Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: NHẬP MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCDCGNB ngày…….tháng….năm 2018
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình
Ninh Bình, năm 2018
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1. Khái niệm - Triết lý và giá trị của công tác xã hội
1. Khái niệm về công tác xã hội
2. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển nghề công tác xã hội
3. Triết lý và giá trị của nghề công tác xã hội
Chương 2. Vai trò, chức năng và nguyên tắc nghề nghiệp trong công tác xã
hội
1. Mục đích, vai trò của công tác xã hội
2. Chức năng của công tác xã hội
3. Nguyên tắc nghề nghiệp trong công tác xã hội
4. Phương pháp tiếp cận và phương pháp công tác xã hội
Chương 3. Hệ thống cơ quan, tổ chức làm công tác xã hội và nhân viên xã
hội chuyên nghiệp
1. Bốn thành tố cơ bản trong công tác xã hội
2. Hệ thống cơ quan làm công tác xã hội
3. Nhân viên xã hội chuyên nghiệp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
LỜI NÓI ĐẦU
Vào đầu thế kỷ XX, Công tác xã hội với tư cách là một khoa học, một nghề
chuyên môn đã ra đời và sau đó được phát triển rộng khắp ở nhiều quốc gia trên thế
giới. Nó có vị trí quan trọng trong việc góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, vì sự
tiến bộ và công bằng xã hội, vì sự an sinh xã hội và phát triển bền vững của mỗi
quốc gia.
Trong xu thế hội nhập và phát triển, việc phát triển nghề Công tác xã hội và
đào tạo Công tác xã hội ở nước ta hiện nay vừa mang tính cấp bách, vừa có tính lâu
dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước vì mục tiêu " Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh".
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo và nghiên cứu Công tác xã hội,Trường Cao đẳng
Cơ giới Ninh Bình tổ chức biên soạn "Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội". Giáo
trình có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương I: Khái niệm, triết lý và giá trị của Công tác xã hội.
Chương II: Vai trò, chức năng và nguyên tắc nghề nghiệp trong Công tác xã hội.
Chương III: Hệ thống cơ quan, tổ chức làm Công tác xã hội và Nhân viên xã
hội chuyên nghiệp.
Do Công tác xã hội là một khoa học còn mới mẻ ở Việt Nam nên giáo trình
không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của bạn
đọc để giáo trình này được hoàn thiện hơn.
Nhóm biên soạn:
Lê Hùng Cường
Nguyễn Thị Lành
Phạm Thanh Bằng
3
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: Nhập môn Công tác xã hội
Mã số môn học: MH 15
Vị trí, tính chất của môn học
- Vị trí môn học: Nhập môn công tác xã hội là môn học lý thuyết cơ sở nghề
quan trọng của chương trình đào tạo nghề Công tác xã hội, trang bị cho sinh viên
những kiến thức khái quát về công tác xã hội để làm cơ sở cho việc tiếp cận, nghiên
cứu các kiến thức, kỹ năng, phương pháp công tác xã hội cá nhân, nhóm, cộng
đồng
- Tính chất của môn học: Là môn lý thuyết cơ sở nghề bắt buộc
Mục tiêu môn học
- Về kiến thức:
+ Trình bày được những kiến thức về triết lý nghề nghiệp, nguyên tắc và vai
trò của nhân viên xã hội để vận dụng trong công tác xã hội với đối tượng;
+ Phân biệt được công tác xã hội với công tác từ thiện;
+ Phân tích được giá trị, đạo đức của nghề công tác xã hội.
- Về kỹ năng:
+ Thực hành vận dụng các nguyên tắc, giá trị đạo đức nghề công tác xã hội;
+ Vận dụng được các phương pháp công tác xã hội và tiến trình công tác xã
hội vào quá trình giúp đỡ đối tượng.
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện tính tich cực trong học tập như sự
chăm chỉ, sáng tạo, tinh thần tự nghiên cứu và bổ sung kiến thức; Tôn trọng, không
phê phán và chấp nhận đối tượng; tích cực chủ động tham gia trong quá trình học
tập.
Nội dung môn học:
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM, TRIẾT LÝ VÀ GIÁ TRỊ CỦA
CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mục tiêu :
- Kiến thức: Cung cấp khái niệm, lịch sử hình thành công tác xã hội trên thế
giới và Việt Nam. Phân tích triết lý nghề, các giá trị của nghề công tác xã hội,
chuẩn mực đạo đức nghề công tác xã hội.
4
- Kỹ năng: Vận dụng các nguyên tắc đạo đức nghề công tác xã hội thực hành
các chuẩn mực đạo đức trong công tác xã hội và trong thực tế.
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Rèn luyện tính tích cực trong học tập như: sự chăm chỉ, sáng tạo và tự học
tập nghiên cứu bổ sung kiến thức;
+ Tôn trọng quyền con người và quyền được chăm sóc hỗ trợ của thân chủ;
+ Công bằng, khách quan trong trợ giúp đối tượng.
Nội dung chương:
I. Khái niệm về Công tác xã hội
1. Khái niệm về Công tác xã hội.
Công tác xã hội là một khoa học xã hội ứng dụng, là một nghề chuyên môn,
ra đời vào đầu thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới. Nó có vị trí quan trọng trong
đời sống xã hội của con người, của mỗi quốc gia. Sự ra đời và phát triển công tác
xã hội đã đóng góp đáng kể vào việc ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề xã hội,
góp phần bảo đảm công bằng xã hội và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Ở nước ta, hoạt động mang tính chất "Công tác xã hội" đã có từ rất sớm
trong lịch sử dân tộc. Đó là sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng
đồng trên tinh thần "nhiễu điều phủ lấy giá gương...", "uống nước nhớ nguồn", "lá
lành đùm lá rách"... Ngày nay, chúng ta có một đội ngũ đông đảo những cán bộ
nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về Công tác xã hội trên các lĩnh vực:
Lao động - Thương binh và Xã hội; Dân số - Gia đình và Trẻ em; Phụ nữ; Thanh
niên... Tuy nhiên, Công tác xã hội mang tính chuyên nghiệp và đào tạo Công tác xã
hội ở nước ta còn có khoảng cách xa so với nhiều nước trong khu vực và trên thế
giới.
Để có cách hiểu thống nhất về Công tác xã hội, sau đây xin nêu lên vài định
nghĩa về Công tác xã hội:
Theo Từ điển Công tác xã hội (1995): " Công tác xã hội là một khoa học xã
hội ứng dụng nhằm giúp con người hoạt động có hiệu quả về mặt tâm lý xã hội và
tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người ".
5
Theo Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế, tại Đại hội khoáng đại của Liên đoàn
chuyên nghiệp xã hội quốc tế tổ chức tại Motreal (Canada) vào tháng 7 năm 2004, đã đưa
ra một định nghĩa mới về Công tác xã hội như sau: " Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi
xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và
giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu.
Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, Công tác xã hội can
thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ”
Tuy nhiên trên thế giới, mỗi nước khác nhau, do những điều kiện chính trị,
kinh tế, văn hoá và xã hội khác nhau nên có nhiều cách diễn đạt khác nhau về Công
tác xã hội. Chẳng hạn:
Theo quan niệm của Hiệp hội chuyên gia Công tác xã hội Mỹ: Công tác xã
hội là hoạt động chuyên môn nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng phục hồi hay
tăng cường chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp để giúp họ thực
hiện được mục đích cá nhân.
Theo quan niệm của Philippin: Công tác xã hội là một nghề chuyên môn,
thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mối quan hệ qua lại giữa
cá nhân và môi trường vì nền an sinh của cá nhân và toàn xã hội.
Như vậy, các định nghĩa về Công tác xã hội của Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội
quốc tế, của Hiệp hội chuyên gia Công tác xã hội Mỹ và của Philippin tuy có sự khác nhau
trong cách diễn đạt, nhưng nội hàm của khái niệm đều có những đặc trưng chung sau đây:
- Công tác xã hội được khẳng định là một khoa học, một hoạt động mang
tính chuyên môn, chuyên nghiệp và được xã hội thừa nhận là một nghề chuyên
nghiệp, độc lập với các nghề khác trong xã hội và không thể thiếu trong đời sống
xã hội.
- Nói chung, Công tác xã hội nhằm giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng
giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh trong cuộc sống, trong quá trình tương
tác giữa cá nhân và môi trường, trong tiến trình phát triển xã hội. Từ đó, giúp họ
6
vượt qua khó khăn hiện tại để phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội nhằm
đem lại sự an sinh cao nhất cho con người và sự tiến bộ, công bằng xã hội.
- Các hoạt động can thiệp giúp đỡ của nhân viên xã hội chuyên nghiệp đều
hướng vào thúc đẩy sự thay đổi xã hội, phát triển các mối quan hệ tương tác giữa
các cá nhân, giữa con người và xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội
cho cá nhân, gia đình và cộng đồng.
- Trong thực hành Công tác xã hội, nhân viên xã hội sử dụng các kiến thức,
kỹ năng chuyên môn được đào tạo để giúp đối tượng /thân chủ/ tăng năng lực và
quyền lực trong việc giải quyết vấn đề của họ. Đây có thể coi là quá trình nhân viên
xã hội giúp đối tượng phát hiện được những khả năng tiềm tàng, những điểm mạnh
và những nguồn lực sẵn có của bản thân (cá nhân, gia đình, cộng đồng) và nối kết
với các nguồn lực xã hội trong việc tự lực giải quyết vấn đề của chính mình.
Nói đến những vấn đề thuộc chức năng xã hội là nói đến tình trạng liên quan
đến vai trò xã hội của con người và việc thực hiện các vai trò ấy. Trong cuộc sống,
trong lao động, mỗi con người thực hiện nhiều vai trò khác nhau: Vai trò cá nhân,
vai trò xã hội và sự kết hợp các vai trò. Chẳng hạn: Trong mỗi gia đình, mỗi thành
viên thực hiện chức năng, vai trò khác nhau trong mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ -
con cái, anh chị - em … Có người cùng lúc phải thể hiện nhiều vai trò khác nhau,
như vai trò của người vợ đối với chồng, người mẹ đối với con cái, người con đối
với cha mẹ; trong mỗi cộng đồng là việc thực hiện chức năng, vai trò người dân của
một cộng đồng (tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường...); trong mỗi quốc gia, là
việc thực hiện chức năng, vai trò của một công dân đối với xã hội, với đất nước.
Như vậy, mỗi con người mang nhiều vai trò khác nhau và thực tế cuộc sống
là mạng lưới các vai trò năng động và các mối quan hệ giữa các vai trò. Có nhiều
người vì lý do này hay lý do khác, không thể tiến hành một hoặc nhiều chức năng
xã hội của họ một cách đầy đủ. Để giúp đỡ những người này, nghề Công tác xã hội
đã ra đời, nhằm giúp các cá nhân thực hiện tốt các vai trò của mình và tăng cường
sự tương tác, liên kết giữa các cá nhân và xã hội.
7
2. Phân biệt Công tác xã hội với hoạt động từ thiện
Thực tế, có rất nhiều người, ngay ở nhiều quốc gia phát triển vẫn chưa hiểu
hết nội dung và ý nghĩa của Công tác xã hội trên cả phương diện lý thuyết cũng
như trong hoạt động thực tiễn của Công tác xã hội. Điều quan trọng là vì chưa hiểu
tường tận về Công tác xã hội với tư cách là một khoa học, một nghề chuyên môn,
dẫn tới có những người làm công việc không phải là Công tác xã hội nhưng lại cho
rằng mình đã và đang làm Công tác xã hội. Ở Việt Nam cũng vậy, có rất nhiều
người còn đồng hoá Công tác xã hội với công tác từ thiện, thực tế họ chỉ tham gia
các hoạt động xã hội hoặc làm từ thiện nhưng lại cho rằng mình đang làm Công tác
xã hội. Ví dụ: Nhiều người làm việc thiện như ủng hộ vào Quỹ xoá đói giảm nghèo,
Quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc màu da cam, Quỹ đền ơn đáp nghĩa... họ đã nghĩ và
cho rằng mình đang làm Công tác xã hội, hoặc một số kênh thông tin đại chúng
cũng thường đưa tin về vấn đề trên như vậy. Thực ra đó chỉ là những hoạt động xã
hội, từ thiện. Để làm sáng tỏ vấn đề này, cần thiết phải đưa ra sự phân biệt giữa
Công tác xã hội và công tác từ thiện.
Điểm chung giống nhau giữa Công tác xã hội với hoạt động từ thiện là đều
hướng vào việc giúp đỡ con người, thông qua việc cung cấp vật chất và phi vật chất
đáp ứng các nhu cầu của con người trước những tình huống khó khăn mà con người
đang phải đối mặt mà bản thân họ không tự giải quyết được, đang cần sự giúp đỡ.
Tuy nhiên, hoạt động Công tác xã hội và hoạt động từ thiện có những đặc
điểm khác nhau cơ bản sau đây:
Về động cơ giúp đỡ: Trong hoạt động Công tác xã hội, nhân viên xã hội coi
việc giúp đỡ đối tượng và lợi ích của đối tượng được giúp đỡ là mối quan tâm hàng
đầu và duy nhất, là nhiệm vụ mà ngành Công tác xã hội và xã hội giao phó. Còn
hoạt động từ thiện, người làm từ thiện còn có những động cơ khác, như làm việc
thiện là để đức cho con cháu hoặc muốn tạo uy tín cá nhân, muốn khẳng định vị trí
xã hội của họ hoặc vì mục đích chính trị hay kinh tế ... Như vậy, hoạt động Công
8
tác xã hội mang động cơ nghề nghiệp; còn hoạt động từ thiện mang động cơ cá
nhân.
Về phương pháp giúp đỡ: Công tác xã hội đề cao nguyên tắc "tự giúp" trên
cơ sở tăng năng lực và trao quyền nhiều hơn cho đối tượng trong việc tự lực giải
quyết vấn đề của chính họ bằng cách cho đối tượng cần câu thay vì cho xâu cá,
nhằm giúp họ phát huy tiềm năng và nguồn lực bên trong của bản thân họ, để họ tự
vươn lên giải quyết vấn đề khó khăn của chính mình, với sự hỗ trợ của nhân viên
xã hội. Để thực hành Công tác xã hội, nhân viên xã hội phải được đào tạo các kiến
thức, kỹ năng làm việc với cá nhân, gia đình, cộng đồng và được cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền cấp phép hành nghề. Còn hoạt động từ thiện của các tổ chức, cá
nhân chỉ thuần tuý mang tính chất ban phát vật chất từ bên ngoài nhằm giúp cá
nhân, gia đình, cộng đồng tạm thời vượt qua những khó khăn trước mắt khi họ bị
thiên tai, tai nạn hoặc các rủi ro, bất hạnh khác dẫn đến việc mất hoặc thiếu thốn
các nguồn lực cá nhân để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Như vậy,
hoạt động từ thiện xuất phát từ tinh thần tương thân tương ái, từ thiện tâm, thiện chí
mang tính chất bản năng của con người và người làm từ thiện không phân biệt tuổi
tác, giới tính, dân tộc, chủng tộc, trình độ học vấn, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế
giàu nghèo... và không cần phải được đào tạo các kiến thức, kỹ năng về Công tác
xã hội. Công tác xã hội bao gồm cả hệ thống lý thuyết, kỹ năng để điều chỉnh hành
vi con người, hệ thống xã hội và môi trường xã hội.
Về mối quan hệ giữa người giúp đỡ và người được giúp đỡ: Trong Công tác
xã hội, quan hệ giữa nhân viên xã hội và đối tượng /thân chủ/ là mối quan hệ nghề
nghiệp, mang tính trực tiếp, bền chặt và được xây dựng trên cơ sở bình đẳng, tôn
trọng lẫn nhau, được tạo lập, duy trì và phát triển trong suốt quá trình giúp đỡ.
Nhân viên xã hội hành động trên cơ sở các giá trị, đạo đức, nguyên tắc nghề nghiệp
của ngành Công tác xã hội quy định, được sự bảo hộ của Nhà nước và pháp luật và
mang tính bền vững. Còn trong hoạt động từ thiện, mối quan hệ giữa người giúp đỡ
và người được giúp đỡ đơn thuần là cho - nhận, mang tính gián tiếp, ngắn hạn, lỏng
9
lẻo và không theo đuổi mục đích bền vững. Hoạt động từ thiện xuất phát từ lòng
nhân đạo, từ tình thương yêu đồng loại trên tinh thần " Nhiễu điều phủ lấy giá
gương, người trong một nước phải thương nhau cùng" hay " Bầu ơi thương lấy bí
cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn", " Một con ngựa đau, cả tàu bỏ
cỏ", " Một miếng khi đói bằng cả gói khi no"...
Về kết quả của sự giúp đỡ: Kết quả của hoạt động Công tác xã hội mang tính
tích cực hơn do đối tượng tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề của chính họ và
tự quyết định cách thức giải quyết vấn đề. Điều này đã không tạo ra tư tưởng trông
chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ từ bên ngoài và đã khơi dậy, phát huy được tiềm năng bên
trong của người được giúp đỡ. Nhờ đó, vấn đề của đối tượng được giải quyết tận
gốc, có tính bền vững. Còn hoạt động từ thiện, đối tượng không trực tiếp tham gia
vào quá trình giải quyết vấn đề của chính họ do sự giúp đỡ chỉ đơn thuần mang tính
ban phát "cho - nhận" từ bên ngoài để giúp đối tượng giải quyết các khó khăn tức
thời trước mắt, không bắt nguồn từ các nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh các vấn đề
khó khăn của đối tượng và không theo đuổi mục tiêu của sự phát triển bền vững
của đối tượng. Chính vì vậy, người được giúp đỡ tham gia vào quá trình giải quyết
vấn đề mang tính thụ động và thường tạo ra tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự giúp
đỡ từ bên ngoài; vì thế, vấn đề của họ không được giải quyết tận gốc và không có
tính bền vững.
Ví dụ: Trong hoạt động giúp đỡ người nghèo, giữa hoạt động từ thiện và hoạt
động Công tác xã hội có những điểm khác nhau cơ bản như sau:
- Đối với hoạt động từ thiện: Động cơ giúp đỡ mang tính chất cá nhân của
người giúp đỡ được xuất phát từ tình thương yêu đồng loại; Phương pháp giúp đỡ
được tiến hành bằng cách ban phát vật chất (giá trị hoặc hiện vật); Mối quan hệ
giữa người giúp đỡ và người được giúp đỡ thể hiện quan hệ cho - nhận; Kết quả
người được giúp đỡ vượt qua được khó khăn trước mắt, nhưng không bền vững bởi
vấn đề nghèo đói không được giải quyết tận gốc do sự giúp đỡ không xuất phát từ
việc giải quyết các nguyên nhân của sự nghèo đói.
10
- Đối với hoạt động Công tác xã hội: Động cơ giúp đỡ mang tính chất nghề nghiệp
của ngành Công tác xã hội quy định; Phương pháp giúp đỡ dựa trên nguyên tắc tự giúp, nhân
viên xã hội sử dụng các kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên nghiệp đã được đào tạo
cùng với đối tượng đưa ra các quyết định và cùng tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề
của đối tượng; Mối quan hệ giữa đối tượng và nhân viên xã hội là mối quan hệ nghề nghiệp;
Kết quả người được giúp đỡ không chỉ vượt qua những khó khăn nhất thời mà còn lâu dài,
bền vững bởi quá trình giúp đỡ đã hướng vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa nảy sinh
vấn đề nghèo đói và có sự tham gia, quyết định của đối tượng.
II. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển Công tác xã hội
Trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội loài người, ở mỗi chế độ xã hội khác
nhau luôn tồn tại sự khác nhau về trình độ phát triển, về mức sống giữa các thành
viên, các nhóm xã hội. Có những cá nhân và nhóm xã hội do nhiều lý do khác
nhau, ít hoặc không có điều kiện và cơ hội để tiếp cận các nguồn và lợi ích. Những
người này sẽ gặp những khó khăn trong cuộc sống, trở thành những người thiệt
thòi, yếu thế, dễ bị tổn thương và thường không có khả năng hoặc thiếu nguồn hỗ
trợ để đáp ứng các nhu cầu của bản thân.
Trong mỗi xã hội, dù ít hay nhiều luôn có những người quan tâm giúp đỡ
người khác, cảm thông với những khó khăn của người khác và sẵn sàng đáp ứng
các nhu cầu và những khó khăn của đồng loại. Những người giúp đỡ này đều hiện
hữu trong thời kỳ lịch sử nhân loại, là tiền thân của nhân viên xã hội thời kỳ hiện
đại.
Sự phát triển các hình thức tương trợ, giúp đỡ của những nhân viên tình
nguyện cũng như sự phát triển các hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên xã hội
tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị của từng quốc gia,
từng thời kỳ.
Lịch sử hình thành và phát triển Công tác xã hội ở các quốc gia trên thế giới
đều bắt nguồn từ những hoạt động từ thiện của những người tình nguyện.
11
Thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, các hiện tượng xã hội như vấn đề
người già, trẻ em mồ côi, phụ nữ goá bụa... được sự cưu mang, đùm bọc của những
người thân trong gia đình, dòng họ; sự giúp đỡ trên tinh thần tương thân tương ái
của cộng đồng và sự cứu giúp của các nhà thờ.
Thời kỳ cách mạng công nghiệp, do tác động của quá trình kinh tế làm nảy
sinh nhiều vấn đề xã hội như: Nghèo đói, thất nghiệp, người lang thang, nghiện
ngập ma tuý, mại dâm... đã xuất hiện các phong trào làm việc từ thiện của các cá
nhân, tổ chức tình nguyện để giúp đỡ những người khốn khó, bần cùng vượt qua
những khó khăn trong cuộc sống. Sau đó, nghề Công tác xã hội đã hình thành và
phát triển để tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội rộng lớn, phức tạp
mà tự thân các hoạt động từ thiện, tình nguyện không thể giải quyết được. Tuy
nhiên, quá trình hình thành nghề Công tác xã hội diễn ra khác nhau giữa các quốc
gia, châu lục trên thế giới.
Sau đây, giới thiệu sơ lược quá trình hình thành, phát triển Công tác xã hội ở
một số châu lục, quốc gia trên thế giới và Việt Nam.
1. Sơ lược lịch sử Công tác xã hội trên thế giới
Ở Châu âu: Nước Anh là cái nôi xuất phát các phong trào làm việc từ thiện
sớm nhất (những năm 1800) do bối cảnh xã hội Anh lúc bấy giờ nảy sinh nhiều vấn
đề xã hội bởi sự tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp, như: Nạn thất
nghiệp, người lang thang, nghèo đói, nghiệp ngập ma tuý và nạn mại dâm... Để góp
phần giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh, thoạt đầu ở Luân Đôn, nhiều nhóm tình
nguyện viên đã hình thành. Hiệp hội các tổ chức từ thiện (viết tắt là C.O.S) ra đời ở
Luân Đôn năm 1869. Đây là tổ chức các người trí thức tình nguyện gồm các bác sỹ,
giáo viên, luật sư, kỹ sư... hợp nhau lại với mục đích giúp đỡ những người gặp khó
khăn. Họ chia nhau đi thăm viếng và giúp đỡ những gia đình có vấn đề khó khăn ở
các khu nhà ổ chuột, xóm lao động...
Ban đầu hoạt động của nhóm này chủ yếu là cứu trợ những người thất
nghiệp nghèo đói từng bị xem là những "kẻ lười biếng", "thiếu đạo đức". Sau đó,
12
họ nhận thấy rằng nếu cứ tiếp tục hình thức giúp đỡ theo kiểu ban phát thì đối
tượng sẽ trông chờ, ỷ lại và không tự lực vươn lên. Họ đã rút ra bài học kinh
nghiệm và thay đổi hình thức giúp đỡ thay vì sự giúp đỡ mang tính ban phát bằng
sự tự giúp. COS đã tổ chức nhiều chương trình lao động cho những người nghèo
còn khả năng lao động để họ có thể sinh sống bằng công việc làm ăn chính đáng.
Lịch sử từng trường hợp cá nhân và sự chuyển biến của họ được ghi chép
cẩn thận. Các hồ sơ cứu trợ cá nhân được tập trung ở từng địa phương để tránh tình
trạng một cá nhân đi kêu cứu ở nhiều cơ quan.
Lúc đầu COS không giúp đỡ vật chất, chỉ thăm viếng để giới thiệu cho các
cơ quan cứu trợ. Nhưng về sau, do làm tốt công việc này nên COS được các cơ
quan cứu trợ chuyển giao cho COS làm công tác cứu trợ.
Từ chỗ trực tiếp giúp đỡ từng cá nhân, người giúp đỡ đã sớm nhận ra rằng
con người lâm vào hoàn cảnh khó khăn không chỉ hoàn toàn do yếu kém của chính
cá nhân họ mà còn do những tác động bởi môi trường, của quá trình phát triển nên
cần thay đổi cách thức giúp đỡ bằng cách tác động đến những nguyên nhân làm nảy
sinh vấn đề, vào sự tương tác giữa các thành viên và xã hội. Những kinh nghiệm
đầu tiên này của COS đã đặt nền tảng cho hoạt động của ngành Công tác xã hội sau
này.
Phương pháp giúp đỡ mang tính khoa học đầu tiên là phương pháp Công tác
xã hội cá nhân, sau đó đến Công tác xã hội nhóm và Phát triển cộng đồng.
Đội ngũ tình nguyện viên được đào tạo các kiến thức, kỹ năng làm việc với
đối tượng và trở thành những nhân viên xã hội chuyên nghiệp. Từ đó, nghề Công
tác xã hội ra đời và đã được xã hội chấp nhận, độc lập với các nghề khác.
Ở Mỹ: Phong trào COS từ Anh lan sang Mỹ và hình thành COS đầu tiên ở
Buffalo, New York năm 1877.
Năm 1898, COS ở New York mở khoá tập huấn nghiệp vụ đầu tiên cho 27
học viên, gọi là "khoá học mùa hè cho các nhân viên hoạt động nhân đạo", thời
gian tập huấn kéo dài 6 tuần.
13
Cũng trong năm 1898, trường đào tạo các nhân viên xã hội đầu tiên được
thành lập - Trường Nhân ái New York (sau này là Trường Đại học Công tác xã hội
Columbia). Năm 1904, chương trình đào tạo Công tác xã hội với thời gian đào tạo
một năm được tiến hành. Sau đó, lần lượt ra đời các trường Công tác xã hội khác ở
Philadelphia, Boston, Chicago.
Năm 1905, Richard Cabot lần đầu tiên đã đưa Công tác xã hội vào bệnh
viện Đa khoa Massaclensetts và dần dần sau đó, các nhân viên xã hội có mặt hoạt
động tại các trường học, toà án và các tổ chức khác.
Chương trình đào tạo Công tác xã hội ban đầu tập trung vào cả những nỗ lực
thay đổi môi trường và nỗ lực giúp các cá nhân điều chỉnh tốt hơn với môi trường
xã hội.
Năm 1917, Mary Richmond đã xuất bản cuốn sách "Chẩn đoán xã hội -
Social Diagnosis". Đây được coi là dấu mốc quan trọng đầu tiên cho việc hình
thành các lý thuyết và phương pháp Công tác xã hội. Cuốn sách tập trung vào nội
dung người nhân viên xã hội nên can thiệp với các cá nhân như thế naò? Cho đến
nay, các tiến trình làm việc với cá nhân được bà đưa ra vẫn được sử dụng phần nào
(từ bước thu thập thông tin đến chẩn đoán và lên kế hoạch trị liệu).
Vào những năm 1920, lý thuyết về sự phát triển nhân cách và trị liệu của
Sigmund Freud được phổ biến rộng rãi. Các khái niệm và những lý giải của các nhà
tâm lý học được đưa ra phù hợp với các nhân viên xã hội làm việc với cá nhân
trong mối quan hệ một - một với đối tượng. Vì vậy Công tác xã hội chịu nhiều ảnh
hưởng của lý thuyết này trong gần 3 thập kỷ sau đó. Đến sau chiến tranh thế giới
lần thứ II, Công tác xã hội được công nhận như một nghề chuyên nghiệp.
Đến những năm 1960, có sự thay đổi diễn ra trong việc phát triển chuyên
môn Công tác xã hội cùng với cách tiếp cận Xã hội học. Lúc này, phương pháp tiếp
cận Xã hội học tỏ ra có hiệu quả và phù hợp khi đưa ra các tổ chức, cơ quan vào
việc đáp ứng các nhu cầu của đối tượng.
14
Mô hình hoạt động công tác xã hội và đào tạo công tác xã hội của Anh và
Mỹ đã phát triển lan rộng ra nhiều nước ở châu Âu (Hà Lan, Đức, Pháp...) sang
châu Á và Mỹ La tinh.
Những năm sau này, Công tác xã hội được phát triển theo nhiều mô hình,
quan điểm khác nhau, như: Quan điểm bảo vệ quyền của phụ nữ, khủng hoảng và
phát triển các cách tiếp cận: Tiếp cận dựa trên giải pháp, tiếp cận dựa trên điểm
mạnh của đối tượng... Cho đến ngày nay, Công tác xã hội chú trọng vào việc "trao
quyền" tăng năng lực. Khác với lúc sơ khai ban đầu là trị liệu thì bây giờ là can
thiệp.
Ở châu Á, việc đào tạo nhân viên xã hội chuyên nghiệp được bắt đầu từ
Trung Quốc, vào những năm 1920. Sau đó sang Ấn Độ và Philippin. Tuy nhiên, Ấn
độ lại là nước đầu tiên ở châu Á thành lập trường Công tác xã hội (trường Công tác
xã hội Bombay năm 1939). Trung Quốc, sau một số năm gián đoạn đã tiếp cận trở
lại ngành Công tác xã hội vào năm 1950.Ở châu Á hiện nay đã thành lập Hiệp hội
Công tác xã hội Châu Á - Thái Bình Dương.
Ngày nay, nhân viên xã hội chuyên nghiệp được đào tạo ở tất cả các cấp
trình độ từ trung cấp, cử nhân, thạc sỹ đến tiến sỹ. Các trường đào tạo Công tác xã
hội phát triển ở hầu hết các châu lục.
2. Sơ lược lịch sử Công tác xã hội ở Việt Nam
Thời kỳ thuộc Pháp, công tác xã hội chuyên nghiệp được biết tới qua hình
ảnh các cán sự xã hội phục vụ trong các tổ chức Chữ thập đỏ, trong quân đội Pháp.
Năm 1947, khoá huấn luyện cán sự xã hội Việt Nam đầu tiên được Hội Chữ thập
đỏ Pháp khởi xướng ở Sài Gòn tại Trung tâm Thevent (đường Thevent, nay là
đường Tú Xương). Năm 1949, Trung tâm huấn luyện này đổi tên thành Trường
Công tác xã hội Caritas, đặt tại 38 - Tú Xương, giao cho một dòng nữ tu Thiên
chúa giáo quản lý. Các khoá chính quy của trường đào tạo những nhân viên công
tác xã hội trình độ Trung cấp, gọi là cán sự xã hội và hoạt động cho tới ngày miền
Nam được giải phóng.
15
Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, ở miền Nam, giữa thập kỷ 60, Bộ Xã hội
của chính quyền Sài Gòn lúc đó yêu cầu tổ chức Liên hợp quốc (tổ chức UNDP và
UNICEF) giúp đỡ thành lập trường Công tác xã hội. Theo đó, một đoàn chuyên gia
quốc tế đã được cử đến Sài Gòn, cùng với một số chuyên gia trong nước xúc tiến
việc thành lập " Trường Công tác xã hội quốc gia", chương trình đào tạo 4 năm,
đầu ra cuối cùng là Cử nhân Công tác xã hội (ngạch giám sự xã hội) được chia làm
2 giai đoạn (sau hai năm đầu sinh viên tốt nghiệp ra trường làm việc ở ngạch Kiểm
sự xã hội, sau đó trở lại học tiếp giai đoạn hai để được cấp bằng Cử nhân). Tuy
nhiên, trường mới chuẩn bị đào tạo giai đoạn hai thì miền Nam được giải phóng.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đào tạo Công tác xã
hội tạm thời lắng xuống. Vào những năm đầu của thập kỷ 90, hoạt động Công tác
xã hội và đào tạo Công tác xã hội phát triển trở lại, trước hết ở các tỉnh phía Nam,
sau đó phát triển mạnh ở các tính phía Bắc.
Năm 1992, bộ môn Công tác xã hội được đưa vào giảng giảng dạy tại khoa
Phụ Nữ học - Đại học mở bán công, thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1995, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức khoá tập huấn
Cán sự xã hội đầu tiên cho các giảng viên thuộc các trường thuộc Bộ và cán bộ làm
Công tác xã hội tại các cơ sở Bảo trợ xã hội thuộc Bộ. Đặc biệt, trong khuôn khổ
dự án hợp tác UNV - MOLISA - CFSI, chương trình đào tạo Công tác xã hội được
thúc đẩy thông qua nhiều khoá tập huấn ngắn hạn về Công tác xã hội cho các cán
bộ làm Công tác xã hội ở nhiều Bộ, ngành và địa phương trên phạm vi cả nước.
Năm 1997, trường Cao đẳng Lao động - Xã hội được Chính phủ giao nhiệm
vụ đào tạo Công tác xã hội, trình độ cử nhân Cao đẳng chuyên ngành Công tác Xã
hội với chương trình đào tạo 3 năm.
Một số trường khác, như: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Đại học
Công đoàn - Hà Nội; Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương; Trường Thanh, Thiếu
niên Trung ương cũng đưa các nội dung Công tác xã hội vào chương trình đào tạo
của trường theo các mức độ khác nhau.
16
Ngoài ra, nhiều Bộ, ngành được sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế, các tổ chức
phi Chính phủ đã tiến hành nhiều khoá tập huấn ngắn hạn về Công tác xã hội cho các cán
bộ làm việc với trẻ em, gia đình và cộng đồng thông qua các chương trình dự án.
Hiện nay, đào tạo Công tác xã hội đang được quan tâm phát triển rộng khắp
từ Nam chí Bắc. Nội dung chương trình đào tạo từng bước thể hiện tính chuyên
nghiệp của nghề Công tác xã hội. Hình thức đào tạo phát triển đa dạng, phong phú
(chính quy và phi chính quy). Đặc biệt, trường Cao đẳng Lao động - Xã hội đã cử
một số cán bộ, giảng viên đi đào tạo Thạc sỹ Công tác xã hội ở ngoài nước tại các
nước Canada, Philippin trong chương trình hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và
Chính phủ Canada. Ngày 11 tháng 10 năm 2004, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ra quyết
định ban hành Chương trình khung giáo dục đại học ngành Công tác xã hội trình độ
đại học, cao đẳng. Theo đó, một số trường đại học, cao đẳng trong hệ thống giáo
dục quốc dân ở nước ta được giao nhiệm vụ đào tạo công tác xã hội trình độ đại
học, cao đẳng.
Như vậy, có thể nói rằng, về cơ bản Công tác xã hội đã có bề dày phát triển
trên thế giới hàng vài chục năm, thậm chí có những nước đã có bề dày phát triển
Công tác xã hội hàng trăm năm nay, được xã hội thừa nhận là một nghề chuyên
nghiệp không thể thiếu trong đời sống xã hội. Từng quốc gia có Hiệp hội Công tác
xã hội và Hiệp hội các Trường Công tác xã hội. Trên phạm vi quốc tế, có Hiệp hội
Công tác xã hội quốc tế, Hiệp hội các trường Đại học Công tác xã hội toàn cầu.
III. Triết lý và giá trị của nghề Công tác xã hội
1. Triết lý của nghề Công tác xã hội
Trong các học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin đều đã khẳng định: con
người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội, con người vừa là sản
phẩm của xã hội vừa là chủ thể của lịch sử.
Là thực thể tự nhiên, con người có những nhu cầu vật chất và tinh thần và đòi hỏi
được đáp ứng các nhu cầu đó. Là thực thể của xã hội, con người có các mối quan hệ xã hội.
17
Là con người xã hội, con người có các mối quan hệ tương tác giữa con người
với con người, con người với xã hội và liên hệ chặt chẽ với tự nhiên. Để đạt tới sự
phát triển hài hoà giữa con người và xã hội, giữa con người với tự nhiên, đòi hỏi
con người cần phải thể hiện trách nhiệm của mình với xã hội; đồng thời xã hội
cũng phải có trách nhiệm bảo vệ, giúp họ đáp ứng các nhu cầu của cá nhân.
Là con người, ai cũng có mong muốn được an toàn, bình yên trong cuộc
sống, được tham gia, cống hiến công sức, trí tuệ, tài năng của mình cho đất nước và
sự phát triển của cá nhân và xã hội.
Trong sự vận động, phát triển của cá nhân và xã hội, suy cho cùng nhằm đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người và vì một xã hội tiến bộ và công bằng hơn. Tuy
nhiên, trong thực tiễn phát triển, ở mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi chế độ xã hội khác nhau vẫn
luôn luôn tồn tại những cá nhân, gia đình, cộng đồng vì nhiều lý do khác nhau không được
đáp ứng các nhu cầu cơ bản cần cho cuộc sống. Họ không được bảo đảm trên thực tế các
quyền cơ bản của con người, tạo ra những bất bình đẳng trong xã hội.
Đối tượng phục vụ của công tác xã hội là con người. Muốn thực sự giúp đỡ
con người, đáp ứng các quyền cơ bản của con người, thực hiện công bằng xã hội thì
ngành Công tác xã hội cần trang bị cho mình một nền tảng triết lý làm kim chỉ nam
cho mọi hành động. Triết lý hành động được xây dựng trên cơ sở các quan điểm
nhìn nhận con người một các đúng đắn, đó là 6 quan điểm mang tính nguyên tắc,
định hướng trong hoạt động cung cấp các dịch vụ cho con người. Đó là:
- Con người là trung tâm, là động lực, là mối quan tâm hàng đầu cơ bản của
xã hội.
- Giữa cá nhân và xã hội có sự phụ thuộc tác động qua lại với nhau.
- Cá nhân và xã hội đều phải có trách nhiệm đối với nhau.
- Con người có những nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người là một
thực thể độc lập, có tính cách riêng, hoàn cảnh sống và nhu cầu cá nhân không
giống người khác, và có khả năng thay đổi.
18
- Mỗi con người cần được phát huy hết tiềm năng của mình và cần phải thực
hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội thông qua sự tích cực tham gia vào xã
hội.
Xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để khắc phục những trở ngại đối với việc
phát huy tiềm năng của cá nhân. Những trở ngại ấy chính là sự mất cân bằng trong
quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và cá nhân với xã hội.
Hoạt động Công tác xã hội chuyên nghiệp được đặt trên tiền đề về niềm tin
rằng tất cả con người (không phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc, chủng tộc, tín
ngưỡng, trình độ học vấn, tính cách, tình trạng kinh tế, địa vị chính trị...) đều có giá
trị và nhân phẩm vốn có. Con người cần được tôn trọng và có một điều kiện nhất
định cho cuộc sống có lợi cho họ. Công tác xã hội đặt niềm tin về khả năng thay
đổi của con người và môi trường xã hội cần cho cuộc sống của con người và sự
phát triển của xã hội.
Nói đến hạnh phúc con người, trước hết phải quan tâm đến hạnh phúc của
từng người, từng gia đình. Chỉ khi nào các cá nhân được hạnh phúc, gia đình hạnh
phúc thì nền tảng xã hội mới được bền vững, cũng như gốc có vững thì cây mới
bền. Nhưng hạnh phúc cá nhân chỉ thực sự có được khi và chỉ khi gia đình và xã
hội phát triển hài hoà, khi từng người không chỉ lo cho riêng mình mà phải có trách
nhiệm với người khác, với xã hội trên tinh thần mình vì mọi người, mọi người vì
mình.
Một người làm phúc không phải là một nhân viên xã hội. Công tác xã hội là
một khoa học, một nghề, có hệ thống triết lý và lý thuyết, kỹ năng riêng. Việc thực
hiện nhiệm vụ của các nhân viên xã hội được kiểm soát thông qua các quy định về
đạo đức của ngành Công tác xã hội. Các quy định đạo đức này được xây dựng trên
cơ sở nền tảng triết lý, các giá trị và các nguyên tắc hành động của Công tác xã hội.
2. Các giá trị của nghề Công tác xã hội
Giá trị là những quan niệm về sự khao khát định hướng hành động (Bengston
và Lovejoy).
19
Hay giá trị là một chuẩn mực phân biệt những mục đích hoặc các hành động
mà chúng ta tin tưởng là quan trọng để theo đuổi (1987, Tropman và Cox).
Như vậy, giá trị là những điều chúng ta muốn có (phải, nên, cần - đó là
những câu muốn diễn tả giá trị). Mỗi người đều có một giá trị độc đáo, đó là giá trị
cá nhân, giá trị gia đình, giá trị xã hội, giá trị nghề nghiệp.
Sự nhìn nhận giá trị của mỗi người khác nhau. Đôi khi ta cho rằng mỗi người
đều hiểu, nên ta không đề cập đến hoặc đôi khi ta cho rằng ta và người khác có
những giá trị khác nhau, nên ta cũng không nói đến những điều đó nữa. Có khi
những giá trị đó lại cạnh tranh lẫn nhau. Ví dụ: có người xem việc tự quyết là giá
trị của con người cá nhân và coi đó là quan trọng. Song họ lại tin vào tính quan
trọng trên hết của gia đình.
Các giá trị đôi khi lại đối đầu nhau nhưng vẫn tồn tại song song với nhau.
Chúng ta hiểu rằng con người phải có những nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống,
và vì thế để sinh tồn con người phải không ngừng đấu tranh cải tạo thiên nhiên, cải
tạo xã hội. Và ngược lại, xã hội cần phải tạo ra những điều kiện và cơ hội cho con
người được phát huy tiềm năng, được đáp ứng các nhu cầu cơ bản cần cho cuộc
sống cá nhân, nhất là những cá nhân và nhóm xã hội yếu thế, thiệt thòi, dễ bị tổn
thương. Hay trong thực hành Công tác xã hội chuyên nghiệp, các đối tượng đều
phải được chấp nhận cho dù họ là ai, nhưng chúng ta không thể chấp nhận những
hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội. Điều này giải thích vì
sao có khi các giá trị lại đối đầu nhau.
Điểm khác biệt giữa nhân viên xã hội với người khác là nhân viên xã hội
hiểu được giá trị của mình rõ ràng và quan trọng hơn người nhân viên xã hội ý thức
được giá trị của ngành vào quá trình thực hiện công việc. Sau đây là những giá trị
chủ yếu trong Công tác xã hội:
- Vì phúc lợi của con người: Phục vụ con người, đáp ứng các nhu cầu của
con người là mục đích đầu tiên của Công tác xã hội. Con người có những quyền cơ
bản đã được luật pháp quốc tế và luật pháp của từng quốc gia quy định. Trong đó
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_nhap_mon_cong_tac_xa_hoi.docx

