất nhiều về cấu trúc ngữ pháp, do đó
lỗi này khá phổ biến ở HS dân tộc Khmer. Kết quả
khảo sát các bài kiểm tra cho thấy, lỗi này tương đối
phong phú và đa dạng khi các em viết đoạn văn, có
những câu văn các em viết thiếu chủ ngữ, có những
câu thiếu vị ngữ thậm chí có những câu thiếu cả chủ
ngữ lẫn vị ngữ. Kết quả khảo sát cụ thể về lỗi cấu
trúc trong các đoạn văn của HS dân tộc Khmer thể
hiện rõ trong Bảng 1.
Có thể nói, trên cơ sở chương trình Ngữ văn
hiện hành, chương trình Ngữ văn mới đã có sự kế
thừa và phát triển theo định hướng phát triển năng
lực. Chương trình được thiết kế theo các mạch chính
tương ứng với các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe của
HS. Tuy nhiên do bị rào cản về ngôn ngữ nên dù ở
chương trình hiện hành hay chương trình mới thì khả
Bảng 1. Kết quả thống kê lỗi cấu trúc ngữ pháp của HS dân tộc Khmer
Bài không mắc lỗi
Số bài từ 1 đến 2 lỗi
Số bài từ 3 lỗi trở lên
Tổng số bài
kiểm tra
Lớp
Lớp 10
Số bài
05
%
5,3
7,7
13,9
7,6
Số bài
32
%
Số bài
58
%
95
52
33,7
48,1
66,7
44,3
61
Lớp 11
Lớp 12
04
25
23
44,2
19,4
48,1
36
05
24
07
Tổng cộng
183
14
81
88
Nguồn: Mai Thị Vân, 2016.
Kết quả thống kê ở bảng trên đã cho thấy đa đương nhau nhưng số lượng và tần số mắc lỗi trong
số HS dân tộc Khmer, chiếm 92,4% bị mắc lỗi cấu bài kiểm tra giữa các khối có sự khác nhau rất rõ.
trúc khi viết đoạn văn, tỷ lệ HS không bị mắc lỗi Cụ thể là ở khối 10, tỷ lệ HS có số lượng bài kiểm
cấu trúc chỉ chiếm có 7,6%. Tuy số lượng bài kiểm tra mắc lỗi cao nhất, 90 bài, chiếm 94,7%. Trong đó,
tra không bị mắc lỗi cấu trúc của 3 khối gần tương số lượng bài kiểm tra bị mắc từ 2 đến 3 lỗi chiếm
94
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99
đến 61%. So với khối 10 thì HS của khối 11 có số
2.2.2. Lỗi dấu câu
lượng và tỷ lệ bài kiểm tra bị mắc lỗi cấu trúc thấp
hơn. Đồng thời tần số mắc lỗi trong các bài kiểm
tra của HS cũng có sự chênh lệch không đáng kể.
Riêng khối 12, mặc dù tỷ lệ bài kiểm tra của HS
bị mắc lỗi vẫn còn cao, chiếm 86,1% nhưng tần số
mắc lỗi trong các bài kiểm tra đã ít hơn rất nhiều.
Nếu các bài kiểm tra bị mắc từ 1 đến 2 lỗi chiếm
66,7% thì các bài mắc từ 3 lỗi trở lên chỉ chiếm có
19,4%. Điều này chứng tỏ, càng học lên cao, HS
dân tộc Khmer càng nắm vững kiến thức về cấu
trúc ngữ pháp nên trong quá trình tạo lập văn bản
các em đã hạn chế được tần số mắc lỗi trong quá
trình hành văn.
Dấu câu có vai trò quan trọng trong việc biểu thị
những ngữ điệu, ngữ pháp, ngữ nghĩa của câu. Khảo
sát những đoạn văn của HS dân tộc Khmer, chúng
tôi thấy hai loại dấu câu được HS dân tộc Khmer sử
dụng thường xuyên và chủ yếu khi viết đoạn văn
đó là dấu chấm và dấu phẩy. Mặc dù được sử dụng
thường xuyên và liên tục nhưng hiện tượng dùng sai
dấu câu vẫn rất phổ biến trong các bài kiểm tra của
HS. Trong số 183 đoạn văn của HS viết, chúng tôi
chỉ thống kê được 74 đoạn văn không bị mắc lỗi dấu
câu, còn lại 109 đoạn văn bị mắc lỗi dấu câu. Kết
quả thống kê lỗi dấu câu của HS dân tộc Khmer thể
hiện trong Bảng 2.
Bảng 2. Kết quả thống kê lỗi dấu câu của HS dân tộc Khmer
Bài không mắc lỗi
Số bài từ 1 đến 2 lỗi Số bài từ 3 lỗi trở lên
Lớp
Lớp 10
Tổng số bài kiểm tra
Số bài
35
%
Số bài
40
%
Số bài
%
95
52
36,8
42,3
47,2
40,4
42,1
44,2
44,5
43,2
20
7
21,1
13,5
8,3
Lớp 11
Lớp 12
22
23
36
17
16
3
Tổng cộng
183
74
79
30
16,4
Nguồn: Mai Thị Vân, 2016.
Số liệu ở Bảng 2 đã chứng minh, tỷ lệ các đoạn
văn bị mắc lỗi về dấu câu vẫn còn tương đối cao và
tập trung nhiều nhất ở HS khối 10, kế đến là HS khối
11, cuối cùng là HS khối 12. Trong đó, số lượng đoạn
văn bị mắc từ 1 đến 2 lỗi của cả 3 khối đều cao hơn
so với số lượng đoạn văn mắc từ 3 lỗi trở lên.
2.2.3. Lỗi logic
Lỗi logic là lỗi mà HS sắp xếp các ý không
theo trật tự logic của các ý có trong văn bản, hoặc
đảo trật tự kết cấu, không phân định rõ trật tự cần
có của thành phần câu, vi phạm những quy luật sắp
xếp của tư duy hoặc sai hiện thực. Lỗi này khá phổ
Như vậy, tuy số lượng và tần số mắc lỗi về dấu câu biến trong các đoạn văn của HS dân tộc Khmer.
của HS thấp hơn so với số lượng và tần số mắc lỗi về Biểu hiện của lỗi này là các câu trong đoạn văn rời
cấu trúc nhưng việc sử dụng dấu câu trong các đoạn văn rạc, rối rắm, thiếu mạch lạc. Nguyên nhân chính là
của nhiều HS dân tộc Khmer vẫn khá tùy tiện. Trong do đa số HS dân tộc Khmer có thói quen nghĩ sao
một số đoạn văn, các em chưa biết phân biệt rõ khi nào viết vậy, tư duy logic yếu nên khi viết các em cũng
dùng dấu chấm, khi nào dùng dấu phẩy, dấu chấm phẩy, nghĩ gì viết đó dẫn tới các câu trong đoạn bị rời rạc,
cứ thấy nhiều thì chấm hoặc phẩy. Điều đó chứng tỏ các ý giữa các câu thiếu sự logic. Kết quả thống kê
các em chưa nắm được mô hình hoàn chỉnh của câu, lỗi logic trong các đoạn văn ở bài kiểm tra thể hiện
đoạn, chưa nắm vững kiến thức về các loại dấu câu.
trong Bảng 3.
Bảng 3. Kết quả thống kê lỗi logic trong các bài kiểm tra của HS
Bài không mắc lỗi
Số bài từ 1 đến 2 lỗi Số bài từ 3 lỗi trở lên
Lớp
Lớp 10
Tổng số bài kiểm tra
Số bài
38
%
40
Số bài
48
%
Số bài
%
9,5
5,7
5,5
7,7
95
52
50,5
38,5
41,7
45,3
9
3
Lớp 11
Lớp 12
29
55,8
52,8
47
20
36
19
15
2
Tổng cộng
183
86
83
14
Nguồn: Mai Thị Vân, 2016.
95
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Quan sát kết quả ở Bảng 3, ta thấy có 86 đoạn tộc Khmer còn hạn chế, phạm vi giao tiếp lại bó hẹp
văn trên tổng số 183 đoạn, chiếm 47% không bị mắc chủ yếu ở trong phum sóc nên khi viết đoạn văn nhiều
lỗi logic, còn lại 97 đoạn, chiếm 53% bị mắc phải lỗi em hay viết theo dòng suy nghĩ của bản thân nghĩa
logic. Điều đó đồng nghĩa với số lượng bài không là thường theo thói quen của dân tộc Khmer, nghĩ gì
mắc lỗi và số lượng bài bị mắc lỗi không có sự chênh viết đó không chú ý đến việc sắp xếp các ý sao cho
lệch nhiều. Đồng thời, số lượng lỗi trong các đoạn hợp logic của cả đoạn.
văn cũng không nhiều, đa phần các đoạn chỉ mắc từ
1 đến 2 lỗi, số lượng đoạn mắc từ 3 lỗi logic trở lên
chỉ chiếm có 7,7%.
2.2.4. Lỗi phong cách
Chúng ta biết mỗi văn bản có những đặc trưng
phong cách nhất định và mỗi câu trong văn bản đều
phải phù hợp với phong cách đó. Qua khảo sát các
bài kiểm tra của HS, chúng tôi nhận thấy lỗi phong
cách của HS dân tộc Khmer thể hiện chủ yếu qua việc
dùng từ ngữ sai phong cách chức năng văn bản. Kết
quả khảo sát lỗi phong cách của HS dân tộc Khmer
trong các đoạn văn thể hiện trong Bảng 4.
Mặc dù đã trải qua quá trình học và sử dụng tiếng
Việt trong một khoảng thời gian dài, được rèn luyện
kỹ năng viết đoạn văn khá nhiều ở từng lớp học, cấp
học nhưng tỷ lệ HS dân tộc Khmer bị mắc lỗi logic
khi viết đoạn văn vẫn còn tương đối nhiều. Điều này
có thể xuất phát từ tư duy logic của một số HS dân
Bảng 4. Kết quả thống kê lỗi phong cách của HS dân tộc Khmer
Bài không mắc lỗi
Số bài từ 1 đến 2 lỗi Số bài từ 3 lỗi trở lên
Lớp
Lớp 10
Tổng số bài kiểm tra
Số bài
17
%
Số bài
41
%
Số bài
37
%
95
52
17,9
21,2
19,4
19,1
43,2
50
38,9
28,8
25
Lớp 11
Lớp 12
11
26
15
36
7
20
55,6
47,6
9
Tổng cộng
183
35
87
61
33,3
Nguồn: Mai Thị Vân, 2016.
2.3. Nguyên tắc sửa lỗi viết câu cho HS dân
tộc Khmer
2.3.1. Sửa lỗi câu phải nhằm khắc phục được các
Qua bảng thống kê trên, chúng ta có thể khẳng
định, tỷ lệ HS dân tộc Khmer mắc lỗi phong cách
trong quá trình hành văn rất phổ biến. Cụ thể là trong
số 183 đoạn văn của HS thì có đến 148 đoạn bị mắc lỗi
phong cách, chỉ có 35 bài là không bị mắc lỗi phong
cách. Đồng thời, số lượng lỗi trong các đoạn văn của
cả 3 khối cũng có sự chênh lệch không đáng kể. Trong
đó, lỗi phổ biến nhất là việc dùng các từ ngữ thuộc
phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (khẩu ngữ) trong các
văn bản chính luận, khoa học, nghệ thuật, hành chính
công vụ. Nguyên nhân mắc lỗi phong cách chủ yếu
là do HS dân tộc Khmer chưa nắm vững kiến thức
về các kiểu loại văn bản, vốn từ ngữ lại hạn chế cộng
với thói quen nghĩ gì viết đó, không có sự lựa chọn,
chắt lọc từ ngữ cho phù hợp với từng loại văn bản.
nguyên nhân chủ yếu của HS vùng song ngữ
HS dân tộc Khmer đang theo học tại các trường
phổ thông ở An Giang là những đối tượng song ngữ.
Nghĩa là, ngoài việc sở hữu các kỹ năng cơ bản đến
chuyên sâu về tiếng mẹ đẻ Khmer, các em còn có khả
năng sử dụng được tiếng Việt với các mức độ khác
nhau tùy từng đối tượng. Chính vì sở hữu được kỹ
năng sử dụng ít nhất là hai ngôn ngữ trở lên (tiếng
Khmer và tiếng Việt), nên trong quá trình sử dụng
ngôn ngữ, các em có xu hướng lựa chọn ngôn ngữ
cho phù hợp với từng đối tượng giao tiếp, từng hoàn
cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp… Hiện tượng song
ngữ của HS dân tộc Khmer cũng dẫn đến một hiện
trạng khá phổ biến là “sự nhầm lẫn” giữa đặc điểm
Nhìn chung, kết quả khảo sát lỗi viết câu trong
các bài kiểm tra đã cho thấy tỷ lệ HS dân tộc Khmer
mắc lỗi viết câu trong các đoạn văn khá nhiều. Trong tiếng mẹ đẻ Khmer với tiếng Việt trong quá trình sử
đó, lỗi phổ biến nhất là lỗi cấu trúc và lỗi phong cách. dụng, từ đó dẫn đến việc các em thường mắc một số
lỗi khi viết câu, viết đoạn mang tính phổ biến. Những
lỗi này khác biệt hoàn toàn so với HS dân tộc Kinh
và HS các dân tộc khác cùng cộng cư ở An Giang
khi viết tiếng Việt.
Lỗi dấu câu và lỗi logic tuy ít hơn lỗi cấu trúc và lỗi
phong cách nhưng vẫn chiếm tỷ lệ trên 50%. Điều đó
chứng tỏ nhiều HS dân tộc Khmer còn bị thiếu và yếu
về năng lực viết câu trong quá trình tạo lập văn bản.
96
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99
Nghiên cứu cho thấy, tiếng Việt và tiếng Khmer
Có thể thấy, các lỗi kết hợp từ ngữ trong tạo
có cùng nguồn gốc, cùng loại hình đơn lập, do đó, câu của HS dân tộc Khmer là khá phức tạp, có tính
chất khác biệt hầu như hoàn toàn so với các lỗi của
HS dân tộc Kinh. Do vậy, khi định hướng, lựa chọn
và áp dụng các phương pháp sửa lỗi viết câu trong
quá trình xây dựng đoạn văn của HS dân tộc Khmer,
chúng tôi rất lưu tâm đến nguyên tắc đảm bảo việc
khắc phục được các nguyên nhân chủ yếu của HS
vùng song ngữ.
ở hai ngôn ngữ này có nhiều nét tương đồng về các
phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tuy nhiên,
như chúng tôi đã trình bày, vẫn có hai điểm khác biệt
nổi bật mà chúng tôi đặc biệt lưu tâm: thứ nhất, tiếng
Khmer không có thanh điệu trong khi tiếng Việt có
hệ thống thanh điệu; thứ hai, cấu trúc danh ngữ tiếng
Khmer và tiếng Việt có trật tự sắp xếp khác nhau.
Theo đó, ở danh ngữ tiếng Khmer, phần trung tâm
luôn nằm ở vị trí đầu tiên (bên trái), trong khi trung
tâm danh ngữ tiếng Việt thường nằm ở giữa.
2.3.2. Sửa lỗi câu phải giúp HS biết cách phát
hiện lỗi, nhận biết nguyên nhân và cách sửa chữa
Việc khắc phục lỗi viết câu trong quá trình xây
dựng đoạn văn là một trong những yếu tố quan trọng
góp phần nâng cao năng lực tiếng Việt, nâng cao chất
lượng học tập cho HS dân tộc Khmer. Do vậy, trong
quá trình dạy học môn Ngữ văn tại các trường có tỷ
lệ HS dân tộc Khmer cao, vấn đề này càng phải được
quan tâm thực hiện. Khi sửa lỗi viết câu, người giáo
viên cần nắm rõ nguyên tắc, cần phải giúp HS biết
cách tự phát hiện lỗi, tự nhận biết nguyên nhân và
bước đầu tìm được những cách sửa phù hợp. Để làm
được điều này, chúng ta cần cung cấp một cách đầy
đủ những kiến thức ngữ pháp về câu, về đoạn cho
các em. Phải cho các em biết thế nào là câu đúng, thế
nào là câu sai khi đặt trong phạm vi một đoạn văn,
một bài văn.
Nắm được các đặc điểm của HS vùng song ngữ
như đã nêu, trong quá trình nghiên cứu đưa ra các
biện pháp sửa lỗi viết câu, chúng tôi đặc biệt quan
tâm đến nguyên tắc “khắc phục các nguyên nhân chủ
yếu của HS vùng song ngữ”.
Điển hình như, đối với HS dân tộc Kinh, các em
thường không/ hoặc rất ít khi mắc lỗi về sắp xếp trật
tự từ khi tạo câu. Trong khi đó, HS dân tộc Khmer lại
thường xuyên bị mắc lỗi này. Nguyên do là HS dân
tộc Khmer nhầm lẫn giữa cách sắp xếp từ ngữ trong
tiếng mẹ đẻ của mình (tiếng Khmer) và cách sắp xếp
từ ngữ trong tiếng Việt.
Ví dụ: Đối với câu “Ba HS nữ vừa đi ra quán
mua nước uống.” thì HS dân tộc Kinh ít khi diễn đạt
sai trật tự từ, vì tâm thức bản ngữ khiến các em có
thể tri nhận đúng cấu trúc các thành phần trong câu
để tạo ra một kết hợp chính xác.
Trong tiếng Việt, một câu được xem là đúng khi
đặt trong văn bản nếu nó đảm bảo được 5 yêu cầu sau:
Thứ nhất, câu phải viết đúng quy tắc ngữ pháp
tiếng Việt. Nghĩa là, câu phải đảm bảo đầy đủ các
thành phần câu theo yêu cầu, phải tuân thủ các quy
tắc kết hợp nhất định. Trong những trường hợp nhất
định, có thể linh hoạt uyển chuyển vị trí các thành
phần câu, có thể thêm bớt thành phần câu tùy theo
dụng ý người viết. Tuy nhiên, đối với HS bậc phổ
thông, chúng ta nên hướng các em đến việc viết câu
chính xác về cấu trúc, sau đó mới tính đến phương án
phát triển thành các cách diễn đạt sáng tạo.
Học sinh dân tộc Kinh thường không/ hoặc ít khi
diễn đạt câu trên thành “HS nữ ba quán nước uống
vừa đi ra”. Bởi lẽ, tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ của
HS dân tộc Kinh. Các quy tắc kết hợp, cấu trúc cú
pháp và ý nghĩa miêu tả trong mỗi câu đều được HS
dân tộc Kinh tri nhận, trừ khi quá bất cẩn hoặc nhầm
lẫn trong vô thức các em mới mắc những lỗi “ngớ
ngẩn” như thế.
Trong khi đó, đối với HS dân tộc Khmer, khi
yêu cầu diễn đạt thành một câu với các từ ngữ và nội
dung tương tự như ví dụ trên, các em sẽ có các cách
diễn đạt mắc lỗi khá phổ biến như sau:
Thứ hai, câu phải đúng về nội dung ngữ nghĩa,
tức là phản ánh một cách chính xác hiện thực khách
quan và quan hệ ngữ nghĩa của các thành phần câu
không được mâu thuẫn. Ví dụ, câu “Với tinh thần
quyết chiến quyết thắng, bọn địch nhất định bị quân
đội ta đánh bại” là một câu sai vì quan hệ giữa trạng
ngữ và chủ ngữ không phù hợp, thiếu logic.
(1) Học sinh nữ ba vừa đi ra quán mua nước uống.
(2) Nữ HS ba vừa quán đi mua nước uống.
(3) Học sinh nữ ba vừa uống nước ra quán mua.
(4) Học sinh nữ ba vừa quán nước uống đi mua.
(5) Nữ HS ba vừa quán nước uống đi mua.
…
Thứ ba, câu phải được đánh dấu câu phù hợp.
Thứ tư, câu phải liên hệ chặt chẽ với các câu khác
trong văn bản và cùng hướng đến chủ đề chung của
97
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
văn bản. Nếu các câu đúng về ngữ pháp, ngữ nghĩa, viết. Bởi lẽ trong thực tế, có những câu, nếu chúng
về dấu câu nhưng không liên kết được với nhau thì
văn bản sẽ vô nghĩa. Do đó, xét một câu đúng ta cần
đặt trong phạm vi đoạn văn, văn bản.
ta đặt riêng ra thì nó sẽ trở thành một câu sai. Nhưng
khi ta đặt câu ấy vào ngữ cảnh, vào tình huống giao
tiếp, vào đoạn văn hay bài văn cụ thể nó sẽ trở thành
một câu đúng.
Thứ năm, câu viết phải phù hợp với phong cách
văn bản.
Ví dụ, ta có câu: “Lụa Tân Châu.” (1) Nếu xét
riêng, câu (1) là câu sai về cấu trúc, mắc lỗi thiếu
thành phần vị ngữ, một trong hai thành phần bắt buộc
của cấu trúc câu tiếng Việt. Tuy nhiên, đặt trong ngữ
cảnh sau, câu (1) hoàn toàn chấp nhận được.
Khi sửa lỗi viết câu, người dạy cần hướng dẫn
cho HS viết các yêu cầu của một câu đúng như đã
nêu, những câu không đảm bảo từ một yêu cầu trở
lên được xem là câu sai. Tùy cách thức sai mà hướng
đến phương pháp sửa chữa, khắc phục.
Ví dụ: - Cái áo này may bằng vải gì mà đẹp
quá vậy?
Chẳng hạn, khi sửa câu cụ thể, chúng tôi sẽ yêu
cầu HS tự phát hiện lỗi, thử chỉ ra các nguyên nhân
dẫn đến mắc lỗi sau đó gợi ý các em tìm nhiều cách
sửa và chọn cách sửa đúng nhất, hay nhất. Đối với
HS dân tộc Kinh, dĩ nhiên các việc làm trên cũng cần
thiết, nhưng đối với HS dân tộc Khmer thì thời gian
cần nhiều hơn. Không những thế, người giáo viên cần
phải đặt thêm nhiều câu hỏi mang tính diễn giải, gợi
mở cho các em nhận ra mọi điều rõ ràng hơn.
- Lụa Tân Châu.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, người viết
có thể sử dụng những câu có cấu trúc đặc biệt nhằm
nhấn mạnh một nội dung nào đấy, hoặc tạo ấn tượng
mạnh cho người tiếp nhận. Lúc ấy, ta không thể nhận
định đó là những câu sai.
Ví dụ: “Hiền là chị tôi. Là chị (2). Tôi luôn nhớ
điều này như in trong những kiến văn được lập trình
sẵn cho lí trí. Có điều, trong những giấc mơ, tôi hay
quên bẵng điều đó. Tôi thấy Hiền là bạn, là em, thậm
chí là... mẹ tôi” (Y Nguyên, 2015, tr. 53).
Ngoài ra, sau khi sửa một câu cụ thể, giáo viên
phải dẫn ra các ví dụ tương đồng để giúp các em nhận
thức tốt hơn về một số lỗi chung nào đó và lựa chọn,
ghi nhớ cách sửa loại lỗi đó.
Câu (2) ở ví dụ vừa dẫn nếu xét theo cấu trúc cú
pháp thì đó là một câu lỗi, thiếu chủ ngữ. Tuy nhiên,
đặt trong văn cảnh ấy, ta hoàn toàn có thể hiểu được
điều tác giả muốn nói, hiểu được đối tượng nào đang
được đề cập đến. Không chỉ vậy, nó còn cho thấy thái
độ, dụng ý nghệ thuật mà người viết ký thác vào. Đó
là sự nhấn mạnh cái ý thức cần phải nhớ nhân vật
Hiền là “chị”, mặc dù cái ý thức này còn khá mơ hồ,
hay bị chính nhân vật xưng “tôi” nhầm lẫn.
Ví dụ, các câu sau đây thực chất là mắc cùng
một lỗi, và biện pháp sửa lỗi ở các câu này cũng mang
tính chất tương đồng.
(1) Qua Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện
một tinh thần nhân đạo sâu sắc. (Bài làm của HS)
(2) Với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô
Hoài đã lên án bọn thực dân và chúa đất trên vùng
Tây Bắc thời bấy giờ. (Bài làm của HS)
(3) Bằng tấm lòng nhân hậu của Thạch Lam đã
thể hiện cái nhìn đầy nhân văn về hoàn cảnh, số phận
của những người dân lầm lũi sống, héo hắt từng ngày
ở cái phố huyện nghèo nàn, tẻ nhạt. (Bài làm của HS)
Từ các phân tích trên, chúng ta nhận thấy muốn
sửa lỗi câu, một trong những nguyên tắc cần phải
được đảm bảo, đó là đặt câu vào đoạn văn, bài văn
và mục đích người viết. Ngoài các nguyên tắc này,
chúng ta còn phải đảm bảo những yêu cầu bắt buộc
Với những câu này, giáo viên chỉ cần hướng dẫn
chi tiết phương pháp sửa lỗi ở một câu mang tính điển khi sửa lỗi câu đó là:
hình, sau đó gợi ý cho HS tự phân tích và sửa chữa
các câu còn lại. Nếu cần, giáo viên đưa thêm nhiều
ví dụ để HS nắm rõ thao tác, hiểu phương pháp và
thực hiện việc sửa lỗi nhanh hơn, hay hơn.
Thứ nhất, khi sửa lỗi câu cho HS dân tộc Khmer,
người dạy cần ưu tiên khắc phục các lỗi phổ biến,
riêng biệt của đối tượng này. Để đảm bảo được yêu
cầu này, người dạy cần phải có sự thống kê, tổng
hợp trong một thời gian dài, đồng thời phải biết cách
phân loại các lỗi thành từng nhóm lớn, có tham chiếu
giữa lỗi của HS dân tộc Khmer với HS dân tộc Kinh
cùng địa bàn, cùng thụ hưởng các chương trình giáo
dục như nhau.
2.3.3. Sửa câu phải chú ý đặt câu vào đoạn, bài
và mục đích của người viết
Khi sửa lỗi câu cho HS, chúng ta cần đảm bảo
nguyên tắc đặt câu trong mối tương quan với đoạn
văn, bài văn và phải đảm bảo đúng mục đích người
98
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 91-99
Thứ hai, khi hướng dẫn HS sửa lỗi viết câu,
Để hạn chế lỗi viết câu cho HS dân tộc Khmer,
người dạy cần đảm bảo yêu cầu sai lỗi nào sửa lỗi bài viết đã xây dựng nguyên tắc sửa lỗi viết câu cho
đó, kể cả những lỗi phổ biến lẫn những lỗi mang HS dân tộc Khmer. Khi xây dựng các nguyên tắc
tính cá biệt. Từ đó, chúng ta sẽ hướng HS đến biện khắc phục lỗi viết câu cho HS dân tộc Khmer ở các
pháp khắc phục tối ưu. Thực tế cho thấy, có những trường THPT trên địa bàn tỉnh An Giang, tác giả bài
lỗi rất phổ biến đối với HS dân tộc Khmer, nhưng có viết luôn cố gắng đưa ra các nguyên tắc phù hợp với
những lỗi chỉ xuất hiện nhất thời do nhầm lẫn hoặc trình độ, đặc điểm, tình hình của HS dân tộc Khmer
bất cẩn trong cách hành văn. Tuy có những lỗi không ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh An Giang. Song
mang tính điển hình, ít xuất hiện đối với HS dân tộc người dạy cần phải tùy vào đối tượng, đặc điểm tình
Khmer khi viết tiếng Việt nhưng người dạy cũng cần hình để có thể vận hoặc điều chỉnh sao cho phù hợp./
quan tâm, hướng dẫn sửa chữa tất cả các lỗi câu mà
HS mắc phải. Điều này sẽ khiến HS dân tộc Khmer
hạn chế được việc tái mắc lỗi, tự rút kinh nghiệm để
ngày càng hoàn thiện hơn khi diễn đạt bằng văn bản.
Tài liệu tham khảo
Bộ GD&ĐT. (2002). Ngữ văn 6 (tập 1-2). Hà Nội:
NXB Giáo dục.
Bộ GD&ĐT. (2003). Ngữ văn 7 (tập 1-2). Hà Nội:
Thứ ba, đối với HS cấp THPT, nhất là với các
em HS khá, giỏi, khi sửa lỗi viết câu, người dạy cần
lưu tâm đến việc giúp các em không chỉ tạo lập được
những câu đúng mà còn hướng đến việc tạo lập được
những câu hay. Từ đó, khơi gợi hứng thú cho các em
trong việc học tập phân môn Tiếng Việt nói riêng và
môn Ngữ văn nói chung. Từ thực tế khảo sát, chúng
tôi nhận thấy, không phải tất cả các HS dân tộc Khmer
đều mắc lỗi khi hành văn bằng tiếng Việt. Tuy tỉ lệ
HS mắc lỗi khá cao nhưng có một số lượng nhỏ HS
ít khi mắc lỗi. Do vậy đối với những HS giỏi văn dân
tộc Khmer thì ngoài việc hướng dẫn HS phát hiện lỗi
và sửa lỗi theo các bước thông thường, người dạy cần
gợi ý, hướng dẫn để các em có thể biến những câu
sai thành những câu hay, góp phần nâng cao năng lực
hành văn cho các em.
NXB Giáo dục.
Bộ GD&ĐT. (2004). Ngữ văn 8 (tập 1-2). Hà Nội:
NXB Giáo dục.
Bộ GD&ĐT. (2006). Ngữ văn 9 (tập 1-2). Hà Nội:
NXB Giáo dục.
Bộ GD&ĐT. (2006). Ngữ văn 10 (tập 1-2). Hà Nội:
NXB Giáo dục.
Bộ GD&ĐT. (2007). Ngữ văn 11 (tập 1-2). Hà Nội:
NXB Giáo dục.
Bộ GD&ĐT. (2008). Ngữ văn 12 (tập 1-2). Hà Nội:
NXB Giáo dục.
Cao Xuân Hạo (chủ biên), Lý Tùng Hiếu, Nguyễn
Kiên Trường, Võ Xuân Trang, Trần Thị Tuyết
Mai. (2002). Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục.
Hà Nội. NXB Khoa học Xã hội.
Thứ tư, ngoài các yêu cầu trên, khi sửa câu,
chúng ta cần đảm bảo hướng dẫn các em sửa bằng
nhiều con đường, nhiều hình thức. Mỗi câu sai thông
thường sẽ có nhiều cách sửa khác nhau, người dạy
cần hướng dẫn các em các cách sửa, từ đơn giản đến
phức tạp. Đó là một trong những yếu tố quan trọng
giúp các em có thể chọn lựa cách sửa phù hợp ở
những lần tiếp theo.
Lê A (Chủ biên), Nguyễn Quang Ninh và Bùi Minh
Toán. (2001). Phương pháp dạy học tiếng Việt.
Hà Nội: NXB Giáo dục.
Mai Thị Vân. (2016). Biện pháp khắc phục lỗi viết
câu trong xây dựng đoạn văn của HS dân tộc
Khmer ở các trường THPT huyện Tịnh Biên,
tỉnh An Giang”. Luận văn thạc sỹ, Đại học Sư
phạm Huế.
3. Kết luận
Nguyễn Đức Dân. (2013). Từ câu sai đến câu hay.
Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Trẻ Thành phố
Hồ Chí Minh.
Kết quả khảo sát 183 bài kiểm tra của HS dân
tộc Khmer đã cho thấy tỷ lệ HS dân tộc Khmer mắc
lỗi viết câu còn rất cao. Những lỗi viết câu trong các
bài viết của HS dân tộc Khmer rất phong phú và đa
dạng nhưng chủ yếu là tập trung vào 4 nhóm lỗi chủ
yếu đó là: lỗi dấu câu, lỗi cấu trúc, lỗi logic và lỗi
phong cách.
Trương Dĩnh. (1997). Dạy học tiếng Việt ở trường
HS dân tộc. Hà Nội: NXB Giáo dục.
Y Nguyên. (2015). Phố núi mù sương. Hà Nội: NXB
Hội Nhà văn.
99
Bạn đang xem tài liệu "Lỗi và nguyên tắc sửa lỗi viết câu trong văn bản cho học sinh dân tộc Khmer ở các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
loi_va_nguyen_tac_sua_loi_viet_cau_trong_van_ban_cho_hoc_sin.pdf

