Nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG  
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI  
ENHANCING THE EFFICIENCY OF RESOLVING TRADE DISPUTES BY TRADE  
PROPERTY  
Nguyễn Thị Hoài Thương  
Nghiên cứu sinh - ĐH Luật Huế  
Chu Thị Minh Thương  
Trường cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng  
Tóm tắt  
Hiện nay, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà các tranh chấp về kinh doanh, thương mại ngày  
càng nhiều và phức tạp, việc áp dụng phương thức nào nhằm mang lại hiệu quả cao trong việc giải quyết các  
tranh chấp đó thực sự là một vấn đề hết sức cần thiết. Trong đó, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương  
mại bằng trọng tài thương mại đang là một xu hướng được áp dụng nhiều và phổ biến trên toàn cầu nhờ tính ưu  
việt của nó. Bài viết được thực hiện nhằm xác định, phân tích và chỉ ra lợi thế trong việc giải quyết các tranh  
chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thường mại trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó, chỉ ra  
những thiếu sót, bất cập và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp  
kinh doanh thương mại bằng trọng tài thương mại.  
Từ khóa: Tranh chấp kinh doanh thương mại, trọng tài thương mại.  
Summary  
Currently, in the trend of international economic integration, when business and trade dispute are more  
complex, which methods to apply are highly effective in rosolving disputes. That is a really necessary problem.  
In particular, resolving business disputes, trade with commercial arbitration is a trend that is widely applied  
and popular globally thanks to its superiority. The paper is designed to identufy, analyze and poin out the  
advantages in resolving commercial business disputes by regular in the period of internatinal economic  
integration. From there, point out the shortcomings, inadequacies and propose solutions to improve the  
efficiency of resolving commercial busincess disputes by commercial arbitration.  
Key word: Commercial busincess disputes, commercial arbitration.  
1. Đặt vấn đề  
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc xảy ra các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại  
là điều không thể tránh khỏi. Hiện có rất nhiều phương pháp giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương  
mại nhưng phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đang được xem trọng trên  
trường quốc tế. Tuy nhiên, làm thế nào để sáng tỏ những lợi thế trong giải quyết tranh chấp thương  
mại bằng trọng tài thương mại và tận dụng hiệu quả hoạt động này tại Việt Nam đang là vấn đề đặt ra.  
2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài thương mại theo pháp luật Việt  
Nam  
Luật Thương mại năm 2005 đã tiếp cận hoạt động thương mại theo hướng mở rộng, bao gồm  
mọi hoạt động có mục đích sinh lợi; theo đó, Điều 3 khoản 1 đã quy định hoạt động thương mại: là  
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư và xúc tiến  
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.  
Theo quy định trên, có thể thấy các tranh chấp kinh doanh, thương mại có 3 đặc điểm chủ yếu:  
Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp thương mại là thương nhân; Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp  
thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật; Thứ ba, về các phương thức giải  
278  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
quyết tranh chấp thương mại bằng các phương thức: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và  
tòa án. Mỗi phương thức có sự khác nhau về bản chất pháp lý, nội dung của thủ tục và trình tự tiến  
hành. Các bên có quyền tự do lựa chọn phương thức phù hợp, phụ thuộc vào những ưu thế mà mỗi  
phương thức có thể mang lại, mức độ phù hợp của phương thức so với nội dung tính chất của tranh  
chấp và thiện chí của các bên.  
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là một hình thức giải quyết tranh chấp không  
thể thiếu trong quá trình phát triển của các quan hệ kinh tế - thương mại và đôi khi được các chủ thể ưa  
chuộng lựa chọn hơn so với Tòa án bởi tính linh hoạt và mềm dẻo của nó. Trong phương thức trọng tài  
sẽ có một Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là một bên trung gian, độc lập nhằm giải  
quyết các mâu thuẫn, tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các  
bên. Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này là có tính linh hoạt, tạo quyền chủ động cho  
các bên, tính nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài vào đảm  
bảo bí mật. Trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc án, quyết định trọng tài không  
được công bố công khai rộng rãi. Phán quyết của trọng tài có tính chất trung thẩm và đây là ưu thế  
vượt trội so với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải. Đồng thời phán quyết của  
trọng tài có tính chất bắt buộc thi hành đối với các bên.  
Để có thể được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các bên phải có thỏa thuận giải quyết tranh  
chấp bằng trọng tài. Thỏa thuận này có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Thỏa thuận  
trọng tài giữa các bên phải đảm bảo được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng  
hoặc trong thỏa thuận riêng, được xác lập dưới dạng văn bản và không rơi vào các trường hợp vô hiệu  
theo quy định của luật trọng tài thương mại.  
Thủ tục tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy tắc tố tụng của trung tâm  
trọng tài. Nguồn luật áp dụng đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được quy định  
như sau: Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết  
tranh chấp; Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu  
không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng  
trọng tài cho là phù hợp nhất; Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có  
quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc  
tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các  
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.  
Để có được phán quyết trọng tài thì Hội đồng trọng tài biểu quyết theo nguyên tắc đa số.  
Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số thì Chủ tịch Hội đồng trọng tài quyết định. Phán quyết  
trọng tài có giá trị chung thẩm, có hiệu lực từ ngày ban hành và không bị kháng cáo.  
3. Ưu điểm của giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài thương mại và  
thực tiễn tại Việt Nam  
Qua gần nửa thế kỷ hình thành, hoạt động của trọng tài thương mại đã được định hình và hoàn  
thiện ở Việt Nam. Thế nhưng, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có được sự hiểu biết tường tận và  
đánh giá đúng về tầm quan trọng của trọng tài thương mại.  
Xuất phát từ những nguyên tắc giải quyết tranh chấp của mình thì trọng tài thương mại thể hiện  
rất nhiều ưu điểm vượt trội, mang lại nhiều lợi ích cho các bên khi có tranh chấp trong hoạt động kinh  
doanh, thương mại, cụ thể như sau:  
Thứ nhất, khác với tố tụng tòa án được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự áp dụng để giải  
quyết tất cả các vụ việc trong lĩnh vực dân sự nói chung, thủ tục trọng tài áp dụng cho các tranh chấp  
trong hoạt động thương mại đơn giản hơn, các bên có thể chủ động về thời gian, địa điểm giải quyết  
tranh chấp giúp đẩy nhanh thời gian giải quyết tranh chấp; thủ tục trọng tài không trải qua nhiều cấp  
xét xử như ở toà án, cho nên hạn chế tốn kém về thời gian và tiền bạc cho doanh nghiệp.  
279  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Thứ hai, việc được quyền lựa chọn trọng tài viên giải quyết tranh chấp cho phép các bên lựa  
chọn được các chuyên gia có chuyên môn và kinh nghiệm thực tế về vấn đề tranh chấp, có uy tín trong  
ngành nghề trở thành trọng tài viên giải quyết tranh chấp của các bên, đảm bảo chất lượng giải quyết  
tranh chấp (tranh chấp bảo hiểm, tranh chấp về cổ phiếu, chứng khoán; tranh chấp xây dựng,…).  
Thứ ba, trọng tài tôn trọng tính bảo mật thông tin cho toàn bộ quá trình, phiên họp trọng tài  
cũng được thực hiện không công khai [khác với nguyên tắc Tòa án xét xử công khai trong tố tụng tòa  
án], nhờ đó, các bên trong tranh chấp có thể đảm bảo được uy tín của mình trên thương trường. Ngày  
nay, tính bảo mật ngày càng được doanh nghiệp chú ý trong bối cảnh các vấn đề tài chính của doanh  
hiện nay rất nhạy cảm với các thông tin liên quan tới doanh nghiệp (đặc biệt là với các công ty đã niêm  
yết trên sàn giao dịch chứng khoán).  
Thứ tư, thẩm quyền của hội đồng trọng tài được thiết lập dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận của các  
bên mà không phụ thuộc vào quyền lực nhà nước. Mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn [cho phép sử dụng tiếng  
nước ngoài, áp dụng luật nước ngoài,…] phù hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài.  
Thứ năm, phán quyết của trọng tài có đặc điểm giống như bản án của tòa án đó chính là mang  
tính chung thẩm và bắt buộc các bên phải thi hành. Nếu đem thi hành trong lãnh thổ Việt Nam, phán  
quyết trọng tài VIAC có thể được đưa thẳng tới cơ quan thi hành án (Cục thi hành án dân sự) để được  
cưỡng chế thi hành; phán quyết trọng tài VIAC cũng có thể được cho công nhận và thi hành tại hơn  
150 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên Công ước NewYork về công nhận và cho thi hành phán  
quyết trọng tài nước ngoài.  
Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài thương mại đã phổ biến ở hầu hết  
các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, do đặc thù của nền kinh tế, chính trị, xã hội nên hình thức này phát  
triển muộn hơn. Từ năm 1993 đến nay, trước sự đòi hỏi của thực tiễn, ngày 28/4/1993, Thủ tướng  
Chính phủ ra quyết định 204/1993/TTg về việc thành lập trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam  
(VIAC). VIAC được ghi nhận là tổ chức phi chính phủ được thành lập bên cạnh Phòng Thương mại và  
Công nghiệp Việt Nam, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế quốc  
tế như các hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư, du lịch, vận tải và bảo hiểm quốc tế,  
chuyển giao công nghệ, tín dụng và thanh toán quốc tế.  
Tại Việt Nam, trong những năm qua, số vụ tranh chấp thương mại được giải quyết bằng trọng  
tài mà tiêu biểu là tại VIAC liên tục tăng, từ 18 vụ/năm (giai đoạn 1993 – 2003) lên 42 vụ/năm (giai  
đoạn 2004 – 2010) đặc biệt lên đến 117 vụ/ năm (giai đoạn 2011- 2017). Đội ngũ trọng tài viên không  
ngừng được mở rộng và nâng cao về khả năng giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại. Sáu  
tháng đầu năm 2012, VIAC đã kết nạp thêm 37 trọng tài viên, trong đó có 12 trọng tài viên nước  
ngoài, nâng tổng số trọng tài viên của Trung tâm lên 151 người, tăng gần 30% so với năm 2009. Tuy  
nhiên, bức tranh về trọng tài thương mại tại Việt Nam vẫn chưa thật sự khởi sắc khi phương thức này  
chỉ giải quyết khoảng 11% tổng số tranh chấp thương mại. Số vụ tranh chấp mà VIAC thụ lý trong  
năm 2011 là 83, vẫn rất khiêm tốn nếu so với 188 vụ mà Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore  
(SIAC) giải quyết hay như Ủy ban trọng tài Bắc Kinh là 1.500 vụ.  
Nguyên nhân là do những quy định của pháp luật hiện hành còn nhiều thiếu sót, chồng chéo,  
chưa rõ ràng cụ thể. Luật trọng tài thương mại năm 2010 mặc dù đáp ứng phần nào yêu cầu thực tế  
song sau một thời gian đi vào hoạt động đã bộc lộ nhiều thiếu sót, bất hợp lý. Chưa kể, thói quen, tập  
quán của thương nhân Việt Nam tin tưởng tòa án hơn trọng tài. Hơn nữa, trình độ trọng tài viên ở Việt  
Nam đều là những người kiêm nhiệm trong lĩnh vực thương mại. Cho nên, một số trọng tài viên còn  
chưa chuyên nghiệp. Trong khi đó, các tranh chấp kinh doanh, thương mại ngày càng phức tạp, nhất là  
tranh chấp có yếu tố nước ngoài.  
4. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam trong  
thời kỳ hội nhập  
Hoạt động thương mại luôn ẩn chứa mâu thuẫn trong quá trình mua bán hàng hoá và cung ứng  
280  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
dịch vụ. Để đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lành mạnh của môi trường kinh doanh, cần kiến tạo  
một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án thích hợp, đó là trọng tài thương mại. Nhưng mô  
hình này chỉ có thể phát triển trong nền kinh tế thị trường. Ngược lại, sẽ không thể có nền kinh tế thị  
trường đúng nghĩa nếu không có hệ thống trọng tài độc lập. Hơn nữa, hoạt động trọng tài thương mại  
phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển của nền kinh tế. Đó là lý do trọng tài ở các nước có nền kinh  
tế khác nhau là khác nhau, thậm chí trong các giai đoạn phát triển của cùng một nền kinh tế thì hoạt  
động trọng tài cũng không giống nhau.  
Ở Việt Nam, mô hình này chỉ tồn tại từ khi thực hiện công cuộc đổi mới. Quá trình hội nhập  
kinh tế quốc tế là động lực quan trọng cho những cải cách về hành lang pháp lý, trong đó có quá trình  
hài hòa và quốc tế hoá pháp luật trọng tài thông qua việc tiếp nhận Luật Mẫu UNCITRAL. Pháp luật là  
yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, do vậy nó phải dựa trên những quy luật khách quan của quan hệ xã  
hội mà chúng hướng đến điều chỉnh. Quy luật về sự chi phối của trình độ tổ chức kinh tế đối với sự  
phát triển của pháp luật nói chung và pháp luật trọng tài nói riêng là chìa khoá giúp chúng ta đề ra  
những giải pháp đúng đắn trong việc phát triển mô hình trọng tài thương mại tại Việt Nam.  
Bên cạnh việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh và khuyến khích sự phát  
triển của trọng tài thương mại, Nhà nước cũng cần có hành động cụ thể nhằm hỗ trợ cơ chế tài phán này.  
Tiêu biểu như ở Trung Quốc, các Uỷ ban trọng tài được cung cấp trụ sở cùng phương tiện làm việc trong  
thời gian đầu trước khi tự hoạt động. Nhiều nước châu Á khác như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,  
Philippines cũng hỗ trợ hoạt động trọng tài khá hiệu quả. Ngoài ra, Nhà nước cũng có thể giúp các trung  
tâm trọng tài giảm nhẹ gánh nặng tài chính bằng cách miễn thuế cho họ. Trong quá trình giải quyết tranh  
chấp, trọng tài cũng rất cần đến cơ chế phối hợp từ các cơ quan nhà nước, mà trực tiếp là hệ thống toà án,  
đặc biệt trong việc cưỡng chế thi hành phán quyết cũng như công nhận và cho thi hành phán quyết của  
trọng tài nước ngoài. Mức độ hỗ trợ của Nhà nước đối với trọng tài là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự  
phát triển của mô hình này. Vì vậy, ngoài việc xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp, cần có những chính  
sách cụ thể nhằm khuyến khích và thúc đẩy quá trình hoạt động của trọng tài.  
Hiệu quả hoạt động của trọng tài còn phụ thuộc vào thái độ của các chủ thể kinh doanh. Kinh  
nghiệm của Hoa Kỳ về vấn đề này là bài học quý báu dành cho Việt Nam. Những buổi tiệc danh dự,  
hàng trăm nghìn xuất bản phẩm cùng hàng nghìn buổi hội thảo và đặc biệt là “Tuần trọng tài” được tổ  
chức năm 1923 đã kết nối chặt chẽ trọng tài với doanh nhân. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp  
luật trọng tài cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ chắc chắn sẽ khiến doanh nghiệp am hiểu sâu sắc  
hơn bản chất và ưu thế của trọng tài thương mại, từ đó tạo điều kiện cho cơ chế này ngày một phát triển.  
Muốn khẳng định năng lực và tạo niềm tin cho khách hàng, mỗi trung tâm trọng tài phải không  
ngừng bồi dưỡng đội ngũ trọng tài viên, không chỉ về số lượng mà cả chất lượng. Ngoài ra, dựa trên  
kinh nghiệm của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ, cơ sở pháp lý của Luật Trọng tài thương mại 2010 và  
pháp luật về hội nghề nghiệp, Hiệp hội Trọng tài Thương mại Việt Nam sẽ sớm được thành lập, hỗ trợ  
sự phát triển của trọng tài thương mại tại Việt Nam.  
Công tác nghiên cứu và giảng dạy pháp luật trọng tài là nhân tố bảo đảm cho sự phát triển bền  
vững của mô hình này. Vì thế, cần bồi dưỡng năng lực cũng như định hướng cho sinh viên, đặc biệt là  
sinh viên luật và kinh tế, về những vấn đề cơ bản trong pháp luật trọng tài.  
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng nên có các chính sách nhằm tạo điều kiện và khuyến khích sự  
tham gia của các trọng tài viên nước ngoài và luật sư nước ngoài trong tố tụng trọng tài như: ban hành  
văn bản chính thức cho phép luật sư nước ngoài được tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa,  
người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương  
sự tại trọng tài. Các trung tâm trọng tài cũng cần tích cực hơn nữa tuyên truyền và quảng bá hình ảnh  
trung tâm của mình, tích cực tham gia các diễn đàn chuyên môn quốc tế, chủ động liên lạc với các  
trọng tài viên nước ngoài có danh tiếng để mời họ tham gia danh sách trọng tài viên của trung tâm.  
Đây là điều cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của trọng tài trong nước, tạo môi trường cạnh tranh và  
giúp cho các trọng tài viên và luật sư học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp nước ngoài.  
281  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Hiện nay, một số trung tâm trọng tài quốc tế danh tiếng trong khu vực như Trung tâm trọng tài  
quốc tế Hồng Kông (HKIAC) và Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore (SIAC) đều cho phép công  
khai một phần, trích dẫn hoặc tóm tắt của phán quyết trọng tài đã lược bỏ tên của các bên tranh chấp  
nếu không có bên nào phản đối. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng xét xử tại các trung tâm trọng  
tài, tạo điều kiện để các trọng tài viên học hỏi lẫn nhau và phục vụ cho mục đích nghiên cứu các vấn  
đề pháp lý có liên quan. Hơn nữa, việc lược bỏ thông tin cá nhân của các bên tranh chấp và vẫn tôn  
trọng quyền quyết định của các bên về việc có công bố phán quyết trọng tài hay không sẽ vẫn đảm bảo  
được nguyên tắc về tính bảo mật của trọng tài quy định tại Điều 4.4 của Luật trọng tài thương mại. Do  
đó, các trung tâm trọng tài có thể cân nhắc để cho phép việc công bố một phần hoặc đầy đủ phán quyết  
trọng tài hoặc tóm tắt phán quyết với một số điều kiện nhất định như đã nêu trên.  
Ngoài việc khắc phục hạn chế cố hữu của các trung tâm trọng tài Việt Nam về cơ sở vật chất và  
trình độ của đội ngũ trọng tài viên thì các trung tâm trọng tài nên đổi mới bộ máy tổ chức theo hướng  
tăng cường năng lực quản trị, thu hút sự tham gia của các chuyên gia trọng tài hàng đầu của Việt Nam  
và quốc tế vào việc thực hiện: các chức năng tố tụng trọng tài theo luật định (chỉ định Trọng tài viên,  
thành lập hội đồng trọng tài, vv.) cũng như chức năng tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, phát triển thị  
trường, vv. của một tổ chức cung cấp dịch vụ tài phán tư.  
Các trung tâm trọng tài Việt Nam cũng cần chủ động hơn nữa trong việc quảng bá hình ảnh của  
mình đối với các doanh nghiệp trong nước cũng như thị trường quốc tế thông qua việc tổ chức các  
buổi hội thảo, tọa đàm, tuần lễ trọng tài, công bố các số liệu về giải quyết tranh chấp tại trung tâm,  
minh bạch về chức năng và nhiệm vụ của các phòng, ban, bộ phận chuyên trách của trung tâm.  
5. Kết luận  
Trên đây là một số phân tích về thực trạng sử dụng trọng tài thương mại để giải quyết tranh  
chấp kinh doanh, thương mại tại Việt Nam và một số đề xuất để nâng cao sức hấp dẫn của trọng tài  
thương mại trong tương lai. Nhìn lại chặng đường phát triển của trọng tài thương mại tại Việt Nam  
trong những năm qua có thể thấy Bộ tư pháp, Tòa án nhân dân, các cơ quan thi hành án, trung tâm  
trọng tài, đội ngũ trọng tài viên, luật sư, học giả đã có những nỗ lực đáng kể để đặt một nền tảng vững  
chắc cho sự phát triển của trọng tài thương mại tại Việt Nam. Dựa trên những nền tảng đó, có thể hoàn  
toàn tin tưởng rằng quá trình khắc phục những tồn tại cũng như duy trì thành tựu đạt được sẽ sớm gặt  
hái được những kết quả tốt nhất.  
TAI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải (2011), Pháp Luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, Nxb. Chính trị quốc gia.  
2. Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải (2010), Tuyền tập các bản án, Quyết định của òa án Việt Nam về Trọng tài  
thương mại, Nxb. Lao động.  
3. Nhà Pháp luật Việt – Pháp (2010), Tuyển tập một số văn bản về trọng tài và hòa giải thương mại, NXB Từ  
điển Bách khoa.  
4. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Thương mại, Hà Nội.  
5. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Trọng tài thương mại, Hà Nội.  
6. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2010),  
các Quyết định Trọng tài Quốc tế chọn lọc, NXB. Tư pháp.  
7. VIAC và VCCI, Hỏi đáp về luật Trọng tài thương mại (2010)  
282  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH CÀ PHÊ Ở TÂY NGUYÊN DƯỚI TÁC ĐỘNG  
CỦA CPTPP  
COFFEE BUSINESS ENTERPRISES IN TAY NGUYEN UNDER THE IMPACTS OF  
COMPREHENSIVE AND PROGRESSIVE AGREEMENT FOR TRANS – PACIFIC  
PARTNERSHIP (CPTPP)  
TS. Nguyễn Văn Đạt  
Khoa Kinh tế - Trường Đại học Tây Nguyên  
Tóm tắt  
Hiệp định Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and  
Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP) mở ra một sân chơi mới với quy mô thị trường  
chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu dân. CPTPP chắc chắn sẽ mang lại  
cơ hội cho doanh nghiệp nào chủ động đáp ứng với những thay đổi về môi trường kinh doanh do quá trình hội  
nhập kinh tế quốc tế mang lại nhằm thúc đẩy dòng chảy của hàng hóa vào các thị trường đối tác tiềm năng. Tuy  
nhiên, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp kinh doanh cà phê ở Tây Nguyên vẫn chưa  
chủ động tìm hiểu thông tin, do đó thông tin về các thị trường tiềm năng còn mù mờ. Dự báo trong bối cảnh các  
điều kiện kinh tế căn bản được giữ nguyên, xuất khẩu của Việt Nam có thể sẽ tăng thêm 4,2%, mức tăng xuất  
khẩu sẽ là 6,9% vào năm 2030, xuất khẩu của Việt Nam sang các nước CPTPP sẽ tăng từ 54 tỷ  
̉ đô-la Mỹ lên 80  
tỷ đô-la Mỹ, chiếm 25% tổng lượng xuất khẩu. Do vậy, để tận dụng tốt các cơ hội do thị trường này mang  
̉
lại, các doanh nghiệp cần thay đổi tư duy kinh doanh trong bối cảnh mới, lấy sức ép về cạnh tranh là động lực  
để đổi mới và phát triển, làm được điều này cũng chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp kinh doanh cà phê ở  
Tây Nguyên tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.  
Từ khóa: Doanh nghiệp, Cà phê, Tây Nguyên, CPTPP  
Summary  
The Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP opens a new  
playing field with a market size of about 13.5% of global GDP and covering a market of nearly 500 million  
people. The CPTPP will certainly bring opportunities for enterprises to proactively respond to changes in the  
business environment brought about by the process of international economic integration in order to promote the  
flow of goods into the potential of partner markets. However, most Vietnamese enterprises and coffee businesses  
have not actively sought information. The firms is lack of information related to the potential markets. Forecasting  
in the context of the basic economic conditions remaining unchanged, Vietnam's exports may increase by 4.2%,  
export sector will be increased with 6.9% in 2030, Vietnam's exports to CPTPP countries will increase from USD  
54 billion to USD 80 billion, accounting for 25% of total exports. Therefore, in order to make good use of the  
opportunities provided by this market, businesses need to change their business thinking in a new context, taking  
competitive pressure as a driving force for innovation and development. This is also a good opportunity for coffee  
business enterprises to participate in deeply the regional and global supply chains.  
Key words: Enterprise, Coffee, Tay Nguyen, CPTPP  
1. Mở đầu  
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and  
Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP), gồm 11 nước thành viên là: Australia,  
Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam.  
CPTPP là một thị trường lớn với tổng dân số khoảng 500 triệu người, tổng giá trị GDP năm 2018 là 11  
nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 13% GDP và 14% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu. Ngày  
14/1/2019, CPTPP đã chính thức có hiệu lực với Việt Nam - thành viên thứ 7 của Hiệp định. CPTPP  
cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với hàng hóa của Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực khoảng  
78 - 95% số dòng thuế và cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100% số dòng thuế nhập khẩu đối với  
283  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, tùy theo cam kết của từng nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống  
kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) giữa Việt Nam và các thành viên trong Hiệp định này đạt  
74,478 tỷ USD, chiếm 15,5% tổng kim ngạch XNK cả nước năm 2018 (cả nước 480,17 tỷ USD).  
Trong đó, Việt Nam xuất siêu sang 5 thị trường gồm: Canada, Chilê, Mexico, Australia và Peru. Là  
một Hiệp định tự do thương mại thế hệ mới, CPTPP được dự báo sẽ có tác động toàn diện đến các hoạt  
động kinh tế, xã hội của Việt Nam, trong đó nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng và được dự báo  
chịu tác động lớn cả tích cực và tiêu cực.  
Vì vậy, các doanh nghiệp của chúng ta nói chung và doanh nghiệp cà phê ở Tây Nguyên phải  
nhận thức được thuận lợi, cơ hội, cũng như khó khăn, thách thức, nhất là lĩnh vực thương mại nông sản  
khi Việt Nam ngày càng đi sâu vào CPTPP để vượt qua khó khăn, thách thức, giành được những thắng  
lợi to lớn trong hiện tại và tương lai.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Tổng quan về Hiệp định CPTPP  
Hiệp định CPTPP gồm 07 Điều và 01 Phụ lục quy định về mối quan hệ với Hiệp định Đối tác  
xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được 12 nước gồm Australia, Brunay, Đa-rút-xa-lam, Canada, Chi  
Lê, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Malayxia, Mehico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam ký ngày 04  
tháng 2 năm 2016 tại New Zealand; cũng như xử lý các vấn đề khác liên quan đến tính hiệu lực, rút  
khỏi hay gia nhập Hiệp định CPTPP.  
Nội dung cam kết chính của Hiệp địnhCPTPP  
Cam kết về cắt giảm thuế quan: Các nước CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100%  
số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, tùy theo cam kết của từng nước.  
Cam kết về dịch vụ và đầu tư: Đối với lĩnh vực dịch vụ - đầu tư, các nước CPTPP áp dụng cách  
tiếp cận chọn - bỏ và cơ chế “chỉ tiến không lùi-ratchet”.  
Cam kết về mua sắm của Chính phủ: Các nước thống nhất một bộ quy tắc khá toàn diện về đấu  
thầu mua sắm của các cơ quan Chính phủ.  
Cam kết về lao động: Về cơ bản, Hiệp định CPTPP không đưa ra tiêu chuẩn riêng về lao động  
mà chỉ khẳng định lại các tiêu chuẩn lao động được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao  
động quốc tế (ILO) mà tất cả các nước thành viên CPTPP đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực  
thi với tư cách thành viên ILO.  
Cam kết về sở hữu trí tuệ: Hiệp định CPTPP khẳng định lại rõ ràng các nguyên tắc quan trọng  
của Hiệp định TRIPS, như mục tiêu bảo hộ nhằm tạo ra và phổ biến công nghệ, quyền bảo vệ lợi ích  
sống còn về sức khỏe và dinh dưỡng của nhân dân.  
Cam kết về doanh nghiệp Nhà nước: Các nghĩa vụ chính theo Hiệp định bao gồm: Các doanh  
nghiệp Nhà nước (DNNN) phải hoạt động theo cơ chế thị trường; Các DNNN không được có hành vi  
phản cạnh tranh khi có vị trí độc quyền, gây ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư;  
2.2. Tác động của hiệp định và các văn kiện liên quan  
Các mặt thuận lợi và cơ hội về kinh tế: Cơ hội về xuất khẩu, tham gia chuỗi cung ứng khu vực  
và toàn cầu, cải cách thể chế, tạo việc làm và thu nhập.  
Các thách thức đặt ra: các Thách thức về kinh tế, xã hội, vấn đề hoàn thiện khung khổ pháp luật,  
thể chế và thu ngân sách bởi việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết sẽ làm giảm thu ngân sách.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
Thông tin và dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, từ các cơ quan Ban,  
Ngành của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hiệp hội cà phê Ca cao Việt Nam, Báo cáo của  
UBND tỉnh các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên, Báo cáo của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.  
284  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá tác động của Hiệp định đối với  
các dn cà phê ở khu vực Tây Nguyên khi tham gia vào thị trường thế giới.  
Số liệu sau khi thu thập được tiến hành kiểm tra, đánh giá, sau đó sử dụng phần mềm Microsoft  
Excel để xử lý.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Những khó khăn thách thức tác động từ CPTPP  
Theo tổ chức cà phê quốc tế (ICO), sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2017 – 2018 đạt 163,51  
triệu bao, tăng 4,8% so với niên vụ trước, trong đó Arabica tăng 1,7% lên 101,23 triệu bao và Robusta  
tăng 10,5% lên 62,28% triệu bao. Theo ICO, Robusta tăng là do sản lượng cà phê của Việt Nam tăng  
16,1% lên 28,03 triệu bao, còn sản lượng cà phê của Brazil đạt 57,69 triệu bao, bao gồm 44,23 triệu  
bao Arabica và 13,46 triệu bao Robusta, Columbia giảm 4,3% với 14 triệu bao do thời tiết không thuận  
lợi, Ethiopia tăng 4,8% lên 7,65 triệu bao, Peru tăng 0,8% đạt 4,29 triệu bao.  
Bảng 1: Cán cân cung cầu cà phê thế giới  
Đơn vị tính: triệu bao  
Chỉ tiêu  
Niên vụ 2016 - 2017  
155,96  
99,59  
Niên vụ 2016 - 2017  
163,51  
So sánh  
Sản lượng  
Arabica  
4,8  
1,7  
10,5  
3,4  
8,3  
4,3  
3,3  
1,8  
1,6  
1,9  
1,7  
3,1  
1,7  
0,5  
2,6  
1,8  
101,23  
62,28  
17,25  
47,95  
21,34  
76,98  
161,93  
50,55  
111,38  
11,08  
35,90  
5,30  
Robusta  
56,37  
Châu phi  
16,69  
Châu Á và Châu Đại Dương  
Mehyco và Trung Mỹ  
Nam Mỹ  
44,29  
20,47  
74,52  
Tiêu thụ  
159,08  
49,73  
Các nước xuất khẩu  
Các nước nhập khẩu  
Châu Phi  
109,33  
10,90  
Châu Á và Châu Đại Dương  
Mehyco và Trung Mỹ  
Châu Âu  
34,81  
5,21  
52,07  
52,32  
30,34  
26,97  
1,58  
Bắc Mỹ  
29,56  
Nam Mỹ  
26,51  
Thiếu/thừa  
-3,12  
Nguồn: Tổ chức cà phê quốc tế - ICO  
Còn ở Việt Nam hiện nay, vấn đề đầu ra cho sản phẩm cà phê đang là một khó khăn rất lớn cho  
sản xuất nông nghiệp, với việc thường xuyên xảy ra hiện tượng được mùa thì rớt giá, được giá thì mất  
mùa.  
Cùng với đó, những rào cản về kỹ thuật là khó khăn lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam khi  
hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt tiêu chuẩn quốc tế khoảng 5%; thị trường xuất khẩu  
nông sản chủ yếu tập trung vào các nước trong khu vực và luôn chịu sự cạnh tranh bởi các nước Thái  
Lan, Ấn Độ, Indonesia… cũng có những mặt hàng tương tự.  
Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam chưa chủ động tìm hiểu thông tin, do đó thông tin về các  
thị trường tiềm năng còn mù mờ, là yếu tố cản trở khi hội nhập.  
Do hoạt động sơ chế, chế biến, kênh tiêu thụ sản phẩm, tiêu dùng nông sản Việt Nam vẫn chủ  
yếu theo phương thức truyền thống nên chủng loại sản phẩm chưa đa dạng, thiếu nhãn mác để nhận  
285  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
diện sản phẩm. Các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam có sức cạnh tranh kém, chưa có thương  
hiệu trên thị trường quốc tế, chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô nên giá trị gia tăng không nhiều và  
thường có giá trị xuất khẩu không cao. Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm nông nghiệp còn thấp và an  
toàn thực phẩm chưa được kiểm soát triệt để, giá cả bấp bênh, sản xuất kém hiệu quả, thiếu ổn định  
bền vững.  
Bảng 2: Tình hình xuất khẩu cà phê thế giới  
Đơn vị tính: triệu bao  
Loại cà phê  
Arabica  
Niên vụ 2016- 2017  
76,08  
Niên vụ 2017- 2018  
76,66  
So sánh (%)  
0,8  
4,1  
2,0  
Robusta  
43,44  
45,20  
Tổng cộng  
119,52  
121,86  
Nguồn: Tổ chức cà phê quốc tế - ICO  
Việc hỗ trợ kết nối hình thành chuỗi liên kết sản xuất - phân phối các sản phẩm nông nghiệp  
chủ lực vẫn còn gặp nhiều khó khăn do người sản xuất chưa bảo đảm các tiêu chuẩn về mẫu mã, bao bì  
sản phẩm, giấy chứng nhận và chất lượng cho nên khó đáp ứng nhu cầu thu mua của các nhà phân  
phối. Mối liên kết trong việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, sản xuất thu mua, chế biến, tiêu thụ,  
phân phối hiệu quả chưa chặt, còn lỏng lẻo và bất cập. Việc kết nối các khâu của chuỗi, giữa cơ sở sản  
xuất với cơ sở kinh doanh còn lỏng lẽo, chưa ký kết được những hợp đồng ổn định lâu dài, hay có kế  
hoạch và chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp.  
Theo ICO cho biết niên vụ 2017 – 2018 tổng cộng xuất khẩu được 121,86 triệu bao, tăng 2% so  
với vụ trước, trong đó Arabica tăng 0,8% đạt 76,66 triệu bao còn Robusta tăng 4,1% đạt 45,2 triệu bao.  
Khi Việt Nam đã tham gia vào “sân chơi” CP TPP thì các Doanh nghiệp Việt Nam cần tuân thủ  
nghiêm các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường trong khối nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đẩy  
mạnh việc xuất khẩu sang các nước thành viên CPTPP và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm. Sản  
phẩm cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam còn phải đối diện với sức ép cạnh tranh tại “sân nhà” đến  
từ việc hàng hóa các nước CPTPP tràn vào thị trường trong nước. Sức ép từ hai phía sẽ tạo động lực  
cho doanh nghiệp Việt Nam cải cách mô hình kinh doanh, đầu tư hơn vào dây chuyền sản xuất và  
nguồn lực lao động.  
Bên cạnh sức ép trực tiếp đến từ cạnh tranh, ngành cà phê của Tây Nguyên nói riêng sẽ hấp thụ  
được khoa học kỹ thuật mới thông qua hoạt động đầu tư xuyên quốc gia đi kèm với khoa học công  
nghệ và nâng cao trình độ kỹ năng lao động, từ đó thay đổi được cách làm truyền thống, nâng cao hiệu  
quả sản xuất và chất lượng của sản phẩm.  
Tuy nhiên, khi hàng rào thuế quan được xóa bỏ thì hàng rào kỹ thuật sẽ nghiêm ngặt và khắt  
khe hơn. Bởi, CPTPP được ghi nhận là Hiệp định có tiêu chuẩn cao, toàn diện và cân bằng nhất trong  
lĩnh vực nông nghiệp, do đó yêu cầu đặt ra là phải nâng cao canh tác nông nghiệp, hàng hóa đạt chuẩn  
quốc tế.  
Trên thực tế, hiện tỷ lệ xuất khẩu cà phê thô còn cao, chất lượng còn thấp, cách thức tổ chức  
sản xuất cà phê theo chuỗi giá trị còn sơ sài, liên thông giữa thị trường trong nước và thị trường thế  
giới còn gặp nhiều rào cản… Đây chính là những cản trở sự gia tăng về số doanh nghiệp Việt Nam có  
thể xuất khẩu ra thị trường thế giới, nhất là các thị trường lớn, yêu cầu chất lượng cao.  
Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê của Tây Nguyên niên vụ 2017 - 2018  
STT  
Các tỉnh  
Kon Tum  
Gia lai  
Đắk Lắk  
Đắk Nông  
Diện tích cho sản phẩm (ha) Năng suât (tạ/ha)  
Sản lượng (tấn)  
39.943  
1
2
3
4
14.220  
78.763  
28,1  
27,6  
23,9  
23,7  
217.380  
450.948  
267.282  
189.039  
112.600  
286  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
150.776 29,2  
5
Lâm Đồng  
439.613  
Nguồn: Bộ Nông nghiệp & PTNT  
Vì vậy, CPTPP đặt ra không ít thách thức đối với sản xuất tiêu thụ, phân phối cà phê Việt Nam.  
Thực tế cho thấy sản lượng cà phê của chúng ta trong những năm qua đang phát triển mạnh mẽ và đạt  
được nhiều thành tựu rất đáng tự hào nhưng chất lượng vẫn còn nhiều hạn chế, thậm chí là yếu kém.  
Cụ thể, theo báo cáo dữ liệu sơ bộ của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, xuất khẩu cà phê trong tháng 11  
đã đạt 112.891 tấn (tương đương bao, bao 60 kg), tuy tăng 25.394 tấn, tức tăng 29,02 % so với tháng  
trước nhưng lại giảm 26.419 tấn, tức giảm 18,96 % so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế xuất khẩu cà phê  
trong 11 tháng đầu năm 2019 đạt tổng cộng 1.465.731 tấn (khoảng 24,42 triệu bao), giảm 14,96% so  
với xuất khẩu 11 tháng đầu năm 2018. Giá trị kim ngạch xuất khẩu trong kỳ đạt 196,25 triệu USD,  
tăng 38,69 triệu USD, tức tăng 24,55% so với tháng trước nhưng lại giảm 63,88 triệu USD, tức giảm  
24,56% so với giá trị kim ngạch xuất khẩu cùng kỳ năm trước. Giá cà phê bình quân xuất khẩu trong  
tháng 11 đạt 1.738 USD/tấn, giảm 3,44 % so với giá bình quân xuất khẩu của tháng 10/2019. Trong 2  
tháng đầu niên vụ cà phê hiện tại 2019/2020, Việt Nam đã xuất khẩu tổng cộng 353.816 tấn (khoảng  
3,4 triệu bao), với tổng giá trị kim ngạch đạt 353,82 triệu USD, giảm 27,77% về lượng và giảm 30,8%  
về giá trị so với xuất khẩu 2 tháng đầu niên vụ cà phê 2018/2019.  
Việc thu hái cà phê quả tươi đạt tiêu chuẩn TCVN 9728 – 2012 chưa được chú trọng, nhiêu nơi  
vẫn hái tuốt cành tổn thất cả sản lượng và chất lượng hạt cà phê.  
3.2. Những cơ hội mở ra cho doanh nghiệp cà phê ở Tây Nguyên  
Hiệp định CPTPP mở ra một sân chơi mới với quy mô thị trường chiếm khoảng 13,5% GDP  
toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu dân.  
Việc ký kết các hiệp định này được đánh giá sẽ mở ra cơ hội to lớn cho thị trường xuất khẩu  
nông, lâm, thủy sản có giá trị 43 tỷ USD của Việt Nam. Thông qua hai hiệp định này, các mặt hàng nông  
sản của Việt Nam sẽ có cơ hội được tiếp cận tới 37 thị trường lớn, với quy mô dân số hơn 1 tỷ người.  
Cơ hội về xuất khẩu  
Việc các nước, trong đó có các thị trường lớn như Nhật Bản và Canada giảm thuế nhập khẩu về  
0% cho hàng hóa của ta sẽ tạo ra những tác động tích cực trong việc thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu.  
Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các nước thành viên Hiệp  
định CPTPP sẽ được hưởng cam kết cắt giảm thuế quan rất ưu đãi như cam kết cắt giảm thuế ngay của  
Ốt-xtrây-lia lên đến 93% số dòng thuế (tương đương 95,8% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang  
thị trường này khoảng 2,9 tỷ USD); cam kết cắt giảm thuế ngay của Canada lên đến 94,9% số dòng  
thuế (tương đương 77,9% kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam (khoảng 0,88 tỷ USD); cam kết cắt giảm  
thuế tốt hơn nhiều của Nhật Bản so với trong Hiệp định FTA song phương giữa 2 nước (như cam kết  
xóa bỏ ngay 86% số dòng thuế, tương đương 93,6% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật  
Bản, khoảng 10,5 tỷ USD)…  
Về cơ bản, các mặt hàng cà phê xuất khẩu đều được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu  
lực. Xuất khẩu của Việt Nam có thể sẽ tăng thêm 4,04% đến năm 2035, mức tăng xuất khẩu sẽ là 6,9%  
vào năm 2030 sẽ tăng từ 54 tỷ đô-la Mỹ lên 80 tỷ đô-la Mỹ, chiếm 25% tổng lượng xuất khẩu.  
Mở rộng thị trường tiêu dùng sản phẩm cà phê  
Việc các nước, trong đó có các thị trường lớn như Canada, Australia và Nhật Bản giảm thuế  
nhập khẩu về 0% cho hàng nông sản của ta sẽ tạo ra những tác động tích cực trong việc thúc đẩy kim  
ngạch xuất khẩu. Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu nông sản sang thị trường các nước  
thành viên Hiệp định CPTPP sẽ được hưởng cam kết cắt giảm thuế quan rất ưu đãi, giúp mở rộng thị  
trường xuất khẩu, tăng cường tiếp cận các thị trường lớn nhất thế giới với ưu thế đáng kể.  
287  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Bảng 4: Xuất khẩu cà phê sang một số thị trường lớn của Việt Nam niên vụ 2017 – 2018  
(trong đó doanh nghiệp ở Tây Nguyên chiếm gần 87%)  
Đơn vị tính: 1.000 USD  
So với Niên vụ 2017 - 2018  
Lượng Kim ngạch Đơn giá bình quân Lượng Kim ngạch Đơn giá bình quân  
STT Tên nước  
Niên vụ 2017 - 2018  
xuất (tấn) (USD)  
(USD/tấn)  
xuất (tấn)  
(USD)  
(USD/tấn)  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Đức  
Mỹ  
247.107  
177.688  
135.301  
452.551  
1.831  
11,5  
-5,6  
-15,3  
304.834  
252.639  
202.439  
208.950  
174.917  
151.446  
136.428  
126.576  
123.073  
1.918  
1.867  
1.876  
2.035  
2.130  
1.912  
1.986  
1.848  
1.812  
-10,5  
7,3  
-23,9  
-7,7  
-15,1  
-14,0  
-13,6  
-12,6  
-16,3  
-8,9  
Italia  
Tây Ban Nha 117.505  
20,3  
3,9  
Nhật Bản  
Nga  
102.701  
82.109  
79.207  
68.696  
68.501  
67.930  
11,2  
-2,7  
81,5  
51,9  
43,5  
704,2  
9,1  
Philipin  
Indonesia  
Angieri  
57,6  
1.040,0  
27,1  
-29,5  
-14,2  
-14,7  
10 Bỉ  
-19,5  
-31,3  
Nguồn: Tổng cục hải quan  
Theo kết quả điều tra ở bảng 3 cho thấy trong niên vụ 2017 – 2018, cà phê Việt Nam xuất sang  
Đức nhiều nhất với 247,11 ngàn tấn, kim ngạch 452,55 triệu USD, tăng 11,5% về lượng nhưng giảm  
5,6 về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, đơn gia trung bình giảm 15,3%. Thị trường lớn thứ 2 là  
Mỹ với 177,69 ngàn tấn, kim ngạch 340,83 triệu USD, giảm 10,5% về sản lượng và giảm 23,9% về  
kim ngạch.  
Tiếp theo là các nước Italia, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Nga, Philipin, Indonesia, Angieri, và Bỉ  
nằm trong 10 nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Đáng chú ý về mức tăng trưởng mạnh nhất là:  
Indonesia tăng 1.040% về lượng và tăng 704,2% về kim ngạch, đạt 68,7 ngàn tấn và 136,43 triệu USD,  
vượt lên đứng thứ 8. Nam Phi tăng 400,5% về lượng và tăng 314,2% về kim ngạch, Hy lạp tăng  
102,5% về lượng và tăng 66,3% về kim ngạch, Campuchia tăng 79,9% về lượng và tăng 114,9% về  
kim ngạch.  
Bảng 5: Công suất chế biến cà phê hòa tan của một số doanh nghiệp ở Tây Nguyên  
STT  
Tên doanh nghiệp  
Olam  
Công suất (tấn/ năm)  
Ghi chú  
1
2
3
4
5
9.000  
3.000  
Có cả sấy phun và sấy lạnh  
Trung Nguyên  
Cà phê Ngon  
An Thái  
15.000  
1.000  
Có cả sấy phun và sấy lạnh  
Đang đầu tư tiếp nhà máy 4.000 tấn/ năm  
Tổng cộng  
28.000  
Nguồn: Cục chế biến Bộ NN & PTNT  
Tăng tính kết nối giữa các doanh nghiệp thông qua việc tham gia chuỗi cung ứng khu vực và  
toàn cầu  
Các nước CPTPP chiếm 13,5% GDP toàn cầu với tổng kim ngạch thương mại hơn 10.000 tỷ  
USD, lại bao gồm các thị trường lớn như Nhật Bản, Canada, Australia sẽ mở ra nhiều cơ hội khi chuỗi  
cung ứng mới hình thành.  
288  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Tham gia CPTPP sẽ giúp xu hướng này phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, là điều kiện quan  
trọng để nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp Việt Nam nói  
riêng, tăng năng suất lao động, tham gia vào các công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn, từ đó  
tạo động lực và sức ép cho doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất trong nước theo hướng giảm xuất  
khẩu nguyên liệu và sơ chế, đầu tư phát triển chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, tăng cường xuất khẩu  
sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao... Đây là cơ hội rất lớn để nâng tầm nền nông nghiệp Việt  
Nam trong 5 - 10 năm tới.  
Theo số liệu của tổng cục hải quan thì hiện nay khối lượng cà phê chế biến xuất khẩu được của  
Việt Nam 124.000 tấn (Tây Nguyên chiếm 22,58%) chiếm 7,9% tổng khối lượng xuất khẩu của các  
loại cà phê, kim ngạch mà cà phê chế biến xuất khẩu đem lại là 469,14 triệu USD, chiếm 13,4% tổng  
kim ngạch xuất khẩu của các loại cà phê.  
4. Kết luận và một số giải pháp  
Hiệp định CPTPP mở ra một sân chơi mới với quy mô thị trường chiếm khoảng 13,5% GDP  
toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu dân. Để tận dụng tốt các cơ hội do thị trường này mang  
lại cũng như chuẩn bị tâm thế sẵn sàng ở một sân chơi mới, doanh nghiệp Việt Nam có thể xem xét  
một số giải pháp sau:  
Một là, các doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu thông tin về Hiệp định CPTPP để nắm vững  
cam kết của Việt Nam và các thị trường đối tác quan tâm, đặc biệt là các thông tin về các ưu đãi thuế  
quan theo Hiệp định này đối với mặt hàng cà phê đang có thế mạnh hoặc có nhiều tiềm năng xuất khẩu  
trong thời gian tới. Đây là kênh thông tin tham khảo hữu ích cho doanh nghiệp khi tìm hiểu khu vực  
CPTPP.  
Hai là, doanh nghiệp cũng cần thay đổi tư duy kinh doanh trong bối cảnh mới, lấy sức ép về  
cạnh tranh là động lực để đổi mới và phát triển. CPTPP chắc chắn sẽ mang lại cơ hội cho doanh nghiệp  
nào chủ động đáp ứng với những thay đổi về môi trường kinh doanh do quá trình hội nhập kinh tế  
quốc tế mang lại thông qua việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch kinh doanh cho giai đoạn trung và  
dài hạn nhằm thúc đẩy dòng chảy của hàng hóa vào các thị trường đối tác tiềm năng nêu trên.  
Ba là, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của  
doanh nghiệp để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm đặc biệt chú trọng các hoạt động chế biến  
sâu, “chủ động” thay đổi quy trình sản xuất, nguồn nguyên liệu để đáp ứng được quy tắc xuất xứ của  
hiệp định. Ưu đãi thuế quan trong CPTPP là rất lớn nhưng yêu cầu về xuất xứ lại không hề dễ dàng,  
giảm xuất khẩu thô từ đó đủ sức cạnh tranh trên sân nhà và vươn ra thị trường thế giới.  
Bốn là, để bảo vệ lợi ích của mình trong lâu dài, đặc biệt trên thị trường nội địa trước áp lực  
thay đổi chính sách, pháp luật theo yêu cầu CPTPP, Doanh nghiệp cần “chủ động” tìm hiểu nội dung  
của CPTPP, tham gia sâu và hiệu quả vào quá trình các cơ quan Nhà nước luật hóa các cam kết  
CPTPP.  
Cuối cùng, chuyên nghiệp hóa quy trình bán hàng, tích cực xây dựng và quảng bá thương  
hiệu… để nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm và doanh nghiệp của mình. Đây dường như là  
khâu còn yếu nhất của các doanh nghiệp Việt Nam khi tiếp cận thị trường thế giới. Cũng cần chủ động  
tìm hướng hợp tác với các thị trường đối tác của Hiệp định để thu hút mạnh mẽ đầu tư trực tiếp vào  
Việt Nam nhằm tận dụng hiệu quả nguồn vốn và việc chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn lớn. Đây  
cũng chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp của ta tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng khu vực  
và toàn cầu.  
Như vậy, xu hướng đẩy mạnh tự do hóa thương mại hàng nông sản (trong đó có cà phê) thông  
qua việc ký và thực thi các FTA, nhất là FTA thế hệ mới sẽ giúp Việt Nam được hưởng ưu đãi. Quá  
trình tham gia các FTA cho thấy, hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc tham gia các FTA là chiến  
lược hết sức đúng đắn, mở ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp cà phê ở Tây Nguyên nói riêng mở  
rộng thị trường xuất khẩu, giúp doanh nghiệp ở đây tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản  
289  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
xuất toàn cầu, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng  
cao năng lực cạnh tranh, tranh thủ vốn đầu tư, công nghệ tri thức, kinh nghiệm quản lý, tạo thêm nhiều  
việc làm. Những cũng đang đặt các doanh nghiệp trước một sân chơi mới với nhiều các yêu cầu khắt  
khe hơn. Chính và vây các doanh nghiệp cà phê ở Tây Nguyên cần tận dụng tối đa cơ hội này và cần  
phải thực hiện thật khẩn trương và nghiêm túc một số giải pháp nêu trên để hạn chế những tác động  
tiêu cực của CPTTP, nhằm nâng cao sức cạnh tranh và phát triển một cách bền vững trong tương lai.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (2018), Báo cáo tổng kết niên vụ cà phê 2017 – 2018 và kế hoạch niên vụ  
cà phê 2018 – 2019.  
2. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2018), Tóm tắt văn kiện Hiệp định đối tác toàn diện và tiến  
bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP.  
3. UBND tỉnh Đắk Lắk (2018), Báo cáo tổng kết niên vụ cà phê 2017 – 2018 và kế hoạch niên vụ cà phê 2018  
– 2019.  
4. UBND tỉnh Gia Lai (2018), Báo cáo tổng kết niên vụ cà phê 2017 – 2018 và kế hoạch niên vụ cà phê 2018 –  
2019.  
5. UBND tỉnh Đắk Nông (2018), Báo cáo tổng kết niên vụ cà phê 2017 – 2018 và kế hoạch niên vụ cà phê  
2018 – 2019.  
6. UBND tỉnh Lâm Đồng (2018), Báo cáo tổng kết niên vụ cà phê 2017 – 2018 và kế hoạch niên vụ cà phê  
2018 – 2019.  
7. UBND tỉnh Kon Tum (2018), Báo cáo tổng kết niên vụ cà phê 2017 – 2018 và kế hoạch niên vụ cà phê 2018  
– 2019.  
290  
pdf 13 trang baolam 16520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_hieu_qua_giai_quyet_cac_tranh_chap_thuong_mai_bang.pdf