Giáo trình Công tác xã hội với nhóm dân tộc ít người

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI  
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI  
*****************  
GIÁO TRÌNH  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NHÓM DÂN TỘC ÍT NGƯỜI  
( Bản thảo lần 2)  
Hà Nội, tháng 12 năm 2014  
MỤC LỤC  
Bài 1:  
KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC VÀ DÂN TỘC ÍT NGƯỜI  
I. Vài nét về dân tộc và dân tộc ít người  
1. Khái niệm về dân tộc  
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa: “Dân tộc hay  
quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một  
nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do  
sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng  
mang tính tộc người của bộ phận tộc người. Tính chất của dân tộc phụ thuộc  
vào những phương thức sản xuất khác nhau…”.  
2. Khái niệm về dân tộc ít người  
Từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa dân tộc thiểu số. “Dân  
tộc còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người… cộng đồng này có  
thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc  
gia dân tộc khác nhau liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn  
hóa, và nhất là ý thức tự giác tộc người”.  
Ví dụ (Tày, Việt, Thái, Mường, Hoa...), đây là một hình thái đặc thù  
của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát  
triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản: ngôn  
ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng  
nghìn năm lịch sử.  
Khái quát những nội dung trên có thể nói, dân tộc là một khái niệm đa  
nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: Hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc  
gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người. Sự liên kết cộng đồng  
dân tộc được tạo lên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu  
hiện thành ý thức tự giác tộc người.  
II. Nhận diện nhóm dân tộc ít người ở Việt Nam  
1. Các tỉnh Miền núi phía bắc  
Các tỉnh miền núi phía Bắc là địa bàn sinh sống của gần 30 tộc người  
thiểu số thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau: Việt - Mường (người  
1
           
Mường), Thái - Ka-Đai (Tày, Nùng, Thái, Giáy, Bố Y, Lào, Lự, La Ha, La  
Chí, Sán Chay, Cờ Lao, Pu Péo), Tạng - Miến (Lô Lô, La Hủ, Phù Lá, Hà  
Nhì, Cống, Si La), Hmông - Dao (Hmông, Dao, Pà Thẻn), Môn - Khmer  
(Kháng, Xinh Mun, Khơ Mú, Mảng) và Hán (Hoa, Ngái, Sán Dìu). Theo số  
liệu Tổng điều tra dân số năm 2009, các dân tộc thiểu số chiếm khoảng gần  
62% tổng dân số của cả khu vực miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, sự phân bố  
của họ ở các tỉnh không đồng đều. Các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số  
hơn cả (chiếm 50% dân số chung trở lên) là Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Kạn,  
Lạng Sơn, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Tuyên Quang và  
Yên Bái. Các địa phương còn lại (Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên và  
Quảng Ninh) đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm tỷ lệ dưới 50%. Mức chênh  
lệch giữa nhóm có tỷ lệ cao và nhóm có tỷ lệ dân tộc thiểu số thấp là rất lớn:  
Tại Cao Bằng, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 95%, nhưng ở tỉnh Quảng  
Ninh, dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 11%.  
Một số tộc người ở miền núi phía Bắc còn được chia thành các nhóm  
địa phương hoặc nhóm dân tộc học: Tộc người Thái có các nhóm Thái Đen,  
Thái Trắng; người Tày có nhóm Pa Dí, Thu Lao, Tày Bốc (Tày Cạn) và Tày  
Nặm (Tày Nước); người Nùng có các nhóm như Nùng Dín, Nùng Lòi, Phàn  
Slình, Nùng Inh, Nùng An và Nùng Cháo; người Hmông có các nhóm chính  
là Hmông Hoa, Hmông Đen, Hmông Trắng, Hmông Xanh; người Hà Nhì có  
các nhóm Cồ Chồ, Lạ Mí và Hà Nhì Đen; người Phù Lá được chia thành 2  
nhóm Pu La và Xá Phó; người La Hủ có các nhóm La Hủ Na (Đen) và La Hủ  
Sư (Vàng); Sán Chay có 2 nhóm là Cao Lan và Sán Chí, v.v... Truyền thống  
văn hóa của các nhóm địa phương hoặc nhóm dân tộc học thuộc một tộc  
người có thể rất khác nhau. Có nhiều trường hợp, các nhóm của cùng một tộc  
người nhưng không hiểu ngôn ngữ của nhau. Ví dụ, nhóm Tu Dí ở Lào Cai  
được coi là một nhóm địa phương của tộc Bố Y, nhưng họ lại không thể  
giao tiếp được với bộ phận người Bố Y đang sinh sống tại Hà Giang; nhóm  
Cao Lan và nhóm Sán Chí (thuộc tộc Sán Chay) gần như thuộc 2 họ ngôn ngữ  
hoàn toàn khác nhau (ngôn ngữ Cao Lan gần gũi tiếng Tày - Thái, ngôn ngữ  
2
Sán Chí gấn tiếng Hán hơn); nhóm Pu La và nhóm Xá Phó của tộc người Phù  
Lá có thể được coi như 2 tộc người riêng biệt vì trong thực tế, rất khó có thể  
tìm thấy những đặc điểm chung cả trong ý thức tự giác tộc người thể hiện qua  
tên tự gọi/tên gọi, phương thức mưu sinh, văn hóa vật chất, tổ chức xã hội và  
văn hóa tinh thần.  
Đa số người dân các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đều sinh  
sống ở khu vực nông thôn. Ngay cả ở các địa phương mà dân tộc thiểu số  
chiếm số đông, tại các đô thị hoặc khu vực thị tứ, chưa hẳn họ đã chiếm tỷ lệ  
cao hơn người Kinh. Tình trạng cư trú này đã xuất hiện tại các tỉnh lỵ/huyện  
lỵ miền núi từ trước năm 1954, nhưng đặc biệt được đẩy mạnh từ những năm  
đầu 1960 khi chính phủ thực hiện chương trình đưa người Kinh từ các tỉnh  
đồng bằng lên khai hoang miền núi.  
Một đặc điểm dễ nhận thấy nữa là phần lớn các tộc người thiểu số ở  
miền núi phía Bắc đều không có lãnh thổ địa lý riêng biệt, tình trạng xen  
cư/cộng cư là phổ biến. Tại nhiều huyện, không chỉ có hiện tượng xen  
cư/cộng cư trong phạm vi huyện/xã mà thậm chí cả ở cấp thôn bản. Trước  
đây, quá trình xen cư/cộng cư chỉ thấy ở các dân tộc thiểu số với nhau, sau  
ngày hòa bình lập lại (1954), nhiều nhóm người Kinh ở các tỉnh đồng bằng  
sông Hồng đi khai hoang/xây dựng vùng kinh tế mới đã xen cư/cộng cư với  
các dân tộc thiểu số tại chỗ, tạo nên những bức tranh đa sắc màu. Tình trạng  
xen cư/cộng cư đã góp phần đẩy nhanh quá trình giao lưu/tiếp biến giữa các  
cộng đồng tộc người. Đồng thời, việc trao đổi hôn nhân giữa các dân tộc thiểu  
số với nhau, giữa người dân tộc thiểu số với người Kinh ngày càng nhiều hơn  
khiến cho cấu trúc dân số-tộc người ở nhiều nơi bị biến dạng đáng kể.  
Trong xã hội truyền thống của đa số các tộc người miền núi phía Bắc,  
giữa các làng bản chỉ có quan hệ liên làng - quan hệ đồng đẳng giữa các đơn  
vị xã hội đồng cấp. Tuy nhiên, ở các dân tộc Thái, Tày và Mường, ngoài quan  
hệ liên làng, còn có các mô hình chính trị - xã hội lớn hơn, ví dụ như mô  
hình “mường” ở người Thái và người Mường hoặc chế độ “quằng” ở người  
3
Tày. Đó là mối quan hệ siêu làng, là những hình thức sơ khai của nhà  
nước. Mỗi “mường” hay “quằng” được hình thành trên cơ sở của một vài  
chục làng bản, nhưng đều có phạm vi lãnh thổ và hệ thống luật tục riêng.  
Đứng đầu “mường” và “quằng” là các chúa đất thế tập và đồng thời cũng là  
‘chủ linh hồn’ của toàn vùng lãnh thổ. Thành phần cư dân trong các tổ chức  
siêu làng của người Mường khá thuần nhất; nhưng các “mường” của người  
Thái hay “quằng” của người Tày thường có thêm nhiều làng bản của một số  
tộc người thiểu số khác. Quan hệ làng, liên làng và siêu làng tạo nên môi  
trường dung dưỡng ý thức tự giác, lưu giữ và phát triển văn hóa tộc người.  
Trong cả hệ thống chính trị xã hội làng, liên làng và siêu làng, người già và  
những người hành nghề tôn giáo - những người có nhiều kiến thức về luật tục  
và tri thức địa phương về các mặt văn hóa, xã hội và đời sống kinh tế của  
cộng đồng - có vai trò quan trọng đặc biệt.  
Mặc dù các tộc người ở miền núi phía Bắc đều không có lãnh thổ riêng,  
nhưng mỗi làng bản truyền thống đều có một phạm vi cư trú được xác định -  
bao gồm đất ở, đất canh tác, các loại rừng/đất rừng và các nguồn nước. Chế  
độ sở hữu trong khuôn khổ làng bản là sự thống nhất của 2 mặt đối lập: Sở  
hữu cộng đồng đối với các nguồn lực tự nhiên và sở hữu tư nhân đối với  
thành quả lao động của mỗi gia đình. Luật tục của mọi tộc người đều quy  
định: Quyền sở hữu đối với các nguồn lực tự nhiên trong phạm vi lãnh thổ  
mỗi thôn làng bản luôn thuộc về tập thể cộng đồng. Để bảo vệ quyền sở hữu  
ấy, đã có những “thoả ước” trong phạm vi cộng đồng và kết quả của nó chính  
là các bộ luật tục và thông lệ xã hội được duy trì từ nhiều đời. Việc đảm bảo  
các quyền của mỗi thành viên trong công xã luôn được coi là một trong những  
tiêu chí đạo đức và chuẩn mực ứng xử xã hội. Để luật tục hay các thông lệ  
được duy trì và có hiệu lực cần thiết, các thiết chế tự quản được hình thành.  
Hoạt động của các thành viên trong thiết chế tự quản xưa không chỉ chịu sự  
giám sát của cộng đồng mà còn bị ràng buộc bởi nỗi ám ảnh về sự giám sát  
của thần linh, các thế lực siêu nhiên và mặc cảm đạo đức gắn với lòng tự  
4
trọng. Chính vì thế, mặc dù hoạt động phi lợi nhuận, nhưng các thành viên  
trong bộ máy tự quản làng bản xưa đều có ý thức trách nhiệm cao. Đối với  
mỗi người dân, ý thức về sự tuân thủ chặt chẽ luật tục và các thông lệ đã trở  
thành nếp sống tự giác. Trái với điều đó, người ta có thể bị cộng đồng ruồng  
bỏ và đó cũng là nỗi ám ảnh thường xuyên đối với mỗi người.  
Gắn với môi trường tự nhiên có tính đa dạng sinh học cao, từ lâu người  
dân các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã luôn duy trì các mô hình đa  
dạng sinh kế. Các nhóm tộc người sống ở vùng núi thấp hoặc ở các thung  
lũng chân núi (như Tày, Nùng, Thái, Mường, Sán Dìu) vừa làm ruộng  
nước/ruộng bậc thang, vừa tận dụng các mảnh nương trên các sườn đồi gần  
nơi cư trú để trồng trọt các loại nông sản ngoài lúa như chuối, bông, sắn, đu  
đủ, mía, ngô, khoai để bổ sung cho nền kinh tế tự cấp tự túc của gia đình.  
Trong khi đó, mô hình nông nghiệp chủ yếu của các nhóm dân tộc thiểu số  
sống tại các vùng cao (Hmông, Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, La Hủ, v.v...) là canh  
tác nương rẫy (gieo trỉa lúa nương và trồng các loại hoa màu). Với mô hình  
này, người dân phát hoang các mảnh nương trong phạm vi sở hữu của cộng  
đồng để trồng trọt trong vài năm. Sau đó, họ để hoang các mảnh nương cũ đã  
bạc màu khoảng từ 10 đến 20 năm đủ để đất phục hồi độ phì rồi quay lại  
canh tác tiếp. Nếu như ở các chân ruộng nước và ruộng bậc thang, lúa là cây  
trồng duy nhất thì trên các mảnh nương rẫy, đa canh và xen canh là mô hình  
trồng trọt phổ biến. Ngay tại các nương lúa, người dân cũng thường gieo thêm  
bầu, bí hoặc các loại dưa; phần đất bao quanh nương được trồng các loại hoa  
màu như ngô, khoai, rau và cây thuốc. Người dân thường giải thích rằng, bầu,  
bí hay dưa là những loại cây giữ hồn lúa, nếu không trồng xen, lúa sẽ không  
có bông. Nhưng dưới góc nhìn của các nhà nông học, các loại cây họ bầu  
được trồng xen lúa chính là nhằm mục đích giữ ẩm cho đất. Đó cũng là một  
kiến thức truyền thống cần được quan tâm trong bối cảnh ngày nay.  
Ngoài trồng trọt, các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc còn có nhiều  
hoạt động sinh kế bổ trợ khác như chăn nuôi, làm nghề thủ công gia đình, săn  
5
bắt hái lượm và trao đổi hàng hóa. Các loại gia súc, gia cầm được nuôi không  
chỉ để làm thức ăn hay như một hình thức tích lũy mà còn được dùng cho các  
hoạt động văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng của gia đình và cộng đồng. Tất cả các  
nghi lễ tín ngưỡng (theo chu kỳ mùa vụ, trong chu trình đời người như sinh  
đẻ/đặt tên con/cưới hỏi/ma chay, cầu an hay cúng bói chữa bệnh) đều có vật  
hiến sinh (lợn, gà, vịt hoặc trâu, bò, dê). Trong một số truyền thống văn hóa,  
vật nuôi trong gia đình, đặc biệt là gia súc lớn có sừng, còn được xem như là  
một tiêu chí để phân loại giàu nghèo giữa các gia đình. Các nghề thủ công gia  
đình truyền thống của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc chủ yếu chỉ  
phục vụ nhu cầu tự thân. Nhiều nghề trong đó phản ánh rất rõ tâm thức hướng  
rừng/gắn với rừng như nghề chế tác đồ gỗ, làm mây tre đan... Đặc biệt, kinh  
tế tự nhiên/săn bắt hái lượm trước đây có vai trò rất quan trọng đối với mỗi  
gia đình và cộng đồng. Người dân các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc  
không chỉ biết khai thác lâm/thổ sản từ rừng (gỗ để làm nhà, củi đun, rau  
xanh, thịt thú rừng, cây thuốc, v.v…) mà còn rất giỏi trong việc đánh bắt động  
vật thủy sinh phục vụ đời sống. Việc giao thương/trao đổi hàng hóa giữa các  
dân tộc hay khu vực đã xuất hiện từ rất sớm và đặc biệt phát triển mạnh ở  
vùng Đông Bắc. Hệ thống chợ vùng cao ở đây đến nay vẫn được xem là một  
sự độc đáo văn hóa.  
2. Các tỉnh thuộc Tây nguyên  
Tây Nguyên là vùng lãnh thổ nằm ở phía tây của Nam Trung Bộ, phía  
bắc giáp với miền núi tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp với miền núi các tỉnh  
duyên hải Nam Trung Bộ, phía Tây giáp với Lào, Campuchia và phía nam  
giáp với các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Ninh Thuận. Diện tích tự nhiên của  
Tây Nguyên là 5.465.960 ha, chiếm khoảng 1/6 diện tích tự nhiên của cả  
nước, bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng.  
Hiện nay, Tây Nguyên có dân số khoảng 5.000.000 người với hơn 40 nhóm  
dân tộc bao gồm cả người Kinh và các dân tộc khác như: Êđê, M'nông,  
Giarai, Bana, Xedang, Giẻ Triêng, Brâu, Romam, K'ho, Mạ, Churu, Thái,  
6
 
Tày, Nùng, vv... Hầu hết các nhóm dân tộc được coi là các cư dân bản địa của  
Tây Nguyên và họ hiện đang duy trì một số nền văn hóa riêng của họ, sự khác  
biệt và truyền thống đã có từ hàng ngàn năm từ thời tiền sử. Bộ phận dân tộc  
thiểu số lại chia thành hai bộ phận là dân tộc thiểu số mới đến hơn 30 dân tộc  
và dân tộc thiểu số tại chỗ hơn 10 dân tộc. Đáng chú ý trong đó là bộ phận các  
dân tộc thiểu số tại chỗ, gồm 4 ngôn ngữ Nam Đảo: Gia Rai; Ê Đê; CHu Ru;  
Raglai và 9 dân tộc nói ngôn ngữ Môn – Khơmer: Ba Na; Xơ Đăng; Giẻ  
Triêng; Brâu; Rơ Măm; Hơrê; Mạ; Mnông; Cơ Ho. Những dân tộc này sống  
xen kẽ với các dân tộc mới đến và người Kinh để tạo nên một khối đoàn kết  
với những nét văn hoá đặc sắc Tây Nguyên truyền thống: Văn hoá Cồng  
chiêng; các lễ hội truyền thống cùng với sự đa dạng của các công trình kiến  
trúc đáng kinh ngạc, từ nhà "Rông" của các dân tộc thiểu số, các chùa, đền  
thờ được thiết kế theo phong cách phương đông.  
3. Các tỉnh thuộc Tây Nam bộ.  
Tây Nam Bộ còn được gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 13  
tỉnh, thành phố là Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà  
Vinh, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và  
Cà Mau.  
Ở Tây Nam Bộ có nhiều đồng bào dân tộc cùng sinh sống với nhau:  
Người Kinh; Khmer; Hoa; Chăm; Nùng; Mường; Tày; Thái; Ấn Độ;… Trong  
đó chiếm phần đông đảo nhất là người Kinh, sau đó đến các dân tộc khác:  
Người Khmer; người Chăm; người Hoa. Trong khuôn khổ tài liệu này chúng  
tôi tập trung giới thiệu về người Khmer; người Chăm và người Hoa ở Tây  
Nam Bộ. Đây là các nhóm dân tộc thiểu số chiếm phần đông và đại diện đặc  
trưng cho vùng này.  
Tây Nam Bộ có vùng biển rộng tiếp giáp với các nước trong khối  
ASEAN, với hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ (trong đó 40 đảo có dân sinh sống); có  
17 huyện chạy ven biển Đông bao bọc cả vùng Tây Nam Bộ với 700 km bờ  
biển; có 339,6 km biên biới trên bộ tiếp giáp với Campuchia (phía Tây Nam)  
7
 
gồm 7 huyện là Đức Huệ, Mộc Hoá, Vĩnh Hưng, Tân Hồng, Hồng Ngự, An  
Phú, Tân Châu; có ba cửa khẩu quốc tế và bốn cửa khẩu quốc gia. Tây Nam  
Bộ còn có hải phận giáp với Thái Lan, Campuchia thuộc hai tỉnh Kiên Giang  
và Cà Mau.  
Đặc điểm tự nhiên nổi bật và ít có trên cả nước của Tây Nam Bộ là  
vùng có gần một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3 đến 4 tháng mỗi năm, vừa có  
mặt hạn chế đối với canh tác nông nghiệp, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống  
của dân cư nhưng đồng thời cũng tạo nhiều thuận lợi đối với việc khai thác  
nguồn lợi từ thuỷ sản, tăng độ phì nhiêu cho đất trồng trọt và làm sạch môi  
trường. Người Khmer đến định cư sớm nhất ở vùng châu thổ sông Cửu Long.  
Họ vốn là những người nông dân Khmer nghèo khổ đến đây làm ăn sinh sống  
để tránh sự áp bức, bóc lột của chế độ Ăng Co. Nhưng về sau, do nội chiến và  
sự giết chóc của quân Xiêm, những người di cư Khmer đến vùng đồng bằng  
châu thổ sông Cửu Long ngày càng đông hơn. Nét nổi bật văn hoá của người  
Khmer chính là chùa Khmer đây là điểm sinh hoạt văn hoá – xã hội của đồng  
bào. Trong mỗi chùa có nhiều sư (gọi là các ông lục), do sư cả đứng đầu.  
Thanh niên Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồi  
đức hạnh và kiến thức. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, tạo nên  
bản sắc dân tộc của mình trên một nền tảng văn hoá chung, một lịch sử chung  
của tất cả các dân tộc Việt Nam thống nhất. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với  
đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp.  
Đồng bào Khmer Nam Bộ có nhiều phong tục, tập quán và có nền văn  
hoá nghệ thuật rất độc đáo. Những chùa lớn thường có đội trống, kèn, đàn, đội  
ghe Ngo… Hàng năm người Khmer có nhiều ngày hội, ngày tết dân tộc, ngày  
lễ lớn như: Chôn chơ nam thơ mây (Lễ năm mới), lễ Phật đản, lễ Đôn ta (xá  
tội vong nhân), Oóc bom boóc (lễ cúng trăng). Người Khmer biết thâm canh  
lúa nước từ lâu đời. Họ thường cư trú ở những vùng có điều kiện địa lý - tự  
nhiên khó khăn, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.  
8
Người Chăm ở Tây Nam Bộ là một bộ phận của cộng đồng người  
Chăm từ miền Trung Bộ đến sinh sống tại đây. Vào thế kỷ XIV – XV, một bộ  
phận người Chăm ở Ninh Thuận di cư đi nhiều nơi, sau đó về tụ cư thành  
từng làng (Palay) dọc theo sông Hậu, trên các cù lao thuộc các huyện Phú  
Châu, Phú Tân, Châu Phú, tỉnh An Giang vào nửa đầu thế kỷ XIX.  
Về tôn giáo, nhóm cộng đồng Chăm cùng theo đạo Hồi (Islam), một  
tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào Nam Bộ. Đa số người Chăm sống ở An  
Giang, nhóm sống ở Tân Châu (An Giang) và nhóm sống ở Tây Ninh đều cư  
trú giáp biên giới. Trung tâm văn hoá của cộng đồng người Chăm là các thánh  
đường, nơi sinh hoạt tín ngưỡng Islam của cộng đồng. Ở Nam Bộ, số người  
Chăm tuy không đông, nhưng sự hiện diện của những masjid (tiểu thánh  
đường) với lối kiến trúc đặc trưng, bề thế, uy nghi đã thể hiện tiềm lực tinh  
thần tín ngưỡng của cộng đồng người Chăm.  
Người Hoa ở Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 200.000 người,  
chiếm khoảng 1,24% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ và chiếm khoảng 23,2%  
dân số Hoa toàn quốc. Họ sống tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Bạc Liêu, Tiền  
Giang, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau…Trong khu vực Tây Nam Bộ, ngược  
lại với dân tộc Khmer sống tương đối cách biệt với dân tộc khác, người Hoa  
sống rất hoà đồng với các dân tộc khác nhằm mục đích làm ăn, mua bán.  
Người Hoa rất có ý thức và năng lực kinh doanh, thương mại, chịu khó, chí  
thú, có bí quyết làm ăn, ít quan tâm đến chính trị. Họ ít tham gia các hoạt  
động của cộng đồng chung, song tính cộng đồng trong nội bộ người Hoa lại  
rất cao. Các hội tương trợ của các dòng họ người Hoa liên kết lại thành các tổ  
chức chặt chẽ, có quy mô lớn và hoạt động rất hiệu quả. Về tôn giáo, ngoài tín  
ngưỡng thờ các vị thần khác nhau, người Hoa còn theo đạo Phật. Bên cạnh  
những nét đặc sắc trong phong tục tập quán, thể hiện qua thờ tự, qua nghi  
thức hành lễ, tín đồ người Hoa cũng lập Hội Phật học lấy tên là Minh nguyệt  
cư sĩ Lâm Phật học hội. Tổ chức này có mặt tại nhiều tỉnh đồng bằng sông  
Cửu Long như tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp… Đây  
9
là hình thức tương trợ trong cộng đồng người Hoa, giúp cầu cúng, viếng thăm  
những gia đình Hoa có tang lễ hay gặp khó khăn trong cuộc sống.  
Các hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại nhiều tỉnh ở  
đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần thúc đẩy giao lưu văn hoá mạnh mẽ  
với các nước Châu á trong khu vực qua việc đưa về Việt Nam nhiều tượng  
Phật từ các nước, các văn hoá phẩm, pháp khí, kinh tạng từ Trung Quốc,  
Myanma…  
4. Các tỉnh Duyên hải miền Trung  
Vùng duyên hải miền Trung gồm 6 tỉnh: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,  
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và thành phố Đà Nẵng trực  
thuộc trung ương. Diện tích tự nhiên toàn vùng khoảng 38.236,42 km2; dân  
số toàn vùng là 8.186.871 người, mật độ trung bình 214 người/km2 (số liệu  
thống kê năm 2010). Phần lớn dân cư trong vùng sinh sống chủ yếu ở vùng  
đồng bằng ven biển. Vùng miền núi ở phía tây của vùng là nơi sinh sống của  
các tộc người thiểu số, với mật độ dân cư thưa thớt hơn.  
Vùng duyên hải miền Trung có diện tích rừng chiếm tỷ lệ lớn ôm gọn  
mặt phía tây, nhiều nơi núi còn nhô ra sát biển bao lấy cả ba mặt đồng bằng,  
hoặc ngay giữa đồng bằng người ta thấy nổi lên những khối núi. Người dân  
bản địa sinh sống ở vùng đồi núi này là các tộc người thiểu số như Katu, Cor,  
Cadong, Raglai, Xêđăng, Giẻ - Triêng, Hrê, Bana, Chăm,… đồng bào dân tộc  
ở đây hoàn toàn quen thuộc và gắn bó với núi rừng. Họ biết cách chinh phục  
tự nhiên, khai thác những vùng đất bằng hoặc đất thung lũng phục vụ việc  
canh tác lúa nước, canh tác nương rẫy trồng lúa khô và các loại hoa màu khác.  
Đồng thời, họ sống cùng rừng nên biết cách trồng rừng, bảo vệ rừng và khai  
thác tài nguyên rừng, trong đó có những sản phẩm quý như trầm hương,  
những loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như quế…  
Một đặc trưng lớn nhất và cơ bản trong đời sống của người dân miền  
núi là nếp sống nương rẫy. Đây là nếp sống chủ đạo và bao trùm lên tất cả các  
tộc người trong Vùng. Về kinh tế, đó là truyền thống canh tác nương rẫy trên  
10  
 
vùng đất khô của sơn nguyên. Về xã hội, nếp sống nương rẫy duy trì các quan  
hệ cộng đồng công xã làng buôn, các quan hệ bình đẳng, dân chủ của xã hội  
nguyên thủy,... Có thể nói, toàn bộ đời sống vật chất cũng như đời sống tinh  
thần của dân tộc miền núi duyên hải miền Trung gắn bó với rừng núi và  
nương rẫy, từ tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, nghi lễ, đời sống tình cảm… Đó  
có thể được gọi chung là văn hóa rừng.  
Có thể nói, các tộc người cùng sinh sống trên vùng núi duyên hải miền  
Trung có những nét tương đồng và khá đặc trưng về quan niệm ứng xử giữa  
thế giới người sống và người chết, từ đó tạo nên cả một hệ thống những tập  
tục, nghi lễ, sinh hoạt văn hóa xung quanh thế giới người chết, tạo nên một  
hiện tượng văn hóa dân gian mang tính tổng thể - sinh hoạt nhà mồ. Từ đó, họ  
sáng tạo ra nghệ thuật trang trí nhà mồ, tượng nhà mồ, các nhạc cụ, bài hát,  
điệu múa dành riêng cho sinh hoạt lễ hội nhà mồ.  
III. Một số chính sách của nhà nước về nhóm dân tộc ít người  
Nước ta có 54 dân tộc anh em với hàng chục ngôn ngữ, khoảng 12 tôn  
giáo, trong đó có các tôn giáo lớn của thế giới: Đạo Phật, Thiên Chúa giáo,  
Cao Đài, Tin Lành, Hòa Hảo, đạo Hồi,…. Cùng với truyền thống yêu chuộng  
hòa bình của người dân Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước  
không xảy ra xung đột sắc tộc hoặc tôn giáo. Đảng và Nhà nước ta luôn coi  
trọng quyền của các nhóm thiểu số, cũng như việc tăng cường khối đoàn kết  
dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Cụ thể như: tại  
Điều 5, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu  
rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước thống nhất  
của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện  
chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi  
hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết,  
giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống  
và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển mọi  
mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc  
11  
 
thiểu số”. Đó chính là sự bình đẳng về mọi mặt trong việc thực hiện quyền  
phát triển của mỗi dân tộc như xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát  
triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói  
nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và  
truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.  
Thực hiện Đường lối của Đảng, Chính sách của Nhà nước, nhiều  
Chương trình mục tiêu quốc gia lớn, dành ưu tiên cho vùng đồng bào các dân  
tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa được triển khai và đã đem lại thành quả to lớn.  
Chương trình 134 hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở; Chương trình 135 phát triển kinh  
tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn, giúp đỡ đồng bào dân tộc ở vùng sâu,  
vùng xa; Nghị quyết 30a thực hiện giảm nghèo nhanh, bền vững cho 62 huyện  
nghèo trong toàn quốc, chủ yếu vẫn thuộc vùng đồng bào các dân tộc thiểu  
số là những ví dụ. Chỉ tính riêng Chương trình 135, sau 12 năm thực hiện  
(1999 - 2010), chương trình đã góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn  
miền núi, nhất là cơ sở hạ tầng thiết yếu. Theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc,  
thực hiện Chương trình này giai đoạn 2 (2006-2010), được triển khai tại 1.848  
xã thuộc 50 tỉnh, ngân sách Trung ương đầu tư lên tới 15.000 tỷ đồng, trong  
đó các tổ chức quốc tế hỗ trợ 350 triệu đô-la. Từ nguồn vốn trên, Chương  
trình đã xây dựng được gần 13.000 công trình hạ tầng thiết yếu như điện,  
đường, trường, trạm; hỗ trợ phát triển sản xuất cho 2,2 triệu hộ; đào tạo tập  
huấn nâng cao năng lực cho trên 460.000 cán bộ xã, thôn bản và hỗ trợ kinh  
phí cho gần 930.000 lượt học sinh con em các hộ nghèo... giảm tỷ lệ nghèo  
các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn từ 47,5% năm 2006 xuống còn 28,8% năm  
2010.  
Ngày 14/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số  
05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc. Nghị định này quy định  
các hoạt động về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng,  
đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc  
văn hóa của các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội  
12  
chủ nghĩa Việt Nam với một số chính sách cụ thể cho đồng bào dân tộc thiểu  
số như:  
1. Về Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực  
Kinh phí thực hiện các chính sách dân tộc từ nguồn ngân sách nhà nước  
theo quy định về phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành và các nguồn kinh  
phí hợp pháp khác để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu  
số, xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa vùng dân tộc với các vùng  
khác. Quy hoạch, đào Chính sách về giáo dụctạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý  
nguồn lao động là người dân tộc thiểu số tại chỗ, có chế độ đãi ngộ hợp lý.  
2. Về Chính sách đầu tư phát triển bền vững  
Đảm bảo việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng thiết  
yếu vùng dân tộc thiểu số; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của  
từng vùng, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tinh thần tự lực, tự cường  
của các dân tộc.  
Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp  
trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số; ưu tiên  
đặc biệt đối với dân tộc thiểu số rất ít người và vùng có điều kiện kinh tế - xã  
hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; chú trọng đào tạo nghề, sử dụng lao động  
là người tại chỗ, đảm bảo thu nhập ổn định, xây dựng cơ sở hạ tầng và các  
công trình phúc lợi công cộng khác. Khôi phục và phát triển các ngành nghề  
thủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, phù hợp với cơ chế  
kinh tế thị trường.  
Chủ đầu tư các dự án quy hoạch, xây dựng có ảnh hưởng tới đất đai,  
môi trường, sinh thái và cuộc sống của đồng bào các dân tộc, phải công bố  
công khai và lấy ý kiến của nhân dân nơi có công trình, dự án được quy  
hoạch, xây dựng; tổ chức tái định cư, tạo điều kiện để người dân đến nơi định  
cư mới có cuộc sống ổn định tốt hơn nơi ở cũ.  
Thực hiện các chương trình, đề án xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc  
làm, giải quyết cơ bản vấn đề vốn, đất ở, đất sản xuất, công cụ sản xuất cho  
13  
   
nông dân thiếu đất, nhà ở, nước sinh hoạt, hỗ trợ phát triển kinh tế, giao đất,  
giao rừng cho hộ gia đình ở vùng dân tộc thiểu số, chuyển dịch cơ cấu lao  
động, ngành nghề, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền  
vững.  
Tổ chức phòng, chống thiên tai và ứng cứu người dân ở vùng bị thiên  
tai, lũ lụt. Có chính sách hỗ trợ kịp thời những dân tộc thiểu số có khó khăn  
đặc biệt để ổn định và phát triển.  
3. Về chính sách phát triển giáo dục và đào tạo  
Phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số theo chương trình chung quốc  
gia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thù  
dân tộc.  
Phát triển trường mầm non, trường phổ thông, trường phổ thông dân  
tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung  
tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trường dự bị đại học; nghiên cứu  
hình thức đào tạo đa ngành bậc đại học cho con em các dân tộc thiểu số để  
đẩy nhanh việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.  
Quy định các điều kiện và biện pháp cụ thể, phù hợp để hỗ trợ cho học  
sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số; giải quyết chỗ ở, học bổng và cho  
vay vốn trong thời gian học tập phù hợp với ngành nghề đào tạo và địa bàn cư  
trú của sinh viên dân tộc thiểu số. Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số  
rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó  
khăn được miễn học phí ở tất cả các cấp học, ngành học. Đào tạo nguồn nhân  
lực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm  
từng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc  
tế. Quy định việc hỗ trợ giáo viên giảng dạy tại các vùng có điều kiện kinh tế  
- xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; đào tạo giáo viên là người dân tộc  
thiểu số và giáo viên dạy tiếng dân tộc.  
14  
 
Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc  
được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổ  
thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường  
xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyên  
nghiệp, cao đẳng và đại học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc.  
Chính quyền địa phương, nơi có con em dân tộc thiểu số thi đỗ vào  
Đại học, Cao đẳng và sinh viên được cử đi học hệ cử tuyển, có trách nhiệm  
tiếp nhận và phân công công tác phù hợp với ngành nghề đào tạo sau khi tốt  
nghiệp.  
4. Chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số  
Cán bộ người dân tộc thiểu số có năng lực và đủ tiêu chuẩn phù hợp  
quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ chủ chốt,  
cán bộ quản lý các cấp. Ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, nhất thiết  
phải có cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số.  
Đảm bảo tỷ lệ hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số, ưu tiên cán bộ nữ,  
cán bộ trẻ tham gia vào các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các  
cấp.Các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm quy hoạch, đào tạo, bồi  
dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.  
5.Chính sách đối với người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số  
Người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số được bồi dưỡng, tập huấn,  
được hưởng chế độ đãi ngộ và các ưu đãi khác để phát huy vai trò trong việc  
thực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn dân cư, phù hợp với điều kiện kinh tế -  
xã hội của địa phương.  
6.Chính sách bảo tồn và phát triển văn hoá  
Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá  
trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân  
tộc Việt Nam. Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có  
chữ viết. Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hoá truyền thống tốt  
đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật.  
15  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 151 trang baolam 26600 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Công tác xã hội với nhóm dân tộc ít người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_cong_tac_xa_hoi_voi_nhom_dan_toc_it_nguoi.pdf