Lồng ghép tri thức bản địa vào bảo tồn và quản lý bền vững tài nguyên rừng cộng đồng thông qua trao quyền cho người dân: Nghiên cứu trường hợp tại các cộng đồng dân tộc Vân Kiều và Ma Coong, tỉnh Quảng Bình
LỒNG GHÉP TRI THỨC BẢN ĐỊA VÀO
BẢO TỒN VÀ QUẢN LÝ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN
RỪNG CỘNG ĐỒNG THÔNG QUA TRAO QUYỀN
CHO NGƯỜI DÂN: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
TẠI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VÂN KIỀU VÀ
MA COONG, TỈNH QUẢNG BÌNH
Trần Trung Thành
Trường Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Huế
Tóm tắt
Tỉnh Quảng Bình đã giao cho 38 cộng đồng tại 8 xã thuộc 4 huyện,
với tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp giao cho các cộng đồng
quản lý là 9.071 ha, bao gồm: 7.827 ha đất rừng và 1.242 ha đất chưa
có rừng. Việc quản lý của các cộng đồng chủ yếu dựa trên các
phương thức truyền thống, quá trình quản lý bảo vệ rừng hiện tại còn
gặp nhiều khó khăn. Trước đây, việc quản lý bảo vệ rừng theo kinh
nghiệm, truyền thống và bằng các luật tục, hương ước, đến nay được
các dự án, tổ chức phi chính phủ hỗ trợ, cộng đồng được Nhà nước
giao rừng và đất lâm nghiệp quản lý sử dụng lâu dài theo các quy
định của pháp luật. Tuy nhiên, các tri thức bản địa trong quản lý bảo
tồn tài nguyên ít được quan tâm trong quá trình ra quyết định; các
kinh nghiệm quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên rừng cũng bị hạn
chế và thay đổi bởi ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Áp dụng các phương
thức quản lý rừng dựa trên cơ sở bảo tồn và trao quyền cho người dân
đang là hướng đi có thể đáp ứng được vấn đề đặt ra.
Từ khóa: Rừng cộng đồng; Giao đất giao rừng.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, trên thế giới đã mất đi khoảng 200
triệu ha rừng tự nhiên và phần lớn diện tích còn lại cũng đang bị suy
thoái nghiêm trọng cả về trữ lượng và chất lượng, điều này ảnh hưởng
rất lớn đến chức năng phòng hộ bảo vệ môi trường và tính đa dạng
sinh học của rừng (FAO, 2010). Cũng như nhiều nước khác trên thế
giới, ở Việt Nam rừng nhiệt đới ở địa hình thấp không còn nguyên vẹn
238
nữa, vì phần lớn các khu rừng này đã bị biến đổi do các hoạt động
nông nghiệp và định cư. Các hoạt động này đã làm cho sự phong phú
vốn có về tài nguyên sinh học ở đây bị suy thoái nghiêm trọng. cũng
vì thế mà các khu rừng nguyên vẹn phần lớn chỉ còn sót lại ở các vùng
núi cao, những nơi hiểm trở.
Nét đặc thù của cộng đồng các dân tộc ở miền núi là sống gần
rừng và sống dựa vào rừng. Vì vậy, họ có một vốn kiến thức và kinh
nghiệm sản xuất rất phong phú trong việc bảo vệ, phát triển và sử
dụng tài nguyên rừng. Tuy nhiên, đặc trưng của tri thức bản địa là
phạm vi sử dụng hẹp. Nó phù hợp với điều kiện về văn hóa, phong tục
tập quán, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa phương nhất
định, nhưng có khi lại không phù hợp với địa phương khác hay dân
tộc khác. Tri thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục qua các
thế hệ trong mỗi cộng đồng; tri thức bản địa có khả năng thích ứng
cao với môi trường và điều kiện của từng địa phương, nơi tri thức bản
địa được hình thành và phát triển (Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc,
1998). Chính vì vậy, hệ thống tri thức bản địa trong quản lý bảo vệ
rừng cũng rất khác nhau giữa các địa phương và các dân tộc. Do đó,
để quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững cũng như duy trì và
bảo tồn hệ thống tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên,
chúng ta cần coi trọng, tìm hiểu và nghiên cứu về hệ thống tri thức
bản địa của từng địa phương, từng dân tộc. Trên cơ sở đó, chúng ta có
thể kế thừa, sử dụng và phát huy những ưu điểm của hệ thống tri thức
bản địa trong quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng một cách bền vững
(Phạm Quốc Hùng và Hoàng Ngọc Ý, 2009).
Quảng Bình là một tỉnh có đa tộc người, trong đó người Kinh, bao
gồm cả nhóm nguồn, chiếm hơn 97% dân số, phân bố ở các vùng đồng
bằng, vùng ven biển, trung du và miền núi, còn nhiều dân tộc thiểu số
cư trú ở vùng miền núi với hơn 19.000 người, chiếm khoảng 2,3% dân
số toàn tỉnh. Các dân tộc thiểu số ở Quảng Bình bao gồm dân tộc Chứt,
bao gồm các nhóm Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng và nhóm dân tộc
Bru - Vân Kiều với các nhóm Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong.
Hiện nay, toàn tỉnh đã và đang thực hiện chính sách giao đất giao
rừng, đặc biệt cho các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi. Toàn tỉnh
có 38 cộng đồng được giao rừng, với tổng diện tích hơn 9.071 ha. Tuy
nhiên, quá trình giao rừng chỉ mới dừng lại ở việc trao quyền cho các
cộng đồng thông qua cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá
trình quản lý bảo vệ rừng hiện tại còn gặp nhiều khó khăn (Trần Trung
Thành và cs., 2016). Trước đây, việc quản lý bảo vệ rừng theo kinh
239
nghiệm, truyền thống và bằng các luật tục, hương ước, đến nay được
các dự án, tổ chức phi chính phủ hỗ trợ, cộng đồng được Nhà nước
giao rừng và đất lâm nghiệp quản lý, sử dụng lâu dài theo các quy
định của pháp luật. Tuy nhiên, các tri thức bản địa trong quản lý bảo
tồn tài nguyên ít được quan tâm trong quá trình ra quyết định; các kinh
nghiệm quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên rừng cũng bị hạn chế
và thay đổi bởi ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu bảo tồn và quản lý bền vững tài
nguyên rừng thông qua các tri thức bản địa sẽ góp phần vào việc bảo
vệ và lưu giữ được các giá trị truyền thống và thông qua đó người dân
quản lý bảo vệ rừng được tốt hơn.
1. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Mục tiêu nghiên cứu
+Làm rõ một số tri thức bản địa trong quản lý, sử dụng tài nguyên
rừng để đánh giá tính bền vững về mặt môi trường, kinh tế văn hóa và
xã hội.
+Phân tích vai trò của hệ thống tri thức bản địa trong công tác
quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương.
+Đề xuất những khuyến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy sự kết nối
giữa tri thức bản địa phù hợp với công tác quản lý bảo vệ rừng của địa
phương.
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Kế thừa tài liệu thứ cấp
Nguồn từ số liệu thống kê, các văn bản pháp quy, các tài liệu, báo
cáo khoa học, báo cáo đánh giá, báo cáo tổng kết của các cơ quan
nghiên cứu, cơ quan quản lý chuyên ngành và các chương trình/dự
án... về phong tục, tập quán, quy ước và các chính sách có liên quan
đến quản lý tài nguyên rừng ở địa phương.
1.2.2. Điề̀u tra thực địa
+Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyên gia, các
nhà quản lý trong lĩnh vực dân tộc và lâm nghiệp, tổ chức các cuộc tọa
đàm, hội thảo.
+Phương pháp điền dã thực tế, trong đó có:
240
- Phỏng vấn sâu: Trao đổi phỏng vấn người dân (hộ gia đình, già
làng, trưởng bản) và các cán bộ quản lý, chuyên môn của UBND xã,
thông qua các bảng hỏi đã được thiết kế sẵn.
- Thảo luận nhóm tập trung: Tổ chức họp các nhóm dân nòng cốt,
đưa ra các nội dung chính để các thành viên nhóm thảo luận, thúc đẩy
nhóm tổng hợp các ý kiến.
- Quan sát, tham dự: Tại các buổi họp của cộng đồng, tác giả
tham dự với tư cách như một thành viên để nghe và ghi nhận các nội
dung ý kiến của cuộc họp.
1.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê để phân tích các số liệu điều
tra, tổng hợp tài liệu và tính toán đảm bảo độ chính xác trong nghiên cứu
khoa học và xử lý trên phần mềm Excel của máy vi tính.
1.3. Khu vực nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện tại bản Cổ Tràng, xã Trường Sơn,
huyện Quảng Ninh và bản Cà Ròong 1, xã Thượng Trạch, huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bản Cà Ròong 1
Bản Cổ Tràng
Hình 1. Sơ đồ vị trí nghiên cứu
241
2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
2.1. Một số đặc điểm khu vực nghiên cứu
Qua kết quả điều tra khảo sát và nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi
đưa ra một số đặc trưng cơ bản của các cộng đồng khu vực nghiên cứu
tại Bảng 1.
Bảng 1. Một số đặc điểm về các cộng đồng bản Cổ Tràng
và Cà Ròong 1 tại khu vực nghiên cứu
Thông tin
Người Vân Kiều ở Cổ Tràng
Người Ma Coong ở Cà Ròong 1
Nguồn
Năm 1953, có một bộ phận người Người Ma Coong tại Quảng Bình là
gốc, lịch sử Vân Kiều sống tại huyện Cam Lộ, một bộ phận của tộc người Bru Ma
hình thành tỉnh Quảng Trị, do chiến tranh ác Coong từ Lào di cư sang, là một
liệt đã di cư về hướng Bắc tại vùng nhóm địa phương của dân tộc Bru -
núi xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy;
Vân Kiều. Người Ma Coong sinh
năm 1960, cả bản lại di cư đến Rào sống trải dài dọc theo biên giới Việt
Trù xã Ngân Thủy, năm 1967 di cư - Lào, thuộc địa phận xã Thượng
đến vùng Đá Chát, xã Trường Sơn Trạch
và đến năm 1970, di cư đến ngã ba
sông Rào Tràng và định cư ổn định
cho đến nay, hình thành nên bản
Cổ Tràng
Vị trí
Bản Cổ Tràng thuộc xã Trường
Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình, khu dân cư của bản
Bản Cà Roòng 1 nằm cách trung
tâm xã Thượng Trạch khoảng 0,5
km về hướng Tây Bắc, nằm sâu
nằm dọc theo hai bên đường Hồ trong vùng lõi của Vườn Quốc gia
Chí Minh nhánh Tây, cách trung Phong Nha - Kẻ Bàng, cách trung
tâm xã 2 km về phía Tây Bắc, cách tâm huyện Bố Trạch khoảng 80 km,
thành phố Đồng Hới 65 km, là bản là bản thuộc xã đặc biệt khó khăn
thuộc xã miền núi biên giới đặc
biệt khó khăn của huyện Quảng
Ninh
của huyện Bố Trạch
Tập quán Phong tục tập quán canh tác làm Tập quán sinh sống là lập làng bản
sản xuất
nương rẫy trên đất dốc, có truyền và tìm đất canh tác dọc theo các
thống gắn bó với rừng về đời sống dòng suối, hai bên bờ khe và triền
và sản xuất. Tập quán canh tác của núi thấp
người dân chủ yếu là canh tác
Phương thức sản xuất chủ yếu là
nương rẫy, trồng hoa màu, có một
phát, đốt, chọc, trỉa trên các triền
số hộ đã làm lúa nước, nhưng diện
dốc; cuộc sống của họ chủ yếu dựa
tích còn ít, năng suất chưa cao; lao
vào săn bắt, hái lượm, phụ thuộc
động nông nhàn còn khá phổ biến
vào tài nguyên rừng là chính
trên địa bàn; trình độ lao động còn
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp chủ
thấp
yếu là làm nương rẫy và ruộng mầu
giáp chân núi đá
242
Thông tin
Người Vân Kiều ở Cổ Tràng
Người Ma Coong ở Cà Ròong 1
Dân số, lao Bản có 76 hộ gia đình, với 277 nhân Bản có 33 hộ gia đình, với 132 nhân
động
khẩu. Tổng số lao động chính 141 khẩu, nam 69 khẩu chiếm 52%, nữ
người, trong đó nam 72 người, nữ 63 khẩu chiếm 48%. Tổng số lao
69 người. Tỷ lệ hộ nghèo là 87%. Cả động 53 người, trong đó nam 28
bản sử dụng họ Hồ làm họ chung người, nữ 25 người. Tỷ lệ hộ nghèo
cho cả nam và nữ
là 97%. Nam giới lấy họ Đinh, phụ
nữ lấy họ Y
Văn hóa,
Theo truyền thống, người Vân Kiều Trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng
của người Ma Coong, lễ hội đập
ngoài ra còn thờ các thần linh như trống (toong rịt chi cơ rơ) và lễ tế trâu
tín ngưỡng coi trọng việc thờ cúng tổ tiên,
thần lúa, thần bếp, thần núi, thần
đất, thần sông nước. Người Vân
Kiều nhận thức về thế giới quan
cho rằng vạn vật hữu linh. Vì vậy,
thần lúa, thần sông được sắp xếp
thứ tự để thờ trong nhà và ngoài
rừng với mục đích cầu cho mưa
thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt
(toong la pe chi riếc) là hai sinh hoạt
văn hóa cộng đồng được cho là đặc
trưng, tiêu biểu của người Ma
Coong, vì chúng tập trung trí và lực
của cả cộng đồng, cũng như hội tụ
nhiều giá trị văn hóa thể hiện cốt
cách của người Ma Coong
Quan điểm Trong mấy năm gần đây công tác Trong mỗi bản người Ma Coong
và tập
quản lý bảo vệ rừng đã quan tâm đều có rừng ma để chôn người chết,
quán sử
đúng mực, tình trạng khai thác
rừng thiêng và rừng sản xuất được
dân bản quy định từ trước đến nay,
do chủ đất thay mặt Giàng quản lý.
dụng rừng lâm sản trái phép đã giảm đáng
kể, tuy nhiên tình hình khai thác
săn lùng một số loài cây quý hiếm Người Ma Coong còn quan niệm
có giá trị kinh tế cao vẫn còn xảy ra rằng, bên cạnh các khu rừng ma,
trên địa bàn
rừng thiêng và rừng đầu nguồn là
những nơi có các thần linh hay trú
ngụ và ở đó có các thần Giàng quản
lý. Theo luật tục của người Ma
Coong, những nơi này rất linh
thiêng, nên luôn được bảo vệ
nghiêm ngặt bằng cách cấm chặt
phá và săn bắt tùy tiện, nếu ai vi
phạm, sẽ bị Giàng phạt, làm cho
dân bản mất mùa, dịch bệnh
Hiện nay, trên địa bàn bản Cổ
Tràng, tình trạng phá rừng làm rẫy
mới được chấm dứt, làm rẫy cũ
cũng đã được hạn chế rất nhiều
Diện tích
Tổng diện tích đất lâm nghiệp đã Toàn bản không có diện tích rừng
rừng được giao cho các hộ là 110 ha trên 55 giao khoán bảo vệ hay giao cho cá
giao
hộ. Diện tích nhận khoán khoanh nhân. Diện tích giao rừng cộng
nuôi bảo vệ 118,76 ha
đồng là 85,811 ha, trong đó rừng
giàu 16,435 ha (chiếm 19,2%), rừng
trung bình 11,685 ha (13,6%), rừng
nghèo 4,184 ha (4,9%), rừng phục
hồi 12,878 ha (15%), đất chưa có
rừng 40,629 ha (47%), theo QĐ số
3963/QĐ-UBND ngày 10/09/2014
của UBND huyện Bố Trạch
Diện tích giao rừng cộng đồng là
207,152 ha, trong đó rừng giàu
90,974 ha (chiếm 43,9%), rừng
trung bình 38,152 ha (18,4%), rừng
nghèo 46,804 ha (22,6%), đất chưa
có rừng 31,222 ha (15%), theo QĐ
số 282/QĐ-UBND ngày 13/5/2013
của UBND huyện Quảng Ninh
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế, 2014, 2015; Dự án Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, 2015.
243
Kết quả khảo sát cho thấy, đại đa số người dân nhận thức được
rằng, tài nguyên rừng và các tài nguyên khác lấy từ rừng không phải là
vô tận, đây là những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá và
rất cần thiết đối với đời sống của họ. Tuy nhiên, việc cần phải khai
thác các tài nguyên này là tất yếu và diễn ra hàng ngày, phục vụ cho
đời sống và sản xuất của từng hộ gia đình và cộng đồng, song họ đã
hiểu được rằng, những tài nguyên này không phải là vô tận, vì vậy
phải bảo vệ và sử dụng bền vững các tài nguyên này. Các luật tục của
cộng đồng ở Cổ Tràng và Cà Ròong 1 đã thể hiện được điều đó, vì
trong luật tục của họ có quy định, điều chỉnh các hành vi ứng xử hài
hòa với tài nguyên rừng và không chỉ cho thế hệ hiện tại, mà còn
truyền lại cho các thế hệ mai sau. Do vậy, quản lý và sử dụng bền
vững nguồn tài nguyên rừng là việc giữ gìn, khai thác tài nguyên rừng
không chỉ đáp ứng cho nhu cầu của thế hệ hiện tại, mà còn không để
tổn hại đến việc khai thác, sử dụng những tài nguyên này của thế hệ
tương lai, mà cụ thể là tài nguyên không bị suy giảm do khai thác quá
mức, môi trường không bị ô nhiễm, đời sống xã hội được duy trì và
phát triển.
2.2. Tri thức bản địa trong sử dụng tài nguyên lâm sản ngoài gỗ
ở rừng cộng đồng và các hình thức quản lý và sử dụng tài
nguyên rừng
Qua quá trình sống gắn bó lâu đời với núi rừng, người dân bản địa
đã tích lũy được các kiến thức và kinh nghiệm mưu sinh phong phú,
đa dạng và quý giá. Hệ thống tri thức bản địa của người Vân Kiều tại
bản Cổ Tràng và người Ma Coong tại Cà Ròong 1 liên quan đến tài
nguyên rừng có nhiều dạng, bao gồm: thông tin, kinh nghiệm và kỹ
thuật khai thác, sử dụng, chế biến và các loại công cụ, nguồn nhân lực
về tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ nghi và các giá trị văn hóa...
Trong giới hạn nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào các giá trị liên
quan đến sử dụng và quản lý tài nguyên rừng cộng đồng nói riêng.
Nghiên cứu này tập trung vào các giá trị lâm sản ngoài gỗ (LSNG),
coi đó là mấu chốt của sinh kế bền vững và đáp ứng được nhu cầu
thiết yếu trước mắt của cộng đồng.
Qua điều tra cho thấy, khai thác lâm sản để phục vụ cuộc sống là
hoạt động sinh kế rất phổ biến của những cộng đồng sống gần rừng của
người Vân Kiều và Ma Coong. Trên địa bàn nghiên cứu hiện nay, có
khoảng 99% gia đình có khai thác các sản phẩm tự nhiên từ rừng. Các
loại lâm sản được khai thác từ rừng chủ yếu là gỗ, củi, mật ong, mây,
đót, lá nón, rau rừng, động vật rừng..., trong đó, gỗ và động vật rừng
244
được xem là những sản phẩm phi pháp. Mây, lá nón, đót, lá cọ, mật
ong, nấm, cá, ốc, rau rừng... là những lâm sản ngoài gỗ được khai thác
phổ biến, có vai trò rất quan trọng đối với đời sống người dân nơi đây.
Bảng 2. Một số loài lâm sản ngoài gỗ được khai thác,
sử dụng thường xuyên
Đặc điểm
Bộ phận
sử dụng
TT
Tên LSNG
Công dụng, giá trị
của môi trường sống
1
Mây rừng
Bán, dùng đan các đồ
đạc trong gia đình
Thân
Thường mọc ở sườn đồi
và ven khe suối, đất có
độ mùn cao, đất đỏ
bazan...
2
3
4
Lá nón
Cây cọ
Lồ ô
Bán (20.000 - 22.000
đ/kg)
Lá
Mọc dưới tán rừng già,
đất màu đỏ
Ăn, lợp nhà
Quả, lá Mọc ở rừng già hoặc các
rừng trên cao
Làm nhà, hàng rào
Thân
Mọc ở rừng tái sinh, ven
khe suối, đât sau nương
râ
́
̃y
5
6
Măng
Ăn
Thân
Mật
Mọc nhiều ở rừng tái
sinh sau nương rẫy
Mật ong
Ăn, bán (300.000 -
500.000 đ/lít)
Tổ ong thường đóng
trên cây cao rừng tự
nhiên
7
8
Rau dớn
Môn vót
Ăn
Ăn
Lá
Lá
Mọc ở ven suối
Mọc ở ven suối, lòng khe
cạn, nơi ẩm thấp
9
Nấm lim
xanh
Bán (500.000 -
1.000.000 đ/kg)
Thân
Con
Mọc ở thân hoặc rễ mục
cây lim xanh
10 Các loài cá
Ăn
Khe suối trong khu vực
Nguồn: Điều tra khảo sát, 2014, 2015.
Lâm sản ngoài gỗ trong vùng nghiên cứu khá đa dạng và có giá trị
rất lớn đối với các cộng đồng. Kết quả phỏng vấn các nhóm nông dân
tại 2 bản đã phát hiện hơn 10 nhóm loại LSNG, trong đó có một nhóm
là động vật (động vật rừng và cá sông), còn lại một nhóm là thuộc
nhóm thực vật. Công dụng lâm sản ngoài gỗ cũng rất đa dạng, bao
245
gồm dùng để ăn, để làm thuốc, để bán, để làm công cụ lao động, làm
nhà... Điều này cho thấy, vai trò quan trọng của rừng trong đời sống
cộng đồng ở đây: rừng cung cấp một lượng sản phẩm hàng hóa đáng
kể như mật ong, lan rừng, nấm lim, cây thuốc, cá sông, động vật rừng.
Đây là khu vực vùng giáp ranh (bản Cổ Tràng) và nằm sâu trong vùng
lõi (bản Cà Ròong 1) của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, do
vậy việc khai thác quá mức và săn bắn trái phép là điều cần quan tâm.
Kết quả phỏng vấn cho thấy, việc khai thác, sử dụng các sản phẩm
từ rừng của đồng bào tại bản Cổ Tràng và Cà Ròong 1 có những nét
giống nhau. Qua kết quả điều tra cho thấy, các sản phẩm khai thác từ
rừng gồm có gỗ làm nhà và đồ gia dụng. Các sản phẩm lâm sản ngoài
gỗ như củi, tre nứa, các loài cây dược liệu, măng, rau dùng hàng ngày
hoặc một số ít được đem bán.
Qua số liệu Bảng 2 cho thấy, một số loại LSNG thường được
người dân cộng đồng 2 bản sử dụng. Tuy nhiên, đây chỉ mới cho thấy
nguồn tài nguyên và tri thức sử dụng của cộng đồng, chủ yếu tập trung
vào các loại rau rừng và các cây lương thực khác. Một số lượng lớn tài
nguyên rừng là động vật không được để cập tới trong kết quả nghiên
cứu này.
Các cộng đồng người dân khu vực nghiên cứu có kiến thức về
phân loại nguồn tài nguyên được khai thác, thể hiện trong cách họ
phân biệt các loại khác nhau thuộc cùng một nhóm lâm sản. Ví dụ,
nhóm cây mây, gồm có mây tắt, mây nước, mây đắng, mây rạ, mây
son, hay nhóm các loài mật ong có các loại mật ong đất, ong vàng,
ong ruồi... Loại kiến thức này có thể sẽ hữu dụng trong công tác chọn
giống và phát triển những LSNG có tiềm năng giá trị kinh tế cao, phục
vụ cho đời sống của người dân và phù hợp với điều kiện lập địa tại
khu vực.
Cách thức khai thác thực vật LSNG của người dân dựa trên sự
hiểu biết về khả năng sinh trưởng và tái sinh của chúng, trong đó đối
với một số loài thể hiện tính chọn lọc và bảo tồn rất rõ. Qua phỏng vấn
các già làng cho biết, cây mây có khả năng tái sinh sau 5 năm, khi
khai thác phải để lại ba lá non để cho cây phát triển tiếp.
Một số kiến thức ở dạng kỹ thuật trong khai thác LSNG, ví dụ
như khai thác mật ong là dạng kiến thức đặc biệt. Trước đây, rừng ở
thôn bản còn nhiều, dân cư còn ít, nên hoạt động lấy mật của người
dân chỉ diễn ra trong khu vực ranh giới của các bản. Hiện nay, họ phải
đi xa hơn vào những khu rừng giáp ranh của VQG hay qua gần biên
giới với nước Lào.
246
Bên cạnh những kiến thức kỹ thuật đặc biệt, cũng có những kiến
thức kỹ thuật mang tính phổ thông như kiến thức xử lý mọt cây giang
và một số loài lâm sản khác thông qua việc đun nấu một số loại lá cây
rừng hay kỹ thuật đơn giản như cách chặt cây, cách lợi dụng dòng chảy
của con suối để vận chuyển củi đốt mà họ thu lượm được từ rừng...
Tập quán khai thác nguồn thuốc của các dân tộc thiểu số thường ít
chú trọng đến tạo nguồn, do đó có hiện tượng khai thác một cách ồ ạt
và không thể kiểm soát được bởi các thành phần kinh tế khác nhau, để
phục vụ nhu cầu dược liệu cho y học cổ truyền trong nước và bán cho
tư thương nước ngoài. Kết quả, nhiều loại dược liệu ngày càng trở nên
khan hiếm, thậm chí không thể khai thác được nữa. Có những cây
thuốc chỉ lấy lá, hoa, quả hay cành để sử dụng làm thuốc, nhưng họ
bứng cả rễ về nên không còn có khả năng tái sinh. Đến nay, rất nhiều
loài cây làm thuốc không còn nữa. Tuy tiềm năng cây cỏ làm thuốc
còn nhiều, nhưng nguồn tri thức sử dụng nó đã bị mai một rất nhiều.
Như vậy, từ cây thuốc đã biến thành cây hoang dại, không rõ công
dụng. Qua điều tra cho thấy, do các ông lang, bà mế và những người
biết sử dụng nó đã qua đời, mà kinh nghiệm của họ không có người
thừa kế và chưa được ai điều tra, nghiên cứu. Việc sử dụng cây rừng
làm thuốc chữa bệnh là một trong vốn tri thức vô cùng quý báu của
người dân, cần phải được tiếp quản, duy trì và phát triển nó.
Bảng 3. Tập quán khai thác cây rau rừng của cộng đồng
khu vực nghiên cứu
Số loài
chủ yếu
Đặc điểm khai thác
Các loài điển hình
Nơi thu hái
Ven khe
suối
5
Môn rừng, rau dớn, rau càng cua, lá lốt, đọt
trơng...
Trên rẫy
7
7
Rau tàu bay, rau má, lá chua, lá sắn, chuối
rừng, môn rừng, măng rừng
Trong rừng
Măng rừng, đọt cây chim chim, cọ, đoác, lá
bứa, củ mài, sắn dây...
Mùa thu
hái
Quanh năm
Theo mùa
< 1 kg
19
12
15
12
Lá lốt, rau dớn, môn rừng, chuối rừng...
Măng rừng, rau tàu bay, đọt trơng...
Lá lốt, rau rớn...
Lượng thu
hái hàng
ngày
1 - 2 kg
Chuối rừng, rau tàu bay, rau má, đọt chân
chim, đoác...
> 2 kg
5
Măng rừng, môn rừng...
Nguồn: Số liệu điều tra, 2014.
247
Qua kết quả điều tra khảo sát cho thấy, các sản phẩm được người
dân thu hái bao gồm các loại rau, củ làm thức ăn; củi đun và một số loại
cây, củ làm thuốc chữa bệnh. Đặc biệt, trong những năm gần đây, người
dân địa phương đổ xô đi khai thác rễ cây mật nhân, sa nhân, hoàng
đằng, tràm (để cất tinh dầu)... để bán cho các thương lái với số lượng rất
lớn. Việc người dân chạy theo lợi nhuận, khai thác quá mức và phát đốt
thực bì để trồng rừng kinh tế làm cho nguồn tài nguyên này gần như cạn
kiệt. Hiện nay, để thu hái được các sản phẩm này, người dân phải đi xa
trong rừng sâu, số lượng thu gom được cũng ngày càng ít đi. Để từng
bước xã hội hóa nghề rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi
trường và ngăn chặn nạn phá rừng, chính quyền địa phương đã từng
bước rà soát, bóc tách, chuyển giao lại đất cho cộng đồng người dân ở
các bản làng để sản xuất, ổn định cuộc sống lâu dài.
Hình 2. Ý thức về bảo tồn trong khai thác sử dụng tài nguyên rừng
tại khu vực nghiên cứu
Nguồn: Số liệu điều tra, 2014.
Qua Hình 2 cho thấy, tại các khu vực nghiên cứu, ý thức về bảo
tồn tài nguyên chưa cao, người dân thu hái theo nhu cầu sử dụng của
gia đình và thị trường chiếm trên 65% các hộ gia đình được hỏi (tại
bản Cà Ròong 1) và 75% (tại bản Cổ Tràng). Điều này có thể được
giải thích là vì điều kiện sống còn quá khó khăn, người dân chỉ tập
trung vào cái ăn trước mắt và đặc biệt dễ bị tư thương lợi dụng. Tỷ lệ
các hộ gia đình có thu hái hạn chế, tiết kiệm chiếm từ 5% (tại Cổ
Tràng) và 15% (tại Cà Ròong 1). Một số hộ gia đình (5%) tại bản Cổ
Tràng qua phỏng vấn cho thấy, đã có ý thức đem một số loài cây về
gây trồng và sử dụng trong gia đình.
Thảo luận: Cộng đồng người Vân Kiều (Cổ Tràng) và Ma Coong
(Cà Ròong 1) trước đây có lối canh tác du canh. Vì vậy, họ có nhiều
248
kinh nghiệm và tri thức về canh tác, sử dụng đất và rừng. Tuy nhiên,
với nền kinh tế tự cung tự cấp là chủ yếu, nên canh tác nương rẫy và
khai thác nguồn lợi tự nhiên từ rừng vẫn là thu nhập chính, nên h ạt
động săn bắt, hái lượm vẫn còn giữ một vai trò quan trọng trong đời
sống của họ. Các sản phẩm được người dân thu hái bao gồm các loại
rau, củ làm thức ăn, củi đun và một số loại cây, củ làm thuốc chữa
bệnh. Phần lớn hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên rừng của họ
còn thiếu bền vững. Cộng đồng ở đây chưa chú trọng lắm tới vấn đề
bảo tồn và sử dụng tài nguyên lâu dài. Việc trồng rừng và phát triển
rừng chưa thực sự được quan tâm. Vấn đề quản lý rừng theo truyền
thống cần được quan tâm và có những tiếp cận điều chỉnh hợp lý để phù
hợp với cộng đồng.
2.3. Lồng ghép tri thức bản địa vào quá trình bảo tồn tài nguyên
thông qua trao quyền cho các cộng đồng
UBND HUYỆN
UBND XÃ
BQL RỪNG CỘNG
ĐỒNG THÔN/BẢN
TỔ BẢO VỆ RỪNG
TỔ BẢO VỆ RỪNG
TỔ BẢO VỆ RỪNG
THÀNH VIÊN TRONG CỘNG ĐỒNG
Hình 3. Sơ đồ quản lý rừng cộng đồng tại các địa điểm nghiên cứu
Nguồn: Trần Trung Thành và cs., 2016.
Rừng và cuộc sống của người dân sống gần rừng có mối quan hệ
tương tác với nhau. Rừng được xem như là nguồn sinh kế của cộng
đồng cũng như người dân địa phương, nó cung cấp các lâm sản và
dịch vụ phục vụ cho đời sống của họ. Người dân khai thác và sử dụng
các lâm sản đã gây ra những tác động xấu đến sự phát triển của rừng.
249
Việc khai thác vượt quá khả năng hồi phục của rừng, dẫn đến suy
giảm tài nguyên rừng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế của người
dân. Để tìm ra những giải pháp thích hợp nhằm cải thiện công tác
quản lý rừng và tiến đến mục tiêu quản lý rừng bền vững, cần phải
nghiên cứu mối quan hệ phụ thuộc giữa sinh kế của người dân địa
phương với tài nguyên rừng, trong đó ý thức của người dân đối với tài
nguyên rừng được xem là vấn đề đầu tiên.
Qua sơ đồ quản lý rừng cộng đồng tại khu vực nghiên cứu nhận
thấy rằng, các nhóm đối tượng có liên quan mật thiết tới tiến trình
cũng như kết quả của quản lý rừng, đó là nhóm hỗ trợ từ các chương
trình dự án lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm
lâm, biên phòng thường xuyên hỗ trợ và hướng dẫn cộng đồng trong
việc quản lý, bảo vệ rừng, cũng như thực hiện các nghĩa vụ khác của
chủ rừng. Các ảnh hưởng của các bên liên quan đều góp phần tác động
tới công tác quản lý, bảo vệ rừng nói chung và quá trình ra quyết định
trong khai thác sử dụng rừng nói riêng. Tuy nhiên, các tác động của
yếu tố bên ngoài chủ yếu là hướng đến mục đích bảo tồn và quản lý
bền vững tài nguyên, mà ít quan tâm tới các tác động cũng như hiệu
quả của việc sử dụng tri thức bản địa trong đảm bảo đời sống cộng
đồng và cải thiện sinh kế. Người dân ít có cơ hội được tiếp cận tài
nguyên theo các phương thức truyền thống, mà chủ yếu phải theo các
quy định của pháp luật (Trần Trung Thành và cs., 2016). Chính vì
vậy, hướng tiếp cận bảo tồn tài nguyên bằng các tri thức bản địa thông
qua trao quyền cho cộng đồng được giao rừng là một hướng phát triển
mới, phù hợp trong bối cảnh hiện nay tại khu vực nghiên cứu.
Thảo luận: Hiện nay, nền lâm nghiệp truyền thống đang dần
được thay thế bằng các tiếp cận lâm nghiệp cộng đồng theo chủ
trương xã hội hóa nghề rừng. Tuy nhiên, quá trình này vẫn có nhiều
điểm bất cập, như người dân được nhận rừng, nhưng các quyền về
khai thác còn nhiều hạn chế. Qua các kết quả khảo sát nhận thấy rằng,
những kiến thức, kinh nghiệm của cộng đồng địa phương thường được
các nhà nghiên cứu quan tâm, trong khi đó các cơ quan quản lý Nhà
nước lại chưa có một chính sách cụ thể nào để có thể áp dụng các kiến
thức này vào các tiến trình thực hiện giao đất, giao rừng và quản lý
rừng cộng đồng. Vai trò của tri thức bản địa trong quản lý sử dụng tài
nguyên rừng tại các địa điểm nghiên cứu có vai trò to lớn trong đời
sống của người dân. Tiếp cận bảo tồn tài nguyên rừng thông qua tri
thức bản địa bằng cách trao quyền cho người dân là một hướng tiếp
cận có thể đáp ứng được các vấn đề cốt lõi, như bảo tồn được các giá
trị bản sắc văn hóa dân tộc, bảo tồn được hệ sinh thái nông - lâm
nghiệp truyền thống và giữ gìn được nguồn gen của cây bản địa.
250
2.3. Một số giải pháp
2.3.1. Giải pháp về phát triển sinh kế địa phương
- Hỗ trợ vốn để phát triển các cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh
tế cao. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến việc chế biến và tiêu thụ các
sản phẩm nông lâm nghiệp. Phát triển một số ngành nghề có tiềm
năng ở địa phương, như: gây trồng và chế biến dược liệu...
- Khôi phục và phát triển nghề thủ công, tạo thêm nguồn thu nhập
cho người dân từ các sản phẩm văn hóa truyền thống của họ.
2.3.2. Giải pháp về xã hội
- Tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức về giá trị kinh tế,
sinh thái và xã hội của rừng, động viên khích lệ người dân tham gia
quản lý, bảo vệ rừng, ngăn chặn triệt để việc khai thác rừng trái phép,
tranh thủ người có uy tín trên từng bản để tuyên truyền vận động có
hiệu quả.
- Khuyến khích và phát huy cơ chế quản lý tại bản, xây dựng
hương ước thôn bản và lưu giữ thành văn bản.
2.3.3. Giải pháp về bảo tồn và phát triển vốn tri thức bản địa
- Quy hoạch sử dụng đất ổn định, kết hợp với giao đất, giao rừng
sẽ làm cho mọi diện tích đất lâm nghiệp đều có chủ. Đây là cơ sở pháp
lý quan trọng cho cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Quy
hoạch các vùng đất dành cho việc bảo tồn có khai thác được xem là
giải pháp quan trọng để giải quyết những mâu thuẫn trong quản lý và
phát triển rừng. Hiện nay, Thông tư số 21/2016/TT-BNNPTNT ngày
28/6/2016 quy định về khai thác chính và tận dụng, tận thu gỗ lâm sản
đã được ban hành, các cơ quan chức năng cần có kế hoạch hỗ trợ cộng
đồng trong việc sử dụng rừng theo quy định mới.
- Xây dựng các hương ước về quản lý, bảo vệ rừng trong cộng
đồng và đưa vào áp dụng thực tiễn. Quản lý và sử dụng tài nguyên
rừng bền vững không thể tách rời người dân, tách rời cộng đồng dân
cư sống gần rừng. Vì vậy, việc tăng cường sự tham gia của nguời dân
trong xây dựng kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất đai, bảo vệ các
nguồn lợi của rừng... là hết sức cần thiết.
- Phổ biến kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong cộng đồng để họ
được biết, cần hỗ trợ vốn cho một số người có hiểu biết về cây thuốc
251
để họ mang những loài cây này về trồng ở vườn nhà, từ đó dễ dàng
truyền kinh nghiệm này lại cho thế hệ sau, vừa duy trì được loài cây
này, vì các cây thuốc trên địa bàn có xu hướng bị khai thác kiệt quệ,
dẫn đến tuyệt chủng.
KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu về vấn đề quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng
thông qua tri thức bản địa tại các bản Cổ Tràng và Cà Ròong 1 cho thấy:
1. Người dân nhận thức được rằng, tài nguyên rừng và các tài
nguyên khác lấy từ rừng không phải là vô tận, đây là những nguồn tài
nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá và rất cần thiết đối với đời sống
của họ. Tuy nhiên, việc cần phải khai thác các tài nguyên này là tất
yếu và diễn ra hàng ngày để phục vụ cho đời sống và sản xuất của
từng hộ gia đình và cộng đồng.
2. Cộng đồng người Vân Kiều (Cổ Tràng) và Ma Coong (Cà
Ròong 1), với nền kinh tế tự cung tự cấp là chủ yếu, nên canh tác
nương rẫy và khai thác nguồn lợi tự nhiên từ rừng vẫn là nguồn thu
nhập chính, cho nên h ạt động săn bắt, hái lượm vẫn còn giữ một vai
trò quan trọng trong đời sống của họ. Các sản phẩm được người dân
thu hái bao gồm các loại rau, củ làm thức ăn, củi đun và một số loại
cây, củ làm thuốc chữa bệnh. Phần lớn hoạt động khai thác, sử dụng
tài nguyên rừng của họ còn thiếu bền vững. Cộng đồng ở đây chưa
chú trọng lắm tới vấn đề bảo tồn và sử dụng tài nguyên lâu dài. Việc
trồng rừng và phát triển rừng chưa thực sự được quan tâm.
3. Vai trò của tri thức bản địa trong quản lý, sử dụng tài nguyên
rừng tại các địa điểm nghiên cứu có vai trò to lớn trong đời sống của
người dân. Tiếp cận bảo tồn tài nguyên rừng thông qua tri thức bản địa
bằng cách trao quyền cho người dân là một hướng tiếp cận có thể đáp
ứng được các vấn đề cốt lõi, như bảo tồn được các giá trị bản sắc văn
hóa dân tộc, bảo tồn được hệ sinh thái nông - lâm nghiệp truyền thống
và giữ gìn được nguồn gen của cây bản địa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dự án Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, 2013. Báo cáo quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng theo hướng bền vững đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Quảng Bình.
252
2. Trần Trung Thành, Hồ Đắc Thái Hoàng và Dương Viết Tình, 2016.
Hiện trạng và những giải pháp nhằm phát triển bền vững rừng cộng
đồng tại tỉnh Quảng Bình. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, Số chuyên đề kết quả nghiên cứu khoa học của Dự án
PEES/REED tập trung vào con người, Số tháng 5: tr. 31-38.
Abstract
In Quang Binh province, forest and forest land was allocated to 38
communities in 8 communes of 4 districts with the total area of 9,071 ha,
including: 7,827 ha forest land and 1,242 ha non - forest land. Forest
management carried out by communities is mainly based on traditional
methods. At present, there are a lot of difficulties in forest protection and
management. In the past, forest protection and management was practiced
based on experience, traditional custom and village regulations. Up to date,
with the support from projects and non - governmental organizations,
communities are allocated with forest and forest land for long - term
management and using according to legal regulations. However, little
attention is paid to indigenous knowledge in natural resource management
during the process of decision making; experience of forest resource using,
exploitation and management is limited and changed by various factors.
Application of forest management methods based on conservation and
empowerment to people is a direction that can meet the problem.
253
Bạn đang xem tài liệu "Lồng ghép tri thức bản địa vào bảo tồn và quản lý bền vững tài nguyên rừng cộng đồng thông qua trao quyền cho người dân: Nghiên cứu trường hợp tại các cộng đồng dân tộc Vân Kiều và Ma Coong, tỉnh Quảng Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
long_ghep_tri_thuc_ban_dia_vao_bao_ton_va_quan_ly_ben_vung_t.pdf

