Tác động của EVFTA đối với ngành logistics Việt Nam

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
TÁC ĐỘNG CỦA EVFTA ĐỐI VỚI NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM  
THE IMPACT OF EVFTA ON VIETNAM’S LOGISTICS INDUSTRY  
ThS. Ngô Thị Hiền Trang  
Trường Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt – Hàn  
Tóm tắt  
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - EU (EVFTA) được ký kết đã mở ra nhiều cơ hội lớn nhưng đi  
kèm là những rủi ro, thách thức cho kinh tế Việt Nam nói chung và ngành logistics nói riêng. Mục đích chính của bài  
viết này là phân tích những cơ hội và rủi ro đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam gặp phải. Bài viết sử dụng  
phương pháp định tính thông qua việc phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan đến logistics, lấy ý kiến của các  
chuyên gia, các doanh nghiệp logistics khu vực thành phố Đà Nẵng. Từ đó, tác giả đã đề xuất hai nhóm giải pháp  
liên quan đến hai đối tượng đó là doanh nghiệp và Nhà nước.  
Từ khóa: EVFTA, logistics, Việt Nam.  
Abstract  
The European Union Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA) has opened up many great opportunities and  
challenges for Vietnam's economy in general and logistics in particular. The main purpose of this article is to analyze  
the opportunities and challenges that Vietnam's logistics faces. This study usd qualitative methods through the  
analysis and synthesis of documents related to logistics, opinion of experts and the logistics businesses in Danang  
city. Since then, the authors have proposed two solutions involving two objects that businesses and the government.  
Keywords: EVFTA, logistics, Vietnam.  
1. Giới thiệu  
Khi ngành bán lẻ và thu  
trọng bạc nhất để hỗ trợ đó là logistics. Hàng hóa đu  
đuờng thủy và đuờng hàng khong. Để hàng hóa đến tay ngu  
phải có sự lien kết chạt chẽ giữa các loại hình vạn tải khác là vạ  
duờng nhu là mọt điều khong hề du thừa trong chuỗi cung ứng đang hoạt đọ  
khi phu ng thức mua hàng và thanh toán tiền mua hàng có thể thay đổi theo sự phát triển của khoa học  
cong nghẹ  
̛
ơ  
̂
̂
̂
̂
̛
̂
̂
̂
̛
̛
̂
̛
̂
̂
̂
̂
̆
̂
̂
̛
̂
̛
̛
̛
̂
̂
̛
̂
̂
̛ơ  
̂
̂.  
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã được kí ngày 30/6/2019 và đang  
trong quá trình phê chuẩn nội bộ để chính thức có hiệu lực. Dịch vụ logistics như vận tải, hỗ trợ vận  
tải… là những dịch vụ có các cam kết đáng chú ý, theo hướng mở cửa mạnh hơn đáng kể so với Hiệp  
định thương mại quốc tế (WTO). Tác động của EVFTA đối với triển vọng phát triển ngành logistics  
được thể hiện ở 2 góc độ. Góc độ thứ nhất là từ cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam và EU trong  
lĩnh vực dịch vụ vận tải và phục vụ vận tải. Góc độ thứ hai là cam kết trong các lĩnh vực ảnh hưởng tới  
thị trường dịch vụ logistics.  
Để có thể tận dụng được các cơ hội cũng như hạn chế tối thiểu các thách thức từ EVFTA, một  
mặt, các doanh nghiệp logistics Việt Nam cần có hành động cụ thể để cải thiện cơ bản năng lực cạnh  
tranh của mình, mặt khác cần có các chính sách hỗ trợ hợp lý từ phía Nhà nước nhằm giúp ngành này  
khắc phục những tồn tại mang tính hệ thống mà từng doanh nghiệp không thể giải quyết được hoặc  
khó có thể giải quyết hiệu quả.  
2. Thực trạng hoạt động dịch vụ logistics tại Việt Nam  
Theo Hiệp hội DN dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tốc độ phát triển của ngành logistics tại  
501  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Việt Nam ở Việt Nam có khoảng những năm gần đây đạt khoảng 14% - 16%, với quy mô khoảng 40 -  
42 tỷ USD/năm. Tham gia thị trường logistics gồm khoảng 1.300 – 1.500 doanh nghiệp trong nước và  
khoảng 25 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới kinh doanh dưới nhiều hình thức. Hiện nay, 30 doanh  
nghiệp cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam với các tên tuổi lớn  
như: DHL, FedEx, Maersk Logistics, APL Logistics, CJ Logistics, KMTC Logistics…  
Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 39/160 nước về mức độ phát  
triển logistics và đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Với tốc độ  
phát triển hàng năm đạt từ 14-16%, đây là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh và ổn  
định nhất của Việt Nam trong thời gian qua.  
Dự báo, đến hết năm 2020, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam ước đạt mức 300 tỷ USD,  
hàng container qua hệ thống cảng biển Việt Nam đạt 67,7 triệu TEU, do vậy, tiềm năng phát triển dịch  
vụ logistics Việt Nam là rất lớn. Trong tương lai không xa, dịch vụ cung cấp logistics sẽ trở thành  
ngành kinh tế quan trọng, có thể đóng góp tới 15% GDP của cả nước.  
Đặc biệt, thời gian gần đây đã có sự bùng nổ về thương mại điện tử và e-Logistics. Theo Cục  
Thương mại điện tử và kinh tế số của Bộ Công Thương, thương mại điện tử tăng trưởng 35%/năm;  
doanh số bán lẻ thương mại điện tử của Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2020 ước tính tăng 20%/năm  
và tổng doanh số bán lẻ thương mại điện tử Việt Nam dự kiến đạt 10 tỷ USD vào năm 2020. Những  
thay đổi trong thương mại điện tử trên thế giới và tại Việt Nam đã thúc đẩy ngành logistics Việt Nam  
cải thiện phương thức cung cấp dịch vụ ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.  
Logistics là ngành dịch vụ mà Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển nhưng hiện trạng năng  
lực cạnh tranh trong nước còn tương đối hạn chế.  
- Về số lượng doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ logistics  
Việt Nam hiện có khoảng 1.300 – 1.500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, đây là  
một con số khá lớn nhưng trên thực tế đa phần lại là những doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ. Do vốn ít nên  
cơ cấu tổ chức doanh nghiệp cũng đơn giản, không thật sự chuyên sâu, không tổ chức được các văn  
phòng đại diện ở nước ngoài nên nguồn thông tin bị hạn chế, các công việc ở nước ngoài đều phải  
thông qua các đại lý của các công ty đa quốc gia. Điều này dẫn đến đa số các doanh nghiệp chỉ dừng  
lại ở việc làm đại lý cấp 2, cấp 3, thậm chí cấp 4 cho các đối tác nước ngoài có mạng lưới toàn cầu mà  
chưa tổ chức kết nối được các hoạt động vận tải đa phương thức. Tuy có số lượng lớn, các công ty  
logistics Việt Nam mới đáp ứng được 25% nhu cầu nội địa và mới chỉ tập trung vào một vài ngành  
dịch vụ trong chuỗi giá trị dịch vụ có doanh số hàng tỉ đô la Mỹ này.  
- Về phạm vi hoạt động của các công ty logistics của Việt Nam  
Hiện nay, các công ty logistics Việt Nam mới chỉ hoạt động trong phạm vị nội địa hoặc một vài  
nước trong khu vực, trong khi phạm vi hoạt động của các công ty nước ngoài như APL Logistics là  
gần 100 quốc gia, Maersk Logistics là 60 quốc gia, Exel cũng vậy. Đây là một trong những cản trở các  
doanh nghiệp Việt Nam cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng. Trong xu thế toàn cầu hoá, chủ  
hàng thường có xu hướng thuê ngoài từ rất nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Mặc dù có thể tính  
đến vai trò của các đại lý mà các công ty Việt Nam thiết lập ở các quốc gia khác, nhưng quan hệ này  
thường khá lỏng lẻo và không đồng nhất.  
- Về tình trạng cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ  
Do phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam xuất khẩu hàng theo điều kiện FOB, FCA trong  
Incoterms, nên quyền định đoạt về vận tải đều do người mua chỉ định và dĩ nhiên người mua sẽ chỉ  
định một công ty nước họ để thực hiện điều này. Do đó các công ty logistics của Việt Nam sẽ là người  
ngoài cuộc. Bất cập này không phải dễ dàng giải quyết vì phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam  
đều gia công hoặc xuất hàng cho những khách hàng lớn đã có những hợp đồng dài hạn với các công ty  
logistics toàn cầu. Đơn cử như hãng giày Nike, công ty có rất nhiều hợp đồng làm ăn với các doanh  
502  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
nghiệp Việt Nam, nhưng riêng về khâu vận tải và logistics thì các doanh nghiệp Việt Nam không thể  
tham gia vào trong quá trình thương thảo.  
Đối với các nhà nhập khẩu của Việt Nam, do Việt Nam nhập siêu nên đây là thị trường hấp dẫn  
cho các công ty logistics của Việt Nam. Nếu như trước đây, các nhà nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu  
mua hàng theo điều kiện CIF, thì hiện nay các doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam đang chuyển dần  
sang hình thức mua FOB, tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp logisitics Việt Nam khai thác. Tuy nhiên,  
một phần khá lớn trong thị trường này vẫn nằm trong tay các hãng logisitics nước ngoài do có nhiều  
doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp tại Việt Nam mà họ cũng chính là người nhập khẩu hàng  
nhiều nhất.  
Hơn nữa, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa ý thức được việc đầu tư vào quản  
lý hiệu quả chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết không có phòng quản lý logistics  
hoặc chuỗi cung ứng mà phòng này thường được hiểu là phòng kinh doanh xuất nhập khẩu. Điều này  
tạo ra rào cản đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong việc chào các dịch vụ logistics giá trị  
gia tăng.  
- Về cơ sở hạ tầng vận tải  
Thực tế tiềm năng phát triển hàng hóa của Việt Nam rất lớn, theo số liệu của Cục Hàng hải  
Việt Nam, năm 2018, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam đạt 524,7 triệu tấn,  
tăng 19%. Tuy nhiên, Việt Nam được xếp hạng thấp nhất về cơ sở hạ tầng vận chuyển hàng hóa trong  
số các nền kinh tế trọng điểm ở khu vực Đông Nam Á.  
Phần lớn cảng biển tại Việt Nam không được thiết kế cho việc bốc dỡ hàng cho tàu chuyên  
dùng, nhiều cảng nằm ngoài thành phố Hồ Chí Minh chỉ được thiết kế cho hàng rời, không có trang  
thiết bị xếp dỡ container chuyên dụng. Các cảng không có dịch vụ hàng hải trực tiếp kết nối Việt Nam  
với các cảng biển tại châu Âu hay Mỹ. Mặt khác, các sân bay trong nước cũng thiếu các thiết bị phù  
hợp để bốc dỡ hàng hóa, thiếu sự đầu tư các kho bãi mới trong khu vực gần các sân bay, bến cảng. Hệ  
thống kho bãi hiện tại trên cả nước lại không phù hợp với hàng hóa bốc dỡ nhanh, trong đó có nhiều  
kho bãi đã được khai thác hơn 30 năm qua và không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Chưa kể  
đến tình trạng thiếu điện và dịch vụ hỗ trợ giao tiếp thông tin (viễn thông). Ngay cả tại khu vực phía  
Nam, nơi kinh tế phát triển cao trong 10 năm qua, sự yếu kém trong công tác lập kế hoạch và thiếu đầu  
tư đã dẫn đến tình trạng ùn tắc hàng hóa đang gặp phải tại thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên nhân chủ  
yếu là do quy hoạch cảng không thống nhất, tại một số địa phương quy hoạch không hợp lý và không  
khoa học.  
Thế nhưng, trên thực tế có rất ít dự án hạ tầng được đầu tư trực tiếp bằng nguồn vốn (cả vốn  
trong nước và vốn nước ngoài) thành công. Khoảng cách lớn giữa các dự án hạ tầng được phê duyệt và  
và dự án đã thực hiện càng làm tăng thêm thách thức cho ngành logistics. Tốc độ phát triển cơ sở hạ  
tầng của Việt Nam chậm hơn rất nhiều so với nước láng giềng Trung Quốc. Lượng hàng tồn trữ cao và  
chuỗi cung ứng chậm chạp là nguyên nhân làm chậm quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.  
- Về chi phí dịch vụ  
Chi phí logistics của Việt Nam được dự đoán khoảng 25% GDP của Việt Nam, cao hơn rất  
nhiều so với các nước phát triển như Mỹ và cao hơn các nước đang phát triển như Trung Quốc hay  
Thái Lan. Chính chi phí logistis cao này làm giảm hiệu quả những cố gắng của Việt Nam trong việc  
giới thiệu thị trường lao động giá rẻ và đẩy mạnh xuất khẩu. Nguyên nhân chính gây nên tình trạng này  
là cơ sở hạ tầng vận tải của Việt Nam đã quá cũ kỹ và quá tải, hệ thống quản lý hành chính phức tạp và  
các nhà sản xuất Việt Nam không tích cực sử dụng các dịch vụ thuê ngoài 3PL (third party logistics -  
dịch vụ logistics bên thứ ba) của nước ngoài.  
Bên cạnh đó, các công ty logistics của Việt nam chỉ phục vụ được khoảng 25% nhu cầu nội địa  
với sự chia sẻ thị trường từ các hãng nước ngoài bao gồm Maersk Logistics và APL Logistics. Việt  
Nam có dự án đầu tư 17,5 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần thay đổi tình trạng này. Nhưng  
503  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
cho đến khi đó, các công ty logistics địa phương đang cạnh tranh rất khốc liệt. Hãng Nike đang sử  
dụng Schenker Logistics để vận chuyển và đưa hàng tới Đông Nam Á, nhưng vài công ty 3PL của Việt  
Nam đang cố gắng trở thành đối tác có thể góp phần làm tăng giá trị khách hàng trong tương lai gần.  
- Về hạ tầng thông tin  
Đây chính là điểm yếu các doanh nghiệp logisitics Việt Nam. Mặc dù các doanh nghiệp  
logistics đã có nhiều ý thức trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh của  
mình nhưng vẫn còn kém xa so với các công ty logistics nước ngoài. Nếu chỉ xét về khía cạnh xây  
dựng website, phần lớn website của doanh nghiệp Việt Nam chỉ đơn thuần giới thiệu về mình, về dịch  
vụ của mình, thiếu hẳn các tiện ích mà khách hàng cần như công cụ track and trace (theo dõi đơn  
hàng), lịch tàu, e-booking, theo dõi chứng từ… Trong khi đó khả năng nhìn thấy và kiểm soát đơn  
hàng (visibility) là một yếu tố được các chủ hàng đánh giá rất cao khi họ lựa chọn nhà cung cấp dịch  
vụ logistics cho mình. Các công ty như APL Logistics, Maersk Logistics được Nike chọn là nhà cung  
cấp dịch vụ là do các công ty này có thể cung cấp cho Nike công cụ visibility trong bất kỳ thời điểm  
nào, tại bất kỳ nơi nào nhân viên của Nike cũng có thể nắm bắt và có thể kéo ra bất kỳ các loại báo cáo  
liên quan đến các đơn hàng của mình đã, đang và sẽ được thực hiện bởi các công ty trên. Điều này sẽ  
giúp Nike tính toán tốt những dự báo, kiểm soát hàng tồn, đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng ở  
chi phí tối ưu nhất.  
- Về tính liên kết  
Cho tới nay, các doanh nghiệp logistics của Việt Nam hoạt động còn rất độc lập thiếu hẳn sự  
liên kết cần thiết. Trong xu hướng thuê ngoài (outsourcing), mỗi doanh nghiệp cần tập trung vào thế  
mạnh của mình và sẽ thuê ngoài các dịch vụ không phải là thế mạnh. 80% các công ty kinh doanh dịch  
vụ logistics tại Việt Nam có tổng vốn pháp định ít hơn 1,5 tỷ đồng (90.000 USD). Có thể thấy rằng  
việc kết hợp với các đối tác là rất quan trọng và việc liên kết trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Trong  
xu thế hiện nay, mô hình dịch vụ tổng thể, hay còn được gọi dưới cái tên One-stop Shop (tạm dịch: chỉ  
dừng một lần có thể mua được tất cả những gì mình cần), đang là một xu thế phổ biến. Tuy nhiên xu  
hướng này chưa được các doanh nghiệp Việt Nam tích cực triển khai, đặc biệt là việc tham gia cộng  
đồng thương mại quốc tế đa phương.  
- Về nguồn nhân lực  
Các số liệu nghiên cứu chỉ ra rằng, nguồn nhân lực logistics của Việt Nam không những thiếu  
về số lượng mà còn yếu về chất lượng, điều này rất không hợp lý với một ngành dịch vụ có quy mô lên  
đến 22 tỷ USD, chiếm 20,9% GDP của cả nước, tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 20 -25% (số liệu của  
World Bank, 2014).  
Theo dự báo, trong 3 năm tới, các doanh nghiệp dịch vụ logistics cần thêm khoảng 18.000 lao  
động, các doanh nghiệp sản xuất, thương mại, dịch vụ cần trên một triệu nhân sự có chuyên môn về  
logistics. Các công ty dịch vụ logistics ở Việt Nam đều đang thiếu nhân lực trình độ cao. Trong khi đó,  
hiện nay, nguồn cung cấp lao động cho ngành dịch vụ logistics chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu  
thực tế. Các cán bộ quản lý thường là những người chủ chốt, được đào tạo và tái đào tạo, tuy nhiên họ  
thiếu kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh, ít được cập nhật tri thức mới, phong cách lãnh đạo và quản  
lý chưa đáp ứng được nhu cầu.  
Nhân lực logistics ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được lấy từ các đại lý hãng tàu, các công ty  
giao nhận vận tải biển và sử dụng theo khả năng hiện có. Kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu phát  
triển TP. Hồ Chí Minh về chất lượng nguồn nhân lực logistics cho thấy, có đến 53,3% doanh nghiệp  
thiếu đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và kiến thức về logistics, 30% doanh nghiệp phải đào  
tạo lại nhân viên và chỉ có 6,7% doanh nghiệp hài lòng với chuyên môn của nhân viên.  
Kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu và Phát triển kinh tế Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
cũng ghi nhận, có tới 80,26% nhân viên trong các doanh nghiệp logistics được đào tạo thông qua các  
504  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
công việc hàng ngày, 23,6% nhân viên tham gia các khóa đào tạo trong nước, 6,9% nhân viên được  
các chuyên gia nước ngoài đào tạo, chỉ có 3,9% được tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài.  
3. Ngành logistics Việt Nam dưới tác động của hiệp định EVFTA  
Việt Nam hiện đứng thứ 39/160 quốc gia tham gia điều tra của World Bank về chỉ số năng lực  
Logistics (LPI) năm 2018, tăng 25 bậc so với xếp hạng 64 năm 2016. Đồng thời, đứng thứ tư trong  
ASEAN sau Singapore, Malaysia, Thái Lan.  
Việt Nam có thứ hạng đứng đầu trong các thị trường mới nổi. Các chỉ số đánh giá LPI 2018  
đều tăng vượt bậc. Hạng mục có mức tăng cao nhất là năng lực chất lượng dịch vụ (xếp hạng 33, tăng  
29 bậc), và khả năng theo dõi, truy xuất hàng hoá (xếp hạng 34, tăng 41 bậc). Kết quả đó cho thấy việc  
cải thiện năng lực của doanh nghiệp đang có những bước tiến đáng ghi nhận thông qua việc ứng dụng  
công nghệ thông tin vào logistics.  
Từ năm 2017, chính phủ Việt Nam đã xác định mục tiêu cụ thể cho ngành Logistics là đưa Việt  
Nam trở thành trung tâm Logistics của khu vực vào năm 2025. Kế hoạch chính sách này đã, đang được  
dần hiện thực hóa với rất nhiều nỗ lực như: thu hút đầu tư nước ngoài, cải cách thủ tục hải quan và hợp  
tác với các đối tác nước ngoài trong các dự án cơ sở hạ tầng. Với tốc độ phát triển hàng năm đạt 16 -  
20%, EVFTA sẽ là cánh cửa mở ra rất nhiều vận hội cho Logistics Việt Nam có thể tăng tốc hơn nữa  
nếu biết khai thác hết các tiềm năng.  
3.1. Cơ hội  
Khi có hiẹ  
Thứ nhất, co  
logistics khi luợng hàng hóa xuất nhạ  
̂
̛ hội lớn cho ngành logistics Việt Nam:  
̛
̂
̆
̂
̛
̂
̛
̂
̂
̆
̛
loại bỏ/giảm đáng kể. Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, kim ngạch xuất khẩu sang EU sẽ tăng  
20% vào năm 2020, 42,7% năm 2025 và 44,37% năm 2030.  
Cơ hội thứ hai từ EVFTA là tăng hiệu quả kinh doanh từ cải cách thủ tục hành chính. Các cam  
kết về thể chế và hàng rào phi thuế quan trong EVFTA sẽ tạo ra sức ép lớn buộc Chính phủ phải cải  
cách trong nhiều lĩnh vực liên quan đến hoạt động logistics, đặc biệt là hải quan, kiểm tra chuyên  
ngành. Việc thực hiện các cam kết này sẽ giúp cải thiện đáng kể thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa - yếu  
tố có tác động trực tiếp tới hiệu quả của hoạt động logistics.  
Thứ ba, co  
̛
họ  
̂
̛ từ EU, tận dụng kinh nghiệm, kỹ năng quản trị, nguồn vốn, mạng  
lu  
̛
̂
Thứ tư, co họi giảm chi phí kinh doanh và giảm tình trạng thuê ngoài. Các cam kết loại bỏ thuế  
̛
̂
quan cho các phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị, công nghệ phục vụ hoạt động logistics từ EU sẽ  
giúp doanh nghiệp logistics mua sản phẩm phục vụ sản xuất với giá hợp lý. Trong khi đó EU là nguồn  
cung cấp chất lượng cao cho những sản phẩm này. Song hành với đó là các cơ hội thu hút đầu tư từ  
EU, cơ hội tiếp cận thị trường logistics từ các nước thành viên EU.  
Cuối cùng là co  
cửa nhiều dịch vụ nhóm logistics cho nhà cung cấp dịch vụ Viẹ  
và dịch vụ hàng kho  
̛
họ  
̂
̂
̛
̛
̂
̂
̂ng quốc tế). Tự do hóa sẽ mời gọi các nhà đầu tư EU cùng tham gia vào việc cung  
cấp các dịch vụ logistics, vận tải hàng hải khác nhau cho thị trường Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp  
hàng hải, dịch vụ xử lý hàng hóa/ container, dịch vụ lưu trữ và kho bãi. Các doanh nghiệp logistics  
Việt Nam sẽ có cơ hội hợp tác, học hỏi, và gọi vốn từ các công ty đa quốc gia, các đội tàu lớn hiện đại  
và chiếm thị phần lớn trên thị trường Logisitcs thế giới đến từ châu Âu. Đây có thể coi là một lợi thế  
của Việt Nam sau EVFTA. Bởi theo bảng xếp hạng LPI 2018, Đức là quốc gia đứng đầu trong lĩnh  
vực logistics. Hai quốc gia đồng hạng thứ hai cũng nằm trong khối EU, là Hà Lan và Thụy Điển.  
505  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
3.2. Thách thức  
Đồng thời, EVFTA đu  
t Nam trong lĩnh vực logistics:  
Thứ nhất, cạnh tranh trong mọ  
mạnh hon từ các nhà cung cấp dịch vụ EU vốn rất mạnh trong lĩnh vực logistics, với các co  
quốc gia, các đọi tàu lớn hiẹn đại, chiếm thị phần đáng kể tren thị truờng logistics thế giới. EU vốn rất  
̛ợc cho là cũng đặt ra những thách thức đáng kể đối với các doanh nghiệp  
Viẹ  
̂
̂t số khía cạnh dịch vụ logistics có thể gia tă  
̛
̂
̂
̂
̂
̛
mạnh về logistics với các công ty đa quốc gia, đội tàu lớn hiện đại chiếm thị phần đáng kể trên thị  
trường logistics thế giới. Trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực logistics năm 2018 của WB, Đức ở vị  
trí đầu tiên, các nước EU chiếm 4 trong top 5 vị trí đầu bảng. Hiện nhiều doanh nghiệp logistics mạnh  
của EU đã hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, dù mức mở cửa logistics của Việt Nam theo WTO còn  
hạn chế. Sau EVFTA, với các cam kết mở cửa mạnh hơn, cạnh tranh từ các doanh nghiệp này với các  
doanh nghiệp Việt Nam sẽ còn lớn hơn nữa.  
Thứ hai, mọ  
a hiẹu quả, nhu cầu bảo họ  
đối với sự phát triển chung của ngành.  
̂
̛
̂p nhà nước trong lĩnh vực logistics kinh doanh  
chu  
̛
̂
̂
̆
Thứ ba, nguy co khong tạn dụng đu  
logistics tại các nu  
pháp lý gián tiếp (về nhạ  
̛
̂
̂
̛ợc các cam kết mở cửa của EU đối với thị trư  
ớc EU vốn đầy hứa hẹn nhu  
ng đòi hỏi cao về chất lu  
̛
̂c  
̂
p cảnh, về quốc tịch của người lao động...).  
4. Kết luận và khuyến nghị  
Tuy Hiệp định thương mại tự do EVFTA mở ra nhiều cơ hội cho logistics Việt Nam nhưng  
cũng đem đến nhiều thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp hậu cần trong nước. Thách thức lớn  
nhất là tăng tính cạnh tranh trong một số khía cạnh dịch vụ logistics. Các nhà cung cấp dịch vụ EU vốn  
rất mạnh trong lĩnh vực logistics, với các công ty đa quốc gia, các đội tàu lớn hiện đại, chiếm thị phần  
đáng kể trên thị trường logistics thế giới. Trong khi các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn hạn chế  
cả về chất lượng dịch vụ và các ràng buộc pháp lý gián tiếp.  
Để phát triển ngành logistics, tận dụng được các cơ hội kinh doanh mà các EVFTA mang lại,  
chúng ta cần:  
4.1. Đối với doanh nghiệ̂  
p
̂
̂
Các doanh nghiệp logistics Việt Nam cần nắm rõ các cam kết mở cửa dịch vụ logistics để nhận  
diện các nguy cơ mới trong cạnh tranh với các đối thủ từ EU. Từ đó các doanh nghiệp cần có kế hoạch  
bài bản, hành động quyết liệt, có kế hoạch khắc phục các hạn chế hiẹ  
̂
̂
ng cao na  
̆
cạnh tranh của mình:  
- Cải thiẹn co  
t với mạng logistics toàn cầu  
- Tang cuờng cong tác đào tạo, đào tạo lại nguồn nha  
- Cải thiẹn quy mo vốn, nang lực quản lý và phạm vi hoạt đọ  
n dụng co họi lien doanh với các nhà đầu tu EU  
- Tìm các kenh thích hợp để tang lien kết với các doanh nghiẹ  
khác nhau (hãng tàu, đại lý thu ng mại, bảo hiểm...)  
4.2. Đối với Nhà nu  
̂
̂
̂
tho  
̂
̆
̛
̂
ng nghẹ  
̂
̂
̂
ng tin,  
đặc biệ  
̆
̛
̆
ng lực chuye  
̂
n mo  
̂n  
̂
̂
̆
̂
̂ng qua  
viẹc tạ  
̂
̂
̛
̂
̂
̂p cung cấp các dịch vụ logistics  
̛ơ  
̛ớ̛ c  
̛̛  
Ngoài ra để tạo điều kiện cho ngành logistics Việt Nam phát triển, thúc đẩy hoạt động xuất  
nhập khẩu, cần thêm nhiều giải pháp từ Nhà nước:  
506  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
- Cần tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật về logistics nhằm tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho  
các hoạt động logistics trên thị trường. Đồng thời, bổ sung, sửa đổi các nội dung liên quan đến  
logistics trong Luật Thương mại, không chỉ dừng lại ở các dịch vụ logistics, để tạo nhận thức đầy đủ  
về bản chất, vai trò và vị trí của logistics. Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý logistics,  
nhất là chính sách phí, lệ phí, tháo gỡ các rào cản đối với hàng hóa lưu thông trên thị trường.  
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng logistics Việt Nam đồng bộ, hiện đại. Trước hết, ưu tiên xây  
dựng hạ tầng kết nối mạng lưới giao thông vận tải theo hướng vận tải đa phương thức để khai thác hiệu  
quả hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thương mại hiện có; Đẩy nhanh việc đầu tư xây dựng các trung  
tâm logistics hạng 1 theo chuẩn quốc tế tại các điểm giao cắt vận tải thương mại của các vùng kinh tế  
trọng điểm, hành lang kinh tế nhằm kết nối các phương thức vận tải, thực hiện liên kết kinh tế, thúc  
đẩy sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho các địa phương và doanh nghiệp.  
- Bổ sung và hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp logistics Việt Nam thông qua xây  
dựng và thực thi cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp này ở  
Việt Nam với tất cả các loại hình vận tải. Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp đầu tư hiện đại hóa  
các phương tiện vận tải, nhất là các phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy vốn đã quá  
lạc hậu. Với việc thực hiện quy hoạch, xây dựng các trung tâm logistics theo chuẩn mực quốc tế, nhà  
nước và chính quyền các địa phương, thành phố có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp  
logistics trong và ngoài nước đầu tư, tập trung vào các khu công nghiệp logistics (làng vận tải hay  
trung tâm logistics có quy mô lớn) - mô hình mà ở Việt Nam đến nay hầu như chưa có, để tái cơ cấu  
lại thị trường logistics tại các địa phương và thành phố có lợi thế phát triển theo hướng logistics xanh,  
văn minh, hiện đại.  
- Phát triển thị trường dịch vụ logistics Việt Nam theo hướng cạnh tranh, minh bạch để người  
tiêu dùng thực sự được hưởng các dịch vụ logistics có chất lượng với giá cả hợp lý. Chỉ có như vậy  
mới hình thành được tập quán thuê ngoài dịch vụ logistics, hỗ trợ doanh nghiệp tập trung vào thực hiện  
các chức năng cơ bản, cốt lõi góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh  
trong bối cảnh ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Nghiên cứu để sớm hình  
thành thị trường giao dịch thông tin logistics quy mô quốc gia và vùng lãnh thổ. Cùng với việc đầu tư  
xây dựng cơ sở hạ tầng logistics phần cứng, cần đổi mới cơ bản các yếu tố của cơ sở hạ tầng phần  
mềm từ Trung ương đến các địa phương, vùng lãnh thổ, đừng để “cơ sở hạ tầng phần mềm làm hỏng  
cơ sở hạ tầng phần cứng” đã được đầu tư và phát triển hơn 30 năm nay. Qua đó mới thu hút được  
nguồn hàng từ các nước trong khu vực theo các hành lang kinh tế đã được đầu tư, xây dựng nhưng  
hiệu quả khai thác còn hạn chế, chưa tương xứng.  
- Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực logistics không chỉ ở cấp đại học mà cả lĩnh vực đào tạo  
nghề logistics theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc cách mạng 4.0.  
“Giải pháp đào tạo và nâng cao nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực” tại Quyết định 200TTg ngày  
14/02/2017 về Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logsitics Việt  
Nam đến năm 2025 cần được sớm triển khai vào cuộc sống một cách có hiệu quả hơn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Anirban Lahiri (2015), ‘Cập nhật ngành Logistics Việt Nam - Tổng quan’, Viet Capital Securities.  
2. Báo cáo Ngành Dịch vụ Logistics, Ngân hàng Á Châu, 2018.  
3. Bộ Công thương (2017), ‘Báo cáo logistics Việt Nam 2017 – Logistics: Từ kế hoạch đến hành động’, Nhà  
xuất bản Công thương.  
4. Đỗ Xuân Quang, Thực trạng và định hướng phát triển ngành Logistics tại Việt Nam,  
5. EVFTA với ngành logistics Việt Nam, Hà Nội, 2017.  
507  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
6. Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (2018), ‘Sách trắng VLA 2018’, Nhà xuất bản Văn hóa –  
Văn nghệ.  
7. Trịnh Thị Thu Hương (2016), ‘Đào tạo phát triển nguồn nhân lực Logistics Việt Nam’, Trường Đại học Ngoại  
thương.  
8. Vũ Đình Chuẩn, ‘Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành logistics Việt Nam’, http://tapchitaichinh.vn/tai-  
chinh-kinh-doanh/giai-phap-phat-trien-nguon-nhan-luc-nganh-logistics-viet-nam-310729.html,  
03/08/2019.  
ngày  
508  
pdf 8 trang baolam 27920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của EVFTA đối với ngành logistics Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_evfta_doi_voi_nganh_logistics_viet_nam.pdf