Ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Ý ĐỊNH MUA HÀNG TRỰC TUYẾN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
FACTORS THAT INFLUENCE CUSTOMERS' BUYING INTENTION ON SHOPPING  
ONLINE IN HO CHI MINH CITY  
NCS. Ngô Cao Hoài Linh, Lê Chí Cường  
Trường Đại học Công Nghiệp TPHCM  
Tóm tắt  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích các yếu tố ảnh hướng đến ý định mua hàng trực tuyến  
của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định  
lượng tác giả đã tiến hành khảo sát 250 người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho  
thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng TP. HCM: (1) Sự thuận tiện;  
(2) Chất lượng dịch vụ; (3) Giao diện trang Web; (4) Tương tác xã hội; (5) Giá mong đợi và (6) Cảm nhận sự  
rủi ro. Đây là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp đưa ra những định hướng, chiến lược thu hút người tiêu  
dùng sử dụng internet mua hàng trực tuyến; cải thiện và hoàn thiện hệ thống kinh doanh trực tuyến; phát huy  
vai trò của thương mại điện tử trong kinh doanh.  
Từ khóa: Ý định mua, mua hàng trực tuyến, hành vi tiêu dùng, kinh doanh trực tuyến TP. HCM  
Abstract  
This study was conducted to analyze the factors that influence consumers' buying intentions on online  
shopping in Ho Chi Minh City. A combination of qualitative and quantitative research methods, the authors  
surveyed 300 consumers in HCM city. The research results show that there are 6 factors affecting the intention  
of buying online of consumers in HCM city: (1) Convenience; (2) Quality of service; (3) Interface website; (4)  
social interaction; (5) Expected price and (6) Feeling risk. This is an important basis for enterprises to set  
orientations and strategies to attract consumers using the internet to buy goods; improve the online business  
system; Promoting the role of e-commerce in business.  
Keywords: buying intentions, online shopping, consumer behaviour, HCM city  
1. Đặt vấn đề  
Trong bối cảnh nền kinh tế đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, một cuộc  
cách mạng sản xuất mới, tác động mạnh mẽ đến mọi quốc gia, chính phủ, doanh nghiệp và người dân  
khắp toàn cầu. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo nên làn sóng của những đột phá, sáng tạo,  
mang lại lợi ích hết sức to lớn cho nền kinh tế thế giới cũng như cho Việt Nam, đặc biệt là đối với lĩnh  
vực kinh doanh trực tuyến. Sự phát triển không ngừng của mạng internet, nhu cầu của khách hàng  
ngày càng tăng, con người ngày càng dành nhiều thời gian cho công việc khiến nhiều người không có  
đủ thời gian để mua sắm cho bản thân và gia đình. Do đó để đáp ứng nhu cầu của con người trong thời  
đại hiện nay, nhiều trang web thương mại điện tử ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và sự phát  
triển của nền kinh tế.  
Công nghệ thông tin đã và đang được con người áp dụng rộng rãi vào hầu hết các lĩnh vực trên  
toàn thế giới, trong đó có hoạt động kinh tế toàn cầu. Với tốc độ phát triển vượt bậc trong những năm  
qua, Intermet đã trở thành phương tiện phổ biến cho truyền thông, dịch vụ và thương mại trên toàn  
cầu. Internet đã làm thay đổi cách mua hàng truyền thống của mọi người. Người tiêu dùng không còn  
bị bó buộc về thời gian và địa điểm mà có thể mua các sản phẩm hay dịch vụ ở bất cứ khi nào và bất  
cứ ở đâu. Với thế mạnh đó, cùng với sự phát triển Internet nhanh chóng ở Việt Nam trong thời gian  
qua và sự ra đời của nhiều doanh nghiệp kinh doanh bán hàng trực tuyến, người tiêu dùng trong nước  
có cơ hội tiếp xúc và đang quen dần với việc mua hàng qua mạng.  
515  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Hoạt động thương mại điện tử đã thay đổi nhanh chóng nền kinh tế không những ở cách cung  
ứng sản phẩm mà còn ở thói quen tiêu dùng. Người tiêu dùng Việt Nam đang trở nên quen dần với  
việc mua hàng qua mạng. Tuy nhiên, phần lớn khách hàng vẫn còn dè dặt trong việc mua sắm trực  
tuyến do đây vẫn còn là hình thức mới mẻ và lạ lẫm, và họ vẫn chưa có sự hiểu biết rõ ràng và tin  
tưởng vào công nghệ, tỷ lệ mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam nói chung và Thành  
phố Hồ Chí Minh nói riêng vẫn còn thấp hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó, để  
thu hút người tiêu dùng mua sắm trực tuyến nhiều hơn thì việc nhận biết được các yếu tố tác động đến  
ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng là rất cần thiết đối với các nhà bán lẻ trực tuyến.  
Mặc dù vậy, hiện nay trong nước vẫn chưa có nhiều nghiên cứu trả lời các câu hỏi liên quan  
đến những yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến. Bên cạnh đó, việc áp dụng một mô  
hình lý thuyết trên thế giới vào hoàn cảnh của Việt Nam có thể không phù hợp do các điều kiện đặc  
thù riêng về kinh tế, văn hóa, xã hội. Chính vì vậy việc triển khai một mô hình nghiên cứu dựa trên  
những nghiên cứu trong và ngoài nước trong thời gian qua để xây dựng một mô hình phù hợp với điều  
kiện của Việt Nam nhằm đưa ra các giải pháp thu hút người tiêu dùng sử dụng Internet mua hàng trực  
tuyến, cải thiện và phát triển hình thức mua sắm trực tuyến, tăng cường hoạt động thương mại điện tử  
đã trở thành vấn đề cần thiết. Nghiên cứu “Ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Thành phố  
Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề đó.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Thương mại điện tử  
Theo Zwass (1998) định nghĩa thương mại điện tử là việc chia sẻ thông tin kinh doanh, duy trì  
hoạt động kinh doanh và thực hiện các giao dịch kinh doanh bằng phương tiện truyền thông. Theo Bộ  
Công thương Việt Nam: Thương mại điện tử là hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp  
điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử mà không phải in ra  
giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch. Nói chung Thương mại điện tử là hình thái  
hoạt động thương mại bằng phương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các  
phương tiện công nghệ điện tử mà không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình  
giao dịch.  
Nếu phân chia theo đối tượng tham gia thì có 3 đối tượng chính bao gồm: Chính phủ (G -  
Government), Doanh nghiệp (B – Business) và Khách hàng (C – Customer hay Consumer). Nếu kết  
hợp đôi một 3 đối tượng này sẽ có 9 hình thức theo đối tượng tham gia: B2C, B2B, B2G, G2B, G2G,  
G2C, C2G, C2B, C2C. Trong đó, các dạng hình thức chính của thương mại điện tử bao gồm: Doanh  
nghiệp với doanh nhiệp (B2B), Doanh nghiệp với khách hàng (B2C), Doanh nghiệp với chính phủ  
(B2G), Khách hàng với khách hàng (C2C), Thương mại di động (mobile commerce hay viết tắt là m-  
commerce).  
2.1.2. Hành vi mua hàng trực tuyến  
Theo Charles W. Lamb, Joseph F. Hair và Carl McDaniel (2000), hành vi của người tiêu dùng  
là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản  
phẩm hay dịch vụ. Philip Kotler (2001) cho rằng người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi người tiêu  
dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ. Cụ thể là xem người tiêu dùng muốn  
mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở  
đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng  
lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình. Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng hiện nay còn đi xa hơn các  
khía cạnh nói trên. Đó là người tiêu dùng được các nhà kinh doanh tìm hiểu xem họ có nhận thức được  
các lợi ích của sản phẩm, dịch vụ họ đã mua hay không và cảm nhận, đánh giá như thế nào sau khi sử  
dụng sản phẩm, dịch vụ. Vì điều này sẽ tác động đến những lần mua hàng sau đó của người tiêu dùng  
và tác động đến việc thông tin về sản phẩm của họ đến những người tiêu dùng khác.  
516  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Mua hàng qua mạng được định nghĩa là hành vi của người tiêu dùng trong việc mua sắm thông  
qua các cửa hàng trên mạng hoặc website sử dụng các giao dịch mua hàng trực tuyến (Monsuwe,  
Dellaert và K. D. Ruyter, 2004). Theo Haubl & Trifts, (2000), mua hàng qua mạng là một giao dịch  
được thực hiện bởi người tiêu dùng thông qua giao diện trên máy tính bằng cách máy tính của người  
tiêu dùng được kết nối và có thể tương tác với các cửa hàng số hóa của nhà bán lẻ thông qua mạng  
máy tính.  
2.2. Mô hình nghiên cứu  
Tương tác xã hội  
H1+  
Sự cảm nhận rủi ro  
H2+  
Chất lượng dịch vụ  
Sự thuận tiện  
Ý định mua  
hàng trực  
tuyến  
H3+  
H4+  
H5+  
H6+  
Giao diện trang web  
Giá mong đợi  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu  
Giả thuyết nghiên cứu:  
H1: Tương tác xã hội có sự tác động tích cực với ý định mua hàng trực tuyến.  
H2: Cảm nhận rủi ro có có sự tác động tích cực với ý định mua hàng trực tuyến.  
H3: Chất lượng dịch vụ có sự tác động tích cực với ý định mua hàng trực tuyến.  
H4: Sự thuận tiện có có sự tác động tích cực với ý định mua hàng trực tuyến.  
H5: Giao diện trang web có có sự tác động tích cực với ý định mua hàng trực tuyến.  
H6: Giá mong đợi có có sự tác động tích cực với ý định mua hàng trực tuyến.  
Bảng 1: Tổng hợp thang đo  
Yếu tố Ký hiệu Biến quan sát  
TTXH1 Tác động của người thân, gia đình khi mua hàng trực tuyến  
Tương  
tác xã  
hội  
TTXH2 Tác động của bạn bè, đồng nghiệp khi mua hàng trực tuyến  
TTXH3 Tác động của các phương tiện truyền thông  
TTXH4 Tác động từ những khách hàng đã mua hàng trước đó  
CNRR1  
CNRR2  
Mua hàng trực tuyến không có các tính năng và hiệu quả như được quảng cáo  
Sản phẩm trên mạng khác với sản phẩm thực tế (hình dáng, màu sắc,..)  
Sự  
cảm  
nhận  
rủi ro  
CNRR3 Chất lượng sản phẩm khi mua sắm trực tuyến sẽ không như mong đợi  
CNRR4  
CNRR5  
Giá bán trên mạng không chính xác (mắc hơn)  
Thông tin cá nhân của tôi sẽ không được bảo mật và bị tiết lộ cho đối tác thứ ba.  
517  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
CNRR6 Tôi sẽ dễ mất tài khoản khi thanh toán trưc tuyến từ đó dẫn đến mất tiền bạc  
CNRR7 Mua sắm trực tuyến sẽ khó khăn trong việc đổi, trả hàng hóa.  
CLDV1 Sản phẩm được giao đúng thời hạn  
CLDV2 Được tư vấn trong quá trình mua hàng.  
Chất  
lượng  
dịch  
vụ  
CLDV3 Sản phẩm được bảo hành theo quy định.  
CLDV4 Phí giao hàng phù hợp vào từng khu vực  
CLDV5 Hàng giao không bị bóp méo, hư hỏng.  
TT1  
TT2  
TT3  
TT4  
TT5  
TT6  
TT7  
G1  
Mua hàng trực tuyến giúp tiết kiệm được thời gian.  
Tìm kiếm thông tin sản phẩm một cách nhanh chóng  
Mua sắm trực tuyến giúp mua sản phẩm ở bất cứ cửa hàng nào  
Mua sắm trực tuyến có thể mua sắm bất kỳ thời gian nào  
Sự  
thuận  
tiện  
Mua sắm trực tuyến giúp tiết kiệm được công sức đi đến từng cửa hàng  
Mua sắm trực tuyến có thể mua nhiều loại hàng hóa cùng một lúc.  
Mua sắm trực tuyến giúp dễ dàng so sánh giá cả giữa các cửa hàng.  
Giá cả của các món hàng khi mua trực tuyến rẻ hơn sơ với giá cả thị trường  
G2  
G3  
G4  
Sử dụng dịch vụ mua hàng trực tuyến dễ dàng so sánh về giá  
Sử dụng dịch vụ mua hàng trực tuyến tiết kiệm chi phí đi lại  
Giá  
mong  
đợi  
Các khuyến mãi trên các trang web có dịch vụ mua hàng trực tuyến giúp tiết kiệm tiền  
bạc  
GD1  
GD2  
GD3  
GD4  
GD5  
Quy trình mua hàng trực tuyến đơn giản  
Hình thức trình bày nội dung dễ hiểu  
Giao  
diện  
trang  
web  
Dễ dàng tìm kiếm sản phẩm theo từng danh mục cụ thể.  
Giao diện website dễ sử dụng..  
Giao diện các website bắt mắt, thu hút tôi.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Để đưa ra những nhận xét, đánh giá, phân tích cũng như những giải pháp phù hợp với thực tế,  
đề tài được nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính và nghiên cứu chính thức sử dụng  
phương pháp định lượng.  
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật thảo  
luận nhóm và phỏng vấn thử, lấy ý kiến của người trong ngành. Mục đích của nghiên cứu này dùng để  
điều chỉnh và bổ sung thang đo các yếu tố đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
518  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Kỹ thuật  
phỏng vấn trực tiếp được sử dụng để thu thập thông tin từ 250 cá nhân là những khánh hàng cá nhân  
tại Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang sử dụng dịch vụ mua hàng trực tuyến trên mạng. Tất cả các số  
liệu thu thập được từ bảng câu hỏi khảo sát sẽ được mã hóa, xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Để đảm  
bảo độ tin cậy thang đo, những biến quan sát này phải có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và có  
hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6. Phân tích nhân tố EFA dùng để rút gọn và tóm tắt các dữ liệu.  
Mỗi biến quan sát sẽ được tính một tỷ số gọi là hệ số tải nhân tố (Factor Loading) (>0,5), hệ số này  
dùng để phân nhóm các nhân tố. Sau mỗi lần phân nhóm, tiến hành xem xét hệ số KMO (Kaiser-  
Mayer-Olkin) phải thuộc khoảng [0,5; 1] và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig < 0,05) thì các  
biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể. Sau khi kiểm định thang đo bằng phương pháp hệ  
số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA. Tác giả tiến hành phân tích hồi quy bội  
để kiểm định mô hình nghiên cứu..  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Kết quả kiểm định thang đo  
Kết quả kiểm định độ tin cậy cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo đều có giá trị  
lớn hơn 0,6 (thấp nhất là thang đo tương tác xã hội với α = 0,735). Hệ số tương quan biến tổng đều lớn  
hơn 0,3. Điều này cho thấy các biến có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong cùng khái niệm thành phần.  
Tuy nhiên, biến TTXH4, CNRR7, CNRR6, TT6, TT7, GD5, G4, YD6 có hệ số tương quan biến tổng  
nhỏ hơn 0,3, nên các biến này bị loại. (Chi tiết theo Bảng 2).  
Bảng 2: Kiểm định độ tin cậy  
Mã hóa  
TTXH  
CNRR  
CLDV  
TT  
Thành phần  
Hệ số Cronbach’s Alpha  
Tương tác xã hội  
Sự cảm nhận rủi ro  
Chất lượng dịch vụ  
Sự thuận tiện  
0,735  
0,886  
0,872  
0,897  
0,792  
0,804  
0,853  
GD  
Giao diện trang web  
Giá  
G
YD  
Ý định mua hàng trực tuyến  
4.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA – Exploratory Factor Analysis)  
Kiểm định Bartlett (bảng 3) với mức ý nghĩa Sig. = 0,000 < 0,05; hệ số KMO = 0,769. Như  
vậy, các biến quan sát trong tổng thể có mối tương quan với nhau.  
Bảng 3: Kiểm định KMO và Bartlett  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.  
0,769  
0,000  
Sig.  
Bảng 4: Bảng phân tích nhân tố  
T
1
2
3
4
5
6
CNRR1  
CNRR5  
CNRR2  
CNRR4  
CNRR3  
CLDV1  
CLDV5  
0,826  
0,825  
0,810  
0,803  
0,797  
0,819  
0,817  
519  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
CLDV3  
CLDV4  
CLDV2  
TT5  
0,809  
0,802  
0,757  
0,881  
0,857  
0,841  
0,841  
0,809  
0,758  
0,724  
0,714  
TT2  
TT3  
TT4  
GD1  
GD3  
GD2  
GD4  
G1  
0,853  
G2  
0,839  
0,834  
G3  
TTXH2  
TTXH1  
TTXH3  
Eigenvalue  
0,845  
0,759  
0,740  
1,564  
70,106  
5,429  
3,488  
2,384  
2,157  
1,803  
Phương sai trích (%) 22,622  
37,155  
47,087  
56,073  
63,588  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá ở bảng 4 cho thấy tổng phương sai trích là 70,106%  
(>50%), điều này có nghĩa các nhân tố trích lại giải thích được 70,106% cho mô hình, còn lại 28,804%  
sẽ được giải thích bởi những nhân tố khác. Tỷ số rút trích nhân tố (Eigenvalue) đều lớn hơn 1 nên  
được giữ lại. Từ kết quả trên cho thấy mô hình phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysis) là  
phù hợp với dữ liệu với 6 nhóm nhân tố và có thể sử dụng kết quả này cho phân tích tiếp theo.  
4.3. Phân tích hồi quy tuyến tính bội  
Để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của một hay nhiều biến độc lập đến một biến phụ thuộc  
nhằm dự báo biến kết quả dựa vào các giá trị biết trước của các biến giải thích. Để đo lường mức độ  
tác động của các yếu tố đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng tác giả tiến hành phân tích  
hồi quy tuyến tính bội và kiểm định các giả thuyết của mô hình với 6 yếu tố là biến độc lập để đo  
lường mức độ tác động của các yếu tố này đến ý định mua hàng tực tuyến của người tiêu dùng Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
Bảng 4: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội  
Yếu tố  
Beta đã chuẩn hóa  
-0,137  
0,310  
T
Mức ý nghĩa  
0,001  
(CNRR) Sự cảm nhận rủi ro  
(CLDV) Chất lượng dịch vụ  
(TT) Sự thuận tiện  
(GD) Giao diện trang web  
(G) Giá  
-3,334  
7,825  
9,951  
4,901  
2,856  
4,803  
0,000  
0,398  
0,000  
0,207  
0,000  
0,108  
0,005  
(TTXH) Tương tác xã hội  
F – Value  
0,189  
0,000  
73,148  
0,000  
Sig.  
R2 – Value  
Adjuster R2 – value  
Durbin-Watson  
0,614  
0,606  
2,152  
520  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Kết quả phân tích hồi quy được trình bày qua bảng 5 cho thấy R2 = 0,614 nghĩa là mô hình hồi  
quy tuyến tính trên có độ thích hợp đến 61,4%. Hiệu chỉnh R2 = 0,606, điều này có nghĩa là 60,6%  
hiệu quả được giải thích bằng 6 nhóm biến quan sát đề cập đến trong mô hình. Còn lại 39,4% sự ảnh  
hưởng bởi các biến khác nằm ngoài mô hình.  
Giá trị F = 73,148 và các giá trị sig < 0,05 cho thấy mô hình hồi quy xây dựng là phù hợp với  
dữ liệu thu thập được và các biến có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý nghĩa là 5%. Các biến đưa vào  
mô hình có mối quan hệ tuyến tính với biến phụ thuộc, chính vì vậy các giả thuyết H1, H2, H3, H4,  
H5, H6 được chấp nhận. Mô hình hồi quy tuyến tính các nhân tố như sau:  
YD = 0,398TT + 0,310CLV + 0,207GD + 0,189TTXH – 0,137CNRR + 0,108G  
5. Kết luận và đề xuất  
Nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố tác động đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng  
Thành phố Hồ Chí Minh. Mức độ tác động của các yếu tố lần lượt như sau: (1) Sự thuận tiện, (2) Chất  
lượng dịch vụ, (3) Giao diện trang web, (4) Tương tác xã hội, (5) Sự cảm nhận rủi ro, (6) Giá. Từ kết  
quả nghiên cứu tác giả đưa ra các giải pháp sau đây để tác động tích cực đến ý định mua hàng trực  
tuyến của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh.  
Về sự thuận tiện: Thuận tiện là khả năng giúp khách hàng cảm thấy thoải mái khi mua và có  
thể mua mọi lúc mọi nơi. Đồng thời đây là yếu tố được đánh giá có mức độ tác động mạnh nhất đến ý  
định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy cần được cải thiện và  
phát triển hợp lý, cụ thể: Các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến cần đơn giản hóa quy trình mua hàng;  
cần cải tiến quy trình bán hàng, thanh toán nhanh gọn, linh hoạt và phù hợp cho tất cả khách hàng; đơn  
giản thao tác mua hàng như: khách hàng chỉ cần nhấp chuột vào sản phẩm họ lựa chọn và một cái nhấp  
chuột thứ hai để điền các thông tin cần thiết như tên người mua hàng, điện thoại, email là đã hoàn tất.  
Tạo một phiên bản trên điện thoại di động cho trang web: Điều này cho phép khách hàng có thể chọn  
sản phẩm hoặc liên hệ với nhà bán lẻ bất cứ khi nào họ muốn. Hiện nay, rất nhiều người tiêu dùng sử  
dụng điện thoại thông minh (Smartphone) trong công việc, vì vậy, đây là một cách để tối ưu hóa trang  
web cũng như tối ưu hóa khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.  
Về chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ là yếu tố được đánh giá có mức độ tác động mạnh  
thứ hai đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy cần được  
cải thiện và phát triển hợp lý, như: nâng cao tính rõ ràng, trung thực và minh bạch của thông tin của  
sản phẩm dịch vụ; đảm bảo chất lượng hàng hóa và dịch vụ đúng như thông tin cung cấp; cần chú  
trọng hơn về chất lượng dịch vụ bán hàng; giải quyết kịp thời khiếu nại của khách hàng một cách công  
bằng và hợp lý; có chính sách cam kết và đảm bảo sự cam kết với khách hàng.  
Về giao diện trang web: Giao diện trang web là yếu tố được đánh giá có mức độ tác động  
mạnh thứ ba đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy cần  
được cải thiện và phát triển hợp lý, như: Thiết kế trang web bán hàng có giao diện đẹp và dễ sử dụng:  
có nhiều nhân tố trong việc thiết kế một trang web, nhưng điều quan trọng là làm sao để khách hàng sẽ  
không rời khỏi ngay khi họ nhìn thấy trang web tải xuống; một website bán hàng tốt phải tạo được cảm  
giác dễ giao tiếp với người dùng và tiện dụng; cần cải thiện chức năng tìm kiếm trên trang web có thể  
giúp khách hàng nhanh chóng tìm ra sản phẩm. Ngoài ra, sản phẩm phải nên được sắp xếp theo từng  
chủng loại/chủ đề cụ thể để tối ưu hóa khả năng tìm kiếm của khách hàng.  
Về tương tác xã hội: Tương tác xã hội là yếu tố được đánh giá có mức độ tác động mạnh thứ  
tư đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy cần được cải  
thiện và phát triển hợp lý, như: Các nhà cung cấp dịch vụ mua hàng qua mạng cần chú trọng đến các  
vấn đề về chương trình tiếp thị cho các tổ chức, tập thể và đưa ra các chương trình khuyến mãi cho  
việc giới thiệu người quen cùng tham gia mua hàng trực tuyến. Bên cạnh đó các doanh nghiệp phải  
xem xét cụ thể về tình hình thu nhập, hoàn cảnh kinh tế để có thể định giá sản phẩm ở mức hợp lý, phù  
hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.  
521  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Về giá mong đợi: Giá là yếu tố được đánh giá có mức độ tác động mạnh thứ năm đến ý định  
mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy cần được cải thiện và phát  
triển hợp lý, như: Tận dụng lợi thế giá giảm: Người tiêu dùng sẽ có xu hướng chọn lựa những mặt  
hàng giá rẻ mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của mình. Bên cạnh đó, tâm lý của người tiêu dùng Việt  
Nam thích khuyến mãi. Khi mua một sản phẩm nào đó, họ hay tìm xem sản phẩm đó có giảm giá hay  
không họ quan tâm nhiều đối với sự khác biệt về giá giữa các trang web bán hàng, họ sẽ thay đổi  
những gì đã có kế hoạch mua để tận dụng lợi thế về mức giá thấp nhất, và một số người sẵn sàng nỗ  
lực tìm sản phẩm có mức giá thấp trên các website bán hàng trực tuyến. Các doanh nghiệp có thể dành  
cho các khách hàng những mức chiết khấu lớn. Tìm kiếm những đối tác có hàng hóa/dịch vụ có chất  
lượng cao với mức chiết khấu, giảm giá đáng kể nhằm tăng doanh số bán hàng cho website.  
Về cảm nhận sự rủi ro: Cảm nhận sự rủi ro là yếu tố được đánh giá có mức độ tác động mạnh  
thứ sáu đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy cần được  
cải thiện và phát triển hợp lý, như: Tăng cường bảo mật thông tin khách hàng: những người tiêu dùng  
mua hàng qua mạng thường đề cập đến vấn đề bảo mật, nếu khách hàng lo ngại về tính bảo mật của  
trang web bán hàng nào đó thì rất có thể họ sẽ không mua sản phẩm từ trang web đó. Do đó, các nhà  
bán lẻ cần đưa ra một chính sách bảo mật trong giao dịch nhằm tăng tính rõ ràng, độ tin cậy và tính  
bảo mật riêng tư cho khách hàng thấy, đồng thời luôn đảm bảo việc thực hiện chính sách đó. Hình ảnh  
và chất lượng sản phẩm: Hình ảnh sản phẩm phải thật trung thực, rõ ràng và cụ thể “càng chi tiết bao  
nhiêu, càng tốt bấy nhiêu” như màu sắc, kích thướt, phụ kiện kèm theo. Bên cạnh đó cần phải có  
những thông tin đầy đủ về sản phẩm như thông số kỹ thuật, tính năng sản phẩm và xuất xứ hàng hóa.  
Kèm theo đó là chính sách bảo hiểm cho người mua hàng và khi mua phải sản phẩm không đúng chất  
lượng, không đúng hình ảnh mô tả.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Damianos P. Sakas (2014), “Simulation Model for Commercial Success of Customer Behaviour”, 2nd  
global conference on business, economics, management an tourism, 30-31 october 2014, prague, czech  
republic.  
[2]. Dan Wang, Liuzi Yang (2010), “Customer Buying Behavior – OnlinegShopping towards electronic  
product”, Umea School of Business.  
[3]. Hair, J.F. Anderson, R.E. R.L. Tatham and William C. Black (1998), “Multivariate Data Analysis, Fifth  
Edition”. Prentice-HallgInternatinal, Inc.  
[4]. Haubl, G. and Trifts, V. (2000) “Consumer decision making in onlinegshopping environments: The effects  
of interactive decision aids” Marketing Science, 19 (1), pp. 4- 21.  
[5]. Nguyễn Hoàng Diễm Hương, 2016, “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của người mua trong thị  
trường thương mại điện tử”, tạp chí phát triển kh & cn, tập 19, số q4 – 2016.  
[6]. Nguyễn Đình Thọ (2011), “Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh”, NXB Lao Động Xã hội,  
TP. Hồ Chí Minh.  
522  
pdf 8 trang baolam 21700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfy_dinh_mua_hang_truc_tuyen_cua_nguoi_tieu_dung_thanh_pho_ho.pdf